Bài 6: HÀNH VI NHÂN LINH

1. BẢN CHẤT HÀNH VI NHÂN LINH

2. NHỮNG THỨ LÀM GIẢM GIÁ TRỊ HÀNH VI NHÂN LINH

3. CÁC NGUỒN ĐỂ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ LUÂN LÝ

4. VẤN ĐỀ NHỮNG HẬU QUẢ GIÁN TIẾP CỦA HÀNH VI NHÂN LINH


Bài 6: HÀNH VI NHÂN LINH

1. BẢN CHẤT HÀNH VI NHÂN LINH

1.1 Khái niệm

Hành vi nhân linh là những hành vi xuất phát từ sự nhận thức và ý muốn tự do. Như thế, hành vi nhân linh khác với hành vi con người là những việc làm không có sự can thiệp của trí khôn và ý muốn tự do. Hành vi con người bao gồm tất cả những quá trình cảm giác và sinh học tự nhiên, như ăn uống, hít thở, những ấn tượng của giác quan, tất cả những việc do người không sử dụng trí khôn thực hiện như ngủ gục, người điên, người say, tất cả những phản ứng tự phát trước khi trí khôn và ý muốn hoạt động như những phản ứng giận dữ hoặc thiện cảm đầu tiên. Cũng cần phân biệt hành vi nhân linh với các hành vi bị cưỡng bách, tức là những hành vi dù đã được hiểu biết và đã được trí khôn can thiệp phần nào, nhưng lại được thực hiện ngược với quyết định và ý muốn riêng của con người. Một số tác giả cũng xếp hành vi miễn cưỡng vào số các hành vi của con người.

1.2 Những nguyên lý cấu thành hành vi nhân linh

     1.2.1 Yếu tố lý trí

Ðể có một hành vi nhân linh cần có những điều kiện chủ yếu sau đây: biết về đối tượng mình mong muốn, lưu ý tới hành vi mình phải làm để theo đuổi đối tượng ấy và phán đoán về giá trị của hành vi ấy.

Ngoài ra, một hành vi là hành vi nhân linh và bởi đó hoặc tốt hoặc xấu, chỉ dưới những khía cạnh nào được biết tới. Nếu đánh một người họ hàng mà vì tối trời ta lầm tưởng là kẻ trộm, thì không phạm tội gây thiệt hại gì hết, mà chỉ là nạn nhân của một sai lầm, sai lầm ấy miễn cho ta khỏi mắc tội (dĩ nhiên vẫn đền bù thiệt hại cho người bị thương tật).

     1.2.2 Yếu tố ý chí

Ðiều kiện căn bản thứ hai để làm nên một hành vi nhân linh là sự đồng ý của ý muốn tự do, tự do khỏi những áp lực cả bên ngoài lẫn bên trong.

Tuy nhiên, người ta cũng quan sát thấy rằng hiện nay những sự tự do bên ngoài như tự do hành động, tự do ngôn luận, tự do di chuyển, v.v... không còn là những giá trị tuyệt đối và tối thượng nữa. Chúng đang bị lệ thuộc và phải tiếp tục lệ thuộc những giá trị cao hơn có liên hệ tới ích lợi thật của xã hội và lệ thuộc kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa.

1.3 Phân loại hành vi tự do

- Hành vi tự do hoàn toàn hay không hoàn toàn. Tự do hoàn toàn là những hành vi được thực hiện với đầy đủ sự nhận thức và ưng thuận của ý chí. Tự do không hoàn toàn là những hành vi được thực hiện với sự nhận thức hoặc ưng thuận của ý chí không đầy đủ hoặc cả hai không đầy đủ.

- Hành vi tự do đã được thể hiện ra hay còn trong tiềm thể. Hành vi tự do đã được thể hiện là những hành vi xuất phát từ sự tính toán của ý chí ngay lúc này, tự do trong tiềm thể là những hành vi do sự tính toán trước kia còn để lại hậu quả.

Tương ứng với hành vi tự do đã thể hiện và còn trong tiềm thể là ý hướng hiện thực và ý hướng tiềm ẩn. Có ý hướng hiện thực để làm một việc gì đó là do đang có sự tính toán nơi mình. Còn có ý hướng tiềm ẩn là do hậu quả không hay biết và thuộc về tiềm thức của ý chí - ý chí có từ trong ý hướng cụ thể ban đầu và đã khai sinh ra công việc hiện tại này.

- Hậu quả muốn trực tiếp hay gián tiếp. Hậu quả muốn trực tiếp là khi ta nhắm đến hậu quả trong chính bản thân nó như một mục tiêu.

Hậu quả muốn gián tiếp là khi không nhắm đến mà chỉ cho phép xảy ra như một hậu quả không thể tránh được của một đối tượng ta trực tiếp muốn.

- Hậu quả muốn một cách tích cực hay tiêu cực: tích cực như đốt nhà để làm hại người hàng xóm ; tiêu cực như khi ta không dập tắt một đám lửa đã bộc phát trong nhà một người hàng xóm. Hậu quả tự nguyện tích cực được tạo ra là do chủ ý, còn hậu quả tự nguyện tiêu cực chỉ là điều cho phép xảy ra.

2. NHỮNG THỨ LÀM GIẢM GIÁ TRỊ HÀNH VI NHÂN LINH

2.1 Do thiếu hiểu biết

     2.1.1 Không biết

Không biết có thể là do lỗi mình (có thể khắc phục được) hoặc không do lỗi mình (không thể khắc phục được). Không biết mà có thể khắc phục được là sự không biết có thể giải tỏa được nhờ nỗ lực hợp lý, nhưng đã không được giải tỏa vì chểnh mảng hay vì có ý xấu. Không biết mà có thể khắc phục được thì sẽ bị quy trách.

Một số nguyên tắc để phân biệt các loại không biết và mức độ đáng quy trách của chúng:

- Không biết mà không thể khắc phục được, khiến cho hành vi nhân linh của ta không còn là hành vi tự do, vì làm sao có sự tự do lựa chọn khi không biết về điều mình lựa chọn.

- Không biết mà có thể khắc phục được sẽ không làm mất hết tính tự do, sẽ không làm ta hết muốn những hậu quả do hành vi ấy mang lại hoặc do không làm hành vi ấy mà có, nhưng chỉ làm giảm bớt việc tự do, trừ khi giả bộ không biết.

Tuy nhiên, tình trạng không biết có thể khắc phục ấy thường làm cho tính tự do của hành vi không còn đầy đủ và vì thế làm cho phần tội của đương sự được giảm bớt. Vì một hành vi được quy trách chủ yếu là do sự nhận thức của ta về vấn đề đó ; thế nhưng ở đây đã không có sự nhận thức đầy đủ.

Tuy nhiên, không biết vì giả bộ sẽ không làm cho tội được giảm, vì trong trường hợp này đương sự đã cố tình giữ sự không biết để không bị ràng buộc đối với luật và được tự do hơn mà phạm tội.

     2.1.2 Sai lầm

Sai lầm, thành kiến, có ý kiến sai và tin sai, có thể là do không được giáo dục đầy đủ, do bạn bè xấu ảnh hưởng, do đọc các sách báo lệch lạc, v.v... Một trong những mối nguy hiểm lớn nhất đối với sự tự do của chúng ta hiện nay là ảnh hưởng ngấm ngầm của việc tuyên truyền đại chúng, do các tổ chức như đảng phái, các nhóm ý thức hệ, các công đoàn, các hội học sinh-sinh viên hay các đoàn thể khác có thế lực của công dân.

Muốn có sự tự do luân lý thật, cần phải giải phóng con người dần dần khỏi sự lừa bịp của đại chúng. Tuy nhiên, chỉ riêng cá nhân thôi lại không đủ sức vô hiệu hóa áp lực của dư luận tập thể trên sự tự do của mình. Cá nhân cần được sự nâng đỡ của cộng đoàn tốt.

Ðứng trước những thành kiến và sức khống chế của sự giả dối, Hội thánh có một vai trò quan trọng là làm người bảo vệ và phát huy sự thật, quyền lợi và tự do đích thật.

     2.1.3 Không chú ý

Nếu không chú ý gì hết tới điều mình đang làm thì hành vi ta đang làm không phải là một hành vi nhân linh. Nếu chỉ chú ý một nửa tới những gì đang làm, hành vi ấy sẽ chỉ là hành vi nhân linh không đầy đủ. Một hành vi nhân linh đầy đủ chỉ có, khi ta có chú ý đầy đủ tới điều mình đang làm.

2.2 Do thiếu tự do ưng thuận

     2.2.1 Ðam mê hay dục vọng

Ðam mê hay dục vọng là một trong những diễn biến của lòng thèm khát cảm nhận được khi đứng trước một điều tốt hay một điều dữ tưởng tượng thấy. Ðam mê cũng thường được gọi là tình cảm, đặc biệt khi đó không phải là đam mê mạnh.

Như vậy, dục vọng hiểu theo nghĩa trên đây không hề có nghĩa xấu. Ðó là những dụng cụ để cá nhân và nhân loại tự bảo vệ mình. Người không có dục vọng hay đam mê thì cũng không có khả năng tự vệ, khả năng phát triển và hoàn thiện. Ðam mê chỉ trở nên xấu và có tính phá hoại khi lý trí không thể kiểm soát được sức mạnh của nó. Vì đây không phải là một khả năng còn lâu mới xảy ra mà là một mối nguy rất thường gặp, nên con người có nghĩa vụ khẩn cấp phải khống chế và kiểm soát những khát vọng và thèm muốn tự nhiên của mình.

Ðam mê hay dục vọng có thể có trước (tiền kết) hay đến sau (hậu kết). Ðam mê tiền kết là đam mê có trước khi ý chí hoạt động và đồng thời lôi kéo ý chí ưng thuận theo. Ðam mê hậu kết là đam mê xảy ra sau khi ý chí đã quyết định tự do, đam mê ấy hoặc được nhìn nhận và thuận theo một cách tự do hoặc được gợi lên một cách cố tình.

Nguyên tắc:

- Ðam mê tiền kết luôn làm suy giảm ý chí, cũng có lúc làm tê liệt ý chí hoàn toàn. Làm giảm ý chí vì nó không cho lý trí suy nghĩ và làm suy yếu sức chú ý của ta. Ðồng thời nó thúc giục ta hành động và lôi kéo ý chí thuận theo. Dục vọng càng mãnh liệt, lý trí và ý chí càng yếu kém. Nếu đam mê làm sút giảm ý chí, thì ngược lại nó cũng có thể tăng cường hướng đi của ý chí, nói cách khác, những gì ta muốn qua đam mê tiền kết thì sẽ được muốn mãnh liệt hơn, dù bây giờ ít tự do hơn.

Nên lưu ý, cho dù khả năng quy trách nhiệm có giảm bớt, ta vẫn có thể phạm tội nặng. Hơn thế nữa, người ta thường ham muốn sự đam mê kia một cách gián tiếp hoặc vì đã để mình liều vướng vào nguy hiểm mà không có lý do xứng hợp hoặc vì không chịu chống lại tính đam mê của mình dù biết mình có bổn phận phải làm thế.

- Ðam mê hậu kết không gây ra tình trạng ý chí bị giảm sút, bởi đó, có thể tốt mà cũng có thể xấu. Ta có thể tự do đón nhận, thậm chí có thể cố tình tạo ra đam mê hậu kết.

     2.2.2 Sợ hãi và áp lực xã hội

Sợ hãi là tình trạng tâm trí con người co rút lại trước một sự dữ đang rình chực mình. Sự dữ gây ra nỗi sợ hãi ấy có thể đe dọa trực tiếp chủ thể, cũng có thể tác động tới họ hàng, bạn bè và những người có liên hệ tới chủ thể ấy. Một hình thức sợ hãi rất phổ biến và thường rất tinh tế là áp lực của xã hội vì sợ hãi và xấu hổ mà tự do của ta đâm ra bị trói buộc, không cho phép ta làm theo những gì lương tâm dạy phải làm.

Sợ hãi có thể là trầm trọng hay nhẹ nhàng. Sợ hãi trầm trọng nhất là khi gây thất vọng nặng nề cho một người thuộc hạng trung bình, chẳng hạn như một người cha không có một nguồn nào khác để nuôi gia đình sợ mình bị chết, bị hành hạ hay bị thất nghiệp. Sợ hãi tương đối trầm trọng khi sự đữ đe dọa ấy về mặt khách quan chẳng có gì đáng kể, nhưng về mặt chủ quan thì làm hoảng hốt thật sự chỉ vì đương sự quá nhút nhát, như một đứa trẻ bị nhốt trong buồng tối. Một hình thức sợ tương đối trầm trọng, thường rất gặp, là sợ vì kính như một người không dám chống lại người mà mình có bổn phận phải tôn kính.

Nguyên tắc:

- Sợ hãi không làm mất hết phần ý chí của một hành vi, nhưng nó cũng có thể làm giảm công cũng như làm nhẹ tội.

Bởi vậy trong thời gian có cấm cách đạo, không được viện cớ sợ chết để cho phép mình bội giáo. Cũng không thể lấy cớ là sợ chết để tha cho người lính khỏi ở lại chốt của mình cho tới giây phút cuối cùng. Không được cho rằng vì tàu sắp chìm nên thủy thủ đoàn lo xuống thuyền cấp cứu, bỏ mặc phụ nữ và trẻ em. Tuy vậy, sợ hãi thường làm giảm tội và làm nhẹ bớt công trạng, trong hành vi ấy có một phần không muốn: sợ hãi làm cho đương sự muốn một điều mà nếu không sợ thì hẳn người ấy không muốn. Bỏ đạo vì sợ bị tra tấn thường được cho là tội nhẹ hơn nhiều so với bỏ đạo để được thăng quan tiến chức.

- Sợ hãi quá có thể miễn cho ta khỏi thi hành những nghĩa vụ của luật thiết định (luật Hội thánh hay luật dân sự) và những nghĩa vụ theo luật khẳng định của luật tự nhiên. Lý do là vì đã không có khả năng luân lý thì không buộc phải thi hành những luật ấy.

Tuy nhiên, có khi sợ hãi không được miễn thi hành luật, khi luật thiết định ấy thuộc loại nếu vi phạm sẽ gây thiệt hại lớn cho công ích. Chẳng hạn, dù trong hoàn cảnh nào linh mục cũng không được phép tiết lộ những bí mật tòa giải tội.

Cần lưu ý là giáo luật và dân luật thường vô hiệu hóa những hành vi được đương sự khiếu nại là đã làm trong khi sợ hãi. Giáo luật thường vô hiệu hóa các việc sau đây ngay lập tức nếu các việc ấy đã được thi hành do sợ hãi quá hay do một sự sợ hãi không chính đáng: hôn nhân, nhận vào thời kỳ tập sinh, khấn dòng, các lời khấn khác, thề hứa, từ chức. Các chức thánh lãnh nhận vì sợ hãi quá vẫn có hiệu lực. Tuy nhiên, thẩm quyền Hội thánh có thể vô hiệu hóa các chức thánh ấy khi đương sự làm đơn khiếu nại.

     2.2.3 Bạo hành

Bạo hành là dùng một tác nhân bên ngoài gây ảnh hưởng cưỡng bức trên một người nào đó trái ngược với ý muốn của họ.

Ðứng trước bạo hành, cần phải có sự kháng cự của ý chí trong nội tâm, nhưng kháng cự bên ngoài không hẳn lúc nào cũng phải có. Chỉ buộc phải có sự kháng cự bên ngoài khi có hy vọng rằng có thể đẩy lùi được sức mạnh ấy nhờ việc chống lại. Hoặc chỉ buộc phải có sự kháng cự bên ngoài khi cần phải ngăn chặn trước một nguy cơ là đương sự có thể tuân theo trong lòng, hoặc khi cần ngăn chặn những người khác hiểu lầm rằng mình đã thuận theo.

Bạo hành được coi là tuyệt đối khi đương sự hoàn toàn không đồng ý và kháng cự vừa tối đa vừa hợp lý. Bạo hành được coi là tương đối khi đương sự chỉ phản đối một phần hay phản đối yếu ớt và có thể không kháng cự bên ngoài một cách đầy đủ.

Quy tắc:

- Bạo hành tuyệt đối làm cho hành vi bị cưỡng bách không có tính tự nguyện nữa. Nếu đây là những hành vi có tính pháp lý, Hội thánh sẽ tuyên bố là vô hiệu lực (cf. GL 125,1).

- Bạo hành tương đối không làm mất hết tính tự nguyện của một hành vi mà chỉ làm giảm bớt. Tính tự nguyện không bị xóa hết vì đương sự đã có phần nào thuận theo, nhưng tính tự nguyện ấy bị giảm bớt, vì do bạo hành tương đối đương sự đã làm một điều mà bình thường người ấy không làm.

     2.2.4 Xu hướng và thói quen

Có những xu hướng tự nhiên làm người này nghiêng theo một số phản ứng và hành động nhiều hơn so với người khác. Tất cả những điều này đều có ảnh hưởng lên ý chí tự do của người ấy, làm giảm tính tự nguyện trong các hành vi của người ấy tới một mức nào đó, dù không thể diệt hoàn toàn sự tự do và tính tự nguyện ấy.

Khi thường xuyên làm theo một khuynh hướng nằm sẵn trong bản tính của mình, người ta sẽ có khả năng để làm việc ấy rất dễ dàng. Từ đó, khuynh hướng ấy sẽ trở nên mạnh hơn và cuối cùng biến thành một tập quán. Người ta định nghĩa tập quán là khả năng ứng xử dễ dàng và mau mắn theo một hướng nào đó, có được khả năng ấy là nhờ đã lặp đi lặp lại việc đó nhiều lần.

Nguyên tắc:

- Một thói quen đã chủ ý tập tành sẽ không làm giảm tính tự nguyện của hành vi xuất phát từ thói quen đó và vì thế, các hành vi này cũng là các hành vi tự nguyện, ít là trong nguyên nhân.

- Còn một thói quen đã từng bị chống cưỡng sẽ làm giảm tính tự nguyện của các hành vi xuất phát từ đó, đôi khi còn làm mất hẳn nữa.

3. CÁC NGUỒN ĐỂ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ LUÂN LÝ

Theo truyền thống, thần học luân lý kể ra 3 nguồn để xác định giá trị luân lý của các hành vi nhân linh: đối tượng, hoàn cảnh và ý hướng.

3.1 Ðối tượng

Ðối tượng của một hành vi nhân linh là hậu quả do một hành vi nào đó trực tiếp gây ra ("finis operis"). Ðó là kết quả luôn luôn có và tất yếu phải xảy ra của hành vi ấy, bất kể hoàn cảnh chung quanh hay ý hướng của người làm hành vi ấy là gì.

Người ta thường lấy đối tượng làm cơ sở đầu tiên để phê phán giá trị luân lý của một hành vi. Các thủ bản luân lý Công Giáo thường dạy rằng đối tượng của một hành vi nhân linh có thể tốt, xấu hay vô thưởng vô phạt xét theo luân lý. Vô thưởng vô phạt là xét theo đối tượng như đi dạo hay chơi nhạc, chứ không xét theo toàn bộ hành vi, vì giá trị luân lý còn tùy vào hoàn cảnh chung quanh và nhất là tùy vào ý hướng của người làm nữa.

Ðối tượng của hành vi nhân linh đã là xấu xét theo luân lý như hiếp dâm, giết người vô tội thì dù có mục đích và ý hướng tốt đến đâu cũng không được phép làm việc đó. Ðành rằng, trên nguyên tắc những đối tượng có giá trị thì đáng được ủng hộ và những đối tượng có hại thì cần tránh. Nhưng ta chỉ có thể phê phán dứt khoát giá trị luân lý của một hành vi khi cùng cứu xét một trật các hoàn cảnh chung quanh hành vi ấy và nhất là ý hướng của người làm hành vi ấy.

3.2 Hoàn cảnh

Hoàn cảnh là những chi tiết của một hành vi nhân linh cụ thể, không nhất thiết có liên hệ với đối tượng của hành vi ấy. Như bố thí có thể là việc làm của một người nghèo hay một người giàu, làm trong chỗ riêng tư hay nơi công cộng. Các hoàn cảnh này có thể thay đổi mà vẫn không làm biến chất đối tượng của việc bố thí, đối tượng ấy trước sau vẫn vậy.

Nói chung, bảy điều sau đây thường làm nên hoàn cảnh của một hành vi: ai, cái gì, ở đâu, bằng cách nào, tại sao, thế nào, khi nào. (Quis? Quid? Ubi? Quibus auxiliis? Cur? Quomodo? Quando?) Hoàn cảnh có thể làm thay đổi giá trị luân lý của một hành vi thành tốt hơn hay xấu hơn.

- Theo chiều hướng tích cực, một hoàn cảnh có thể làm cho hành vi vốn tốt do đối tượng của nó trở nên tốt hơn. Một hoàn cảnh có thể làm cho một việc xấu tự trong đối tượng trở nên bớt xấu di. Khi chối bỏ đức tin do bị đe dọa tra tấn thì ít xấu hơn là chối bỏ đức tin do muốn thăng quan tiến chức.

- Theo chiều hướng tiêu cực, một hoàn cảnh có thể làm cho một việc vốn xấu theo đối tượng trở nên xấu hơn. Một hoàn cảnh có thể làm cho một hành vi vô thưởng vô phạt theo đối tượng trở nên xấu. Bật radiô có thể trở nên xấu khi mở âm thanh lớn đến độ quấy rầy người khác. Sau cùng, một hoàn cảnh có thể làm cho một hành vi vốn tốt theo đối tượng trở nên bớt tốt đi hay thậm chí trở nên xấu.

3.3 Mục tiêu được đương sự nhắm tới

Mục tiêu (finis operanti) chính là lý do mà đương sự dựa vào để làm một việc. Mục tiêu là kết quả mà chủ nhân nhắm tới khi hành động. Mục tiêu hay kết quả mà chủ thể nhắm tới khi hành động có thể cũng là đối tượng của hành vi ấy. Trong trường hợp đó, mục tiêu của công việc và mục tiêu của người làm là một. Nhưng chủ thể cũng có khi nhắm tới một hậu quả khác, gián tiếp hay xa hơn, có khi chắc chắn sẽ xảy ra, có khi chỉ hy vọng như thế hay chỉ có thể xảy ra thôi.

Người ta cũng thường dùng "ý hướng" thay cho chữ "mục tiêu" để chỉ nguồn thứ ba làm nên giá trị luân lý của các hành vi nhân linh. Ý hướng là kế hoạch hay quyết tâm của ý chí muốn tạo ra một hậu quả nào đó. Ðang khi đó, mục tiêu là chính hậu quả mà ý chí nhắm tới.

Mục tiêu làm thay đổi tính luân lý của một hành vi. Một mục tiêu tốt có thể làm cho một hành vi vốn tốt do đối tượng được tốt hơn, làm cho một hành vi vô thưởng vô phạt theo đối tượng được trở nên tốt, và làm cho một hành vi xấu do đối tượng của nó được bớt xấu đi. Một mục tiêu xấu có thể làm cho một hành vi vốn xấu do đối tượng trở nên xấu hơn, làm cho một hành vi vô thưởng vô phạt theo đối tượng trở nên xấu, và làm cho một hành vi tốt tự đối tượng trở nên bớt tốt hay thậm chí xấu di. Tuy nhiên, nếu mục tiêu tốt hay xấu mà chủ thể nhắm tới cũng trùng với đối tượng tốt hay xấu của hành vi, thì hành vi ấy không tốt hơn mà cũng chẳng xấu hơn.

Mục tiêu là cái có liên hệ trực tiếp tới giá trị luân lý của mỗi hành vi nhân linh. Ngoài ra, một mục tiêu thường kết hợp nhiều hành vi khác nhau thành một khối thống nhất và làm cho chúng được tốt lên hay xấu hơn chung với nhau. Như vậy, khi đánh giá một hành vi về mặt luân lý, ta phải nhớ mục tiêu có một vai trò rất quan trọng. Mọi hành vi phải ăn khớp với mục tiêu ấy và phải phục vụ mục tiêu ấy một cách nào đó.

Thỉnh thoảng người ta nhấn mạnh tới tầm quan trọng của ý hướng ngay lành. Tuy nhiên, một động cơ tốt thôi thì chưa đủ bảo đảm cho mọi hành vi xuất phát từ đó được đúng đắn về mặt luân lý. Có biết bao sự vi phạm, thậm chí biết bao tội ác đã xảy ra do những ý hướng ngay lành của những người cuồng tín đủ loại.

3.4 Ý nghĩa luân lý của các hành vi bên ngoài

Vấn đề được đặt ra ở đây là: Một người muốn làm phúc bố thí, nhưng lại bị mất tiền có phải sẽ bớt tốt đi không? Một người muốn cướp ở cửa hàng kim hoàn nhưng bị một tai nạn ngăn trở có phải là ít xấu hơn không?

Lương tri của chúng ta sẽ nhận định rằng xác định giá trị tốt xấu của một hành vi sẽ tùy vào việc người đó định làm, dù hành vi định làm ấy đã bị những hoàn cảnh ngăn trở không cho thực hiện được trong cụ thể, vượt khỏi sự kiểm soát của đương sự. Sở dĩ thế là vì ta quy trách nhiệm luân lý dựa vào sự ưng thuận tự do của mỗi người. Sự ưng thuận này đã là một quyết định nội tâm và khi hành động bên ngoài ta không cần phải có sự ưng thuận thêm nữa.

Tuy nhiên, do hoàn cảnh, một hành vi khi được thực hiện ra bên ngoài có thể làm tăng giá trị tốt hay xấu của hành vi ấy. Nhờ có âm hưởng trên ý chí, mà các hành vi nội tâm của ta có thể được mạnh hơn, được kéo dài hơn, được lập lại hay nhân lên.

Từ những suy tư trên đây về ảnh hưởng luân lý của các hành vi bên ngoài, ta có thể kết luận thêm rằng thành công hay thất bại bên ngoài không thể xác định giá trị của một hành vi. Nhưng nói thế không có nghĩa là ta không cần phải bận tâm chi hết tới sự thành công của các việc tốt mình làm. Vì ý chí cương quyết sử dụng khả năng của mình thế nào hầu dem lại thành công cũng đóng góp vào giá trị luân lý của một hành vi.

4. VẤN ĐỀ NHỮNG HẬU QUẢ GIÁN TIẾP CỦA HÀNH VI NHÂN LINH

Một hậu quả được muốn cách gián tiếp là khi nó không được ta nhắm đến như một mục tiêu hay một phương tiện, mà chỉ được dự kiến trước như kết quả của một hậu quả ta trực tiếp nhắm tới.

Một người tài xế phải biết những hậu quả của rượu gây ra cho việc tuân giữ luật lưu thông và vì thế phải tránh uống rượu. Nếu người ấy cứ uống và cứ lái xe, thì đó là đã gián tiếp muốn những hậu quả xấu của việc ấy.

4.1 Nói chung về khả năng quy trách đối với những hậu quả được muốn cách gián tiếp

Những hậu quả được muốn gián tiếp khác với hậu quả được muốn trực tiếp, bởi vì mọi hậu quả trực tiếp đều phải quy cho chủ thể, bất kể đó là hậu quả tốt hay xấu, còn những hậu quả được muốn gián tiếp không bị quy như thế.

1. Một hậu quả tốt được muốn gián tiếp không bị quy cho chủ thể. Những hậu quả tốt được muốn gián tiếp, ý chí chỉ chấp nhận theo kiểu khoan nhượng, chứ không nhắm tới hay tán thành minh bạch. Một người ăn cắp một chiếc máy chữ có thể bán rẻ cho một học sinh nghèo không có khả năng mua được trong những điều kiện khác. Ðây là hậu quả phụ của việc ăn cắp nhưng không được coi đây là một hành vi tốt mà kẻ ăn cắp đã làm được, kể cả khi người ấy ý thức điều đó, vì khi ăn cắp máy chữ mà bán cho cậu học sinh, đương sự không hề hành động vì được thúc đẩy bởi hậu quả gián tiếp đó.

2. Ngược lại, một hậu quả xấu được muốn cách gián tiếp thường bị qui trách cho người làm hành vi ấy, nhất là khi người ấy đã có thể tránh và đáng lẽ phải tránh hành vi ấy. Lý do là theo nguyên tắc luân lý căn bản: điều tốt thì phải làm, điều xấu thì phải tránh.

Vấn đề còn lại là khi nào cần phải tránh một hậu quả xấu được muốn cách gián tiếp và khi nào không cần phải tránh, có thể chấp nhận được. Vấn đề này đã đưa tới một nguyên tắc gọi là nguyên tắc song hiệu.

4.2 Nguyên tắc song hiệu

Nguyên tắc này sẽ nêu ra những điều kiện khi nào một hậu quả được muốn cách gián tiếp không bị quy trách cho người làm và vì thế được cho phép xảy ra. Truyền thống thường kể bốn điều kiện sau đây:

1. Hành vi có thể không xấu tự bản chất, nghĩa là đối tượng của hành vi không phải là một điều gì mang bản chất xấu, không thể chấp nhận được. Những đối tượng mà theo thần học luân lý Công Giáo là luôn luôn xấu gồm có phá thai trực tiếp, tự sát trực tiếp, ngoại tình, chối bỏ đức tin, phạm thượng và một số đối tượng khác nữa.

2. Hậu quả xấu và hậu quả tốt phải xảy ra ít là một cách trực tiếp như nhau, hay hậu quả trực tiếp của một hành vi phải là hậu quả tốt, chứ không bao giờ xấu. Trường hợp thường thấy hơn là khi hậu quả trực tiếp thì tốt, còn hậu quả gián tiếp và xa hơn thì xấu.

3. Ý hướng của người làm phải là tốt, nghĩa là người làm không được muốn hậu quả xấu.

4. Phải có một lý do nghiêm trọng cân xứng mới có thể cho phép ta chấp nhận một hậu quả xấu, gián tiếp.

Lý do càng phải nghiêm trọng khi:

1. Hậu quả xấu được muốn cách gián tiếp là nghiêm trọng.

2. Hậu quả xấu chắc chắn sẽ xảy ra.

3. Hành vi trực tiếp đưa tới hậu quả xấu. Phụ giúp một ca mổ bất hợp pháp (như phá thai) đòi phải có lý do nghiêm trọng hơn là khi chuẩn bị phòng mổ.

4. Bổn phận ngăn chặn hậu quả xấu là một bổn phận lớn. Một người cha có bổn phận gìn giữ con cái khỏi bạn bè xấu hơn là người chú hay hàng xóm của nó.

Như thế, với những điều kiện vừa kể, luân lý chấp nhận cho xảy ra những hậu quả xấu vì nếu không, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên hết sức khó khăn. Ðàng khác, nhiều điều tốt không thể thực hiện được vì có thể gây ra những hậu quả phụ, xấu.

(Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau)