Bài 3: BẢN CHẤT VÀ CỨU CÁNH CỦA LUÂN LÝ

1. TÍNH HỮU TRÁCH

2. MỤC TIÊU TỐI HẬU CỦA HÀNH VI LUÂN LÝ

3. LUÂN LÝ MANG TÍNH TUYỆT ĐỐI

4. SỐNG THEO SỰ HƯỚNG DẪN CỦA CHÚA THÁNH THẦN


Bài 3: BẢN CHẤT VÀ CỨU CÁNH CỦA LUÂN LÝ

Theo luân lý Kitô giáo, các hành vi nhân linh có tính luân lý là do chúng thuận theo hay chống lại ý muốn của Thiên Chúa. Ðó là một tiếng mời gọi chu toàn nhiệm vụ trong kế hoạch chung của Thiên Chúa. Vì thế, cứu cánh tối hậu của con người và thế giới sẽ là tiêu chuẩn cuối cùng quyết định giá trị luân lý của các hành vi cá nhân.

1. TÍNH HỮU TRÁCH

Tính hữu trách và tự do có trách nhiệm là những từ quen thuộc trong luân lý. Một hành vi được coi là hữu trách khi nó là kết quả của một quyết định tự do, có suy nghĩ. Trách nhiệm là có khả năng trả lời về những gì mình đã làm với một ai đó.

Trước tiên, con người phải chịu trách nhiệm trước tha nhân và tập thể xã hội. Con người còn phải chịu trách nhiệm đối với thế hệ tương lai, như khi khai thác các tài nguyên thiên nhiên chẳng hạn. Con người cũng có trách nhiệm đối với thế giới nói chung. Tuy nhiên, xét cho cùng - và đây chính là một xác tín căn bản của đức tin Kitô giáo - con người phải trả lời trước mặt Thiên Chúa. Như vậy, có trách nhiệm là có khả năng đưa ra một câu trả lời thích hợp trước tiếng Chúa mời gọi mình.

1.1. Kinh Thánh

Kinh Thánh cho thấy Giao ước là đề tài quan trọng. Nội dung giảng dạy của các tiên tri thường quy chiếu về Giao ước (cũ). Họ tố giác sự bất trung của Israen đối với Thiên Chúa, loan báo những tai họa đang đe dọa dân tội lỗi, nên Thiên Chúa hứa hẹn sẽ có một giao ước mới ; giao ước này sẽ tạo ra sự thay đổi tận trong con tim loài người, ban Thần Khí Thiên Chúa cho con người (Ed 36,26tt). Giao ước mới đó được ký kết với nhân loại qua Ðức Giêsu Kitô. Trong giao ước này, Thiên Chúa chờ đợi con người hưởng ứng công trình cứu độ của Người, bằng cách tuân phục và yêu mến. Ai chấp nhận những lời của Ðức Giêsu thì sẽ sinh hoa kết quả (Mc 7,24-17ss ; 13,18-23 ss). Ai bác bỏ Lời và khinh rẻ Lời thì sẽ tiếp tục ở lại trong tối tăm và bị xét xử (cf. 3,17t). Như thế Lời Chúa đến với hết mọi người, chờ đợi mỗi người trả lời, và số phận đời đời của mỗi người tùy thuộc câu trả lời đó.

1.2. Phụng vụ

Hiến chế về Phụng Vụ viết: "Trong Phụng vụ, Thiên Chúa vẫn nói với dân Người và Ðức Kitô vẫn đang công bố Tin mừng. Dân Chúa sẽ đáp lại những tiếng nói ấy bằng lời ca và kinh nguyện" (PV, 33). Lời ca và kinh nguyện diễn tả khát vọng của con người cũng như thái độ sẵn sàng chấp nhận một cuộc sống phù hợp với ý Chúa và đức tin Kitô giáo. Phụng vụ và các bí tích đòi hỏi con người đáp lại bằng cách sống phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa và làm môn đệ Ðức Kitô.

1.3. Ðời sống cộng đoàn

Khi bước theo Ðức Kitô, các Kitô hữu được mời gọi hãy đáp trả tiếng Chúa một cách tương tự như Ðức Kitô. Sự đáp trả của các Kitô hữu phải là sự đáp trả của một người con, nó tạo nên một mối quan hệ cá nhân giữa Thiên Chúa và người ấy. Tuy nhiên cuộc sống trong Ðức Kitô cũng có nghĩa là có sự liên hệ với tất cả mọi người, nhất là với những ai đã đi theo Ðức Kitô. Cùng với người khác làm thành một cộng đoàn nằm trong bản chất của cuộc sống tôn giáo. Bởi vì dù được kêu gọi riêng lẻ, mỗi người đều thấy rằng khi đón nhận lời Chúa, mỗi người được mời gọi mở ra một con đường để yêu thương tha nhân.

2. MỤC TIÊU TỐI HẬU CỦA HÀNH VI LUÂN LÝ

Ngoài trách nhiệm trước Thiên Chúa, thần học luân lý còn cho rằng mục tiêu cuối cùng của con người cũng là tiêu chuẩn quan trọng để phê phán phẩm chất luân lý của một hành vi. Hành vi nhân linh này là tốt, khi chúng góp phần thực hiện mục tiêu cuối cùng. Hành vi nhân linh kia là xấu, khi chúng làm lạc xa hay cản trở con người thực hiện mục tiêu ấy. Vì thế, xác định mục tiêu và cứu cánh cuối cùng của con người là việc hết sức quan trọng trong thần học và triết học luân lý. Mỗi người có một mục tiêu (hay nhiều mục tiêu) để tin, để trung thành và dấn thân. Từ đó, mỗi người hình thành cho mình một lối sống luân lý, những phê phán và hành vi luân lý. Chúng ta thử lược qua vài lối sống đó.

2.1. Chủ nghĩa khoái lạc và chủ nghĩa duy lợi

Ðạo đức theo chủ nghĩa khoái lạc coi hạnh phúc và sự an vui trần gian là cứu cánh cuối cùng của đời sống và hoạt động của con người. Hạnh phúc và khoái lạc là điều duy nhất tốt tự bản chất ; ngược lại, điều gì gây ra đau khổ là điều xấu. Do đó, chủ nghĩa khoái lạc cũng luôn luôn là chủ nghĩa duy lợi. Và ngược lại, chủ nghĩa duy lợi thường là chủ nghĩa khoái lạc.

Có người cố tìm hạnh phúc trong những khoái lạc cảm giác (chủ nghĩa khoái cảm: hedonism) ; có người lại tìm hạnh phúc trong của cải, danh dự, địa vị xã hội và quyền hành (cf. đạo đức thời Cựu Ước) ; có người mong tìm hạnh phúc bằng cách từ bỏ những thú vui cảm giác để tạo được sự an bình và thanh thoát ; có người cho rằng hạnh phúc hệ tại ở chỗ thỏa mãn một cách hài hòa tất cả các nhu cầu trần gian, từ nhu cầu cảm giác, xã hội đến nhu cầu trí tuệ, văn hóa (triết gia Aristote) ; có người cho rằng cuộc đời (dĩ nhiên cuộc đời của con người trên trần gian) là điều thiện hảo và giá trị lớn nhất. Chủ nghĩa khoái lạc cá nhân là chủ nghĩa chỉ nhắm tới hạnh phúc của cá nhân. Còn chủ nghĩa khoái lạc xã hội thì nhắm tới hạnh phúc và sự an vui của một tập thể xã hội.

Thực ra, đạo đức Kitô Giáo không hề coi rẻ hạnh phúc và sự an vui trần gian vì đó là những giá trị chính đáng. Kinh nghiệm chứng minh rằng cần phải có hạnh phúc và sự an vui ở một mức độ nào đó thì con người mới có thể làm việc và sống trọn vẹn. Theo đuổi hạnh phúc và sự an vui trần gian không phải luôn luôn là sai lầm vì có một liên hệ nội tại giữa giá trị và hạnh phúc hay niềm vui. Giá trị càng lớn, niềm vui càng sâu. Tuy nhiên, thật là sai lầm nếu cho rằng các giá trị ấy hay thậm chí coi tất cả các giá trị ấy là giá trị tối cao và tối hậu.

2.2. Sự hoàn thiện bản thân và tiến bộ trần gian

Nền luân lý nhằm hoàn thiện bản thân chính là một nền luân lý đặt con người làm trọng tâm. Ai trong chúng ta cũng phải nhận rằng cần đạt tới một mức trưởng thành nào đó về trí tuệ và nhân cách thì ta mới có thể phục vụ người khác một cách hiệu quả. Bởi đó, việc hoàn thiện bản thân phải đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống con người.

Tuy nhiên, các nền luân lý này chỉ tập trung vào các giá trị có tầm vóc giới hạn, bỏ qua những giá trị tối thượng. Cầu nguyện, phụng tự và tôn giáo sẽ được nhìn từ góc độ chúng có mang lại cho con người ích lợi gì không? Thái độ đó đưa con người tới chỗ khép lại cánh cửa đưa mình đến với Thiên Chúa. Con người sẽ coi nhẹ nền tảng cơ bản nhất của tôn giáo là sự thánh thiện của Thiên Chúa. Nền đạo đức này cũng đánh giá thấp thế giới và hạ thấp những mục tiêu của thế giới xuống thành những phương tiện cho con người sử dụng để đạt được những mục tiêu thể hiện bản thân mình. Ngay cả việc phục vụ người khác cũng chỉ được coi là tốt về mặt luân lý là do chúng góp phần làm cho đương sự thực hiện được bản thân mình.

Vì thế, Công Đồng Vatican II xét thấy cần phải tách Hội thánh ra khỏi những khuynh hướng đó. Công Đồng kêu gọi các tín hữu đừng chỉ hài lòng với một nền luân lý thuần túy cá nhân chủ nghĩa. Bởi vì chủ nghĩa cá nhân không đủ sức giải thích rằng tại sao có những nhu cầu xã hội là một trong những nhiệm vụ ưu tiên của con người hôm nay (MV 30 ; cf. 32).

2.3. Luân lý tự lập

- Ðạo đức học của Kant

Kant († 1804) cho rằng nền tảng mô thể của các nghĩa vụ luân lý là mệnh lệnh vô điều kiện sau đây: "Hãy hành động như thể điều bạn muốn cũng có thể được coi như một nguyên tắc làm nên luật chung cho mọi người". Phải thi hành nghĩa vụ luân lý này vì chính nó, không phải vì hy vọng sẽ được hưởng hạnh phúc. (Nếu không, đó chỉ là một nền đạo đức có vay có trả, xây dựng trên khoái lạc và lợi lộc). Cũng không phải vì Chúa là Ðấng đã ban hành lề luật và là mục tiêu cuối cùng (Nếu không, như Kant giải thích, con người thành nô lệ).

Một nền luân lý đích thật thì phải tự lập, phải xuất phát tự chính trực giác của con người, được kiểm chứng và tán đồng bởi chính lý trí con người. Tư tưởng của Kant về sự tự lập của luân lý đã có một tiếng vang đáng kể và cho tới hôm nay vẫn là một lý thuyết được nhiều người hoan nghênh. Nền đạo đức này cho thấy các nghĩa vụ luân lý phải có tính vô điều kiện, ngược với chủ trương của các nền đạo đức khoái lạc và duy lợi. Nghĩa vụ luân lý phải được đặt ưu tiên tuyệt đối trên lợi lộc và khoái lạc.

Tuy nhiên, Kant đã sai lầm khi đồng hóa sự lệ thuộc với sự nô lệ. Nô lệ là lệ thuộc một người hay một sự vật đến mức không còn tự do để thực hiện cách tốt nhất cứu cánh của đời mình. Thế nhưng, khi vâng phục ý muốn của Thiên Chúa là con người đang phục vụ cứu cánh đích thật của đời mình, và đây mới chính là sự tự do thật. Kant cũng sai lầm khi không chấp nhận hy vọng được hạnh phúc làm mục tiêu tối hậu của các nỗ lực luân lý, cũng như không chịu coi hy vọng được hạnh phúc là một trong những động cơ luân lý. Thực ra, khát khao hạnh phúc chính là một kích thích tố vừa hợp tình hợp lý, vừa hữu ích, thúc đẩy con người thi hành các bổn phận đúng đắn. Sau cùng, đạo đức học của Kant không cống hiến cho ta một nền tảng thỏa đáng để giải thích tính bó buộc vô điều kiện, đặc điểm của các đòi hỏi luân lý. Nếu người ta không thi hành các nghĩa vụ luân lý thì phẩm giá con người là bị nguy hại ; phẩm giá ấy sẽ bị tổn thuơng trong các hành vi vô luân. Trong thực tế, đây là một cơ sở hơi lý tưởng và trừu tượng, khó lòng mạnh đủ dể thuyết phục ta tuân theo, nhất là khi phải hy sinh nhiều. Cơ sở ấy không đặt con người trước sự lựa chọn căn bản giữa cứu thoát và hủy diệt, đây lại là yếu tố duy nhất có thể làm cơ sở đầy đủ để giải thích tính bó buộc vô điều kiện của luân lý.

- Ðạo đức học về các giá trị

Ðây là kiểu đạo đức học nhìn nhận có sẵn những giá trị luân lý với những nội dung cụ thể. Những giá trị ấy không phải chỉ là những ý niệm chủ quan, mà là những bản thể trong thế giới hữu thể. Các giá trị luân lý không do lý trí ta suy diễn từ một cứu cánh tối hậu nào đó của đời người nhưng do trực giác thấy những giá trị ấy, do linh cảm về những giá trị ấy. Tương tự như trong thẩm mỹ và nghệ thuật, người ta nhận ra các giá trị bằng một cảm thức nội tâm, tự phát về những gì là đẹp.

Từ đó, tiêu chuẩn để xác định tốt-xấu về mặt luân lý không phải là hạnh phúc của con người, không phải là ý muốn của Thiên Chúa, cũng không phải là một mục tiêu tối hậu do Chúa định, mà đơn thuần là vẻ đẹp nội tại của chính điều tốt. Ðạo đức giá trị trao cho mỗi cá nhân quyền quyết định những giá trị luân lý nào đáng được chấp nhận và thực hiện. Không có tiêu chuẩn nào vượt trên những cảm giác chủ quan của con người. Kết quả là người ta đã lấy những tiêu chuẩn của chủ nghĩa khoái lạc và duy lợi lấp vào.

2.4. Ðạo đức học Thần Chuẩn

Trong Ðạo đức học Thần Chuẩn (Theonomous) thì mục tiêu tối hậu là vinh quang và chủ quyền Thiên Chúa. Bởi đó, đạo đức học Kitô giáo tìm mục tiêu và ý nghĩa tối hậu vạn vật nơi ý muốn và quyết định của Thiên Chúa. Con người chấp nhận mục tiêu ấy trong một quyết định hoàn toàn tự do của ý chí. Tuy con người cần phải chọn mục tiêu nào phù hợp với ý Chúa nhưng trong thực tế, con người vẫn có thể có những lựa chọn theo ý và sở thích của mình hơn, dù phải trả một giá đắt là đánh mất ý nghĩa tối hậu của đời mình.

Theo Kinh Thánh, mục tiêu cuối cùng của con người là vinh quang Thiên Chúa, là Nước Chúa, là thành Giêrusalem mới, là vạn vật được hiệp nhất nơi Ðức Kitô, là trời đất mới.

Trên đuờng lữ hành về Nước Trời, các Kitô hữu cần phải tìm kiếm và hướng lên những sự trên cao. Họ cần phải nuôi dưỡng mối hiệp thông với Chúa bằng cách ca tụng danh Người, cầu nguyện và chiêm ngắm, bằng việc thờ phượng trong cộng đoàn, bằng đời sống bí tích. Con người đã được qui hướng và xếp đặt cho những gì là thần linh, từ cái hữu hình đi đến cái vô hình, từ hoạt động đi đến chiêm ngưỡng, từ thế giới nầy đi đến thế giới sẽ tới mà chúng ta đang tìm kiếm.

2.5. Mục tiêu là để được ơn cứu độ

Trong số các động cơ và mục tiêu của đời sống luân lý theo cách trình bày của Thánh Kinh và theo quan niệm đạo đức của Hội thánh, được cứu độ là một động cơ và là một mục tiêu rất quan trọng.

Các nhà thần học coi việc nỗ lực để được cứu độ là một điều thích hợp, dù họ thường xếp mục tiêu này dưới mục tiêu tôn vinh Thiên Chúa là trung tâm của mọi giá trị. Dầu sao, các lời khuyên luân lý thích hợp cho người khai tâm cũng như cho những người sống xa Chúa có lẽ là hướng tới sự khát khao hạnh phúc và khao khát ơn cứu độ. Ở đây không nên hiểu câu hãy cứu linh hồn mình như một lời kêu gọi sống ích kỷ, nhưng quan tâm đến bản thân mình một cách chính đáng, tạo điều kiện cho ánh sáng chiếu vào linh hồn đang bị giam hãm trong tội. Sau cùng, chúng ta khó lòng đạt tới trình độ hoàn thiện trong tình yêu mà không cần nhờ tới khát vọng bẩm sinh của con người về hạnh phúc để khích lệ ta tiến lên.

Sự cứu độ cũng có một chiều kích tạm bợ, trần gian, nghĩa là đã tham gia Nước Chúa thì đồng thời cũng dấn thân lo phát triển thế giới. Hội thánh góp phần vào nỗ lực và cuộc đấu tranh của con người nhằm khắc phục tất cả những gì đang đè bẹp con người như đói khát, bệnh dịch, mù chữ, nghèo đói, bất công trong các quan hệ quốc tế, tình trạng thực dân mới.

Tuy nhiên, đạo đức học Kitô giáo không thể chấp nhận hạn chế sự giải thoát ấy tới mức chỉ còn là sự giải thoát trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Một trong các nhiệm vụ cấp thiết nhất của con người, tức là đấu tranh chống lại những ràng buộc của ích kỷ và tội lỗi trong tâm hồn con người. Cơ chế có tốt đến đâu cũng vẫn vô hiệu và trở thành vô nhân đạo, khi những người sống trong cơ chế đó không hoán cải tâm hồn và chưa rũ bỏ được ách tội lỗi.

3. LUÂN LÝ MANG TÍNH TUYỆT ĐỐI

Các luật luân lý có tính tuyệt đối và đòi hỏi phải vâng phục vô điều kiện bởi vì chúng có liên hệ tới cứu cánh của con người và tới những mục tiêu do Tạo hóa đặt ra. Thánh Kinh Cựu Ước cho biết Thiên Chúa bảo đảm cho những ai tuân giữ các giới răn và luật Chúa sẽ được các phúc lộc, còn những ai bất tuân sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.

Như thế, trật tự luân lý mang tính tuyệt đối là vì mỗi khi có quyết định luân lý, chúng ta đã đặt chính cứu cánh của đời người vào trong một cuộc chơi được thua. Vậy mà, mục tiêu của đời người và vũ trụ là thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa cho thế giới, là khai triển các hoạch định của Thiên Chúa và bày tỏ vinh quang Thiên Chúa. Vì thế, con người cần tôn trọng mục tiêu ấy và góp phần thực hiện nó. Tuân phục hay bất tuân một mệnh mệnh luân lý là đã phục vụ hay làm cản trở vinh quang Thiên Chúa, là góp phần hay ngăn cản việc thiết lập Nước Chúa.

4. SỐNG THEO SỰ HƯỚNG DẪN CỦA CHÚA THÁNH THẦN

Biết bản chất và đặc điểm cụ thể của mục tiêu tối hậu của lịch sử nhân loại và vũ trụ là điều quan trọng nhưng không dễ dàng, vì thế, theo đức tin Kitô giáo, con người cần để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Chúa Thánh Thần giúp con người luôn luôn chọn con đường mà Chúa muốn họ theo. Vấn đề là làm sao có thể nhận ra sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần?

Thánh Kinh cho thấy điều đó không phải đơn giản. Trong số các đoàn sủng được ban cho Hội thánh, thánh Phaolô nói đến "khả năng phân biệt và nhận định các loại thần" (1 Cr 12, 10). Còn thánh Gioan lưu ý: "Các con thân mến, đừng tin vào hết mọi thần, mà hãy kiểm tra xem các loại thần để xem cái nào là do Chúa" (1 Ga 4, 1).

Muốn nhận định các loại thần thì trước tiên phải hoán cải tâm hồn và nỗ lực sống đẹp lòng Chúa. Bởi đó, Phaolô cầu xin cho các Kitô hữu ngày càng lớn lên trong tình yêu và trong mọi trực giác, nhờ đó có được ơn nhận định thật sự (Pl 1, 9t). Những ai được Thánh Thần Chúa hướng dẫn đều là những người tuân giữ các giới răn, nhất là giới răn yêu thương anh em. Tiêu chuẩn thứ hai là thái độ đối với Ðức Giêsu. Một người không thể tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa nếu không chịu ảnh hưởng của Thánh Thần Thiên Chúa. Cũng vậy, người nào nhục mạ Chúa thì không thể đang phát biểu dưới tác động của Thánh Thần (1 Cr 12, 3). Tiêu chuẩn thứ ba là giáo huấn hay hành vi tốt thì sinh kết quả tốt, và giáo huấn hay hành vi xấu thì sinh kết quả xấu. Tiêu chuẩn thứ tư là vâng theo các nhà lãnh đạo trong đức tin. "Chúng ta thuộc về Chúa. Ai biết Chúa thì nghe lời chúng ta ; ai không thuộc về Chúa thì không nghe theo chúng ta. Dựa vào đó ta biết được đâu là Thần khí sự thật và đâu là thần khí sai lầm" (1 Ga 4, 6). Bất tuân là dấu của thần khí giả dối.

Trong thực hành, để phân biệt thật giả cần phải cởi mở tâm hồn cho Chúa, lắng nghe lời Người và tiếng gọi của Người. Muốn cởi mở cho Thiên Chúa thì phải cầu nguyện. Song song với cầu nguyện, còn phải có nỗ lực theo đuổi sự thật và sự thiện. Cần phải có một tâm hồn vị tha, khiêm tốn, sẵn sàng và có khả năng lắng nghe. Không ai tin rằng một người tự phụ kiêu căng có thể đang lắng nghe Chúa Thánh Thần.

Tuy vậy, không ai dám bảo đảm là mình đã bắt đúng ý muốn của Chúa trong từng trường hợp. Sau đây là vài quy tắc hỗ trợ cho việc nhận định ý Chúa:

- Thiên Chúa luôn hoạt động trong bình an và thường thong thả. Thiên Chúa không muốn tạo sự xáo trộn. Vì thế, những quyết định phù hợp với ý Chúa thường có kèm theo sự bình an trong tâm hồn.

- Muốn nhận định sáng suốt, cần được người khác giúp đỡ bằng việc đánh giá khách quan. Ðể tránh bị ảo tưởng và tự dối gạt mình.

- Cần phải tôn trọng khung cảnh cộng đoàn khi ta có những quyết định luân lý. Cộng đoàn quan trọng nhất đối với người Kitô hữu là Hội thánh. Ta phải luôn luôn nghiêm túc cứu xét các giáo huấn và Huấn quyền và khi nghi ngờ thì phải giả thiết là Huấn quyền đúng.

- Việc làm tốt được nhận biết qua những kết quả tốt ; còn việc làm xấu được nhận ra qua các kết quả xấu. Thỉnh thoảng ta phải chấp nhận thái độ chờ xem vì nhiều khi chỉ cần cẩn thận phân biệt các hậu quả tốt và xấu của những điều mình hay người khác nghĩ hay làm cũng đủ nhận ra điều giả hay thật. Một số lý thuyết nghe có vẻ rất lý tưởng, nhưng khi thực hành thì nhiều khi thật tệ hại.

- Một tiêu chuẩn căn bản để nhận định, là tình yêu của người ấy dành cho Ðức Kitô và Thánh Kinh. Biết ý Chúa là đối chiếu những cảm nghĩ riêng của mình với Kinh Thánh, nơi đó Thiên Chúa đã tự mặc khải cho chúng ta qua Con của Người.

Công Đồng Vatican II tin rằng Thánh Thần cũng trực tiếp hướng dẫn dân Chúa. Vì thế, Công Đồng khuyên bảo ta cần phải cởi mở đón lấy ơn soi sáng của Người, và nhờ đó nhận được những tia sáng mà nguyên lý trí của ta thôi không thể nào lĩnh hội được.

Sự hướng dẫn này không chỉ được ban cho các Kitô hữu, nhưng còn đang làm việc trong tâm hồn mọi người thiện chí. Vì ơn gọi cuối cùng của mọi người chỉ là một và là ơn gọi thần linh, nên ta tin rằng Chúa Thánh Thần đang cống hiến cho mọi người khả năng kết hiệp với mầu nhiệm Vượt Qua bằng cách nào thì chỉ có Chúa biết (MV 22).

(Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau)