Bài 7: TỘI LỖI

1. BẢN CHẤT TỘI LỖI

2. PHÂN LOẠI TỘI

3. CÁC NGUỒN SINH RA TỘI


Bài 7: TỘI LỖI

1. BẢN CHẤT TỘI LỖI

1.1 Cựu Ước thường coi tội là vi phạm luật Chúa và ý muốn của Thiên Chúa. Tội của Ađam và Eva trong vườn địa đàng là cố tình vi phạm mệnh lệnh của Thiên Chúa. Cũng có khi Cựu Ước coi tội là thù ghét Thiên Chúa và tội nhân là người thù ghét Thiên Chúa. "Ðối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông." (Xh 20, 5) Cựu Ước đặc biệt nhấn mạnh rằng tội là bỏ Thiên Chúa giao ước. Thiên Chúa ban ân huệ cho con người và đòi con người phải trung thành với giao ước nhưng con người bất tuân lệnh Thiên Chúa và cắt đứt giao ước.

1.2 Tân Ước kêu gọi thay đổi con tim, cách sống, thay đổi bên trong. Vì thế điều cần không phải là rửa chén đĩa mà là thanh tẩy tâm hồn. (Mt 23, 25) Trong các dụ ngôn, nhất là dụ ngôn người con hoang đàng (Lc 15, 11-32), tội thường được trình bày như một sự thiếu hụt toàn diện, thiếu hụt chính ý nghĩa làm nên cuộc sống do xa lìa Thiên Chúa.

Có khi tội được trình bày như sự xúc phạm đến tình yêu. (1 Ga 4, 7-20), từ chối ánh sáng (Ga 3, 19), từ chối sự thật (Ga 8, 44). Thánh Phaolo cho thấy trong sự xấu xa của con người có ngầm chứa việc từ chối tôn vinh Thiên Chúa và tôn vinh mình hay vũ trụ, vạn vật lên làm Chúa (Rm 1, 18-23). Người có tội, vì thế, sống trong sự thù nghịch với Thiên Chúa.

1.3 Cái nhìn thần học về tội

- Tội trước tiên là sự chối bỏ Thiên Chúa cùng với kế hoạch của Thiên Chúa. Phạm tội khi con người khinh rẻ ý muốn của Thiên Chúa, khi con người không chịu vâng phục theo bổn phận mà con người phải làm đối với Thiên Chúa vì Ngài là chủ tể tối cao và con người hoàn toàn tuỳ thuộc vào Ngài. Khi phạm tội con người đã giành lấy cho mình sự kính trọng, sự biết ơn, danh dự dành cho Thiên Chúa. Khi đã quay lưng với Thiên Chúa con người bị loại ra khỏi tình yêu và sự hiệp thông với Thiên Chúa.

- Chiều kích xã hội của tội. "Ai nói mến Chúa mà lại ghét anh em mình, thì đó là người nói dối." (1 Ga 4, 20) "Nếu chúng ta yêu thương nhau, Thiên Chúa sẽ cư ngụ nơi chúng ta và tình yêu của Người kể như đã trọn hảo nơi chúng ta" (1 Ga 4, 12).

Mọi tội đều có chiều kích xã hội. Có những tội trực tiếp như thiếu yêu thương và thiếu công bằng. Có những tội gián tiếp vì gây cản trở cho việc thực hiện nhiệm vụ tối hậu chung của nhân loại, thay vào đó là những thứ làm mình ưa thích. Chơi ma túy tuy chỉ là chuyện cá nhân, nhưng cộng đồng nhân loại bị thiệt hại do có một người không góp phần vào các nhiệm vụ chung của cộng đoàn.

Nơi người Kitô hữu, điều ấy càng rỏ hơn vì các Kitô hữu "là thân thể Ðức Kitô và mỗi cá nhân là một chi thể trong thân thể ấy" (1 Cr 12, 27) Tất cả chi thể đều lệ thuộc nhau, vì thế một chi thể đau, hư cũng kéo theo sự sa sút của những chi thể khác. Ðầu lễ xưng thú tội lỗi không chỉ với Chúa nhưng còn với cộng đoàn. Ðời sống bê bối của các Kitô hữu còn làm cho những người chung quanh (Kitô hữu hay không) có một cái nhìn sai lạc về đạo Chúa Kitô.

- Chiều kích cá nhân của tội. Khi phạm tội, con người quay lưng với mục tiêu tối hậu của con người để quay về với những mục tiêu khác xa rời hay nghịch lại với mục tiêu tối hậu mà Thiên Chúa đã định. Phạm tội là đánh mất ý nghĩa đích thực của đời mình hay là làm cho cuộc đời ấy kém ý nghĩa. Nếu coi thường ý nghĩa đời mình, con người có nguy cơ phá hủy chính con người mình.

Phạm tội làm chặn đứng quá trình hoàn thiện của mình. Con người vốn không hoàn hảo khi sinh ra, con người phấn đấu để tự vươn lên sự hoàn hảo đó. Thế nhưng phạm tội làm quá trình nầy chậm lại, thậm chí còn làm lệch lạc quá trình ấy. Phạm tội là phản bội ơn gọi làm người. Xét về mặt tâm linh, người phạm tội là người đang ở trong tình trạng bệnh hoạn và chính Chúa Giêsu là Ðấng chữa lành.

1.4 Tội nặng và tội nhẹ

Ðiều ai cũng công nhận là không phải mọi tội đều nặng như nhau. Tuy nhiên vấn đề vẫn còn đang tranh cải về tầm mức của tội. Truyền thống Hội Thánh nhận cách phân biệt tội trọng và tội nhẹ như đã có trong Thánh Kinh. Kinh nghiệm con người xác nhận điều này.

Tội trọng phá hủy đức mến trong lòng con người do vi phạm nghiêm trọng luật Thiên Chúa. Khi phạm tội, con người quay lưng với Thiên Chúa là cùng đích và chân phúc của mình, bằng cách yêu chuộng một thụ tạo thấp kém hơn. Tội nhẹ không phá hủy nhưng xúc phạm và gây tổn thương đức mến. (GLCG 1856)

Tội trọng: nghịch với lòng mến Chúa, như lộng ngôn, bội thề,v.v... hay nghịch với lòng yêu người, như sát nhân, ngoại tình, v.v... Ngược lại, khi tội nhân hướng chiều về một điều tự nó là một sự vô trật tự nhưng không nghịch với lòng mến Chúa yêu người, thí dụ như ăn nói bừa bãi, cười cợt lố lăng v.v... Ðó là những tội nhẹ (T. Tô-ma A-qui-nô, Tổng Luận Thần Học 1-2,88).

Một tội được coi là trọng khi hội đủ ba điều kiện: "Phạm một lỗi nặng, với đầy đủ ý thức và cố tình" (x. RP: Tông Huấn Sám hối và Hòa giải 17). (GLCG 1857) Lỗi nặng được xác định trong Mười Ðiều Răn, như Ðức Giê-su trả lời người thanh niên giàu có: "Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thảo kính cha mẹ" (Mc 10,19). Tội có thể nặng hoặc nhẹ: tội giết người nặng hơn trộm cắp. Phải xét đến cả phẩm giá của những người bị xúc phạm: tội hành hung cha mẹ nặng hơn tội hành hung một người lạ. (GLCG 1858)

Tội trọng đòi phải có nhận thức đầy đủ và hoàn toàn ưng thuận. Việc thiếu hiểu biết do lỗi mình và lòng chai đá không làm giảm bớt, mà còn gia tăng tính cách cố tình của tội lỗi. (GLCG 1859) Nếu thiếu hiểu biết ngoài ý muốn, người phạm lỗi nặng có thể được giảm hoặc miễn trách nhiệm. Nhưng không ai được coi là không biết đến những nguyên tắc của luân lý đã được ghi khắc trong lương tâm mỗi người. Nặng nhất là tội phạm do ác tâm, vì chủ ý lựa chọn điều xấu. (GLCG 1860)

Chúng ta phạm tội nhẹ khi vi phạm luật luân lý trong điều nhẹ, hay lỗi điều nặng nhưng không hoàn toàn hiểu biết hay ưng thuận. (GLCG 1862) Tội nhẹ làm suy yếu đức mến, cho thấy lòng quyến luyến lệch lạc của cải trần thế, ngăn cản chúng ta tiến triển trong việc thực hành các đức tính và điều thiện. Thế nhưng "Tội nhẹ không làm mất ơn thánh hóa hay ơn thần hóa và đức mến, nên cũng không làm mất phúc thật vĩnh cửu". (GLCG 1863)

Cuối cùng là tội phạm đến Chúa Thánh Thần. "Mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm thượng đến Thần Khí sẽ chẳng được tha" (Mt 12, 31) (x. Mc 3,29; Lc 12,10). Lòng Thiên Chúa thương xót không có giới hạn, nhưng ai cố tình không hối cải và khước từ lòng Thiên Chúa thương xót thì cũng khước từ sự tha tội và ơn cứu độ do Chúa Thánh Thần ban cho (x. DV 46). Lòng chai dạ đá như thế có thể đưa tới chỗ không hối cải trong giờ sau hết và phải hư mất đời đời. (GLCG 1864)

2. PHÂN LOẠI TỘI

2.1 Tội trong tâm hồn

- Thỏa mãn trong trí, lòng là tìm thú vui trong những hình ảnh và tư tưởng tội lỗi.

- Khoan khoái cách tội lỗi với một việc xấu đã làm xong, dù là của mình hay của người khác, hoặc tiếc nuối cách tội lỗi vì đã không làm được một hành vi xấu. Khoan khoái hay tiếc nuối như thế là đã gián tiếp tán thành tội và bởi đó cũng là tội.

- Ước muốn xấu để làm một hành vi tội lỗi. Một ước muốn đưa tới một ý định hay một quyết tâm thật vững chắc. Ước muốn đó kể như đã có tội cho dù có thể do một hoàn cảnh bên ngoài nào đó người ta không thực hiện được ước muốn ấy. Ước muốn xấu kể như chưa có tội, khi người ta thích làm hành vi ấy nhưng không thật sự có ý định thực hiện vì một lý do nào đó, như xấu hổ hay sợ sệt, hoặc vì nhận ra sự vô ích hay nguy hiểm của hành vi đó.

Tất cả các loại tội nội tâm này xét chung đều có tính cách xấu như những hành vi bên ngoài tương ứng với các tội ấy. Thí dụ, nếu ước muốn là điều xấu trầm trọng thì đã là tội nặng. Việc thực hiện cụ thể thành một tội bên ngoài chỉ là cơ hội làm tăng tầm mức nghiêm trọng.

2.2 Các tội thiếu sót và tội trực tiếp

Phạm tội trực tiếp khi làm một việc bị cấm. Ðó là sự vi phạm một luật phủ định, như "Không được thờ lạy Chúa nào khác ngoài Ta", "không được giết người", "không được trộm cắp". Phạm tội thiếu sót là khi không làm một việc buộc phải làm. Ðây là sự vi phạm một luật khẳng định, như "Hãy nhớ ngày Sabát và giử ngày ấy cho thánh thiện", "Hãy thuơng yêu nhau như Ta đã yêu thương các ngươi".

Thông thường, tội trực tiếp nặng hơn tội thiếu sót, nhưng tội thiếu sót cũng đe dọa nghiêm trọng tới việc vào Nước Trời. Thí dụ: chểnh mảng đối với nghĩa vụ nghề nghiệp, xã hội hay tôn giáo, không quan tâm và bày tỏ tình huynh đệ đối với người gần mình. Vì thế, chỉ nhấn mạnh tới các luật tiêu cực thì chưa đủ nhưng còn phải chỉ ra những điều phải làm, những điều có thể và nên làm với sự trợ giúp của ơn Chúa. Tuy nhiên, dù sao tránh các tội trực tiếp thì dễ hơn là làm tất cả những điều tốt nên làm. Bởi đó, không phạm các tội thiếu sót là đã đạt được trình độ hoàn thiện cao hơn. Tuy nhiên, không phải lúc nào ta cũng nhận ra nghĩa vụ này. Bởi vậy, mở đầu thánh lễ nào người Công Giáo cũng xin Chúa và anh em thứ tha không những vì điều xấu mình đã làm, mà còn vì điều tốt mình đã không làm. Các tội thiếu sót cũng là những việc xúc phạm thật sự, là nguồn sinh ra nhiều bất công, đau khổ và cô độc.

2.3 Các tội gốc

Truyền thống Kitô giáo từ thời các Giáo phụ đã lập ra một danh sách các tội chính, được gọi là các tột gốc. Gọi là "gốc" vì chúng dễ dàng trở thành các nết xấu và trở thành nguồn sinh ra nhiều tội khác. Ðức giáo hoàng Gregoriô cả (chết năm 604) đã lập một danh sách gồm "Bảy mối tội đầu".

Kiêu ngạo hay tự phụ là ước muốn quá đáng danh dự, sự hơn người và tự lập, đối lập với đức khiêm nhường. Tham lam là theo đuổi quá đáng các của cải vật chất, ngược với nhân đức quảng đại và công liêm. Ghen tị là không bằng lòng về điều tốt của người khác, cho đó là làm thiệt hại tới bản thân mình. điều này đi ngược với tinh thần huynh đệ và hào hiệp. Dâm dục là khao khát thái quá sự thỏa mãn tính dục ngoài hôn nhân, đối lập với đức khiết tịnh. Tham ăn là hưởng thụ đồ ăn thức uống một cách thái quá, ngược lại với nhân đức điều độ và giản dị. Nóng giận là bày tỏ một cách quá đáng sự khó chịu của mình, đồng thời ao ước mãnh liệt cho người khác bị trừng phạt, ngược với tính kiên nhẫn và hiền từ. Lười biếng, ngược với tính siêng năng là uể oải trong đời sống tâm linh, trốn tránh các việc thiêng liêng. Ngược với các nhân đức mộ đạo và yêu Chúa. Song song với bảy tội gốc ấy, truyền thống cũng kể ra bảy nhân đức chính, gồm ba nhân đức đối thần là Tin, cậy, Mến và bốn nhân đức là Khôn ngoan, công bằng, can đảm và Tiết độ.

3. CÁC NGUỒN SINH RA TỘI

3.1 Ảnh hưởng của thế giới bị biến dạng vì tội lỗi

- Tính liên đới trong tội: Cựu Ước nhìn thấy có một sự liên đới của các tập thể nhân loại (gia đình, chi họ, quốc gia) trong điều tốt cũng như trong điều xấu. Về sau, chính Kinh Thánh sẽ phê bình quan điểm cũ xưa này. Như trong Gr 31, 29t và Ed 18, 2-4 người ta nhấn mạnh rằng răng con sẽ không tê vì cha của chúng đã ăn nho xanh. Mỗi người sẽ chết vì tội mình. Còn đối với Tân Ước, thế giới bị tội làm biến dạng nhiều tới mức các Kitô hữu được nhắc nhở không ngừng là đừng sống theo các chuẩn mực của thế giới.

- Tình huống của con người giữa một thế giới đã bị biến dạng vì tội lỗi. Công Đồng Vatican II ghi nhận rằng "con người thường bị lôi kéo không làm điều tốt và bị thúc đẩy làm điều xấu do hoàn cảnh xã hội nơi mình sống kể từ khi sinh ra" (MV 25).

Trước hết là ảnh hưởng của gương xấu, của báo chí suy đồi luân lý. Các giá trị luân lý bị xét lại, trong khi các lề lối cư xử xấu xa được chấp nhận và thậm chí được cổ võ, nếu không phải trên lý thuyết thì ít là trong thực tế. Ðiều xấu càng có sức mạnh khi nó được áp lực của tập thể hỗ trợ. Trong trường hợp đó, ai làm điều tốt sẽ bị khai trừ khỏi tập thể (Ðiều này rất khó mà chịu dựng được). Ðang khi ấy, những người khác, dù chỉ một cách vô thức, hết còn coi người làm điều tốt đó như đồng bạn.

Áp lực của tập thể sẽ mạnh hơn cả, khi đảng cầm quyền của một quốc gia ủng hộ một số thái độ và nguyên tắc đi ngược với sự công chính và đức tin. Lúc ấy, trung thành với niềm tin của mình sẽ khiến mình bị thiệt thòi nghiêm trọng như trong việc được hưởng các tiện nghi của cuộc sống và trong việc phát triển nghề nghiệp cũng như xã hội. Áp lực ấy có thể đi xa tới mức đe dọa tống giam và tử hình những ai không chịu đáp ứng những đòi hỏi chống tôn giáo và vô luân của giới cầm quyền. Và đây chính là việc tử đạo.

Người ta cũng phải kể đến các cơ cấu và não trạng trong một môi trường đã bị biến chất về luân lý. Các cơ cấu và não trạng này đã có trước khi con người chào đời và đã vây quanh cuộc sống con người. Con người sinh ra trong một tình cảnh có một số giá trị và chuẩn mực luân lý bị lu mờ tới mức mà toàn thể cộng đồng không còn (hay vẫn chưa) nhận ra được nữa. Những thái độ và nguyên tắc sống trái ngược, sai lầm, lại xuất hiện như những thái độ và nguyên tắc tự nhiên. Sau lưng các tội phạm có cả một môi sinh và xã hội đã quy định và tác động lên họ. Bởi vậy, để chống lại sự dữ, không thể chỉ chống lại người phạm tội, mà cũng cần thiết và cấp thiết không kém là phải xây dựng một bầu khí chung tốt đẹp hơn, những điều kiện sống nhân bản hơn (cf. MV 25).

3.2 Cám dỗ

Cám dỗ là sự thôi thúc tác động lên một người để người ấy làm điều xấu. Ðó là sự thu hút do một số điều tốt gây ra, nhưng đặt trong bối cảnh rộng lớn hơn là toàn bộ hệ thống giá trị thì đó lại là điều xấu. Thí dụ một món ăn cám dỗ tôi. Nó cám dỗ tôi vì nó ngon, nghĩa là làm thỏa mãn sự thèm khát của tôi. Tuy nhiên, nếu như nó sẽ làm hại tôi, sẽ làm tôi đau, và tôi biết rõ điều đó thì tôi đâm ra do dự không biết nên tìm sự thỏa mãn tức thời khi ăn món ăn đó hay nhìn tới viễn tượng sẽ bị đau mà từ chối ăn. Nói cách khác, nếu xét một cách độc lập khỏi những yếu tố khác thì thỏa mãn sự thèm khát là một điều vốn tốt lành. Nhưng đặt vào trong bối cảnh là cuộc sống toàn diện của tôi hay cứu xét nó trong tương quan với sức khỏe của tôi, tôi lại thấy điều tốt này dẫn tới sự rối loạn và vì thế trở thành điều xấu. Như vậy, khả năng bị điều xấu cám dỗ xuất phát từ chỗ cùng một đối tượng nhưng có thể là tốt hay xấu tùy theo ta xét theo quan điểm nào.

Người bị cám dỗ sẽ là người bị phân rẽ. Phân rẽ giữa hai điều tốt, mà một trong hai điều này cũng đồng thời là điều xấu. Ðương sự biết một trong hai điều này là điều xấu nhưng phân vân không biết nên chọn điều đó hay không vì đương sự cũng cảm thấy thích thú với điều tốt chứa đựng trong điều xấu đó. Do đó, bị cám dỗ là bị rơi vào tình trạng phân vân và do dự, chưa có quyết định dứt khoát chọn điều tốt và điều xấu và vẫn còn đình hoãn chưa nói lên sự ưng thuận cuối cùng. Và kể từ khi có sự ưng thuận là bắt đầu có tội. Cám dỗ chỉ có bao lâu ta còn đình hoãn chưa nói lên sự ưng thuận với điều xấu - một điều tuy xấu nhưng lại lôi cuốn vì dưới một khía cạnh nào đó nó lại đáng ao ước.

Vì luôn mang trong đầu ý tưởng về sự Thiện tuyệt đối và sự Hạnh phúc tuyệt đối, nên con người tìm hết cách để xây dựng điều tốt và hạnh phúc cho mình trong cụ thể. Muốn xây dựng đời mình như thế, con người phải chọn lựa liên tục, phải liên tục từ khước những điều tốt này để đạt được những điều tốt khác... Tôi chỉ có thể thi hành một nghề nếu biết khước từ những nghề khác. Tôi chỉ có thể hạnh phúc trong đời sống hôn nhân nếu chỉ chung thủy với một người. Tôi chỉ có thể đạt tới sự toàn thiện của đời tu với điều kiện từ khước sự hoàn thiện tôi có thể tìm được trong đời sống hôn nhân.

Ðể chống lại sự cám dỗ người ta thường dùng hai phương thế chính yếu là cầu nguyện và hy sinh. Cầu nguyện ở đây gồm cả đời sống bí tích. Tuy cầu nguyện không giúp nhiều khi cơn cám dỗ đã trở nên quá mạnh, nhưng chắc chắn đó vẫn là một biện pháp dự phòng rất quan trọng.

Cho dù ngày nay người ta không lưu ý tới việc hãm mình như ngày xưa nhưng nó cũng còn quan trọng. Vào thời đại mà tiện nghi đã trở thành thần, thỉnh thoảng chúng ta cũng cần làm một hành vi đi ngược với lối sống dễ dãi khi hy sinh một sự thỏa mãn nào đó để khỏi làm nô lệ quá đáng tiện nghi vật chất và giữ được sự tự do cần thiết, hầu cởi mở đón nhận những giá trị tâm linh. Người ta còn kể tới việc tập thể dục và chơi thể thao. Thể thao, thể dục là phương thế thích hợp nhất để giữ được thân thể lành mạnh. Chúng ta cần phải đưa thân xác vào khuôn phép nếu muốn làm chủ nó.

Khoa tu đức truyền thống cũng nhấn mạnh tới việc tránh sống nhàn cư - một phương thế nữa để đề phòng sự cám dỗ. Lao động sẽ làm tâm trí ta thoát khỏi những ý nghĩ và ước muốn ươn lười có hại, cũng như đem lại cho ta sự thỏa mãn và niềm vui vì đã làm được một việc hữu ích. Các quan hệ xã hội lành mạnh cũng có tác đụng tương tự. Những tình bạn tốt đẹp cũng giúp ta đẩy xa các cơn cám dỗ, cho tâm trí ta thêm những sức đẩy mới, mở rộng chân trời của trí óc và đặt ta đứng trước những yêu cầu bức bách mới.

Tránh các dịp tội cũng là một phương thế được các tác giả tu đức nhấn mạnh. Chúng ta không thể tránh hết mọi dịp tội nhưng những dịp tội nào có tính cách trầm trọng, và nếu dịp tội ấy có thể tránh được dù chỉ bằng những hy sinh và từ bỏ, thì ta buộc phải làm. Nhiều khi chúng ta phải kéo mình ra khỏi những ý nghĩ xấu bằng cách quên đi và quay sang những ý tưởng, những bận tâm khác.

Sau cùng, mỗi người phải thanh lọc luôn luôn các ý hướng và khát vọng của mình. Chúa Giêsu cho biết cây tốt sẽ sinh trái tốt, và mọi ý hướng xấu đều xuất phát từ lòng dạ con người. Vì thế, cần phải chú ý tới gốc rễ của sự việc ; cái cần thanh tẩy chính là tâm hồn con người.

Thiên Chúa không cám dỗ con người vì Thiên Chúa không hề đưa con người vào điều xấu. Cám dỗ có là do điều xấu tự xuất hiện như một điều đáng ao ước. Thiên Chúa đã bỏ Gióp lại cho Xatan là để kiểm chứng lòng đạo đức của ông, nhưng Xatan - chứ không phải Chúa - là kẻ đã cám dỗ Gióp. Dù sao, cám dỗ không phải là điều xấu xét về mọi mặt. Nó cũng có một vai trò tích cực trong đời sống con người. Có qua đấu tranh vất vả, con người mới biết mình và huấn luyện mình. Bởi đó, Kinh Thánh nói: "Thưa anh em, anh em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn" (Gc l, 2t). Tuy nhiên, không được tìm kiếm cám dỗ vì cám dỗ là một sự kiện rất có hiệu lực, ta không biết chắc mình có luôn luôn vượt qua được không. Chính vì lý do đó, các Kitô hữu luôn cầu nguyện: 'Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng xin cứu chúng con cho khỏi ác thần" (Mt 6, 13).

3.3 Quyến rũ

Quyến rũ là cố tình lôi người khác đến chỗ phạm tội. Ðó là một tội kép: là tội phạm đến đức ái và là tội phạm đến nghĩa vụ luân lý bằng cách vi phạm nghĩa vụ ấy. Nói đến quyến rũ là giả thiết rằng nạn nhân đã bị lôi kéo đến chỗ làm một việc đi ngược với ý hướng và tâm ý ban đầu của mình. Ðức Giêsu đã tỏ ra hết sức giận dữ đối với những người đã quyến rũ các tín hữu vô tội và ngây ngô: Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn" (Mt 18, 6). Cũng cần lưu ý là người ta được phép yêu cầu người khác làm một điều tuy có thể không phạm tội, nhưng cũng có thể ngược lại, miễn là có đủ lý do nghiêm trọng để đưa ra yêu cầu ấy. Thí dụ, được phép yêu cầu một người thề tại tòa án dù biết rằng người ấy có thể thề gian.

3.4 Làm gương xấu

     3.4.1 Khái niệm và bản chất gương xấu

Gương xấu là một cách cư xử không thích hợp đã gây dịp cho người khác phạm tội. Nếu quyến rũ là cố tình làm cho người khác phạm tội, thì gương xấu theo đúng nghĩa chỉ là tạo dịp cho người khác phạm tội, cho phép một việc làm tội lỗi xảy ra sau đó.

Tội làm gương xấu nặng hay nhẹ là tùy điều xấu mà gương xấu ấy đã tạo dịp cho xảy ra. Bởi đó, nếu dựa vào hoàn cảnh ta đoán chỉ là một gương xấu nhỏ thì hành vi không xứng hợp kia chỉ là một tội nhẹ, dù người kia có thể dùng nó như một dịp để làm một tội nặng. Nếu những kẻ chứng kiến một hành động bất xứng vốn là người tốt hoặc vốn đã hư hỏng tới mức không hề bị suy suyển bởi hành động ấy, thì hành động ấy không phải là gương xấu theo đúng nghĩa.

Như vậy, gương xấu chỉ có tính cách tương đối. Một gương xấu càng xấu khi người làm hành vi ấy có một phẩm giá cao hay được quý trọng nhiều, khi ảnh hưởng thực sự của hành vi ấy trên tội của người khác là lớn, khi tội được gây ra do hành vi ấy là tội nặng, khi nhiều người bị ảnh hưởng.

     3.4.2 Gương xấu chủ động và thụ động

Gương xấu chủ động là tự ý làm gương xấu qua một hành vi không xứng hợp. Còn gương xấu thụ động là cảm nhận thấy gương xấu do hành vi của một người khác, bất kể hành vi ấy tự nó là không xứng hợp và tội lỗi hay hợp pháp và tốt đẹp. Gương xấu chủ động theo đúng nghĩa, tức là tội phạm đến đức ái, giả thiết rằng người gây ra gương xấu đã có một hành vi không xứng hợp. Hành vi không xứng hợp này có thể là một việc làm tội lỗi thật sự, nhưng cũng có thể là một hành vi đúng về mặt khách quan, nhưng lẽ ra không nên làm vì những người chứng kiến hành vi ấy là những người yếu đuối hay ngu dốt, không hiểu biết đủ. Còn gương xấu chủ động theo nghĩa rộng là bất cứ hành vi nào gây cho người khác phạm tội, dù hành vi ấy hợp pháp và có lý do chính đáng.

Tuy nhiên, theo Simêon, Ðức Kitô là sự vấp phạm rất lớn cho dân Israen. "Ðứa trẻ này được đặt lên cho nhiều người trong Israen té ngã và chỗi dậy, cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng'" (Lc 2, 34). Người là tảng đá "làm cho nhiều người va vấp, làm cho nhiều người té ngã" (Rm 9, 32t). Ðức Kitô không tìm cách tránh gây gương mù qua các lời giảng của Ngài với người Do thái nhưng Ðức Kitô cần phải giảng sự thật và phải mở mắt mọi người, không cần biết hậu quả là sẽ có người quay lưng lại hay càng cứng lòng hơn.

Các Tông đồ cũng không tìm cách tránh sự vấp phạm do Tin mừng và thập giá gây ra. Các ngài cương quyết giảng dạy một Ðức Kitô chịu đóng đinh. Là môn đệ của đức Kitô, các Kitô hữu không được sợ người khác coi mình là gương mù. Vì trong một thế giới thù nghịch với Thiên Chúa, sứ điệp của Tin mừng và sự thân nghĩa với đức Kitô vẫn tiếp tục là hòn đá khiến nhiều người vấp và là sự xúc phạm đối với nhiều người.

Gương xấu thụ động có thể là do gương xấu thật sự hay chỉ là gương xấu đối với người yếu, chỉ là gương xấu giả hình.

Gương xấu thật sự là loại gương xấu phổ biến nhất, nó được gây ra bởi những việc làm xấu, tội lỗi. Thí dụ, vì sự ươn lười biếng nhác của một nhân viên trong công việc mà người khác cũng có tác phong tương tự. Cũng có loại gương mù do chủ nghĩa tối thiểu theo luật pháp và chủ trương đạo đức thuần túy hình thức gây ra, khiến những người thuộc các niềm tin khác không muốn tìm đường đến với Chúa Kitô, thậm chí còn làm họ khinh bỉ Hội thánh.

Gương xấu đối với người yếu là những hành vi hợp lệ một cách khách quan, nhưng vì có vẻ xấu nên đã làm khuynh đảo những lương tâm yếu duối. Thí dụ, một linh mục hay một nhà giáo dục muốn xem một cuốn phim hay một vở kịch đang bị tranh luận để thu lượm thông tin hầu có một nhận định đúng đắn về tính chất luân lý của cuốn phim hay vở kịch ấy. Nhưng vì giáo dân hay cấp dưới của vị linh mục không hiểu động lực thật của việc làm đó, nên đã có một số người bị vấp ngã vì hành vi của vị này. Chính vì thế, đôi khi người ấy phải bỏ không tham dự các buổi trình diễn ấy dù động lực của mình rất hợp lý, hoặc tốt hơn nên tham dự ở chỗ nào không ai biết mình.

Gương xấu giả hình được gây ra là do những hành vi đúng đắn, thậm chí còn cần thiết nữa, và nếu có gây ra hậu quả xấu nào, đó là do ác tâm của những người chứng kiến, muốn phạm tội. Nhiều người thấy tài sản to lớn của Hội thánh cũng là gương xấu giả hình. Cũng thế, có một số người cảm thấy bị xúc phạm khi thấy Hội thánh xây cất những ngôi nhà thờ trang trọng, đẹp đẽ, hay khi thấy một số người dùng các y phục và dụng cụ trong phụng vụ khá đắt tiền, cả hai trường hợp đó đều thuộc về cùng một loại.

     3.4.3 Các quy tắc cho phép làm gương xấu

- Những hành vi đúng đắn, không có vẻ xấu tuy có thể tạo dịp cho người khác phạm tội thì không cần phải dẹp bỏ khi ta có lý do chính đáng để làm. Bằng không, ta nên tránh vì đức ái.

- Các hành vi hợp pháp, có vẻ xấu và có thể tạo dịp cho người khác phạm tội thì nên dẹp bỏ, nếu có thể dẹp bỏ dễ dàng. Tuy nhiên, trên nguyên tắc, nếu đã giải thích về bản chất hợp pháp của hành vi ấy rồi thì không buộc phải dẹp bỏ hành vi ấy nữa. Cũng vậy, nếu vì bỏ không làm hành vi ấy mà gây ra một sự thiệt hại và khó khăn còn trầm trọng hơn nhiều, thì có thể làm và chấp nhận gương xấu gây ra từ hành vi đó. Vì thế, không được nể trọng sự yếu đuối của người khác tới mức làm hại tới khả năng đưa ra những quyết định quan trọng của mình và nổ lực hoạt động cho Nước Chúa.

- Có thể được miễn thi hành một luật thiết định để tránh gương xấu. Tuy nhiên, ta không buộc phải làm thế. Một người vợ hay con cái trong nhà có thể bỏ lễ Chúa nhật, nếu làm như thế là để tránh cho người chồng hay cha mình khỏi nổi cơn thịnh nộ. Cũng vậy, một người được miễn khỏi dự lễ Chúa nhật sau khi đánh nhau với bạn bè, nếu biết rằng sự có mặt của mình ở nhà thờ lại gây ra xô xát đụng độ.

- Vì một lý do tương đối nghiêm trọng, ta được phép tạo ra dịp tội, nếu hành vi ấy tự nó là tốt hoặc không tốt không xấu. Chủ có thể để tiền vung vãi đây đó để thử sự liêm khiết của người làm công. Cha mẹ cũng được phép làm thế để trắc nghiệm và sửa dạy con cái.

Phải sửa chữa những gương xấu đã gây ra một cách tội lỗi. Thông thường, ta sẽ sửa chữa lại bằng cách tránh gây gương xấu, nêu gương tốt, ăn năn thống hối trong bí tích Sám hối. Nhưng những gương xấu do một lời tuyên bố công khai gây ra, như những lời tuyên bố có ác cảm đối với tôn giáo hay làm hại tới luân lý, phải được sửa chữa bằng việc công khai rút lại hay đính chính lại. Ngoài ra, đức công bình đòi phải bồi thường đặc biệt cho những thiệt hại đã gây ra do sự quyến rũ thành công, quyến rũ bằng những phương tiện bất chính như lừa gạt, đe dọa, áp lực.

3.5 Cộng tác vào tội của người khác

Cộng tác vào tội của người khác là đồng ý về mặt thể lý hay tinh thần với nhân vật chính trong một việc làm tội lỗi nào đó. Người cộng tác là người phụ giúp thực hiện một việc làm tội lỗi, người cung cấp các phương tiện, người góp ý hay cho những thông tin cần thiết, v.v... Cộng tác không phải là hành vi làm cho người khác phạm tội, mà chỉ là hỗ trợ nhân vật chủ chốt đã có quyết tâm làm việc xấu ấy trước khi có sự cộng tác của người khác.

     3.5.1 Các hình thức cộng tác

Cơ sở để đánh giá sự cộng tác theo luân lý là phân biệt giữa sự cộng tác mô thức và sự cộng tác chất thể. Cộng tác một cách mô thức là khi ta vừa đồng ý với hành vi tội lỗi của người khác một cách bên ngoài, vừa ưng thuận hành vi ấy một cách bên trong nữa. Sự cộng tác này luôn luôn có tội. Cộng tác một cách chất thể là khi ta chỉ đồng ý với việc tội của người khác một cách bên ngoài, còn trong lòng thì không thuận theo.

Cộng tác chất thể có thể là trực tiếp hay gián tiếp. Là trực tiếp, khi ta tham gia vào chính hành vi xấu ấy như giúp tên trộm bỏ tư trang vào túi hắn. Là gián tiếp, khi ta chỉ cung cấp phương tiện và những điều khác chứ không tham gia vào chính hành vi, như trao cho tên trộm chìa khóa nhà hay những dụng cụ để thực hiện việc trộm cắp.

     3.5.2 Chuẩn mực để có thể cộng tác một cách chất thể.

Cộng tác một cách chất thể vào việc tội của người khác, nói chung là bất hợp pháp, vì chẳng những không được phép hỗ trợ tội lỗi bằng bất cứ phương tiện nào, mà còn phải chống lại và dẹp bỏ tội lỗi ấy. Tuy nhiên, nhiều khi người ta phải làm để tránh những điều còn tệ hại hơn. Sau đây là những quy tắc:

- Cộng tác một cách chất thể bằng những việc làm tự chúng không làm hại người khác là hợp pháp để tránh gây thiệt hại cũng nặng nề tương đương cho mình hay cho những người thân cận với mình.

- Cộng tác một cách chất thể bằng những việc tự chúng có làm hại cho người khác, hầu như không bao giờ được phép hay nếu được phép thì phải có một lý do nghiêm trọng hơn hẳn khi cộng tác dưới hình thức khác. Thí dụ, khi chế độ nô lệ còn hoạt động, một người trông coi nô lệ được phép đánh đập một nô lệ để tránh cho người ấy khỏi bị chủ giết chết. Tuy nhiên, trong thực tế, vấn đề này rất phức tạp, đưa tới nhiều ý kiến khác nhau. Có lẽ không có vấn đề nào khó hơn vấn đề nầy trong thần học luân lý.

     3.5.3 Khuyên chọn một tội nhẹ hơn

Thông thường ta được phép chọn một tội nhẹ hơn tội sắp phạm, nhờ đó đương sự tránh không phạm tội lớn hơn kia. Ðây là điều chắc chắn đúng khi tội nhỏ hơn thật ra đã hàm chứa trong tội lớn hơn, như khuyên một người đang tức giận đánh đập kẻ thù hơn là giết nó. Nhiều tác giả còn cho rằng được phép khuyên chọn một tội nhẹ hơn ngay cả khi đương sự chưa có ý phạm tội ấy, như thuyết phục một người muốn trả thù nên cướp bóc chứ đừng giết kẻ thù.

Tuy nhiên không được phép khuyên đương sự phạm một tội có thể gây thiệt hại cho một người thứ ba mà đương sự chưa hề nghĩ đến, để ngăn cản đương sự phạm một tội lớn hơn. Như không được phép khuyên một người đả thương con gái của kẻ thù thay vì giết người ấy.

(Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau)