ĐIỀU RĂN THỨ SÁU & CHÍN

Về điều răn thứ sáu, Kinh thánh Cựu Ước ghi “Ngươi không được ngoại tình” (Xh 20,14, Đnl 5,17). Trong Tân Ước, Chúa Giêsu cũng nhấn mạnh “Anh em nghe luật dạy người xưa rằng: “Chớ ngoại tình”. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,27-28). Sách GLCG cho biết: “Truyền thống của Hội Thánh hiểu điều răn thứ sáu đề cập đến mọi lãnh vực về phái tính của con người.” (GLCG no 2336). Đây là vấn đề không đơn giản vì người ta vẫn hiểu phái tính và tầm quan trọng của phái tính theo nhiều cách khác nhau. Tuy không phủ nhận những cách giải thích khác nhưng điều quan trọng đối với chúng ta vẫn là quan điểm của Giáo Hội về phái tính.

1.Tính dục theo cái nhìn của Giáo Hội Công giáo

Có người nhận xét rằng khoa đạo đức tính dục của truyền thống Công giáo không thoả mãn nữa và bị đánh giá là không còn đủ sức thuyết phục nữa. Họ cho rằng quan điểm của khoa đạo đức về tính dục ấy bị cho là quá hẹp hòi, chỉ xoay quanh chức năng sinh sản của hành vi tính dục.

Ngoài ra, người ta còn tố giác đạo đức học Kitô giáo đã bị ảnh hưởng sâu đậm của các lý thuyết nhị nguyên xuất phát từ chủ nghĩa Ngộ đạo và Manikê. Mọi ước muốn và khoái lạc tính dục đều bị nghi ngờ, thậm chí còn bị đánh giá một cách thẳng thừng là ô nhục và làm hạ cấp con người. Tìm kiếm khoái lạc xác thịt bị cho là đã đi ngược lại tinh thần. Khoái lạc tính dục bị đẩy vào thế giới u ám. Người ta có khuynh huớng xua đuổi nó như một điều gì xấu xa. Và thế là chẳng mấy chốc người ta gán cho nó đủ mọi từ liên quan đến tội và tội nặng. Hậu quả là một khoa đạo đức tính dục ra đời mang đầy những lời cảnh giác, những sự cấm đoán, tới mức hầu như không có một lời nào nhìn nhận những giá trị tốt đẹp của tình yêu tính dục, cũng như không đưa ra mấy lời hướng dẫn có tính cách xây dựng. Từ những nhận xét đó người ta dễ dàng kết án lập trường Giáo Hội về tính dục.

Kết quả là có “Một sự phản ứng ngược lại chống lại chủ trương quá tiêu cực về tính dục, đã ra đời. Người ta bỏ hẳn các chuẩn mực truyền thống và gạt sang một bên những điều cấm kỵ.” Và hơn nữa để phá bỏ những rào cản của các tôn giáo và văn hóa phong tục…, người ta tiến hành “một cuộc "Cách mạng tính dục" nổi dậy. Người ta đang ủng hộ một cái nhìn tích cực về tính dục. Chống lại mọi sự ức chế giả tạo, người ta đòi phải nhân vị hóa những quan hệ tính dục. Tình yêu tính dục đã được phát hiện và đề cao như một giá trị nhân bản, do Đấng Tạo Hoá lập ra và vì thế hoàn toàn tốt đẹp.” (tr. 14)

Để hiểu rõ vấn đề tính dục trong cái nhìn Kitô giáo trước tiên chúng ta cần quay về Kinh thánh

1.1 Tính dục theo quan điểm Thánh kinh

1.1.1 Cựu ước

Sách Sáng thế viết: "Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài ; Ngài đã tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa ; Ngài tạo dựng họ có nam có nữ" (St 1, 27)

Con người là hình ảnh Thiên Chúa, con người ấy được chia thành hai giới tính. Tác giả Sáng thế còn ghi "Toàn thể con người đều được tạo dựng lên cách tốt lành.” (St 1,31) Tính dục vì thế cũng là một điều tốt. Tuy nhiên, vì con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, nên ta phải dựa vào bản tính của Thiên Chúa để hiểu biết bản tính của con người, nghĩa là người ta không dựa vào bản tính của loài vật để hiểu biết bản tính con người.

Sách Sáng thế cho biết mục tiêu của tính dục là sinh sản con cái. "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất " (St 1, 28) Bằng cách này con người tiếp nối kế hoạch của đấng Tạo Hoá và triển khai công trình sáng tạo. Chính vì nhìn đến vai trò làm mẹ của vợ mình nên Ađam mới gọi bà là Eva, "vì bà là mẹ của chúng sinh " (St 3, 20)

Sách Sáng thế còn cho biết thêm con người cần có người đồng hành. Thiên Chúa phán: "Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó" (St 2, 18) Thiên Chúa đã tạo dựng người phụ nữ để Ađam có một người đối xứng và để ông khỏi cô đơn. Chính vì thế, người đàn ông và người đàn bà sẽ đi chung với nhau, sẽ bổ túc cho nhau. Sự bổ sung này không chỉ trên bình diện sinh vật mà cả trên bình diện tâm linh. Tính dục ăn sâu tới tận linh hồn con người.

Như thế, quan hệ giới tính không có gì là gian dối và đáng xấu hổ: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau” (St 2, 25) Tuy nhiên, tình trạng ban đầu đó bị mất đi khi con người phạm tội. Khi ấy, "Mắt hai người mở ra, và họ biết mình trần truồng” (St 3, 7). Sự tự nhiên, không chút e ngại giữa các giới tính khi quan hệ với nhau không còn nữa. Người ta bắt đầu cảm thấy tính dục như một sở hữu có thể bị tổn thương và vì thế ta phải bảo vệ cho khỏi bị người khác và cả chính bản thân mình lạm dụng.

Các sách khác của Kinh thánh Cựu ước thường dành ưu tiên nhìn tính dục dưới khía cạnh sinh sản. Tuy nhiên, trong sách Diễm ca, người ta thấy tác giả dùng các ngôn ngữ và thái độ mà con người thời ấy để nói đến tình yêu.

1.1.2 Tân Ước

Trong Tân ước, Chúa Giêsu đã đối xử với các phụ nữ một cách kính trọng và quan tâm như với nam giới. Trong lời giảng dạy hay trong cách ứng xử của Người, ta không thấy có dấu hiệu nào chứng tỏ là Người coi nhẹ phụ nữ hay bậc hôn nhân (CG chúc phúc cho trẻ em).

Tuy nhiên, dưới thời các hoàng đế Roma, người ta theo chủ trương phóng túng và sống ăn chơi trác táng nên Giáo hội sơ khai rất lưu tâm thực hành việc tự kiềm chế và giữ kỷ luật trong đời sống tính dục. Vì thế, trong danh sách liệt kê các nết xấu, người ta đã liệt kê tội thờ ngẫu tượng (thường có kèm theo sự trác táng), tội dâm ô và tham lam. 1 Cr 6, 9t: "những kẻ dâm đãng, thờ ngẫu tượng, ngoại tình, trụy lạc, kê dâm... sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp".

Còn đối với những người đã kết hôn thì khác. Họ được khuyên nhủ là hãy duy trì tình yêu đối với nhau và tình yêu này được nâng cao tới mức tuyệt đối khi so sánh nó với sự ràng buộc giữa Đức Kitô và Hội thánh (Ep 5, 21-33). Chồng phải yêu thương vợ như Đức Kitô dã yêu thương Giáo hội và hiến thân vì Giáo hội. Vợ phải phục tùng chồng, như Giáo hội đã phục tùng Đức Kitô. Nhờ đó hôn nhân Kitô giáo có một phẩm giá và một sự ổn định cao nhất.

 Một nét đặc biệt trong nền đạo đức tính dục của Tân ước là khuyên sống trinh khiết. Như thế, trong Giáo hội luôn có 2 lối sống: hôn nhân và độc thân thánh hiến. "Mỗi người đều có ơn riêng của Chúa, người ơn nầy, kẻ ơn khác" (1Cr 7, 7).

1.2 Tính dục theo lời dạy của Giáo Hội Công giáo

Những người ngoài Công giáo thường cho rằng tính dục là vấn đề cấm kỵ đối với Giáo Hội. Thực ra Giáo Hội không hẳn có cái nhìn u ám về tính dục. Thế nhưng, không thể nói Giáo Hội buông lõng. Giáo Hội có những nguyên tắc khá bất di dịch. Vì thế cần phải theo dõi những hướng dẫn của Giáo Hội để biết những nguyên tắc đó. Khi nói về ý định của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình Tông huấn Familiaris Consortio viết: “Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Người, giống như hoạ ảnh của Người. Khi vì yêu thương mà kêu gọi con người bước vào cuộc sống, Người cũng đồng thời mời gọi họ sống cho tình yêu.”

Thiên Chúa là Tình Yêu và nơi chính mình Ngài, Ngài đang sống mầu nhiệm hiệp thông yêu thương giữa các ngôi vị. Khi tạo dựng nhân tính của người nam và người nữ theo hình ảnh Ngài và liên lỉ bảo toàn cho nhân tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như cả khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống yêu thương và hiệp thông. Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi con người.

Bởi vì con người là một tinh thần nhập thể, nghĩa là một linh hồn biểu lộ trong một thân xác và là một thân xác sinh động do một tinh thần bất tử, nên nó được mời gọi sống yêu thương trong toàn thể tính thống nhất của nó. Tình yêu cũng bao gồm cả thân xác con người và thân xác được dự phần vào tình yêu của tinh thần.

Mặc khải Kitô giáo nhìn nhận có hai cách thế chuyên biệt để thực hiện ơn gọi sống yêu thương của nhân vị trong sự trọn vẹn của nó, đó là hôn nhân và trinh khiết. Cả hai cách thế, trong hình thức riêng biệt của mình, đều là cụ thể hoá của sự thật sâu xa về con người là “hữu thể theo hình ảnh của Thiên Chúa”.

Bởi thế, tính dục mà nhờ đó người nam và người nữ hiến mình cho nhau bằng những hành vi riêng biệt và chỉ dành riêng cho đôi bạn, tính dục ấy không phải là một cái gì thuần tuý sinh lý, nhưng có liên hệ đến nhân vị trong cái thâm sâu nhất mà nhân vị ấy có được. Tính dục ấy chỉ được thực hiện một cách nhân bản đích thực nếu nó là một thành phần tạo nên tình yêu, trong đó người nam và người nữ hiến thân trọn vẹn cho nhau đến chết.

Sự trao hiến hoàn toàn theo thể xác sẽ giả dối nếu nó không phải là dấu chỉ và kết quả của sự trao hiến cả ngôi vị, trong đó toàn thể ngôi vị đều hiện diện, cả đến trong chiều kích trần tục của nó. Nếu người ta dành lại bất cứ điều gì, hoặc dành cho mình quyền có thể quyết định khác đi sau này, thì như thế không còn là một sự trao hiến hoàn toàn nữa.

Sự toàn diện của tình yêu lứa đôi đòi hỏi như thế cũng phù hợp với những đòi hỏi của việc sinh sản có trách nhiệm: việc này vì có mục đích sinh ra một hữu thể nhân linh, nên nó vượt lên trên bình diện thuần tuý sinh lý và bao gồm toàn bộ những giá trị nhân vị ; và để cho toàn bộ những giá trị này được phát triển điều hoà, thì cần thiết cả người cha và người mẹ phải cùng đóng góp phần mình một cách thường xuyên và nhất trí với nhau.

“Nơi” duy nhất làm cho sự trao hiến ấy có thể thực hiện được với trọn cả sự thật của nó chính là hôn nhân, nghĩa là khế ước tình yêu hôn phối, hay nói cách khác là sự chọn lựa có ý thức và tự do, nhờ đó người nam và người nữ chấp nhận sống chung và chia sẻ tình yêu như chính Thiên Chúa đã muốn, và cũng chỉ dưới ánh sáng này, sự chọn lựa kia mới cho thấy rõ tất cả ý nghĩa đích thực của nó. Định chế hôn nhân không phải là một sự can thiệp ngang ngược của xã hội và quyền bính, cũng không phải là sự áp đặt một hình thức từ bên ngoài. Định chế ấy là một đòi hỏi tự bên trong khế ước tình yêu hôn phối, được xác định công khai như là khế ước duy nhất và tuyệt đối, để nhờ đó đôi bạn có thể sống trung thành trọn vẹn với ý định của Thiên Chúa tạo hoá. Sự trung thành này, thay vì giảm thiểu tự do của nhân vị, lại giúp cho tự do ấy khỏi rơi vào những thái độ chủ quan và những chủ trương tương đối và làm cho nó được tham dự vào sự khôn ngoan của Thiên Chúa sáng tạo.” (FC 11)

Đối với Giáo Hội, tính dục không hẳn chỉ mang một ý nghĩa tiêu cực vì sách GLCG viết: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình... Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1, 27).”Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều” (St 1, 28) ; ngày Thiên Chúa sáng tạo con người, Chúa làm ra con người giống như Thiên Chúa. Chúa sáng tạo con người có nam có nữ: Chúa chúc phúc cho họ và đặt tên cho họ và gọi họ là “người”, ngày họ được sáng tạo (St 5,1-2).

Phái tính ảnh hưởng trên toàn bộ con người, cả xác và hồn. Phái tính đặc biệt liên quan đến đời sống tình cảm, khả năng yêu thương và truyền sinh, nói chung mọi tương quan với người khác.

Mỗi người, nam cũng như nữ, phải nhìn nhận và chấp nhận phái tính của mình. Sự khác biệt và bổ sung cho nhau về thể xác, tinh thần và tâm linh hướng đến đời sống hôn nhân và gia đình. Sự hòa hợp của đôi vợ chồng và của xã hội tùy thuộc phần nào vào việc hai bên nam nữ bổ túc, đáp ứng và nâng đỡ lẫn nhau.

 “Khi tạo dựng con người có nam có nữ, Thiên Chúa cho họ bình đẳng về nhân phẩm” (x. FC 22, x. GS 49,2).”Con người là một nhân vị, vì thế người nam và người nữ bình đẳng với nhau, cả hai được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa” (x. MD 6).

Người nam và người nữ bình đẳng về phẩm giá, dù cách thức khác nhau, cả hai là hình ảnh của Thiên Chúa quyền năng và yêu thương. Sự kết hợp giữa người nam và người nữ trong hôn nhân mô phỏng nơi thân xác con người sự quảng đại và sung mãn của Đấng Sáng Tạo: “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2, 24). Sự kết hợp này là nguồn gốc mọi thế hệ loài người (St 4, 1-2.25-26 ; 5,1).

Chúa Giêsu đã đến trả lại cho thụ tạo tình trạng tinh tuyền nguyên thủy của chúng. Trong Bài Giảng Trên Núi, Người đã giải thích chính xác ý định của Thiên Chúa: “Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng: ”Chớ ngoại tình”. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì ngoại tình trong lòng với người ấy rồi” (Mt 5,27-28). “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly” (Mt 19,6). (GLCG 2331-2336)

Như thế cho dù thái độ của con người đối với tính dục đang thay đổi sâu xa, Giáo Hội vẫn cố gắng bảo vệ những nguyên tắc căn bản như đã nêu trên. Những nguyên tắc đó tuy khắt khe nhưng không nghịch với tự nhiên.

1.3 Tính dục nơi con người nói chung

Sự khác biệt giữa người nam và người nữ không phải chỉ do cơ quan sinh dục, nhưng còn do toàn bộ cơ cấu thân thể của mỗi bên khác nhau, cả những đặc điểm tâm lý và điều kiện tâm linh cũng khác nhau:



Đàn ông
Đàn bà
hoạt động, hướng ngoại sẵn sàng tấn công hơn
thụ động và ưa tự vệ hơn, chịu đựng nhiều hơn.
hướng đến sự vật, quan tâm hơn đến các mục tiêu khách quan.
chú ý tới con người, hiến thân cho người yêu bằng cả con người.
Mạch lạc trong việc trình bày các sự kiện và sắc bén trong lý luận.
được hướng dẫn bởi tình cảm, sự nhạy bén tinh tế và trực giác
làm việc theo nguyên tắc
hành động do tình yêu thúc đẩy.

Giới tính nào cũng có điểm mạnh và điểm yếu. Nam nữ sẽ bổ túc cho nhau. Vì thế, coi khinh giới tính nào cũng là tự phụ một cách vô căn cứ và xét cho cùng, là xúc phạm đến Đấng Tạo Hoá.

Từ việc phải bổ túc cho nhau ấy mà người ta thấy xuất hiện những sự căng thẳng trong tính dục. Những căng thẳng ấy có thể là nguồn đưa tới những sáng tạo rất kỳ diệu nơi con người, như trong nghệ thuật chẳng hạn. Nhưng tính dục cũng là một cái gì đáng sợ. Khi tách các ước muốn thoả mãn tính dục ra khỏi toàn bộ là tình yêu của con người, người ta thấy lộ ra sự dữ. Chỉ khi nào đưa nó hội nhập vào trong toàn thể hữu thể con người, tính dục mới trở nên tốt đẹp, đáng yêu và có giá trị xây dựng.

Tóm lại: chính bản tính của người nam và người nữ khác nhau nên mỗi giới phải được bảo vệ và tạo cơ hội phát triển cách khác nhau. Tiến trình phát triển sinh lý và tâm linh của hai bên diễn ra với một nhịp độ khác nhau, nên cần phải phát triển các đặc điểm của mỗi bên trước khi tạo điều kiện cho các đức tính tương ứng nảy nở nhờ tiếp xúc gặp gỡ.

Giới nầy không nên bắt chước giới kia cách mù quáng, thiếu tự nhiên ; cũng đừng giao công việc và nhiệm vụ không phù hợp với giới tính riêng của mỗi người. Không được hiểu bình đẳng là "mỗi người như nhau", vì như thế chỉ đưa tới chỗ làm thiệt hại cho phụ nữ. Việc bình đẳng hai giới không đòi ta phải chia cho hết mọi người cùng một nghĩa vụ và nhiệm vụ, nhưng là phân chia bổn phận và công việc phù hợp với khả năng và tài năng của mỗi người.

Từ những điều trên chúng ta có thể đi vào bản chất và mục tiêu tính dục.

1.4 Bản chất và mục tiêu của tình yêu tính dục

Tự bản chất, bản năng tính dục thúc đẩy con người tìm cách duy trì nhân loại cũng như bản năng tự bảo tồn đã thúc đẩy con người duy trì sự sống của mình bằng cách ăn uống. Thiên Chúa đã cho khoái lạc kèm theo việc thoả mãn các bản năng ấy để khích lệ con người đưa các bản năng vào thực tế, đạt tới mục tiêu của chúng. Tuy nhiên, khoái lạc không phải là mục tiêu và cứu cánh của việc thực hiện các bản năng. Vì thế, tuy được thụ hưởng khoái lạc nhưng phải luôn luôn đặt khoái lạc ấy tùy thuộc các mục tiêu mà nó đã được quy định để thực hiện.

1.4.1. Mục tiêu thứ nhất của tính dục:

Công đồng Vatican II cho biết: "Do chính bản tính của mình, định chế hôn nhân và tình yêu vợ chồng tự chúng đã được qui hướng tới chỗ sinh sản và giáo dục con cái, coi con cái như phần thưởng cao quí nhất của hôn nhân và tình yêu vợ chồng" (MV 48 ; cf. 50)

Từ quan điểm ấy ta có thể rút ra kết luận: phải thi hành sinh hoạt tính dục sao cho sự sống mới có thể phát sinh ra từ sinh hoạt ấy được chăm sóc một cách có trách nhiệm. Vì vậy, tuy giáo dục con cái không phải là mục tiêu của hành vi tính dục, nhưng thái độ sẵn sàng giáo dục con cái chắc chắn phải là điều kiện tiên quyết cho phép ta thực hiện tình yêu tính dục một cách hợp pháp. Đàng khác, vì nuôi dạy và giáo dục con cái là một quá trình lâu dài, nên cha mẹ phải kết hiệp với nhau lâu bền để làm việc đó.

1.4.2 Mục tiêu thứ hai của hành vi tính dục:

Là để biểu lộ tình yêu và sự quý trọng hai vợ chồng dành cho nhau, cũng như để làm cho sự hiệp nhất giữa hai người sâu sắc hơn. "Những hành vi trong hôn nhân giúp vợ chồng kết hợp với nhau mật thiết và thanh sạch đều là những hành vi cao quí và xứng đáng. Khi được thực hiện một cách nhân bản thực sự, những hành vi ấy sẽ biểu thị và phát huy sự dâng hiến của hai người cho nhau, làm cho hai người được phong phú hơn trong tâm tình hân hoan, biết ơn" (MV 49).

Bởi thế, Giáo hội luôn luôn cho phép tổ chức kết hôn giữa hai người không thể có con do tuổi tác hay sức khoẻ. Tuy nhiên, bao lâu còn có điều kiện thì bấy lâu con cái vẫn là mục tiêu cuối cùng của sự kết hợp vợ chồng, không bao giờ được loại bỏ điều ấy.

2. Nhân đức khiết tịnh

2.1. Giáo Hội và đời sống khiết tịnh

Khi nói về phái tính Giáo Hội thường đề cao cuộc sống khiết tịnh. Theo GLCG no 2349: “Sống khiết tịnh là làm chủ phái tính, nhờ đó thống nhất được đời sống thể lý và tinh thần. Phái tính cho thấy con người thuộc về thế giới vật chất và sinh học, nhưng khi được hội nhập vào tương quan giữa người với người, trong đó người nam và người nữ hiến thân cho nhau trọn vẹn và vĩnh viễn, phái tính mới có giá trị thực sự nhân linh. Như vậy, đức khiết tịnh liên quan đến toàn thể nhân vị và đòi hiến thân trọn vẹn.”

2.2 Phân loại khiết tịnh

Thánh Tôma phân biệt hai thứ: khiết tịnh và trinh khiết (virginitas). Trinh khiết cũng gọi là khiết tịnh hoàn toàn là giữ mình trọn đời không bao giờ chiều theo những vui thú xác thịt tội lỗi hay được phép. Khiết tịnh không hoàn toàn khi chỉ tránh những khoái lạc có tội.

Sách Giáo lý Công giáo nhìn về Đức Kitô như khuôn mẫu đời sống khiết tịnh: “Mọi tín hữu đều được mời gọi sống khiết tịnh. Kitô hữu là người đã ‘mặc lấy Đức Kitô’” (Gl 3,27), khuôn mẫu của đời sống khiết tịnh. Ai tin vào Đức Kitô đều được mời gọi sống đời khiết tịnh tùy theo bậc sống của mình. Khi nhận bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu cam kết giữ đức khiết tịnh trong đời sống tình cảm.”

 “Mỗi người giữ đức khiết tịnh tùy theo bậc sống của mình: người này trong bậc trinh khiết hay độc thân của đời thánh hiến, một cách thức dễ dàng tận hiến trọn vẹn tâm hồn cho Thiên Chúa ; kẻ khác trong bậc gia đình hay độc thân, tùy theo luật luân lý xác định. Người có gia đình được mời gọi giữ đức khiết tịnh trong đời sống vợ chồng ; người độc thân giữ đức khiết tịnh khi sống tiết dục.”

 “Có ba hình thức sống khiết tịnh: khiết tịnh của bậc hôn nhân, khiết tịnh của người góa bụa và khiết tịnh của kẻ đồng trinh. Chúng ta không ca tụng lối sống này mà loại bỏ lối sống khác. Về điều này, kỷ luật của Hội Thánh rất rộng rãi”. (no 2348-2349)

Về trinh khiết, người ta chia làm 3 thứ: trinh khiết thể lý (virginitas physica seu corporalis) tùy thuộc hoàn toàn nơi thân xác ; trinh khiết luân lý (virginitas moralis) là giữ mình không chiều theo những vui thú xác thịt ; trinh khiết tự nhiên (virginitas naturalis) liên hệ cả con người xác hồn. Vì thế, có khi mất trinh khiết thể lý nhưng còn trinh khiết luân lý ; cũng có khi mất trinh khiết luân lý nhưng còn trinh khiết thể lý. Ví dụ: khi thân xác bị hiếp, nhưng không chiều theo, hoặc khi trong lòng chiều theo mà thân xác còn nguyên vẹn.

Tác giả Peschke đề nghị một cái nhìn tích cực hơn về khiết tịnh:

 “Khiết tịnh không phải chỉ là tiết dục. Phải nhìn khiết tịnh như một giá trị cần được khẳng định và bảo vệ. Khiết tịnh là một thái độ bày tỏ sự kính trọng đối với mầu nhiệm sự sống và đối với phẩm giá của người bạn đời, một người mà ta không được phép lợi dụng cách ích kỷ, cũng như có quyền đòi hưởng một tình yêu có sức bảo vệ họ. Đức khiết tịnh sẽ uốn nắn và tổ chức khả năng tính dục của ta để nó có thể phục vụ quan hệ vợ chồng cũng như nhu cầu sinh tồn của cộng đoàn. Đức khiết tịnh không khinh rẻ cũng chẳng tôn thờ tính dục. Bản tính của nhân đức nầy là tôn trọng mầu nhiệm giới tính tới mức sâu xa nhất, cũng như chống lại việc tuyệt đối hóa giới tính.”

 “Dĩ nhiên, ta phải định nghĩa không khiết tịnh hay ô uế bằng những từ ngữ tiêu cực. Nhưng cần nhớ rằng khiết tịnh không phải chỉ là tránh ô uế, tương tự như tình huynh đệ không phải chỉ là tránh làm những việc không có tình thương. Ô uế hay không khiết tịnh là sử dụng khả năng tính dục của mình một cách bất hợp pháp và khao khát tính dục một cách bất hợp pháp. Ngoài ra, sử dụng tính dục như một chức năng sinh lý thuần tuý cũng phải bị coi là ô uế, không khiết tịnh, bởi vì làm như thế đã cô lập tính dục khỏi bối cảnh chung là tình yêu giữa con người với nhau. Ta không được phép tìm sự thoả mãn tính dục mà không đồng thời tôn trọng tính cách của con người tức là một ngôi vị, hạ thấp con người xuống hàng thú vật. Ngay cả khi được làm trong khuôn khổ hôn nhân chính đáng, những cách thực hành tình dục ấy cũng đi ngược lại lý tưởng của đức khiết tịnh.”

“Giáo hội sơ khai rất quan tâm tới việc tập tự chủ trong đời sống tính dục và đánh giá đức khiết tịnh rất cao. Đức Kitô đòi ta phải khiết tịnh không những trong hành động mà cả trong tư tưởng (Mt 5,28) Người đề nghị hình thức sống khiết tịnh hoàn hảo là đời sống trinh khiết vì nước Trời (Mt 19,10-12) Thánh Phaolô không ngừng cảnh giác các Kitô hữu trước các nết xấu của sự ô uế, mà bao lâu còn thuộc về Đức Kitô họ phải tránh xa (1 Cr 6, 9-20 ; Gl 5,19-21 ; Ep 5,5 ; 1Tx 4,3-8) Người thúc giục họ hãy sống một cuộc sống khiết tịnh và thanh sạch (Gl 5,23 ; Tm 4,12 ; 5,2 ; Tt 2,5) Các Kitô hữu được đòi hỏi phải sống hơn nữa, chứ không dừng lại với nền luân lý chung của các dân ngoại. “Mỗi người hãy biết lấy cho mình một người vợ để sống cách thánh thiện và trong danh dự, chứ không buông theo đam mê dục vọng như các dân ngoại, là những người không biết Thiên Chúa” (1Tx 4,4t)

Đành rằng khiết tịnh không phải là nhân đức đệ nhất, như một số nền tu đức và luân lý muốn làm thế. Nhưng Chúa Kitô và các tông đồ đã không ngừng cho thấy rõ khiết tịnh là nhân đức quan trọng nhất. Không ai nghi ngờ luật yêu thương đã được đặt làm điều răn trọng yếu của giao ước mới. Nhưng hẳn là sau đức ái, đức khiết tịnh là nhân đức phân biệt rõ nhất các Kitô hữu sơ khai và các người ngoại giáo chung quanh.

“Lý tưởng khiết tịnh của Kitô giáo là một lý tưởng khá cao. Ta thường thấy đó không phải là điều mà con người sẽ chiếm lấy một lần là xong, nhưng đó là một đích điểm mà con người không ngừng hướng tới và kiên trì theo đuổi. Chân thành khát khao và nghiêm túc theo đuổi sẽ giúp tâm hồn ta luôn cởi mở đón lấy các giá trị của đức khiết tịnh. Nếu vẫn còn giữ thái độ căn bản phù hợp và nếu vẫn còn bền chí theo đuổi, dù thỉnh thoảng có gián đoạn và sai sót, ta có thể nói mà không sợ sai rằng đó là đã có đức khiết tịnh. Bởi chưng, nhân đức này chỉ biến mất hoàn toàn khi ta bỏ hẳn mục tiêu hay thái độ cơ bản” (tr. 46-48).

2.3 Làm thế nào để sống khiết tịnh ?

Kinh nghiệm cho thấy đời sống khiết tịnh thường gặp nhiều khó khăn, ngay cả trong bậc hôn nhân. Vậy thì làm thế nào để đảm nhận đời sống khiết tịnh ? Sách GLCG đề nghị:

“Ai muốn trung thành với những lời hứa khi được rửa tội và chống lại các cơn cám dỗ, phải dùng những phương thế sau: phải biết mình, khổ chế tùy theo hoàn cảnh, tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa, thực hành các đức tính luân lý và chuyên cần cầu nguyện. “Khiết tịnh giúp chúng ta tìm lại được sự thống nhất bản thân đã đánh mất khi để cho mình bị phân tán”. (T. Âu tinh, Conf.10,29)

Muốn sống khiết tịnh phải giữ đức tiết độ, vì nhân đức này dùng lý trí để hướng dẫn các đam mê và những thèm muốn giác quan của con người.

Muốn tự chủ phải luyện tập lâu dài và công phu. Không bao giờ có thể coi như đã tập xong, phải cố gắng suốt đời, ở mọi lứa tuổi (x.Tt 2,1-6), phải đặc biệt cố gắng vào một số giai đoạn hình thành nhân cách, như tuổi nhi đồng và thiếu niên.

Đời sống khiết tịnh cũng có những qui luật tăng trưởng, phải kinh qua những bất toàn và có khi cả tội lỗi nữa. “Ngày qua ngày, con người đức độ và khiết tịnh được hình thành bằng nhiều lựa chọn tự do. Nhờ đó, họ nhận biết, yêu mến và chu toàn điều thiện luân lý qua những giai đoạn tăng trưởng” (x. FC 34). (no 2340-2343)

Linh mục giải tội đừng bỏ qua các phương thế giúp hối nhân, nhất là giúp những người hay sa đi ngã lại. Đừng chỉ giải tội mà không khuyên bảo gì hết. Linh mục nên cho hối nhân biết rằng: đối với cám dỗ về điều răn thứ 6, cũng như đối với các thứ cám dỗ nghịch đức Tin, phương pháp hay nhất vẫn là đừng tìm cách đương đầu chống lại nhưng hãy dĩ đào vi thượng sách, chạy trốn là hay hơn cả.

Vì thế nếu bị xúc động mạnh, phương pháp rất thích hợp để khỏi ưng theo là hướng tâm trí về một điều gì khác. Khi bị cám dỗ, phải cố gắng đừng chiều theo, cần cầu nguyện kêu xin thật nhiều cũng như lấy lòng tin cậy, cũng có thể nhớ đến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu trên Thánh giá hay suy niệm sự khổ nạn Chúa Kitô. Ngoài ra còn có thể nhớ đến sự chết, nhớ có Chúa ở trước mặt mình, cũng như nghe tiếng lương tâm cắn rứt sau lần phạm tội v.v... Còn khi bị xúc động nhẹ, thì không cần chống trả cách tích cực nhưng chỉ cần phớt lờ đi cũng đủ.

Ở đây nổi lên vấn nạn làm thế nào để giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên ? Làm thế nào để phân định được tuổi nào là quá sớm, tuổi nào là quá trễ ? Nội dung nào cho tuổi nào ? Ai cũng thấy rằng gieo những kiến thức ấy vào trí khôn non nớt (xét vì tính con người rất yếu đuối) thì kiến thức ấy có thể gây hại nhiều hơn lợi. Còn nếu để thanh thiếu niên mù tịt về các vấn đề tính dục trong thời gian quá lâu, thì cũng nguy hiểm, bởi vì điều ấy sẽ thúc đẩy tính tò mò và có thể bị quyến rủ đi vào con đường xấu vì không biết và không được chuẩn bị.

Nói chung phải trình bày tính dục tùy tuổi tác, khả năng và nhu cầu của người nghe. Phải thích nghi với văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam. Khi phải trả lời những câu hỏi về tính dục thì đừng trả lời vu vơ, và không thực, để khỏi làm giảm bớt tín nhiệm hay không còn tín nhiệm mình nữa nhưng cần rõ ràng và tế nhị với một thái độ nghiêm chỉnh.

Thường nên dạy cho thanh thiếu niên biết những cử chỉ hành vi nào là tốt và hành vi nào là không tốt. Phải tỏ cho họ thấy những mối nguy hiểm chính đang đe dọa đức khiết tịnh trong môi trường đang sống và không được giao hợp khi chưa kết bạn. Thường thì thanh thiếu niên có những quan niệm khác với Giáo Hội nên thuyết phục họ là việc khó làm.

Cha mẹ và các người làm nhiệm vụ thay thế cha mẹ là những người có trách nhiệm để dạy những người mình phụ trách. Đôi khi những người nầy không thể làm tròn bổn phận, vì khả năng hạn chế của họ thì khi ấy cha giải tội cần bổ khuyết. Tuy nhiên cần thận trọng thí dụ đối với thiếu nữ, Cha giải tội nên cậy nhờ một người nữ khác hướng dẫn thì tốt hơn. Nếu không được như vậy, thì có thể nhờ đến sách vở để tránh đưa tới những hậu quả xấu mà không ai có thể lường trước được.

3. Nhân đức đoan trang

Trong cái gọi là cuộc “cách mạng tính dục” người ta khuyến khích việc công khai hành động tính dục cho mọi người trông thấy. Họ khuyến khích vượt qua sự xấu hổ để đi vào cuộc “cách mạng” đó. Vì thế, thiết tưởng tác giả Peschke có những nhận định rất hay về sự đoan trang và xấu hổ. Theo tác giả: đoan trang là tôn trọng những đòi hỏi để tránh bị xấu hổ trong lãnh vực tính dục.

Người ta có thể xấu hổ khi thấy mình bị thua kém. Chúng ta cảm thấy xấu hổ trước bất cứ điều gì xấu xa thật sự hay bị dư luận cho là xấu xa… Người ta cũng cảm thấy xấu hổ về những điều không có gì là tội lỗi như nghèo, ăn mặc rách rưới, làm những việc hèn hạ. Lý do khiến ta cảm thấy xấu hổ ở đây là do công chúng coi khinh những sự việc ấy. Nhiều khi người ta lại cảm thấy xấu hổ trước một hành vi không thấp kém chút nào khi người ta muốn che giấu một điều gì đó tuy giá trị nhưng rất riêng tư, có tính cách thâm sâu và linh thiêng.

Một lãnh vực quan trọng của sự xấu hổ là tính dục. Cảm giác xấu hổ làm người ta tìm cách che giấu không những hành vi giao hợp tính dục, mà cả mọi biểu hiện của tính dục như nhìn ngắm, sờ mó và hôn hít. Người ta còn cảm thấy xấu hổ trong những biểu hiện rất hợp pháp của tình yêu vợ chồng... Lý do chủ yếu là vì họ muốn bảo vệ mọi hành vi thân mật khỏi những cặp mắt tò mò soi mói và sự can thiệp không được phép của những người khác. Người ta thường xấu hổ đối với sự trần truồng, hay phải bày cho người khác thấy thân thể của mình. Không phải thân xác là cái gì hạ cấp mà ta phải e thẹn xấu hổ, nhưng chỉ vì thân xác là cái cần được ta bảo vệ. Như thế, cảm giác xấu hổ gần giống như lương tâm. Theo một nghĩa nào đó, cảm giác xấu hổ là phần thâm sâu của lương tâm, nhằm bảo vệ con người trong lãnh vực tính dục.

Phản ứng xấu hổ sẽ thay đổi tùy theo tuổi, phái tính và phong tục tập quán. Trẻ em dưới 5 tuổi không thấy có cảm giác xấu hổ như thế nào. Cảm giác xấu hổ về tính dục đúng nghĩa chỉ xuất hiện khi đương sự đã đạt mức trưởng thành tương đối trong thân thể và trí khôn. Khi lớn tuổi hơn, cảm giác xấu hổ lại bớt dần.

Phản ứng xấu hổ cũng khác nhau theo phái tính. Tầm quan trọng của hành vi giao hợp cũng được người đàn ông và người đàn bà đánh giá khác nhau. Người đàn ông hoạt động hướng ra ngoài khi giao hợp, nên có thể cảm nghiệm hoạt động đó như một cái gì đến rồi đi, sẽ chấm dứt khi hành vi ấy được thực hiện xong. Còn người đàn bà cảm nghiệm hành vi giao hợp như một cái gì đi vào chính con người mình. Phản ứng thu người lại để tránh sự thâm nhập là một yếu tố quan trọng trong cảm giác xấu hổ của người đàn bà.

Ngoài ra, người đàn bà cảm thấy một sự khiêu khích tính dục, đặc biệt khi ai đó nhìn mình. Bởi thế, chính cái cảm giác xấu hổ ấy sẽ khiến người đàn bà tránh né những cái nhìn soi mói và tìm cách che đậy thân thể mình trước mắt đàn ông hay người khác. Đang khi đó giữa phụ nữ với nhau, họ ít mắc cỡ khi phải trần truồng hơn là giữa đàn ông với nhau.

 Phong tục tập quán và môi trường cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc diễn tả cảm giác xấu hổ tự nhiên. Đối với một số chủng tộc, để ngực trần hay thậm chí trần truồng hoàn toàn trước mặt người khác phái chẳng gây ra cảm giác xấu hổ nào. Đang khi đó nếu sự trần truồng, toàn thân thể hay một phần, là hiện tượng không quen thuộc ở vùng đó, chắc hắn nó sẽ gây chú ý và khơi dậy những đam mê tính dục. Thậm chí mặc quần áo ở những chỗ không quen làm việc ấy cũng khơi dậy cảm giác tính dục, dù có thể trần truồng lại không tạo ra cảm giác ấy. Thế nên, muốn đưa ra những quy tắc chung cho sự đoan trang, cần phải lưu ý tới những điều kiện riêng về hoàn cảnh, về thời đại và nơi chốn. Tuy nhiên, không được vì những sự tương đối này mà nghi ngờ tầm quan trọng căn bản của những quy tắc ấy.

 Cảm giác xấu hổ là phản ứng của bản năng tự vệ. Cảm giác ấy có thể được ví như một cái thắng hãm lại, khi một người bị kích thích về mặt tính dục. Sự xấu hổ sẽ kềm hãm lại những dục vọng thể xác. Nó ngăn không cho sự xung động dục tính trào ra quá nhanh, làm cho hoạt động của lý trí bị yếu đi. Nhờ cảm giác xấu hổ con người có được khả năng suy tính và quyết định một cách tự do: hoặc phải chống lại sự thúc bách tính dục, hoặc được phép hay nên chiều theo. Thường thường cảm giác xấu hổ sẽ chặn lại một diễn biến quá vội vàng và thiếu khôn ngoan. Nếu vậy, cảm giác xấu hổ cũng giống như một nguời canh giữ khu vực riêng tư, thâm sâu, linh thiêng của con người.

Nhân đức luân lý giúp con người đáp lại những yêu cầu của cảm giác xấu hổ trong lãnh vực tính dục là đức đoan trang. Đó là sự sẵn sàng tránh các nguy hiểm đe dọa tới sự vẹn toàn về mặt tính dục của mình, những nguy hiểm xuất phát từ những hình ảnh tưởng tượng, những câu nói và cử chỉ bên ngoài. Nhân đức ấy giúp bảo vệ và giữ gìn sự khiết tịnh một cách rất tốt.

Bỏ qua cảm giác xấu hổ này là vi phạm tới nhân đức đoan trang ấy. Những sự vi phạm này có thể chỉ là những thiếu sót hay những tội nhẹ, nhưng cũng có thể là những tội nặng. Điều này còn tùy ở khả năng xảy ra cho mình những kích thích tính dục và những hành vi lệch lạc không được phép, cũng như tùy vào mức khiêu khích và khơi gợi có thể xảy ra cho người khác. (tr. 36-40)

4. Những tội nghịch điều răn thứ sáu

Điều răn thứ sáu cấm các thứ giao hợp dưới danh từ là “tà dâm”, đồng thời cũng cấm các hành vi tính dục ngoài hôn nhân. Như thế, điều răn thứ sáu cấm tội bề ngoài và trước tiên cấm các thứ tội dâm dục đích danh ; kế đó cấm có những cử chỉ dâm ô, như sờ mó, trông xem v.v... Những cử chỉ ấy có thể đưa đến chỗ dâm dục.

Tuy cùng đi tìm khoái cảm do bộ phận sinh dục mang lại, nhưng người ta cũng phân biệt nhiều loại khác nhau:

- Dâm dục hoàn hợp (consummatum) khi đương sự đạt tới khoái cảm do bộ phận sinh dục mang lại. Dâm dục chưa hoàn hợp (non consummatum) khi chưa đạt tới mức độ đó.

- Dâm dục hoàn hợp tự nhiên khi có đủ yếu tố đưa tới việc sinh sản. Dâm dục hoàn hợp phản tự nhiên khi trái nghịch với việc sinh sản.

- Dâm dục có thứ do cố ý trực tiếp do cố ý gây nên hoặc chấp nhận. Còn loại cố ý gián tiếp là loại không tự mình tạo ra, không tự mình chấp nhận, nhưng phát sinh do tự ý đặt ra nguyên nhân mà nó đã biết trước hay có thể biết hay buộc phải ngăn ngừa.

Trước tiên chúng ta cần biết tội tà dâm nói chung

Sách GLCG no 2351 cho biết: “Dâm ô là ham muốn sai trái hay hưởng thụ vô độ khoái lạc tính dục. Khoái lạc tính dục trở thành sai trái, khi con người chỉ tìm hưởng thụ để thỏa mãn chính mình, chứ không nhằm mục đích truyền sinh và kết hợp trong tình yêu.” Gọi dâm ô nầy là tà dâm vì tính sai trái của nó. Đó là ước muốn và sử dụng cơ quan sinh dục cách vô trật tự. Trật tự chỉ có trong phạm vi hôn phối nghĩa là trong đời sống vợ chồng. Vì vậy trong hôn phối thì không phải là tà dâm, và dĩ nhiên không đặt vấn đề tội. GLCG no 2353 viết: “Tà dâm là quan hệ xác thịt ngoài hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Đây là lỗi nặng, xúc phạm đến nhân phẩm và phái tính của con người, vốn qui về lợi ích của đôi vợ chồng, cũng như sinh sản và giáo dục con cái. Ngoài ra, tà dâm còn là một gương xấu nghiêm trọng khi làm băng hoại giới trẻ.” Như thế tà dâm là sự giao hợp giữa hai người đồng ý với nhau và ngoài hôn nhân.

Người làm điều tà dâm là người đi tìm khoái cảm do bộ phận sinh dục mang lại. Nó khác với các loại khoái cảm khác, như khi nhìn xem cảnh đẹp, vật đẹp, sờ mó một vật mềm mại, nếm món ăn ngon… Những loại khoái cảm, tự bản chất không khơi động dục tính, như ngửi hoa thơm, nghe nhạc êm dịu, nếm thức ăn ngon, thì tự nó không phải là xấu. Còn những khoái cảm nếu phát sinh từ đối tượng nhục thể, mặc dù không trực tiếp kích dục, nhưng thích hợp để làm kích động dục tính, như cầm tay hay ôm hôn người người khác phái thì có nguy cơ đưa tới tội tà dâm theo nghĩa chặt.

Thường thường, tà dâm trực tiếp và hoàn toàn hữu ý là tội nặng. Cho nên không những hành vi giao cấu là trọng tội, mà các thứ cảm khoái nhục dục khác ngoài hôn nhân cũng là tội trọng nữa (thí dụ sử dụng bộ phận sinh dục của người đồng phái, hay giao cấu với súc vật). “Các kẻ hoang dâm, người ngoại tình, phóng đãng, loạn dâm, các người đó không được hưởng Nước Thiên Chúa”. (1 Cor 6,9-10) Lý do là vì đã sử dụng bộ phận sinh dục sai trật tự. Thiên Chúa dựng nên bộ phận đó để hướng về việc sinh sản, hướng về việc bảo tồn loài người. Tà dâm khi người ta lại cố ý làm cho hành vi giao cấu mất cái hướng đi đó.

Tuy nói tà dâm trực tiếp và hoàn toàn hữu ý là tội nặng nhưng có khi cám dỗ tính dục quá mạnh còn sự chống trả thì yếu ớt hoặc bị đam mê làm cho tê liệt, cho nên không thiếu những hành vi dâm dục không có sự chủ ý hay tự do hoàn toàn ; do đó thường có nghi vấn về trách nhiệm nặng hay nhẹ. Tuy nhiên đừng vì thế mà quan niệm cách chung và luôn luôn rằng hành vi tà dâm trực tiếp và hoàn toàn hữu ý thì không bao giờ có thể xảy ra và không nhất thiết phải là mang tội trọng. Đó là quan niệm sai lầm.

Dâm dục gián tiếp hữu ý, thông thường cũng là trọng tội, nhưng có thể có trường hợp nhẹ. Thí dụ làm một hành vi có thể kích dục cách nhẹ cho người khác nhưng không chủ ý lôi kéo người khác vào hành vi dâm dục với mình, thì không quá tội nhẹ.

Dâm dục là thói xấu rất khó loại trừ. Bởi vì nó thường “buộc trói” người ta rất chặt do sự thôi thúc của tính dục rất mạnh. Nếu không tránh xa từ lúc ban đầu, thì về sau khó thoát ra và do đam mê lôi cuốn, người ta sẽ phạm thêm nhiều tội khác. Nhiều khi ham mê dâm dục làm trí khôn bị các thú vui xác thịt vùi lấp nên không còn nhớ đến cứu cánh sau hết của mình. Từ đó dễ trở nên người chống đối những lý tưởng của đạo.

Từ những nguyên tắc đó chúng ta đi vào các trường hợp cụ thể hơn

4.1 Trò chuyện

Trò chuyện, cười cợt một cách khiếm nhã và thô lỗ về các vấn đề tính dục là đi ngược lại sự đoan trang. “Chuyện gian dâm, mọi thứ ô uế hay tham lam, thì dù nói đến, anh em cũng phái tránh, như thế mới xứng đáng là các thánh. Đừng nói lời thô tục, nhảm nhí, cợt nhã: đó là những điều không nên” (Ep 5,3t) Cũng không được phép nói về vấn đề này trong bất cứ tập thể nào, đặc biệt là trong những tập thể có nam lẫn nữ. Những cuộc trò chuyện ấy sẽ thiếu trong sạch và có tội nặng, nếu qua đó người ta công khai bày tỏ sự đồng tình với những tội nặng về tính dục hay tệ hơn nữa, khi người ta dùng những câu chuyện ấy để lôi kéo, quyến rũ người khác. Những người khoe khoang về các điều nghịch điều răn thứ sáu mà mình đã làm, lại còn thêm thắt bằng những lời thô tục thì thường mắc tội nặng, vì 3 thứ tội: khoe mình về điều dữ, làm gương xấu cho người nghe và lấy làm vui về tội mình đã làm.

Tuy nhiên, những câu chuyện không tục cho lắm, nói để cười chơi, giải trí, nói giữa những người quen nghe các thứ chuyện như vậy, thông thường không có tội nặng, nhưng đó không phải là chuyện nên làm. Cũng vậy những lời tình tứ, những câu nói “gió trăng”, nếu nói phớt qua, thường không kể là tội nặng, bởi vì kẻ nghe người nói hiểu là nói giỡn chơi.

Những câu chuyện mang tính tính dục trong đời sống vợ chồng thì khác. Khi vợ chồng diễn tả thành lời thành tiếng thì đó là cách biểu hiện tình yêu trọn vẹn của hai người. Thậm chí, người ta còn khuyên vợ chồng không nên bắt các tình cảm yêu đương của mình im đi, trái lại cần phải cho chúng có cơ hội được diễn tả ra thành lời thành tiếng. Còn kể lại những chuyện “phòng the” của vợ chồng mình trước mặt những người thứ ba thì bị coi là thiếu khôn ngoan. Người đàn ông như cảm thấy bí mật vợ chồng bị phản bội, khi thấy vợ mình kể cho bà vợ khác về đời sống tính dục của vợ chồng. Làm như thế sẽ gây thiệt hại cho tình yêu vợ chồng. (tr. 41)

4.2 Đọc sách báo khiêu dâm

Sách GLCG no 2354 kết án nặng nề sách báo khiêu dâm khi viết: “Sách báo và tranh ảnh khiêu dâm, cố ý phơi bày những hành vi tình dục thầm kín thực sự hay mô phỏng ấn phẩm khiêu dâm, xúc phạm đến đức khiết tịnh vì làm biến chất hành vi ái ân là việc trao ban thầm kín của vợ chồng với nhau ; chúng làm tổn thương nặng nề đến phẩm giá của những người dự phần (diễn viên, kẻ kinh doanh, khán giả), vì người này trở thành đối tượng cho một thú vui thô lỗ và là nguồn lợi nhuận bất chính cho người kia. Ấn phẩm khiêu dâm đưa tất cả những người tham gia vào thế giới ảo tưởng. Đó là một lỗi nặng. Chính quyền phải ngăn cấm việc sản xuất và phổ biến những ấn phẩm khiêu dâm này.”

Đọc sách mô tả hoặc dạy những điều sắc dục thường là tội nặng dù là đọc vì sự tò mò hay để giải trí. Những loại sách đó thường khuyến khích người ta đi vào đường trụy lạc, ham mê sắc dục, tách hành vi tính dục ra khỏi đời sống vợ chồng. Cha giải tội phải cẩn thận trong những trường hợp nầy và cố gắng, theo sự khôn ngoan của mình, khuyên bảo cũng như giúp hối nhân thấy rõ tai hại của việc đọc các thứ sách báo khiêu dâm.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là “đọc sách báo khiêu dâm thường là có tội, trừ khi đó là một đề tài cần nghiên cứu - một trường hợp tương đối họa hiếm. Phản ứng đúng đắn của người có nhân đức đoan trang sẽ là thôi đọc ngay khi phát hiện thấy sách báo đã không để ý tới sự thanh cao nhã nhặn và đang cám dỗ mình sống nhơ uế. Cũng nên lưu ý: sách báo thích hợp và được phép cho một nhóm người này, như cho những người đã kết hôn, có thể lại không thích hợp cho một nhóm khác, như cho những người đang còn trinh khiết hay chưa kết hôn.” (tr. 42)

Cha mẹ phải thận trọng trong vấn đề nầy. Đừng làm cho con cái hiểu lầm về hành vi tính dục của cha mẹ nhất là trong khung cảnh nhà cửa chật chội của Việt Nam, những sinh hoạt vợ chồng có thể bị con cái theo dõi. Những bài báo thích hợp cho cha mẹ lại có khi chưa thích hợp cho con cái. Trách nhiệm của cha mẹ là phải bảo vệ con cái khỏi những sách báo đồi phong bại tục, lôi cuốn con cái đi vào con đường trụy lạc. Hơn nữa cha mẹ còn phải tạo cơ hội để con cái tiếp xúc với những sách báo lành mạnh hữu ích.

4.3 Kịch nghệ, truyền thanh, phim ảnh và truyền hình

Sử dụng các phương tiện giải trí trên các phương tiện này một cách không phân biệt là một trong những nguy cơ lớn đặt ra cho đức đoan trang nết na hiện nay. Đi đến các rạp (sex shop) chuyên chiếu các phim vô luân là đã phạm tội đối với đức đoan trang, trừ khi đã kiểm tra trước về tính luân lý của bộ phim sắp xem ấy. Cũng cần phải ý tứ đối với các chương trình truyền thanh và truyền hình, nhất là khi trẻ em cùng sử dụng hình thức giải trí ấy chung với người lớn. Tuy nhiên, muốn đưa ra những phán đoán luân lý thì phải biết phân biệt tuổi tác và các bậc sống khác nhau. Những chương trình cấm đối với người trẻ hay người chưa kết hôn có thể lại được phép đối với người lớn hay người đã kết hôn.

Ở đây người Kitô hữu cần lành mạnh hóa môi trường sống bằng ảnh hưởng của mình. Cho dù ảnh hưởng đó nhiều khi không thấy được nhưng không vì thế mà bó tay. Trái lại cần đóng góp cho xã hội trong tư cách một công dân để giảm bớt những lạm dụng về đề tài tính dục trong phim ảnh và truyền hình.

4.4 Ăn mặc và thời trang

Tự bản chất việc làm đẹp thân thể là điều tốt. Thiên Chúa đã từng cho là tốt khi dựng nên con người. Con người có quyền dùng cách ăn mặc để làm vừa lòng hay lôi cuốn người khác, phù hợp với những phong tục hợp lý. Phụ nữ cũng có thể dùng son phấn, tóc nhuộm, v.v..., để trang điểm, cho dù trong nhiều trường hợp, một vẻ đẹp tự nhiên, không giả tạo có thể thích hợp hơn.

Giá trị luân lý của việc ăn mặc và thời trang là một vấn đề phức tạp vì khó đưa ra những nguyên tắc rõ ràng. Dựa vào tiêu chuẩn nào để đánh giá kiểu thời trang này là hơi thiếu đoan trang, kiểu kia là thiếu đoan trang trầm trọng ? Mặc quần áo quá ngắn, cổ áo trễ xuống quá sâu, vải quá mỏng, y phục tắm quá sơ sài, tất cả đều có thể dễ dàng gây ra những tội phạm đến sự khiết tịnh. Như thế, cần lưu ý đến ý hướng khi xét đoán về tính luân lý của một trang phục nào. Có thể cùng một kiểu trang phục, nhưng gái mãi dâm mặc thì chắc là có ý khác với một cô chỉ thích mặc những thứ mới lạ.

Khi phê phán các thời trang, cần nhớ nguyên tắc hết sức quan trọng này: "những mốt mới nhất thường tạo ra những khiêu khích thiếu lành mạnh, còn những mốt đã tồn tại lâu xem ra ít lôi cuốn hơn, dù chúng cũng có thể phạm đến ý thức đoan trang của ta một cách nhẹ nhàng.”

Các linh mục phải lưu ý việc các phụ nữ cần ăn mặc thích hợp khi tham gia các lễ nghi phụng vụ và các buổi họp của người Công giáo. Tuy nhiên, linh mục chỉ được từ chối ban bí tích khi cách ăn mặc của đương sự gây ra một gương xấu lớn.

Nói chung các linh mục phải hết sức cẩn thận trong lời chỉ trích của mình về việc ăn mặc thiếu đoan trang, tránh những hình thức chỉ trích sống sượng và gắt gao. Khi nói về sự đoan trang của phụ nữ, nên tránh rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên, hạ giá thân xác và làm cho đối nghịch lại tinh thần. Tốt hơn, các bài giảng đi từ tâm tình kính trọng và ý thức muốn bảo vệ sự kín đáo cũng như sự linh thiêng của con người và của thân xác con người.

4.5 Nhìn ngắm

Người phụ nữ thường cảm thấy bị kích thích tính dục khi bị người ta nhìn như một đối tượng tính dục. Bởi đó, thật là thiếu đoan trang khi nhìn ngắm một cách tò mò hay còn khiếm nhã hơn nữa khi khoan khoái nhìn ngắm những thân thể trần truồng hay ăn mặc hở hang trong một thời gian khá dài. Điều này càng đúng hơn nữa khi đối tượng ấy là người khác, không phải là vợ hay chồng mình.

Vẽ hay nhìn ngắm một người trần truồng trong nghệ thuật - bao lâu còn là nghệ thuật thật sự, chứ không phải khiêu dâm - trên nguyên tắc không phải là lỗi đức đoan trang. Qua những hình ảnh bên ngoài ấy, người nghệ sĩ muốn diễn tả một nghệ thuật sâu xa hơn, như kỳ công sáng tạo hay vẻ đẹp của linh hồn chẳng hạn. Người trần truồng được giới thiệu không phải để kích thích tính dục, mà để phục vụ một giá trị thiêng liêng nào đó.

Vì thế, cần giáo dục thanh thiếu niên biết thưởng thức những bức tranh hay tượng được trình bày trần truồng bằng cặp mắt mỹ thật. Thế nhưng cũng cần lưu ý là không phải dễ phân biệt ranh giới giữa nghệ thuật và khiêu dâm vì đa số tác phẩm chưa chắc đã có vẻ thẩm mỹ đúng đắn. Đừng cho phép trưng bày công khai, nhất là ở trong gia đình những hình ảnh quá khiêu gợi. Cũng thế, khi đi xem bảo tàng viện hay triển lãm có trưng bày những tranh ảnh như thế, cần có sự khôn ngoan dè dặt.

Về những người nam nữ được tuyển chọn làm người mẫu khỏa thân cho các họa sĩ thì điều ấy không cấm miễn là sự khoả thân không quá sự cần thiết hay hữu ích, và ngoài ra, còn có những sự đề phòng cần thiết như học viên cần tránh có những lời nói, cử chỉ thiếu đứng đắn đối với người mẫu. Nói chung nếu có ý chăm lo cho nghệ thuật thì hầu chắc không có sự nguy hiểm cho dịp tội nào hết. Những thiếu nữ nào chịu làm mẫu từ thuở nhỏ, thường không hay cảm thấy khoái cảm về chuyện đó. Tuy nhiên nếu họ có sa ngã đôi lần, thiết nghĩ không cần buộc họ bỏ nghề như là kế sinh sống duy nhất đó.

Nói chung khi nhìn xem “chỗ kín” của mình hay của người khác thì không có tội hay không quá tội nhẹ nếu có kèm theo ý xấu hay có cảm giác vui thích chút đỉnh. Tuy nhiên nếu hoàn toàn vì ý xấu như vì muốn được kích thích dâm dục thì chắc là mắc tội nặng nhất là khi kèm theo những hành động gợi dục khác.

Vì thế khi trông thấy những em bé trần truồng, cách chung không làm xúc động những người có trạng thái “bình thường”. Cho nên những tớ gái khi giữ em, trông xem các em trần truồng, thì không có tội.

Có nhiều nơi có thói quen tắm hay tắm nắng trần truồng. Thiết tưởng điều đó là gương xấu khi ở giữa những người không làm như vậy. Nhưng nếu ở khu vực riêng biệt thì thiết tưởng nguy cơ làm cho người ta mắc tội bề trong và bề ngoài không còn nữa.

4.6 Sờ mó, âu yếm, vuốt ve

Một người bình thường sẽ hoàn toàn không bị tác động khi đụng chạm đến thân thể mình trong lúc tắm, mặc quần áo, v.v... nhưng khi đụng chạm một cách không cần thiết với các bộ phận sinh dục của mình có thể là đã thiếu đoan trang.

Đối với thân thể của người khác, nhất là của người khác phái, cần phải hết sức dè dặt và khôn ngoan để tỏ lòng tôn trọng và thái độ đoan trang cần thiết. Nếu sờ mó không có lý do, hay bởi tò mò hay cũng có chút tình dục, thông thường không quá tội nhẹ. Nên nhớ rằng cho dù đụng chạm mà không có xúc động tính dục thì đây cũng là một cử chỉ khả ố. Những hành vi ấy ít khi kích động nặng, trừ khi nào vì tình dục mạnh nên họ mới sờ mó và sờ mó lâu. Tuy nhiên thanh thiếu nữ phải tránh xa các cách sờ mó như vậy, vì thông thường sẽ đi xa hơn trong quan hệ tính dục nhất là khi hữu ý làm bởi tính đam mê sắc dục.

Tuy nhiên nếu có lý do, thì không mắc tội, mặc dù có nổi lên sự xúc động ngoài ý muốn. Thí dụ khi đức ái đưa đẩy tới và đòi hỏi phải có sự đụng chạm thân xác (như khi chăm sóc người bệnh), kinh nghiệm cho thấy những người bình thường không có gì phải lo lắng, sợ sệt. Dù vậy, nếu không phải là lý do hệ trọng, thì vì lòng yêu chuộng nết na, cần liệu sao ít đụng chạm chừng nào hay chừng nấy.

Ôm hôn hoặc nắm tay người khác phái, nếu theo phong tục nơi đó cho phép, như là dấu chỉ sự thân thiết, quí mến hay dấu chỉ kính trọng thì tốt cho dù đôi lần cũng có phát lên sự cảm khoái nhục dục, miễn là đừng chiều theo. Vì tự bản chất, những cử chỉ ấy không phải là cử chỉ lố lăng và vì có lý do chính đáng, cho nên nó là điều tốt.

Nếu ôm hôn nhau lâu và hôn cách say đắm thì những cử chỉ ấy rất thường kích thích dâm dục hoặc lôi cuốn đi xa hơn vì vậy thường phải kể có tội nhẹ. Linh mục giải tội nên biết rằng: dân chúng cách chung không biết điều đó là có tội, là xấu. Điều ấy không lạ, vì chính những nhà luân lý cũng chưa đồng ý với nhau về điều nầy.

Về khiêu vũ thì trên nguyên tắc, khiêu vũ là một phương thế hợp pháp, thậm chí đáng hoan nghênh nữa, để các phái gặp nhau. Đó là một việc giải trí mang tính chất xã hội và cả thẩm mỹ nữa.

Khiêu vũ thích hợp để tạo điều kiện cho thanh niên quen biết nhau, giúp cho họ lựa chọn người bạn đời trong tương lai. Tuy nhiên, không phải cuộc khiêu vũ nào cũng được chấp nhận như nhau. Có cuộc khiêu vũ được tính toán sắp xếp - từ trong toàn bộ của nó, để kích thích những đam mê dục vọng qua những chuyển động, những đụng chạm và loại nhạc đi kèm. Dĩ nhiên, phải từ chối những loại khiêu vũ này, coi đó là hình thức khiêu vũ thiếu đoan trang. Cần nhớ rằng đối với các dân tộc cổ sơ những cuộc khiêu vũ như thế thường được cố tình dùng làm khúc dạo đầu cho những hành vi ân ái sau đó.

Cho dù ta có thể áp dụng vào vấn đề khiêu vũ những gì đã nói về các lãnh vực khác của đức đoan trang, ta cũng đừng quên rằng có những hình thức ban đầu là khiêu dâm nhưng đã trở thành phong tục, không còn tính khiêu khích nữa. Điệu “Valse” là một thí dụ điển hình cho việc này. Ban đầu nó không những bị các Kitô hữu mà cả những giới phê bình tự do cho là thiếu tao nhã và đoan trang, nhưng hiện nay nó đã được chấp nhận ở hầu hết mọi nơi.

4.7 Những sự tưởng tượng

Những sự tưởng tượng có liên quan đến tính dục là những hình ảnh trong trí, những sự mơ mộng có bản chất khiêu dâm, bất kể nội dung của chúng chỉ là những cảnh tượng khiêu dâm, những cách ăn mặc, những sự vuốt ve sờ mó, v.v... hay là những hoạt động tính dục đầy đủ được tưởng tượng ra. Các nhà tâm lý bảo rằng không ai có thể tránh được những sự tưởng tượng ấy. Họ cũng cho biết mỗi người phải học tập kiểm soát chúng.

Luân lý truyền thống cho rằng đối với một con người bình thường, một nguy cơ rất gần có thể xảy ra cho họ: đó là từ những hình ảnh thoáng qua mời mọc ta tưởng tượng, người ta có thể tiến tới những sự mơ mộng rất chi tiết mời mọc ta thủ dâm hay có hành vi giao hợp. Bởi đó, việc kiểm soát các phản ứng tính dục cần phải bắt đầu tập trung vào những sự khuấy động sơ sài đầu tiên của trí tưởng tượng. Nếu không, ta sẽ thấy khả năng chống lại sự cám dỗ chẳng mấy chốc bị sa sút hẳn.

Quan điểm này không được các nhà nghiên cứu tâm lý học hiện đại đồng ý. Những gì chúng ta biết được về sự diễn biến của tính dục nói chung không đương nhiên bắt ta phải gạt bỏ những sự tưởng tượng vì ích lợi của mình. Phải cứu xét mỗi sự tưởng tượng một cách riêng rẽ. Ức chế một cách không phân biệt mọi sự tưởng tượng là một chủ trương ứng xử quá ngây ngô, đơn sơ. Con người phải chấp nhận các sự tưởng tượng khiêu dâm đến một cách tự nhiên, như tập đánh giá sự quyến rũ và giá trị do các sự tưởng tượng ấy đem lại, tập đánh giá khi nào cần phải gạt bỏ sự tưởng tượng vì không thể chấp nhận được.

Để đánh giá các sự tưởng tượng tính dục về mặt luân lý, cần xét đến hai tiêu chuẩn căn bản này. Các sự tưởng tượng tính dục có thể đáng khiển trách hoặc vì chính nội dung của chúng là phi luân hoặc vì cường độ của chúng, có thể tạo ra phản ứng tính dục. Ngoài ra, cũng cần phải áp dụng các tiêu chuẩn khác tùy vào các bậc sống khác nhau của đương sự.

Những sự tưởng tượng tính dục có tội là do nội dung của chúng, một nội dung không thể chấp nhận được trên nguyên tắc. Chủ tâm thụ hưởng các hành vi phi luân (vì liên quan đến những nội dung không bao giờ được phép chấp nhận như ngoại tình, loạn luân, thông dâm, đồng tính luyến ái) ; tán thành những sự lỗi phạm đức khiết tịnh trong quá khứ hay tiếc nuối là đã không khai thác cơ hội ấy ; ao ước làm những việc ô uế, đó chính là những tội nội tâm đi ngược lại đức khiết tịnh. Thật sự ao ước làm những việc nặng tội, đó là đã phạm tội nặng như Chúa đã từng công khai lên án: “Ai nhìn phụ nữ mà thèm muốn, là đã phạm tội ngoại tình với người ấy trong lòng” (Mt 5, 28)

Không kể những “ước muốn hữu hiệu”, tức là những sự thèm muốn nghiêm túc với ý định sẽ thực hiện, người Công giáo thường không coi những tư tưởng thiếu trong sạch là tội nặng và thường đòi phải phân biệt thêm. Cha giải tội không cần phải dựa trên những tiêu chuẩn nghiêm nhặt hơn. “Chúng ta không nên bỏ qua sự kiện: tội trong tư tưởng thường ít được muốn rõ ràng và mãnh liệt bằng tội bên ngoài, và vì thế ít xấu hơn”. Sự ưng thuận của ta đối với các hành vi dơ bẩn trong tư tưởng vẫn còn thiếu sót ; nếu không nó đã trở thành một ước muốn hữu hiệu. Ngay cả những điều xem ra là ước muốn hữu hiệu, ta vẫn có thể chứng minh được là chưa ưng thuận đầy đủ trong các tình huống cụ thể, có khả năng biến ước muốn ấy thành hành động.

Tuy nhiên, dù trong hầu hết trường hợp có tư tưởng thiếu trong sạch chưa phải là một tội nặng, đó vẫn là một điều vô trật tự, tội lỗi và phải dẹp bỏ. Những gì đã là phi luân cách rõ ràng rồi thì không được hưởng ứng cả trong trí tưởng tượng của con người. "Vì tự lòng xuất phát những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp làm chứng gian và vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế” (Mt 15, 19tt)

- Những sự tưởng tượng tính dục cũng có thể bị lên án, nếu chúng bỗng trở nên mãnh liệt đến nỗi tạo ra những phản ứng tính dục. Các suy tư về vai trò tâm lý của sự tưởng tượng cho biết không phải sự tưởng tượng khiêu dâm nào cũng đương nhiên xấu và đáng trách. Những sự tưởng tượng tính dục cũng là một phần trong đời sống tâm lý, đóng một vai trò tích cực hơn. Tuy nhiên, mỗi người phải có bổn phận kiểm soát chúng.

Thông thường ta phải loại trừ những sự tưởng tượng ấy, trước khi chúng lên cao tới mức trở thành những sự kích thích thân xác mãnh liệt. Khi ở trong tình trạng tính dục chỗi dậy, sự tự do của ý chí sẽ dần dần trở nên yếu đi và khả năng kiểm soát các ước muốn tính dục cũng từ từ giảm đi. Tuy nhiên, có thể coi là chính đáng những sự kích thích phát xuất từ những tưởng tượng tính dục liên quan đến tình yêu vợ chồng hợp pháp của hai người, miễn là những kích thích ấy không nhằm để cho một cá nhân nào đó được thoả mãn đơn độc, một mình.

 “Rõ ràng là ta không thể nào đưa ra một quyết định luân lý hữu trách, một khi đam mê hay dục vọng đã chỗi dậy. Chính vì sự kiện nầy mà truyền thống yêu cầu phải chấm dứt ngay từ đầu những tư tưởng và hình ảnh khiêu dâm. Thế nhưng con người có thể tập được thói quen trấn áp những sự tưởng tượng ấy, trước khi nó đạt tới cường độ kinh khủng nhưng vẫn tiếp tục thuởng thức các sự tưởng tượng bình thường ấy. Nhờ phát triển phương cách quyết định có ý thức, dựa trên tính độc đáo của mức phản ứng tính dục và đời sống tưởng tượng thông thường của đương sự, mà ta có thể tránh được tình trạng dồn ứ của sự căng thẳng tính dục, xảy ra khi ta đè nén hay dẹp bỏ những sự tưởng tượng ngay lúc chúng vừa xuất hiện.”

Trên nguyên tắc, gọi là một sự tưởng tượng hay mơ mộng công phu khi sự tưởng tượng hay mơ mộng ấy tạo ra được sự kích thích tính dục lâu dài, chứ không phải là một hình ảnh tương đối mau qua. Khả năng sinh ra những sự xấu xa về mặt luân lý xuất hiện, khi đương sự dựa vào kinh nghiệm đã biết mức độ hưởng ứng chung của mình trước những sự tưởng tượng mà cứ tiếp tục để cho những sự tưởng tượng ấy tạo ra sự hưng phấn tính dục, và dần dần đi tới chỗ hoàn toàn ưng thuận với tình trạng ấy. Kể là có tội khi cố tình bỏ qua không biết đến những giới hạn cần phải đặt ra cho óc tưởng tượng của mình. Còn thỉnh thoảng thiếu sót và thất bại, dù định hướng căn bản của mình vẫn là điều chỉnh tính dục lại một cách có trách nhiệm, thì phải xét đoán khác, nhẹ nhàng hơn. Qua kinh nghiệm và thử thách mỗi người phải nhận ra mức giới hạn của mình giữa không có cảm giác và có cảm giác, cũng như đâu là mức mình phải áp chế sự tưởng tượng, khi nào sự tưởng tượng bất đầu vượt ra khỏi sự kiểm soát của trí khôn ta.

Người ta còn đưa ra một số phân biệt dựa vào các bậc sống. Người chưa kết hôn được phép suy nghĩ tới các quan hệ tính dục với một người bạn đời có thể của mình, kèm theo đó là biết đánh giá các giá trị tiềm tàng trong tính dục như Chúa đã muốn. Những ý tưởng ấy không phải là ô uế cũng không phải là khiếm nhã.

Người còn đang tuổi hẹn hò yêu đương hẳn phải xét đến khía cạnh tính dục mỗi khi đánh giá người kia và mỗi khi quan hệ với người kia, vì tính dục là một phần trong bản chất của những cộng đoàn sống chung vĩnh viễn, cần được thử nghiệm dần và được nhắm đến. Đối với những người đã đính hôn, giới hạn luân lý của các sự tưởng tượng tính dục hẳn phải mở rộng hơn.

Đối với những người đã kết hôn, các sự tưởng tượng tính dục là một phần đầy đủ trong tình yêu vợ chồng. Nói chung những sự tưởng tượng ấy có thể kích thích những quan hệ tính dục, giữ cho chúng khỏi trở nên nhạt nhẽo, máy móc. Những sự tưởng tượng có liên quan đến quan hệ vợ chồng giữa hai người đã kết hôn sẽ làm cho những cách biểu hiện tình yêu của họ được thêm phong phú và sẽ làm tăng sự thích thú hưởng thụ. Chính vì thế, cần phải khuyến khích những tưởng tượng ấy với các cặp vợ chồng.

Hiện nay, trong số những người đã kết hôn vẫn còn nhiều người hiểu sai về những sự tưởng tượng bình thường, được phép. Những người này coi việc thay đổi tư thế giao hợp hay một số cử chỉ sờ mó tạo sự thân mật là lệch lạc. Kỳ thật, quan niệm như thế là sai. “Thật vậy, chỉ gọi là lệch lạc tính dục những hoạt động nào nhắm đến một mục tiêu không thích đáng, nghĩa là những hoạt động nào thế chỗ cho hành vi giao hợp. Nói chung, một hành vi tính dục mang bản chất kích thích, để khơi dậy sự thèm muốn và để rồi kết thúc với hành vi giao hợp, là một hành vi bình thường, chứ không phải lệch lạc. Những thí dụ thường gặp để giải thích điều nầy gồm có việc thay đổi các tư thế giao hợp và hôn lên các phần thân thể khác, không phải là môi miệng. Như vậy, các sự tưởng tượng vừa kể cũng là những hiện tượng bình thường, chứ không phải là dấu hiệu của một tâm trí bệnh hoạn.”

Còn đối với những người đã quyết định dứt khoát hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa bằng cách sống độc thân, cần phải áp dụng những quy tắc nghiêm nhặt hơn cho sinh hoạt tưởng tượng của họ. Họ phải tránh không suy nghĩ về các mối quan hệ sẽ không được thực hiện trong bậc sống của họ. Muốn vậy, người đi tu phải phát huy khả năng thăng hoa. Điều này giả thiết họ phải đạt trình độ phát triển tâm lý – tính dục khá cao, phải có sự tỉnh táo và nỗ lực bỏ mình rất lớn.

4.8 Đồng tính luyến ái

Những trường hợp đồng tính luyến ái hiện nay đã trở nên phổ biến hơn ta tưởng. Người ta thường ước tính số người này chiếm khoảng 5% trên toàn dân số thế giới. Tuy nhiên, nên nhớ không phải ai có một cơ cấu đồng tính luyến ái cũng đều tham gia vào các việc đồng tính luyến ái.

Có quan hệ đồng tính luyến ái là có những sinh hoạt tính dục giữa những người cùng giới tính. Thường thường đó chỉ là những hành vi thủ dâm của mỗi bên với nhau. Đồng tính luyến ái giữa phụ nữ với nhau gọi là “lesbian”. Nếu được thực hiện giữa một người lớn và một thiếu niên thì gọi là “pederasty”.

Cần phân biệt đồng tính luyến ái như một tình trạng lệch lạc về tâm lý và cơ cấu với một hành vi đồng tính luyến ái ít nhiều có tính cách cơ hội. Hành vi đồng tính luyến ái mang tính cơ hội như khi sắp chấm dứt thời kỳ trước tuổi dậy thì và sắp bước vào thời kỳ thiếu niên, nhiều thiếu niên thường tham gia vào các trò chơi tính dục mang tính chất đồng tính luyến ái, ít là thỉnh thoảng. Những trò này thường chỉ là áp dụng rộng rãi hơn những kỹ thuật thủ dâm. Cũng như khi không có những nguồn thoả mãn tính dục với những người khác giới, như trường hợp giữa binh lính, trong các trại tù, v.v..., người lớn cũng có thể làm những việc đồng tính luyến ái trong một thời gian. Những việc làm ấy không phải là dấu của chứng đồng tính luyến ái do cơ cấu (mặc dù không loại trừ khả năng nầy). Khi mắc chứng đồng tính luyến ái thực thụ, người ta sẽ không còn cảm thấy bị hấp dẫn bởi những người khác giới như những người bình thường, mà thay vào đó người ta cảm thấy bị lôi cuốn cách bất thường bởi những kẻ đồng giới. Tuy nhiên, cũng có những hạng người lưỡng tính, có thể bị kích thích bởi những người khác giới lẫn những người đồng giới.

Trong Thư của BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN về việc chăm sóc mục vụ cho những người đồng tính luyến ái do ĐHY Ratzinger ban hành ngày 01 tháng 10 năm 1986 cho biết vấn đề đánh giá tính luân lý của đồng tính luyến ái là vấn đề gây nhiều chống đối với giáo huấn của Hội Thánh: “Vấn đề đồng tính luyến ái và sự đánh giá về mặt luân lý của những hành vi đồng tính luyến ái, đã luôn là một vấn đề gây bàn cãi công khai, ngay trong những tổ chức Công Giáo. Những bàn cãi này thường dẫn đến những tranh luận và những quyết đoán mâu thuẫn với giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo.” (số 1)

Sự bàn luận công khai về vấn đề đã được đưa ra trong tuyên ngôn về một số vấn đề liên quan đến đạo đức học phái tính của Thánh Bộ ra ngày 29 tháng 12 năm 1975. Tài liệu này nhấn mạnh tới nhiệm vụ phải cố gắng hiểu hoàn cảnh đồng tính luyến ái với sự xét đoán cách khôn ngoan. Đồng thời Thánh Bộ lưu ý tới sự phân biệt thường được thực hiện giữa hoàn cảnh và khuynh hướng đồng tính luyến ái với những hành động đồng tính luyến ái cá nhân. Những hành động này được diễn tả như là thiếu mục đích cơ bản và cần thiết của nó như là "rối loạn nội tại", và không được phê chuẩn trường hợp nào. (x. no.8, 4).

Trong cuộc bàn cãi tiếp sau việc phổ biến tuyên ngôn, một sự giải thích quá mức nhẹ nhàng được nêu lên đối với hoàn cảnh đồng tính luyến ái, có kẻ đi xa đến nỗi coi nó là trung tính, hay là tốt nữa. Cho dầu sự nghiêng chiều đặc biệt của con người đồng tính luyến ái không phải là một tội lỗi, nhưng nó là một sự nghiêng chiều ít nhiều hướng tới một sự dữ luân lý nội tại, và như vậy chính sự nghiêng chiều đó phải được coi như là một sự rối loạn khách quan. (no 3)

Để củng cố lập luận của mình bức thư trưng dẫn lý chứng từ Kinh thánh: “Trong sách Sáng Thế đoạn 3, chúng ta thấy sự thật con người là hình ảnh Thiên Chúa đã bị vẫn đục vì tội nguyên tổ không thể tránh khỏi điều tiếp sau là việc mất đi ý thức của tính hiệp ước trong sự hiệp nhất những nhân vật này với Chúa và với nhau. Thân xác con người giữ lại” “ý nghĩa vợ chồng" của nó, nhưng bây giờ điều đó bị tội lỗi như mây che đi. Như vậy, trong sách Sáng Thế 19, 1-11, sự sa đọa do tội tiếp diễn trong chuyện dân thành Sôđôma.

Có những phán đoán lý luận giúp ta không chút nghi ngờ gì về việc cần phải chống lại những khuynh hướng và những quan hệ đồng tính luyến ái. Trong sách Lêvi 18, 22, 20, 13, khi diễn tả những điều kiện cần thiết để thuộc về dân được tuyển chọn, tác giả loại trừ khỏi dân Chúa những ai sống theo cách đồng tính luyến ái.

Cũng vậy, Thánh Phaolô trong thơ thứ nhất gởi giáo đoàn Côrintô (Cr 6, 9) đã kê khai những người sống theo kiểu đồng tính luyến ái vào số những kẻ không được vào Nước Thiên Chúa.

Trong thư gởi tín hữu Roma 1, 18-32, Thánh Phaolô trong bối cảnh của sự đối chiếu giữa Kitô giáo và xã hội ngoại đạo ở thời đại ngài, ngài lấy cách sống đồng tính luyến ái làm ví dụ cho sự đui mù chế ngự nhân loại. Việc thờ ngẫu tượng và những tương quan đồng tính luyến ái là những ví dụ rõ ràng nhất cho thấy con người đã không giữ được sự hoà hợp lúc đầu giữa Đấng Sáng Tạo và các tạo vật.

Sau cùng, 1 Tm 1, 1 vẫn tiếp tục đầy đủ với lập trường Kinh Thánh, chỉ mặt những người gieo rắc giáo lý sai quấy và trong câu 10, ngài minh nhiên điểm danh rõ ràng những ai buông theo những hành vi đồng tính luyến ái là kẻ tội lỗi. (no 6)

Từ những lời dạy trích ra từ Kinh thánh, bức thư cho thấy giáo huấn của Giáo Hội chỉ là cố gắng trình bày trung thực lời dạy của Chúa: “Giáo Hội, vâng lời Chúa là Đấng dựng nên mình và ban cho mình sự sống, bí tích, cử hành chương trình về sự kết hợp đầy tình yêu và ban sức sống giữa người nam và người nữ trong Bí tích Hôn nhân. Chỉ trong quan hệ vợ chồng mà sự sử dụng năng lực phái tính mới được tốt đẹp về mặt luân lý. Cho nên, lao vào cách sống đồng tính luyến ái là hành động cách vô luân.”

Chọn một người đồng tính cho hoạt động tình dục của mình, là phá hủy tính tượng trưng phong phú và ý nghĩa của ý định về phái tính của Đấng Sáng Tạo. Đó là chưa nói tới mục đích hoạt động đồng tính luyến ái không phải là một sự hiệp nhất bổ sung có khả năng truyền sự sống. Và như thế, nó ngăn trở ơn gọi sống hình thức hiến mình, mà Tin Mừng dạy là bản chất của sự sống Kitô hữu. Điều này không có ý nói những người đồng tính luyến ái thường không quảng đại và không biết hiến mình. Tuy nhiên, khi họ dấn thân vào hoạt động đồng tính luyến ái, thì họ củng cố trong chính mình họ một sự nghiêng chiều phái tính cách rối loạn, sự nghiêng chiều này chủ yếu là một sự tự dung dưỡng vậy.

Cũng như mọi thứ rối loạn luân lý, hoạt động đồng tính luyến ái ngăn trở người ta tự hoàn thiện mình và tiến tới hạnh phúc, bằng cách hành động ngược lại sự khôn ngoan sáng tạo của Thiên Chúa. Giáo Hội, khi loại trừ những quan niệm sai lầm đối với đồng tính luyến ái, không hạn chế nhưng nói đúng hơn bênh vực sự tự do cá nhân và phẩm giá con người được hiểu cách thực tế và đích thực. (no 7)

 “Dầu vậy, càng ngày càng có nhiều người ngày nay, ngay cả trong Giáo Hội, làm áp lực mạnh để Giáo Hội chấp nhận hoàn cảnh đồng tính luyến ái, xem như nó không bị rối loạn và bao dung cho hoạt động đồng tính luyến ái. Những người trong Giáo Hội mà lập luận theo kiểu này, thường có những liên hệ chặt chẽ với những kẻ có những quan điểm giống như vậy ở bên ngoài Giáo Hội. Cần phải thấy rằng những nhóm sau này được hướng dẫn bởi một quan điểm trái ngược với chân lý về con người, vì con người chỉ có thể được hiểu biết đầy đủ trong mầu nhiệm Chúa Kitô. Họ phản chiếu, cho dầu không ý thức đầy đủ, một ý thức hệ vật chất, khước từ bản tính siêu việt của con người cũng như ơn gọi siêu nhiên của mỗi một cá nhân.” (no 8)

Tuy Giáo Hội chống đối hay kết án hành động đồng tính luyến ái nhưng Giáo Hội không hề chủ trương dùng bạo lực đối với họ. Bức thư viết tiếp: “Điều đáng thương là những người đồng tính luyến ái đã và đang là đối tượng của sự ác tâm bạo tàn bằng lời nói hay việc làm. Sự đối xử đó đáng bị các vị mục tử trong Giáo Hội ở bất cứ nơi nào nó xảy ra lên án. Sự đối xử đó biểu lộ một thứ khinh khi những kẻ khác, sự khinh khi đó làm nguy hại những nguyên lý cơ bản nhất của một xã hội lành mạnh. Phẩm giá hiện tại của mỗi người phải luôn luôn được kính nể trong lời nói, hành động và luật pháp.” (no 10)

Sách Giáo lý Công giáo số 2358 cũng lưu ý: “Đừng quên một số người đã có khuynh hướng đồng tính luyến ái thâm căn. Đối với đa số những người này, khuynh hướng lệch lạc ấy là một thử thách. Chúng ta phải đón nhận họ với lòng tôn trọng, thông cảm và tế nhị, tránh đối xử bất công. Cả những người này cũng được mời gọi thực hiện ý Chúa trong cuộc sống và, nếu là Kitô hữu, họ nên kết hợp các khó khăn gặp phải do hoàn cảnh đặc biệt của mình với hy tế thập giá của Chúa.”

Giáo Hội không chấp nhận đồng tính luyến ái thế nhưng, theo Peschke, cần phải phân biệt tình trạng đồng tính luyến ái do cơ cấu, thường diễn ra mà không có sự đóng góp đáng tội của đương sự và bởi đó không đáng quy trách nặng hơn các tình trạng bệnh hoạn khác, với sinh hoạt đồng tính luyến ái lộ liễu một cách công khai. Chỉ có loại thứ hai này bị coi là một sự rối loạn đáng quy trách và không thể bỏ qua. Trong trường hợp này, người đồng tính luyến ái cũng phải thực hành việc tiết dục và tự chủ như người độc thân có khuynh hướng dị dâm, cũng như phải được giúp đỡ về mặt tâm linh như những người ấy. (tr. 103)

Vấn đề qui trách cũng được bức thư của thánh bộ Đức tin đặt ra vì: “Có người cãi lại rằng chiều hướng đồng tính luyến ái trong vài trường hợp, không do sự lựa chọn cố ý ; và như thế người đồng tính luyến ái không có sự lựa chọn nào khác. Vì thiếu tự do, con người ấy, dần dần dấn thân trong hoạt động đồng tính luyến ái, không có lỗi.”

Ở đây cần đến truyền thống luân lý khôn ngoan của Giáo Hội, bởi vì truyền thống này cảnh cáo những sự tổng quát hoá khi phán đoán những trường hợp cá thể. Thực tế có thể có những hoàn cảnh, hoặc là đã có thể có trong quá khứ, những hoàn cảnh đó giảm thiểu hay xoá bỏ sự có tội của những cá nhân trong một trường hợp nào đó ; hoặc những hoàn cảnh khác có thể gia tăng sự tội lỗi. Điều phải tránh bằng mọi giá là sự thừa nhận vô căn cứ và hạ mình cho rằng cách cư xử phái tính của những kẻ đồng tính luyến ái là luôn luôn và hoàn toàn bị ép buộc và do đó không có tội lỗi gì. Điều chủ yếu là sự tự do cơ bản là đặc tính của nhân vị, giá trị phải được nhìn nhận thuộc quyền người đồng tính luyến ái như kẻ khác. Cũng như trong mọi sự trở lại khỏi sự dữ, sự từ bỏ hoạt động đồng tính luyến ái đòi hỏi cá nhân phải hợp tác sâu xa với ân sủng cứu rỗi của Chúa. (no 11)

Vì thế sách GLCG no 2359 nhấn mạnh rằng: “Những người đồng tính luyến ái cũng được mời gọi sống khiết tịnh. Họ có thể và phải cương quyết tiến dần đến sự toàn thiện Kitô giáo nhờ kinh nguyện và ân sủng bí tích, nhờ biết tự chủ để củng cố tự do nội tâm và nhờ sự nâng đỡ của một tình bạn vô vị lợi.”

Thư của thánh bộ Đức tin cũng đi cùng đường hướng đó: Vậy những người đồng tính luyến ái phải làm gì khi họ tìm theo Chúa ? Trên căn bản, họ được kêu gọi diễn lại thánh ý Chúa trong đời sống của họ, bằng cách kết hợp những đau khổ và khó nhọc họ cảm nghiệm do hoàn cảnh của họ, kết hợp với hy lễ Thánh giá Chúa. Thánh giá này đối với người tín hữu, là một hy lễ hữu ích bởi vì từ sự chết đó xuất hiện sự sống và ơn cứu rỗi. Khi sự kêu mời vác Thánh giá hay là hiểu sự đau khổ của người Kitô hữu trong cách đó, mà gặp phải một số người nhạo báng chua chát, thì phải nhớ rằng đó là con đường đưa tới sự sống đời đời với những kẻ đi theo Chúa Kitô.

Thực tế, không có huấn giáo nào khác hơn huấn giáo của Thánh Phaolô Tông đồ gởi cho giáo dân Galat, khi ngài nói rằng Thần Khí sinh ra trong đời sống của người tín hữu "bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà và tiết độ" (5, 22) và xa hơn nữa (c. 24) "anh em không thể thuộc về Chúa Kitô trừ khi đã đóng đinh xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê".

Cần nói rõ ở đây là nhiều người sẽ dễ dàng hiểu lầm những giáo huấn đó như là một cố gắng cách vô nghĩa từ bỏ mình. Thánh giá là chối mình, nhưng để phục vụ thánh ý Chúa, làm cho sự sống phát sinh từ sự chết và ban quyền lực cho những ai tin tưởng vào Ngài để thực hành nhân đức thay vào nết xấu.

Muốn cử hành mầu nhiệm Phục Sinh, thì phải rập khuôn mầu nhiệm này trong đời sống hằng ngày. Từ chối hy sinh ý muốn riêng mình để vâng phục ý muốn của Chúa là thực sự ngăn cản ơn cứu rỗi. Cũng như thánh giá là trung tâm cho cách diễn tả tình yêu cứu độ của Chúa đối với chúng ta trong Chúa Giêsu, thì sự phù hợp của sự bỏ mình của những người nam nữ đồng tính luyến ái, với hy lễ của Chúa Giêsu, đối với họ là nguồn gốc của sự hiến mình, điều này sẽ cứu vớt họ khỏi một cách sống hằng đe dọa huỷ diệt họ.

Những người Kitô hữu đồng tính luyến ái được kêu mời như tất cả chúng ta, sống đời sống thanh sạch. Khi họ hiến đời sống mình để hiểu biết tính chất của Lời Chúa kêu gọi đích danh họ, thì họ sẽ có khả năng cử hành Bí Tích Sám Hối cách trung thực hơn và nhận lãnh ân sủng Chúa được ban cách rộng rãi ở đây, để đưa đời sống của họ trở về cách trọn vẹn hơn với con đường của Chúa.

Dĩ nhiên, chúng ta công nhận rằng, trong tầm mức lớn, sự truyền thông rõ ràng và hiệu quả của giáo huấn Giáo Hội cho mọi người tín hữu, và cho xã hội nói chung, thì tùy thuộc vào sự dạy dỗ và lòng trung thành của các thừa tác viên trong Giáo Hội. Các Giám Mục có trách nhiệm đặc biệt lo cho người phụ tá của mình trong thừa tác vụ, nhất là các Linh Mục, được thông tin đúng đắn và được chuẩn bị cá nhân để đem giáo huấn của Giáo Hội đến với mọi người trong sự nguyên vẹn của nó.

Sự quan tâm đặc biệt và ngay lành mà nhiều hàng giáo sĩ và tu sĩ biểu lộ trong việc chăm sóc mục vụ đối với những người đồng tính luyến ái là đáng ca ngợi, và chúng tôi hy vọng, không giảm sút. Những thừa tác viên sốt sắng như vậy được sự tin cẩn là họ trung thành theo thánh ý Chúa bằng cách cổ võ người đồng tính luyến ái sống một đời sống thanh tịnh và bằng cách khẳng định phẩm giá và giá trị được Chúa ban cho người đó. (no 12-13)

Tác giả Peschke cũng chỉ cho thấy rằng về phương diện tâm lý người đồng tính luyến ái cũng có vấn đề: “Những suy tư rút ra từ bản chất của tính dục trên đây sẽ được xác nhận thêm nhờ vào những hệ lụy tâm lý mà hành vi đồng tính luyến ái gây ra. Sự thoả mãn tính dục được những người đồng tính luyến ái cảm nhận như là một sự thoả mãn không tương xứng ; thường có kèm theo cảm giác bị hụt hẫng và chán nản. Nếu có, cũng chỉ có rất ít người đồng tính luyến ái thực sự cảm thấy thanh thản với sự rối loạn của mình. Bởi vì con đường đem lại sự thoả mãn cho họ là con đường bất trắc, dang dở, cũng như nồng độ thoả mãn trong hành vi thác loạn ấy luôn luôn bị giới hạn. Mặc cảm tội lỗi, không ý thức đầy đủ, lúc nào cũng biểu hiện nơi những người đồng tính luyến ái.”

Những quan hệ đồng tính luyến ái lại thường mang tính lưỡng giá. Hai bên vừa cảm thấy bị những tình cảm yêu đương thu hút vừa cảm thấy bị những tình cảm nghi kỵ đẩy xa nhau. Quan hệ tính dục theo lối này rốt cuộc chỉ là một sự bù trừ nghèo nàn đáng thương thay cho tình yêu chân thực giữa hai người khác giới.

Khi về già, những người đồng tính luyến ái nhận ra rốt cuộc mình chỉ là những người vô gia đình, không có cội nguồn cũng chẳng có mục tiêu. Họ không còn là những người bạn hấp dẫn để mưu cầu sự thoả mãn tính dục. Những tình bạn đòi dựa trên một tình yêu sâu xa bền vững hơn lúc nào cũng còn non dại nơi họ. Nỗi lo sợ bị già nua là một nét đáng chú ý nơi những người đàn ông đồng tính luyến ái. "Một người đàn ông bình thường, cho dù bị hạn chế bởi nếp đều đặn của gia đình cũng không có lý do để ghen tỵ với cuộc sống của những người đồng tính luyến ái ”.

Bản thân những người đồng tính luyến ái cũng đồng ý với nhận xét này. Các bản điều tra với những người đàn ông nghịch tính cho thấy họ rất khao khát được thấy con trai mình không vướng vào tình trạng này, nếu họ là những người cha gia đình.

Dựa trên những cái nhìn ấy, ta không thể nào xử lý tình trạng đồng tính luyến ái như một hiện tượng vô thưởng vô phạt. Không thể nào tán thành sự kiện này. Cổ võ những quan hệ gần như vợ chồng giữa những người đồng tính luyến ái cũng không phải là một giải pháp thực sự cho vấn đề ấy. Rốt cuộc, việc làm này không giúp ích thực sự cho những người nghịch tính ấy. Những hoàn cảnh tự nhiên cũng như những hoàn cảnh xã hội đều không hậu thuẫn cho cách giải quyết đó. Kinh nghiệm cho thấy những cuộc "hôn nhân” giữa những người đồng tính luyến ái hầu như không bao giờ kéo dài được lâu, nhất là đối với những người đàn ông. Sự thật là vì họ không đem lại tình yêu mà bạn mình muốn tìm kiếm. Những cuộc "hôn nhân” ấy không có nền tảng vững bền.

Cần lưu ý bản năng tính dục nơi người đồng tính luyến ái không mạnh hơn nơi những người khác. Ngoài ra, lúc nào cũng có những người dị dâm không lập gia đình. Đạo đức học Kitô giáo cũng không tán thành việc đi tìm những quan hệ ngoài hôn nhân để thoả mãn những khynh hướng tính dục. Vì thế, hoàn cảnh của những người đồng tính luyến ái xem ra cũng không éo le hơn hoàn cảnh của những người dị dâm chưa kết hôn. Dĩ nhiên, những ai cho rằng phải được phép thực hành tính dục trước hay ngoài hôn nhân để làm dịu sự đòi hỏi nơi mình, cũng sẽ coi việc đồng tính luyến ái như một phương thế khác để thoả mãn tính dục. Nhưng đây không phải là tinh thần của Kinh thánh và truyền thống Giáo Hội, cũng không phải là lập trường chung của các nhà thần học.

Tuy nhiên, vì đồng tính luyến ái là một sự rối loạn thần kinh ở mức độ đáng kể, nên không lạ gì khi thấy nơi người nghịch tính ấy có những yếu tố bức bách thúc đẩy. Sự bức bách tâm lý này sẽ làm giảm mức tự do và mức quy trách. Tuy nhiên, không được hiểu rằng những người đồng tính luyến ái bị thôi thúc bức bách như thế là hoàn toàn vô trách nhiệm về các hành vi đồng tính luyến ái của mình. “Nếu người đồng tính luyến ái thoả hiệp với sự rối loạn nội tâm ấy bằng cách nuôi những thói quen đọc sách báo khiêu dâm lộ liễu hay nuôi dưỡng những tình bạn nguy hiểm, hẳn người ấy đã mắc tội vì đã đặt mình một cách không cần thiết vào những dịp tội rất gần”. Những người đồng tính luyến ái cần phải hết sức trung thực với mình. “Có nhiều trường hợp cho là bị bức bách hầu như không thể cưỡng lại được, kỳ thực đương sự có thể chấm dứt quá trình dục vọng đang cao ngay từ giai đoạn đầu. Thế nhưng người ấy đã không làm". Bao lâu còn có những khả năng kiểm soát những thúc bách nơi mình, đương sự còn phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình.

Vì đồng tính luyến ái là một sự rối loạn tâm lý, nên cần phải chữa trị nó khi có thể. Tuy nhiên, bệnh này đặt ra cho ta một vấn đề tâm lý trị liệu khá khó khăn. Nếu đã chắc chắn người đàn ông ấy là người nghịch tính thật sự, ta không nên khuyên họ lập gia đình. Đôi khi, phải coi những cử chỉ âu yếm và những hẹn hò yêu đương của một người lưỡng dâm là những việc họ làm để thử xem mình có khả năng dị dâm thực sự không. Còn những phụ nữ nghịch tính (đồng tính luyến ái thực thụ) vẫn có thể làm các việc vợ chồng và nuôi dạy con cái, không gặp mấy khó khăn. Dù sao, nếu được, nên hỏi ý kiến một nhà tâm lý hay tâm lý trị liệu chuyên môn.

Cần khuyến khích những người đồng tính luyến ái tham gia vào mọi sinh hoạt xã hội và thể thao để mang lại cho họ sự thoả mãn. Nhiều khi nhờ tham gia như thế, họ làm tiêu tan được một sự đòi hỏi cơ bản hơn là đòi hỏi phải được tiếp xúc trong thân thể. Chỉ cho phép họ đặt mình vào chỗ nguy hiểm vừa phải (nguy hiểm sẽ bị kích thích tính dục). Và chỉ được quyền đòi họ tránh xa một hoạt động nhất định nào đó, khi có chứng cớ đó là một nguồn cám dỗ rất gần.

Những giáo viên, những người hoạt động xã hội, các hướng dẫn viên thể dục thể thao, các trưởng hướng đạo sinh, v.v... nào đã dính bén vào những sinh hoạt đồng tính luyến ái thực sự với học sinh và những người dưới quyền mình, cần phải thôi các ngành nghề ấy. Mặt khác, những ngành nghề này có thể là những phương cách giải toả lành mạnh và tốt đẹp đối với những ai không bị lúng túng trước những thái độ và cử chỉ quyến rũ tỏ tường.

Sau cùng, những người nghịch tính cần phải tìm đến các việc làm bác ái và phục vụ để giải toả các năng lực của mình. Những nỗ lực ấy phải đi kèm với lời cầu nguyện tha thiết xin Chúa ban ơn giúp sức. Người nào từ chối mọi việc dấn thân phục vụ một mục tiêu cao vượt sẽ là người sống không có tình yêu. Nhưng ai có khả năng quên mình cả trong khi phục vụ anh em thì đó là người có tình yêu đúng nghĩa nhất. Người Kitô hữu tìm gặp nơi Chúa Giêsu Kitô con đường dẫn đến tình yêu. Họ sẽ bày tỏ tình yêu ấy với hết mọi người, vì đó là đường dẫn tới hoà giải và cứu độ.

4.9 Thú dâm

Thú dâm là giao hợp với súc vật. Đây là tội nặng nhất trong các tội về xác thịt. Về điều nầy, sách Xh 22, 19 viết: “Kẻ nào giao cấu cùng loài vật, đáng xử tử”. Hành vi này xấu xa ở chỗ có cảm xúc đồi bại với một con vật ; hành vi tính dục của con người không bao giờ có thể đạt được ý nghĩa trong việc làm ấy. Vì hành vi ấy không thể dẫn đến sự sống của một người khác, cũng không thể là một cách biểu hiện tình yêu. Đó chỉ là một cách giải tỏa sự căng thẳng trong tính dục. Thoả mãn tính dục một cách hoàn toàn tách khỏi khát vọng tình cảm và tâm linh như thế, đương nhiên sẽ làm suy đồi và đương nhiên sẽ gây ra thất vọng chán chường. Tuy nhiên, sờ mó đến loài vật thì không phải là tội thú dâm theo nghĩa chặt, mặc dù đôi khi cũng có tội nhẹ. Để cất đi dịp tội gần, đôi khi cha giải tội cũng nên biết hối nhân quen phạm với loài thú nào, để khuyên xa tránh.

4.10 Những hình thức thoả mãn tính dục thái quá

Thoả mãn tính dục thái quá là khi cố tình tạo sự kích thích tính dục chỉ nhờ hay ít là chủ yếu nhờ những việc làm hoàn toàn xa lạ với hành vi tính dục bình thường. Người ta có thể kể ra những việc sau:

- Bạo dâm là tìm kích thích tính dục bằng cách hành hạ người khác. Người bạo dâm chỉ đi đến thỏa mãn khi có sự hành hạ về thể xác. Trong khi giao hợp, người bạo dâm hành hạ đánh đập người khác phái hoặc chửi mắng. Những hành vi bất bình thường trong việc bạo dâm đôi khi có thể dẫn tới những tội ác vô cùng kinh khủng (hành vi tàn bạo hay cưỡng dâm rồi giết đi).

- Khổ dâm là tìm kích thích tính dục bằng cách chịu đựng những hành vi tàn bạo và nhục nhã do người khác. Người khổ dâm chỉ thấy thỏa mãn tình dục khi chính mình bị chửi mắng hay đánh đập, khi thể xác bị đau đớn. Khổ dâm trở nên nặng khi người đó đòi hỏi sự cắn, cấu, đánh đập trong lúc giao hợp. Khổ dâm nhẹ khi bệnh nhân chỉ cần được chửi mắng, nguyền rủa cũng đủ đi đến thỏa mãn. Thiếu những yếu tố trên, họ không cảm thấy vui thú trong tính dục.

- Vật dâm là thể hiện tính dục qua một vật dụng nào đó. Vật nầy có thể là một đồ dùng của phụ nữ, như quần áo lót, hoặc có khi là một phần của cơ thể (mông hay cặp đùi). Có khi người đàn ông tìm cách ăn trộm những đồ dùng của phụ nữ hoặc tìm cách cọ sát dương vật vào cơ thể người khác như khi đụng chạm trong đám đông trên xe. Có khi họ chán ghét giao hợp, mà chỉ muốn thủ dâm với những thứ đã trộm được.

Những hành vi trên đây xấu xa về mặt luân lý ở chỗ nào, hẳn ta đã rõ. Nếu nhìn tới tận gốc, ta có thể thấy được đương sự đã bị rối loạn nặng về mặt tâm lý, một điều đương sự đã vướng phải không do lỗi mình. Tuy nhiên, nếu ai cũng phải làm chủ những cách biểu hiện các xu hướng và dục vọng của mình, từ chỗ những cách thoả mãn bất hợp pháp, thì người bất bình thường về tính dục cũng phải làm thế ; và càng phải làm hơn nữa khi những dục vọng ấy gây nguy hại cho người khác.

4.11 Thủ dâm

Về vấn đề thủ dâm, sách GLCG no 2352 cho biết: “Thủ dâm là cố tình kích thích cơ quan sinh dục nhằm gây khoái lạc tính dục. “Dựa theo truyền thống ngàn đời và bất biến, huấn quyền cũng như cảm thức luân lý của các tín hữu không ngần ngại khẳng định rằng, thủ dâm tự bản chất là một hành động sai trái nghiêm trọng”, vì “tự ý sử dụng khả năng tình dục ngoài quan hệ vợ chồng bình thường, dù với động lực nào đi nữa, cũng là sai mục đích”. Làm như vậy, người ta hưởng thụ khoái lạc tình dục bên ngoài “quan hệ tình dục hợp luật luân lý là quan hệ thực hiện một sự hiến thân trọn vẹn cho nhau và thực hiện việc truyền sinh trong khuôn khổ của tình yêu đích thực”.

Để phán đoán đúng đắn về trách nhiệm luân lý của đương sự, cũng như đưa ra một đường hướng mục vụ, chúng ta cần lưu ý đến tình trạng thiếu trưởng thành tình cảm, áp lực của các thói quen, tâm trạng lo âu cũng như những yếu tố khác về tâm lý xã hội. Các nhân tố này có thể làm trách nhiệm luân lý của đương sự được giảm khinh ngay cả đến mức tối thiểu.”

Tuy thủ dâm là điều xấu tự bản chất theo GLCG nhưng cần phân biệt thủ dâm nơi trẻ em và nơi người lớn. Tác giả Peschke cho biết: “Ta chỉ có thể phạm tội đối với đức khiết tịnh khi các khả năng tính dục đã phát triển, các đòi hỏi tính dục đã xuất hiện, nghĩa là khi đã bước vào tuổi dậy thì. Trẻ con không thể phạm tội đến đức khiết tịnh. Một hiện tượng rất thường gặp là trẻ em thường sờ mó các bộ phận sinh dục. Người ta thường gọi đó là sự thủ dâm của trẻ em, cho dù ở tuổi đó không thể có khoái lạc cực độ. Chữ ‘thủ dâm’ nói tới ở đây chỉ nhằm diễn tả việc trẻ em sờ mó các bộ phận sinh dục vì tò mò hay có thể vì những cảm giác nhục dục nào đó. Đặc biệt trẻ em từ 3 đến 6 tuổi xem ra rất tò mò về bộ phận sinh dục của mình. Những cử chỉ ấy không hề có lỗi hay có tội… cha mẹ nên bỏ qua những hành vi thủ dâm của trẻ nhỏ ”

“Sau 6 tuổi, sự tò mò về các bộ phận sinh dục như vừa kể sẽ giảm dần. Vì những nỗi sợ sệt và lo lắng không liên quan lắm đến tính dục, đứa trẻ quay ra thích đùa nghịch với các bộ phận sinh dục của mình (thích “thủ dâm”). Việc này thường diễn ra với trẻ hơn 6 tuổi nhưng chưa dậy thì. “Cũng như trong trường hợp trẻ nhỏ thủ dâm, cha mẹ hay nhà cố vấn tâm lý chẳng làm ích gì mà còn có thể làm hại tới đứa trẻ khi kéo nó chú ý tới chính thói quen ấy, qua những lời cảnh cáo và không tán thành. Tốt hơn, họ nên đi tìm những nguyên do và những nỗi e ngại sâu xa hơn, nằm sau các triệu chứng ấy”. Nếu đứa trẻ quá bận tâm tới việc thủ dâm, trở nên khép kín và căng thẳng, ta cần phải nhờ tới khoa tâm lý trị liệu.

Ta có trách mắng các trẻ em ấy về cách phản ứng thiếu khiết tịnh cũng chẳng ích gì, vì chúng hoàn toàn không biết về những sự khiết tịnh và khoái lạc tính dục. Cũng vậy, chúng chưa được biết về những hình ảnh tưởng tượng có liên quan đến tính dục. Tuy nhiên, càng lớn lên, trẻ càng dần dần cảm thấy xấu hổ và đôi khi làm ngược lại cảm giác ấy, dù chưa bao giờ trầm trọng cả. Đến lúc này cần đào tạo cho trẻ biết tránh những gì đi ngược lại sự đoan trang nết na. Chẳng hạn trẻ rất hay chơi làm bác sĩ: khám cho nhau các bộ phận sinh dục, hoặc chơi làm cha làm mẹ: thử bắt chước việc giao hợp tính dục. Những hành vi này không thể bị gác qua một bên khi cho là vô hại. Nếu việc này diễn đi diễn lại thường xuyên thì đó là dấu trẻ có khuynh hướng ưa thoái bộ tâm lý, đưa tới những hậu quả rất tai hại khi trẻ đến tuổi dậy thì. Những đứa trẻ hư hỏng về mặt này quả là một mối nguy hiểm đối với các trẻ khác, nhất là đối với các trẻ thiếu giáo dục. Lúc này là lúc thích hợp để cảnh giác đứa trẻ đối với hình thức khiếm nhã ấy và để dạy nó thế nào là vẻ đẹp của sự đoan trang nết na. (tr. 48-50)

Còn nơi người lớn, thủ dâm là tìm sự thoả mãn tính dục một cách trọn vẹn (khoái cảm cực độ) hoặc bằng cách tự khích thích mình, hoặc bằng những hành vi khiếm nhã đối với những người khác phái, không thông qua giao hợp. Tuy nhiên, từ “thủ dâm” thường chỉ sự thoả mãn tính dục bằng cách tự kích thích mình và đây cũng là hình thức thường thấy hơn của việc thủ dâm. Người ta còn gọi đó là việc tự lạm dụng mình hay phạm tội một mình. Khoái cảm cực độ thường được tạo ra do việc lấy tay chà xát hay vận dụng các bộ phận sinh dục, nhưng cũng có thể được gây ra do những tưởng tượng, ước ao và sờ mó, liên quan đến hành vi tính dục của người khác.

Theo ước lượng chung của các khảo cứu về đề tài này, khoảng 90% thanh thiếu niên và 50% thanh thiếu nữ làm việc thủ dâm một lần hay hơn nữa trong độ tuổi này. Một thiếu niên bình thường có thể thủ dâm 2 đến 3 lần một tuần ; thói quen này có thể kéo dài vài tháng đến khoảng 4 – 5 năm. Tuy nhiên, có khoảng 15 - 20% thanh thiếu niên và hơn 50% thanh thiếu nữ qua tuổi này mà không vướng vào thói quen ấy. Họ không bao giờ hay rất ít khi thủ dâm. Sự kiện này hiện nay bị người ta bỏ qua. “Ngược với những gì các nhà tâm lý muốn thuyết phục chúng ta, những thanh thiếu niên ấy không bao giờ hay rất ít khi thủ dâm mà vẫn đạt tới sự trưởng thành lành mạnh”, và dĩ nhiên điều này cũng đúng đối với một số thiếu nữ.

Khoảng 20% những người đã thủ dâm khi còn là thiếu niên sẽ tiếp tục thủ dâm khi đã trở thành người lớn. Cho dù lúc này vấn đề đã trở nên nghiêm trọng hơn khi còn ở tuổi thiếu niên, nhưng ta sẽ sai lầm khi vội vàng kết luận rằng đa số các trường hợp thủ dâm ở tuổi trưởng thành đều là những trường hợp tâm bệnh. "Người ta có đủ lý do để cho rằng đại đa số những người lớn không kết hôn mà có thủ dâm đều làm như vậy, chủ yếu vì họ hiện không có sự giao hợp tính dục với những người khác phái”. Điều này cũng đúng đối với những người đã kết hôn nhưng vẫn thủ dâm khi gặp khó khăn hay không thể có những quan hệ vợ chồng bình thường, như do vợ mang thai sớm, người chồng hay vợ đau nặng, áp dụng phương pháp tránh thai dựa vào chu kỳ kinh nguyệt, phải thi hành nghĩa vụ quân sự hay phải công tác xa gia đình một thời gian lâu dài, phải xa cách do một người bị tù tội, v.v... những lúc đó họ cũng đang thấy mình ở trong hoàn cảnh như những người lớn chưa lập gia đình.

Chắc chắn cũng có những trường hợp thủ dâm thường xuyên, một dấu hiệu của bệnh lý. Đó chính là trường hợp của những người lớn thích thủ dâm hơn là có những sự giao hợp bình thường với người khác phái. Thủ dâm cũng có thể là một cách để giải toả những sự căng thẳng tính dục, sau khi đã từ chối những cách giải toả khác, do những ức chế trong thần kinh hay do khuynh hướng loạn dâm đồng giới tiềm tàng nơi mình. Tuy nhiên những hình thức thủ dâm thường xuyên và có tính cưỡng chế như vậy là triệu chứng của một sự căng thẳng trong thần kinh hơn là nguyên nhân tạo ra sự căng thẳng ấy. Những hình thức thủ dâm ấy cần được một bác sĩ tâm lý điều trị. (tr. 59-61)

Tâm lý học coi thủ dâm là một giai đoạn sẽ qua đi trong cuộc sống, khi bước từ thời kỳ thơ ấu sang thời kỳ trưởng thành. Xét như thế thì thủ dâm là biểu hiện của một nhân cách chưa trưởng thành. Nếu không vượt qua được vào đúng thời hạn, nếu vẫn tiếp tục đi tiếp tục lại mãi, thì có nguy cơ sẽ tạo ra những xung đột tình cảm, không có khả năng dành cho tính dục và tình yêu một chỗ đứng đúng đắn trong đời sống tình cảm lành mạnh của mình, hay sẽ tạo ra những sự xáo trộn tương tự.

Lý do nội tại khiến ta phải coi thủ dâm là một khuyết điểm và là một sự xáo trộn trật tự, đó chính là vì đương sự đã sử dụng khả năng tính dục của mình không đúng với ý hướng của Đấng Tạo Hoá. Mục tiêu cơ bản của sinh hoạt tính dục là sinh sản và biểu lộ cũng như nuôi dưỡng tình yêu giữa vợ chồng, phục vụ cho đời sống gia đình. Hai mục tiêu vừa kể của sinh hoạt tính dục đã bị hỏng khi đương sự thủ dâm một mình.

Truyền thống thần học ngay từ xa xưa đã coi thủ dâm là một tội nặng một cách khách quan. Truyền thống này cũng được phản ánh lại trong một số tuyên bố của huấn quyền Giáo hội. Các văn kiện của huấn quyền giáo hội thường coi thủ dâm là một việc xấu, là một sự vi phạm trật tự luân lý từ bên trong. Tuyên ngôn mới đây của Thánh bộ giáo lý đức tin về đạo đức học tính dục đã minh định thủ dâm là một sự phá rối trật tự nghiêm trọng.

Lý do được bản tuyên ngôn ấy đưa ra để giải thích tại sao phải coi thủ dâm là một việc phá rối trật tự nghiêm trọng là: “dù hành động vì động cơ nào chăng nữa, hễ cố tình sử dụng khả năng tính dục ngoài khuôn khổ quan hệ bình thường giữa vợ chồng, đều là phản lại của mục tiêu của khả năng ấy. Bởi chưng làm như thế là đã để thiếu một sự quan hệ tính dục đủ khả năng thực hiện “ý nghĩa đầy đủ của một tình yêu đích thực, tức là trao thân cho nhau và sinh sản con cái” (MV 51). Mọi việc thực hành tính dục chủ ý đều phải phục vụ cho mối quan hệ bình thường ấy.”

Xác định thủ dâm là một tội nặng xét về mặt khách quan, đó chính là lập trường chung của các nhà thần học luân lý từ trước cho đến nay. Thế nhưng, trong các thập niên vừa qua các nhà thần học càng ngày càng nhấn mạnh rằng trong trường hợp thủ dâm sự tự do của chủ thể thường không còn đầy đủ vì nhiều lý do khác nhau. Chỉ nên coi thủ dâm là tội nặng, khi đương sự cố tình tìm kiếm các cơn cám dỗ hay các cơ hội để tự thoả mãn mình ; hoặc khi đương sự không hề có một cách kháng cự nào trước cơn cám dỗ không mời mà lại đến ấy, dù đã thấy rõ và tự do hoàn toàn. Sự hiểu biết và ý chí có thể bị tổn hại do tình trạng nửa ngủ nửa thức, do thiếu chú ý ngay từ đầu vì ở trong một tình huống lệch lạc do bị những chấn động tình cảm quá mạnh hay do một thói quen đã ăn quá sâu. Càng ngày cách đánh giá luân lý sau đây càng thắng thế: việc thủ dâm thường là tội nhẹ hơn là tội nặng, ít là về mặt chủ quan.

Với những suy nghĩ ấy, nhà cố vấn cũng như cha giải tội có thể dựa vào chỉ dẫn thực tiễn sau đây để phê phán tầm mức nặng nhẹ của một hành vi thủ dâm: “Nếu hối nhân đã có những nỗ lực nghiêm túc để sống đẹp lòng Chúa ; nếu hối nhân đã thành tâm tìm kiếm cách khắc phục thói xấu ấy và tránh những hành vi thủ dâm nọ ; nếu hối nhân đã tránh những cơ hội có thể tránh được, đã siêng năng lãnh nhận Bí tích và chuyên chăm cầu nguyện ; nhất là trong một cơ hội nhất định nào đó hối nhân đã không đầu hàng cơn cám dỗ khi chưa chiến đấu dai dẳng và cam go, thì cha giải tội nên khoan dung khi xét xử trường hợp ấy”.

Tuyên ngôn mới đây của Thánh bộ giáo lý đức tin đã đồng ý với cách đánh giá này trên nguyên tắc. nhưng bản tuyên ngôn lưu ý thêm “Không được vội vàng giả định là đương sự không có trách nhiệm nặng trong vấn đề nầy. Làm như thế là đã hiểu sai về khả năng luân lý của con người”.

Thánh bộ Giáo lý đức tin nhận xét rằng bất cứ hành vi thủ dâm nào được người ta muốn một cách trực tiếp đều là tội nặng khách quan. Nhận xét ấy lại được đưa ra trong tài liệu nói về việc giáo dục giới tính do Thánh bộ Giáo dục Công giáo ban hành năm 1983. Thánh bộ cũng khuyên các nhà giáo dục "cần phải cẩn thận trong việc đánh giá mức trách nhiệm chủ quan của đương sự. Để giúp thanh thiếu niên cảm thấy mình đón nhận trong cộng đoàn yêu thương, thay vì cứ đóng khung mình, nhà giáo dục không nên bi kịch hóa và không nên giảm lòng quí trọng cũng như sự rộng lượng đối với các học sinh ấy. Nhà giáo dục sẽ giúp học sinh của mình tiến tới chỗ hội nhập được vào xã hội, biết cởi mở và quan tâm đến những người khác, có khả năng ra khỏi cái tôi quá đáng, tiến dần tới một tình yêu tự hiến, thích hợp cho một đời sống tình cảm trưởng thành. Đồng thời, nhà giáo dục sẽ khuyến khích học sinh vận dụng các phương thế khổ chế của Kitô giáo, như cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích, tham gia các công tác từ thiện và công bằng.

Cũng cần phải suy nghĩ thêm về nhu cầu xưng thú khi lãnh nhận bí tích Thánh thể. Vì thủ dâm thường chỉ là tội nhẹ ít là về mặt chủ quan - nên vấn đề là có cần xưng tội ấy trước khi rước lễ không. Theo đúng lôgíc, ta phải công nhận là không buộc nhặt phải làm việc ấy, nếu chắc chắn là chưa phạm tội nặng. Nếu giả thiết hối nhân đang bày tỏ thiện chí, đã có nỗ lực chân thành sống một đời sống Kitô hữu tốt lành và thường xuyên lãnh nhận các bí tích, cha giải tội sẽ có đủ lý do giả định rằng không phải hành vi thủ dâm nào cũng là tội nguy tử cho đương sự. Cha giải tội có thể cho phép người ấy rước lễ mà không cần xưng tội sau mỗi lần yếu đuối. Tuy nhiên, hối nhân cũng nên biết rằng vấn đề thủ dâm của mình sẽ thách thức nghiêm trọng sự trưởng thành của mình và vì thế họ phải nỗ lực nghiêm túc để tháo gỡ mình khỏi các hành vi thủ dâm đó.

Tuy thế, rất khuyến khích đương sự thường xuyên và đều đặn lãnh nhận bí tích sám hối. Ai đã quen thủ dâm cần duy trì và củng cố ước muốn chân thành của mình là muốn được trong sạch. Chính vì thế, nhận lãnh bí tích nào cũng cần thiết, kể cả bí tích sám hối. (tr. 63-67)

Một vài lưu ý:

- Luân lý truyền thống thường kết án việc lấy tinh trùng bằng thủ dâm bởi vì “xuất tinh kiểu ấy tuyệt đối là một điều xấu và xấu từ bên trong, cho nên không khi nào được có cái hành động như thế, dù là làm để cứu sinh mạng. Bởi đó, việc người ta tự kích thích, hữu ý là để tiết ra tinh khí để khám bệnh vi trùng theo y khoa, thì cũng không được làm.” Trái lại một số nhà luân lý mới đây thì cho phép thủ dâm để lấy tinh trùng dùng cho việc thụ tinh nhân tạo lý do là vì khi ấy thủ dâm không còn là để tìm khoái lạc nhưng vì mục đích khác.

- Việc xuất tinh ban đêm thường không có tội, nếu thực sự là ngoài ý muốn. Thực ra xuất tinh ban đêm có thể xảy ra do những nguyên nhân tự nhiên, như có nhiều tinh khí quá, hay tính chất thể xác, thần kinh căng thẳng, cơ quan suy yếu, thể xác nóng nảy, hay là bị xúc động.

Tuy nhiên luân lý truyền thống cũng cho là có tội nặng, nếu trước khi đi ngủ, đã làm cớ cho xuất tinh xảy ra lúc ngủ, bởi vì sự xuất tinh như vậy là sự hữu ý cách gián tiếp.

Còn xuất tinh xảy ra lúc nửa ngủ nửa thức, vốn không có tội nặng, cùng lắm là tội nhẹ, vì có khi có sự chiều theo phần nào. Nếu ưng theo hoàn toàn sự cảm khoái xác thịt thì có tội nặng vì ban đầu sự xuất tinh ấy có thể là hiện tượng tự nhiên, nhưng vì ưng theo, nên người ấy chấp nhận việc đó như là công việc hữu ý thực thi cuộc sống dục tính.

Trong khi đó Peschke lại cho rằng “những sự xuất tinh tự nhiên trong giấc ngủ ban đêm không phải là tội lỗi. Cần dạy cho thanh thiếu niên khi đến lúc phải dạy, đừng lo âu hay bối rối, mà trái lại phải coi đó là một việc rất tự nhiên. Trong những trường hợp xuất tinh như thế, thật khó mà cho rằng đương sự đã phạm tội nhẹ khi "cảm thấy khoan khoái trong tình trạng nửa tinh nửa mê”, như một số nhà luân lý quan niệm, vì ở đây khoái cảm ấy chỉ là kết quả tự nhiên của một tiến trình tự nhiên.”

- Khi nào muốn xuất tinh thì có tội nặng. Tuy nhiên tính đam mê và các thứ kích thích hay thúc đẩy người ta, nhất là thanh thiếu niên đến chỗ xuất tinh, cho nên tính đam mê và các thứ kích thích đó cách chung thường làm mất sự tự do cần và đủ để phạm một tội nặng.

- Luân lý truyền thống cũng cho biết nếu có hành động mà người ta biết trước sẽ đưa tới việc xuất tinh, đem lại sự nguy hiểm gần hoặc có ảnh hưởng đáng kể đến việc xuất tinh, như các hành vi dâm dật, sờ mó, nhìn xem, v.v... thì sự xuất tinh ấy có tội nặng, trừ ra khi có lý do chính đáng và không có nguy hiểm chiều theo.

Như thế, một người do tưởng tượng chuyện dâm dục, do sờ mó hay nhìn xem hình dâm ô … nên xuất tinh, người ấy mắc tội nặng. Nhưng nếu có những hành động ấy vì sự lợi ích hoặc sự cần thiết thí dụ cha giải tội nghe người ta xưng các thứ tội dâm dục, hay đọc các sách hỏi về sự dâm dục ; bác sĩ được nhìn xem, sờ mó những chỗ kín để chữa bệnh, cũng như nên học, đọc các sách thuốc nói về các chứng bệnh ; y tá cũng vậy được bồng đỡ các bệnh nhân và giúp họ tắm rửa. Cũng thế, mỗi người được phép khi tắm rửa, cọ xát hay gãi khi ngứa trong mình.

Còn khi hành vi chỉ là nguyên nhân “ngẫu nhiên”, nghĩa là không thuộc loại kích thích tính dục, thì sự xuất tinh ấy không có tội hay chắc chắn không có tội nặng, miễn là không ưng theo. Bởi vì nguyên nhân “ngẫu nhiên” không trực tiếp là nguyên nhân của hậu quả theo sau đó. Vì vậy nếu hành vi ấy được phép làm và cũng có chút ít lý do để làm, thì không có tội nào hết, bởi vì chúng ta có quyền làm việc ấy. Cho dù hành vi ấy là xấu và đối nghịch với một nhân đức khác.

Như thế say sưa thì nghịch với đức tiết độ, nếu đưa tới việc xuất tinh thì đó chỉ có tội nhẹ, bởi vì trên nguyên tắc, việc đó không do dục tính và không nhắm đến việc đi tìm thoả mãn tính dục. Cũng thế việc thấy người khác phái ăn mặc áo hở hang, chuyện trò mang tính dâm dục với người khác phái, việc tò mò đọc lướt qua sách xấu hay tranh ảnh xấu, ôm hôn người nữ hay chuyện trò với họ theo phong tục, cỡi ngựa để giải trí, nằm ngồi nghỉ ngơi cách thoải mái, tắm rửa, ăn uống, đóng trò diễn kịch, v.v... thường không đưa tới tội nặng cho dù có thể đi tới xuất tinh.

Tuy nhiên đối với những người thường bị xuất tinh bởi những nguyên nhân ấy thì cần thận trọng. Tuy bản chất không nặng, nhưng vì nó khích động người ấy mạnh mẽ và vì người ấy còn tự đưa mình vào tình trạng như vậy mà không có lý do chính đáng, thì không khỏi có tội nặng ; bởi vì đối với những người có xu hướng xấu như thế thì những nguyên nhân ấy kích thích cách nặng. Đàng khác, nếu không có lý do nào hết mà cho phép xuất tinh, thì có cái gì không xứng đáng trong việc đó.

Thường thì mỗi người đều có thể biết được khi nào có xuất tinh, và biết như vậy hoặc do kinh nghiệm bản thân hoặc do bẩm tính nghiêng chiều về sự ấy, bởi vì do cùng một việc làm không phải tất cả mọi người đều xúc động như nhau. Khi có sự “nguy hiểm” xảy đến, nhờ cầu nguyện và nhờ các phương thế khác, mà chúng ta sẽ lướt thắng.

Trong khi đó Peschke viết: “Được phép làm những việc có thể khơi dậy ước muốn tính dục, không phải do bản chất của công việc đó mà chỉ là do một khả năng kích thích riêng tư nào đó, như tắm, cỡi xe hay cỡi ngựa và các hoạt động thể thao khác (tự nguyện nhưng gián tiếp).” (tr. 67)

- Cha giải tội không được hỏi thanh thiếu niên quá kỷ lưỡng, thí dụ: có xuất tinh không ?, nhất là đối với phụ nữ cần tế nhị hơn nữa. Nói chung khi hối nhân thắc mắc thì linh mục giải tội nên cắt nghĩa một cách ngắn gọn, nghiêm trang và vừa đủ theo lương tâm của linh mục, còn những trường hợp khác thì nên hạn chế.

4.12 Mại dâm

Về vấn đề mại dâm, sách GLCG cho biết: “Mại dâm xúc phạm đến phẩm giá của người bán dâm vì họ biến mình thành trò vui xác thịt cho người mua dâm. Kẻ mua dâm phạm tội nặng nơi bản thân: họ vi phạm đức khiết tịnh đã cam kết khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, và làm ô uế thân xác là đền thờ Chúa Thánh Thần (x. 1Cr 6,15-20). Mại dâm là một đại họa cho xã hội, thường là phụ nữ hành nghề, nhưng cũng có đàn ông, trẻ em cũng như thiếu niên (trong hai trường hợp cuối, tội thêm nặng vì gây gương mù, gương xấu). Mại dâm bao giờ cũng là tội trọng ; nhưng trách nhiệm của kẻ mại dâm có thể giảm khinh vì túng bấn, bị hăm dọa hay áp lực xã hội.” (no 2355)

Cùng nhất trí với giáo huấn trên, tác giả Peschke cho biết: “Nếu giao hợp tính dục để lấy tiền thì gọi là mại dâm. Trong Kinh thánh, đặc biệt trong Cựu ước, chữ “thông dâm” thường dùng để chỉ hình thức vô luân này, bất kể đó là mại dâm trong thế giới phàm tục hay trong phạm vi tôn giáo.

Tất cả những lý chứng chống lại việc giao hợp trước hôn nhân đều có thể áp dụng, thậm chí có thể áp dụng mạnh hơn đối với việc mại dâm. Tính dục là việc đúng đắn giữa hai người yêu nhau. Đang khi đó mại dâm là hành vi ít chứa đựng tình yêu cá nhân hơn bất cứ hình thức kết hợp tính dục nào ngoài hôn nhân. Bởi đó, mại dâm là cội nguồn sinh ra sự bất an và suy sụp còn sâu xa hơn bất cứ quan hệ tính dục nào ngoài hôn nhân. Mại dâm là một việc được làm mà không hề có một chút yêu thương nào xứng đáng giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Rốt cuộc, những thanh niên hay lui tới các nhà chứa sẽ sớm có thái độ khinh rẻ phụ nữ, thậm chí khinh rẻ cả bản thân mình.

Khi mại dâm, gái điếm quen bán mình cho bất cứ ai, với bất cứ người đàn ông nào và làm bất cứ cách nào muốn thỏa mãn tình dục. Vì lẻ đó, tội của họ gồm hầu hết các loại tà dâm. Những ma cô, tú bà, những người đem bán vợ mình hay vợ người khác để kiếm lợi, những người hưởng lợi chung quanh việc mại dâm thì cũng chịu chung một thứ tội.

Luân lý truyền thống đặt câu hỏi: Có nên lập nhà điếm (thổ) không ? Có hai ý kiến:

Ý kiến thứ 1 cho rằng được. Thánh Tôma theo ý kiến nầy. Bởi vì nếu dẹp tất cả các nhà điếm, thì sẽ có nhiều tội xấu xa hơn nữa, như tội ngoại tình, cưỡng dâm, đoạt dâm, tội phản thiên nhiên v.v... Thánh Anphôngxô nói: “Nếu anh có dẹp nhà điếm, anh sẽ gây xáo trộn tất cả bằng các thứ dâm dục”.

Ý kiến thứ 2 cho rằng không. Theo thực tế, ý kiến nầy xem ra có lý hơn. Bởi vì vốn có nhiều người sẵn chiều về các thứ tà dâm, mà nếu sẵn có nhà điếm lập ra công khai, thì họ dễ dàng phạm tội. Dù có lập ra nhiều nhà điếm, thì cũng không bảo vệ được phẩm giá cho phụ nữ, cũng không tránh khỏi các tội phản thiên nhiên, người ta dễ đi tìm sự kích thích dâm dục vì đã có nơi giải quyết an toàn. Vì thế có người cho rằng nhà điếm gây ra nhiều tai nạn lớn hơn là ngừa hay giảm bớt các tai hại ấy.

Tuy nhiên, luân lý truyền thống cũng cho thấy trong những thành phố lớn, có thể dung thứ những nhà điếm, còn các chỗ khác thì nên cấm hẳn. Và mặc dù trong các thành phố lớn có thể dung thứ, nhưng cần có những điều kiện sau đây:

1) nhà điếm như là đồ cặn bã của xã hội, cho nên phải đặt xa đô thị, ở ngoại ô chẳng hạn ;

2) Những gái điếm phải được khám bệnh nghiêm khắc và không được đi kiếm khách ở khắp nơi ; nếu không, gương xấu không giảm bớt ;

3) cho họ được tự do hoàn lương, nếu họ muốn. Đó là vấn đề mang tính luân lý Công giáo nhưng còn mang tính đạo đức xã hội.

Về vấn đề mại dâm, Báo SGGP số 8389 ngày 11/11/2000 trong bài viết của TRÚC QUÂN về Phòng chống mại dâm cho thấy: tuy đã có nhiều biện pháp và đã chi “2,5 tỷ đồng hàng năm dành cho công tác phòng chống mại dâm tại thành phố, ngân sách Nhà nước đã quá tải mà hiệu quả lại chưa nhiều.”

Hiện nay “có 3 quan điểm chủ yếu về phòng chống mại dâm đang tồn tại:

1. cương quyết phòng chống, xóa bỏ tệ nạn mại dâm ;

2. chấp nhận, cho nó hoạt động dưới sự quản lý của cơ quan chức năng ;

3. cho hoạt động một cách hạn chế, đồng thời thu hẹp dần vào một số vùng, một số khu vực và có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ.”

 “Ở nhóm thứ nhất, … có nhiều thuận lợi về mặt dư luận vì nó phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước, phù hợp quan niệm đạo đức của người Á Đông. Tuy nhiên, các giải pháp cho quan điểm trên dù được thực thi liên tục nhưng chưa chứng tỏ được hiệu quả, nếu không muốn nói là không có hiệu quả… Chỉ cần lơi lỏng một chút là tệ nạn này lại lập tức nảy sinh và phát triển.”

“Đối với quan điểm chấp nhận cho mại dâm hoạt động một cách hạn chế dưới sự quản lý chặt chẽ về hành chánh và y tế, thu hẹp nó dần dần, nhiều ý kiến, đặc biệt là ý kiến của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đều cho rằng phương án này cũng có nhiều khó khăn như giới hạn hoạt động mại dâm đến đâu, cho hoạt động ở những khu vực nào, quản lý như thế nào trong điều kiện đội ngũ cán bộ phòng chống tệ nạn nói chung, tệ nạn mại dâm nói riêng còn chưa đủ khả năng cả về trình độ lẫn nhân lực…

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng cho rằng nếu chấp nhận cho mại dâm hoạt động có điều kiện, ít nhất chính quyền còn có khả năng quản lý, kiểm soát được số người hành nghề mại dâm ; hạn chế được khu vực hoạt động mại dâm và hạn chế được việc lây lan bệnh tật, đặc biệt là việc lây lan HIV/AIDS trong cộng đồng chứ không phải thả nổi như hiện nay. Ngoài ra, khi chấp nhận mại dâm có điều kiện, những vi phạm pháp luật khác về mại dâm như tội tổ chức mại dâm, môi giới mại dâm, mua dâm với người ở tuổi vị thành niên… ta vẫn có thể giữ nguyên. Các hoạt động như lôi kéo, mời chào khách ở những nơi công cộng… có thể bị xử lý hình sự nhằm hạn chế tối đa tình trạng mất trật tự, thiếu mỹ quan ảnh hưởng xấu đến cộng đồng v.v…”

Bài báo kết luận: “Mại dâm là vấn đề xã hội tồn tại lâu đời và liên quan trực tiếp đến tâm sinh lý con người, do đó, những vấn đề liên quan đến nó, đặc biệt là các giải pháp, cũng là những vấn đề của khoa học… Từ trước đến nay, ta chỉ chú trọng phòng chống tệ nạn mại dâm bằng hệ thống luật pháp, bằng các quy định hành chính mà ít tìm kiếm các giải pháp dựa trên tâm lý của người bán dâm, trên nền kinh tế tổng thể của xã hội và trên những giá trị văn hóa như đạo đức truyền thống, chuẩn mực nhân phẩm trong cộng đồng. Hai nhóm quan điểm trên với những thuận lợi và khó khăn mà các nhà nghiên cứu đưa ra, tuy chỉ là sự gợi ý nhưng rất đáng để tất cả chúng ta suy nghĩ.”

Như thế, bài báo cho thấy những khó khăn trong vấn đề phòng chống mại dâm. Tuy nhận thức đây là tệ nạn, nhưng rõ ràng có nhiều người tìm hết cách để hành nghề mại dâm và dĩ nhiên có những người tìm mua dâm. Những biện pháp hành chính, xử lý theo pháp luật, đem bệnh tật ra dọa… xem ra không làm giảm bớt. Vấn đề là các mục tử có biết đàn chiên của mình đi mua hay bán dâm không ? Lý do nào ? Vì kiếm tiền ? Vì muốn thỏa mãn đòi hỏi tính dục ? hay vì một lý do khác ? Tìm được nguyên nhân cho mỗi người thì có hy vọng đưa ra biện pháp thích nghi.

4.13 Ngoại tình

Ngoại tình là giao hợp tính dục giữa hai người khác phái trong đó có ít là một người đã kết hôn. Ngoại tình là vi phạm hôn nhân của kẻ khác, nghĩa là giao hợp với chồng (hay vợ) của người ta. Ngoài tội phạm đến đức khiết tịnh, ngoại tình còn là sự vi phạm tới đức công bằng và sự chung thủy. Người ta chia làm nhiều loại: ngoại tình đơn: khi chỉ có một bên đã có gia đình, người kia chưa có ; ngoại tình kép: khi cả hai gian phu dâm phụ đều đã có gia đình ; ngoại tình hoàn toàn: khi có giao hợp ; ngoại tình bất toàn: khi chỉ có những hành vi lỗi đức khiết tịnh nhưng chưa giao hợp.

“Kinh thánh Cựu ước lẫn Tân ước, đều lên án một cách gay gắt tội ngoại tình. Trong bảng Thập giới Thiên Chúa đã truyền lệnh cho dân người: "Ngươi không được ngoại tình” (Xh 20, 14) và “Ngươi không được thèm muốn vợ của người thân cận mình” (Xh 20, 17) Luật đó quy định những hình phạt rất nghiêm khắc đối với những người vi phạm điều răn này (Lv) Chúa Giêsu đã xác nhận luật cấm này của bảng Thập giới và đã nhấn mạnh tới luật ấy (Mt 27). Đối với thánh Phaolô đây là một trong những tội loại ta ra khỏi Nước Trời (1Cr 6, 9 ; Dt 13, 4),

Những lý do nội tại khiến cho việc ngoại tình bị kết tội trước tiên cũng là những lý do dùng để kết án các việc kết hợp ngoài hôn nhân nói chung. Trên hết, những việc kết hợp ấy có thể đưa tới kết quả là những đứa con, nhưng không được chăm sóc thoả đáng vì cha mẹ chúng không ăn đời ở kiếp với nhau. Điều này càng đúng khi người phụ nữ trong quan hệ ngoại tình ấy lại chưa kết hôn. Nếu đã là người kết hôn, thì đứa trẻ sẽ được sinh ra trong một gia đình, nhưng sẽ gây bất công cho chồng và những đứa con hợp pháp: người chồng đành phải nuôi con của người khác, con cái hợp pháp buộc lòng phải chia sẻ của cải với một người xa lạ. Ngoài ra, nếu có đôi chút nghi ngờ gì về người cha thật của đứa trẻ ngoại hôn ấy, có thể đứa trẻ này không còn được gia đình này đón nhận hoàn toàn nữa.

Hơn thế nữa, ngoại tình sẽ kéo theo những hậu quả tai hại cho tình yêu, cho sự kết hợp và ổn định trong gia đình của những người đã kết hôn. Tình yêu của một người phạm tội ngoại tình thường là một tình yêu bị chia năm sẻ bảy. Họ sẽ bị kéo ra xa người bạn đời và gia đình trước đây của mình ; và điều này chẳng mấy chốc sẽ đe dọa tới sự ổn định vững bền của những mối ràng buộc ban đầu. Tình yêu và sự hoà hợp còn bị ràng buộc hơn nữa khi người vợ hay chồng vô tội khám phá thấy người đối ngẫu của mình bất trung.

Sau cùng, ngoại tình còn là xâm phạm tới sự trung thành mà hai bên đã hứa với nhau khi kết hôn. Đối với người Công giáo, ngoại tình còn là sự xúc phạm tới sự thánh hiến dây hôn nhân do bí tích hôn nhân đem lại. Giả như người chồng hay vợ vô tội ưng thuận sự ngoại tình của vợ hay chồng mình, người ngoại tình không lỗi phạm đức công bằng, nhưng vẫn xúc phạm tới sự thánh hiến có tính bí tích của cuộc hôn nhân giữa hai người.

Nhiều khi có thể ngăn chận được tội ngoại tình, nếu như vợ chồng không coi nhẹ tình yêu và sự quan tâm lo lắng mà hai bên dành cho nhau. Ngoại tình rất khó xảy ra, nếu vợ chồng thực sự kết hợp với nhau trong tình yêu chân thành. David R. Reuben nhận xét rằng “cho dù có thể trong bốn người vợ thì có một người phạm tội ngoại tình ít là một lần trong đời, thường người ấy bỏ sự an toàn tính dục khi giao du với chồng mình để có một người bạn mới và tương đối xa lạ chỉ là vì bất đắc dĩ".

Để bất trung, thường phải có một lý do nào đó mạnh hơn chứ không phải bị chồng coi nhẹ, một khi đã bảo đảm chiếm đoạt xong người đàn bà ấy trên bình diện tính dục và cảm xúc “Mỗi người đều cần được quan tâm - riêng người vợ cần hình thức quan tâm đặc biệt, gồm có sự âu yếm, thông cảm và động viên. Khi người đàn bà quyết định mà không được người chồng “để ý” nữa, chị sẽ trở nên dễ sa ngã trong những cám dỗ bất trung. Một chút ngăn cản từ phía người chồng thôi cũng tránh được mấy năm lo lắng dằn vặt liên tục.”

Một cách cơ bản, đối với người chồng cũng vậy. "Nhiều người chồng bị đẩy vào vòng tay các phụ nữ khác vì có những người vợ dửng dưng không biết quan tâm và cẩu thả, bất cẩn, dù một cách hoàn toàn vô ý thức”. Những người đàn ông về nhà thì chỉ gặp một người vợ chì chiết, đòi hỏi hay dửng dưng không quan tâm, ra đường thì không tìm được một người bạn có thể chia sẻ vui buồn, cuối cùng đành phải tìm một người khác. Dĩ nhiên, người chồng ấy vẫn tìm sự thoả mãn tính dục nơi vợ mình (ngược lại người vợ cũng thế). Một phụ nữ đã kết hôn cũng phải chăm sóc dáng vẻ của mình và phải biết trân trọng những cách quyến rũ mới mẻ của mình. Tuy vậy, sự bất mãn và bực dọc của người chồng thường nằm trong lãnh vực tình cảm nhiều hơn. "Đối với người đàn ông, những kỷ thuật gợi cảm không quan trọng bằng ý thức rằng người vợ vẫn yêu mình và vẫn muốn được thỏa mãn tính dục với mình”.

Cơ sở để tạo ra hạnh phúc tính dục hay gây ra sự khổ sở trong tính dục không nằm ở phòng ngủ cho bằng ở bàn ăn. Hôn nhân mà chỉ dựa trên những thoả mãn tính dục sẽ không thể kéo dài. Tính dục bảo đảm cho ta được hạnh phúc và thoả mãn, khi nó biểu hiện được một tình yêu chân thành và ngã vị. Vợ chồng phải là những người bạn đời thật sự với nhau, phải trở thành đồng minh, bạn bè và người giúp đỡ nhau. "Nếu hai người sẵn sàng hy sinh những cái tôi cá nhân, bỏ đi thói bào chữa bênh vực mình một cách dư thừa, họ sẽ không tránh được sự bất trung mà còn tìm được hạnh phúc thật trong đời sống hôn nhân”. (tr. 93-96)

Trường hợp người chồng (hay vợ) chấp nhận cho người kia ngoại tình thì không làm cho người kia khỏi tội ngoại tình. Hôn nhân không ban cho vợ chồng quyền tuyệt đối trên thể xác của bạn mình, mà chỉ hưởng quyền ấy và hưởng để sử dụng đúng với phép hôn phối. Vì vậy vợ chồng không có phép nhường quyền ấy cho ai khác.

Tuy nhiên, có tác giả nghĩ rằng: người nầy biết người kia lỗi phép công bằng đối với mình nhưng cứ chấp thuận để vậy, thì có thể người kia không còn lỗi đức công bằng nữa. Ai có quyền mà không tích cực đưa quyền ấy ra để đòi hỏi thì kể như không muốn bảo vệ nữa. Tuy nhiên hành vi ngoại tình vẫn “lỗi đạo” vợ (hay chồng) và nếu là người công giáo, thì cũng vi phạm đức thờ phượng đối với Bí tích Hôn phối. Do đó tội ngoại tình vẫn còn, nhưng khác loại với tội ngoại tình mà chồng (hoặc vợ) không bằng lòng cho đi ngoại tình.

4.14 Cưỡng dâm (hay hiếp dâm)

Về cưỡng dâm, sách GLCG số 2356 cho biết: “Hiếp dâm là dùng bạo lực bắt kẻ khác quan hệ nhục dục với mình. Đây là tội phạm đến công bằng và bác ái. Hiếp dâm xúc phạm nặng nề đến quyền được tôn trọng, quyền tự do và toàn vẹn thể lý cũng như tinh thần của nạn nhân, gây thương tổn nghiêm trọng có thể kéo dài cả cuộc đời của nạn nhân. Hiếp dâm tự nó là một hành vi xấu xa, tội này lại càng nặng nề hơn nữa, khi cha mẹ hay người giáo dục lạm dụng thân xác các em được ủy thác cho họ.”

Cưỡng dâm có thể hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa rộng: cưỡng dâm bất cứ người nào. Còn theo nghĩa hẹp là cưỡng dâm một người chưa có quan hệ tính dục trước đó và trái với ý người này. Cưỡng dâm có thể là thể lý, tức là dùng bạo lực ; hay luân lý, tức là gây sợ sệt hoặc dùng mưu làm người kia phải theo. Cưỡng dâm phạm đến đức công bằng vì có sự cưỡng ép vi phạm một điều quan trọng, đó là sự tự do trong hành vi tính dục. Nếu người bị cưỡng ép là trinh nữ, thì tội bất công lại gia tăng, vì thường làm khó khăn khả năng lập gia đình của người ấy.

Tác giả Peschke cũng cho biết: Hiếp dâm … “không những là tội nặng đối với đức khiết tịnh, mà còn là tội nặng đối với đức công bằng vì đã xâm phạm quyền của người phụ nữ trên thân thể người ấy. Ngoài ra, sự xâm phạm ấy còn làm cho người phụ nữ bị ô nhục trong xã hội (đủ vô lý) và khó lòng xây dựng cuộc hôn nhân cho mình trong tương lai.

Người ta có thể phạm tội hiếp dâm bằng cách sử dụng sức mạnh thể lý hay luân lý (gây sự sợ hãi quá đáng, có thế là sợ vì quá kính trọng, bị lừa gạt). Người ta cũng có thể phạm tội cưỡng dâm khi phạm tội với một phụ nữ không sử dụng lý trí được, vì tâm bệnh hay vì bị kích thích quá đáng. Lợi dụng địa vị của người trên để bắt người dưới chiều theo những hành vi thèm khát của mình, hầu như mọi quốc gia văn minh đều coi đó là một sự xâm phạm tới luân lý và đã nghiêm trị. Cũng vậy, thường người ta tìm cách quyến rũ những thiếu nữ dưới 16 tuổi (cưỡng dâm gái vị thành niên).”(tr. 97) Có lẽ ở đây cũng nên kể thêm những trường hợp áp lực tâm lý để bắt các em đóng phim đồi trụy.

 “Các nạn nhân của những cuộc tấn công vô luân ấy được phép sử dụng những phương thế thích hợp nhất để tự vệ, thậm chí trong một số trường hợp được phép giết kẻ tấn công mình cách bất chính nữa. Tuy nhiên, trong những trường hợp bị tấn công cách bất chính khác, thường ta không buộc phải giết người để bảo vệ quyền lợi của mình. Dầu vậy, luật pháp vẫn mong các phụ nữ bị cưỡng dâm hãy kháng cự tích cực bằng một hình thức nào đó, dù không kháng cự bên ngoài hay không kêu cứu khi thấy không thể làm việc ấy mà không bị thiệt mạng hay thiệt hại danh dự. Tuy nhiên, phải luôn luôn có những sự kháng cự bên ngoài và nhất là bên trong cần thiết để tránh phạm tội”. (tr. 97)

Nếu người bị cưỡng dâm chấp nhận hành động dâm dục của người cưỡng dâm thì không còn cưỡng dâm nữa (dĩ nhiên còn tội tà dâm), bởi vì mỗi người có quyền sử dụng thân xác của mình, cho nên không nói được người ấy bị thiệt hại vì bị lạm dụng. Người bị cưỡng dâm có thể liều chết để bảo vệ đức khiết tịnh nhưng không buộc kháng cự bề ngoài đến nỗi có thể bị tên cưỡng dâm giết chết. Người ấy có thể thụ động và không đồng lõa. Trong trường hợp nầy sự đồng lõa không phải là mô thể, mà là chất thể, và khi nguy cấp thì được đồng lõa cách chất thể.

Luân lý truyền thống cũng đặt vấn nạn rằng: “Sau khi bị cưỡng dâm, người trinh nữ có được phép - sau đó - đi rửa mình, tẩy sạch tinh trùng, để khỏi phải thụ thai không ? Thưa: Thánh Anfongxô và nhiều người khác nói: Không được. Bởi vì tẩy trừ như vậy là làm thiệt hại cho sự truyền sinh nhân loại, thiệt hại nhiều hơn là để xuất tinh ra ngoài. Sự xuất tinh ra ngoài chỉ là công việc xua đuổi tinh trùng ra khỏi vị trí công cụ, còn trong trường hợp này là đẩy lui tinh trùng ra khỏi vị trí mục tiêu mà Tạo hóa đã đặt ra để truyền sinh. Vậy nếu người đàn ông không khi nào có phép hữu ý xuất tinh (pollutio), dù là để bảo vệ mạng sống mình, thì người nữ càng không có phép đẩy lui tinh trùng đã xâm nhập rồi, không kể sự xâm nhập ấy đúng hay không đúng phép. Những tác giả theo ý kiến này còn thêm: người phụ nữ bị hãm hiếp chắc chắn được làm các cách, như lăn lộn, để tránh sự xâm nhập giao hợp và chấm dứt sự giao hợp cách đột ngột, kẻo phải nhận lãnh tinh trùng, mặc dù tinh trùng có rơi rớt ra ngoài, bởi vì nó có phép và có bổn phận ngăn cản sự giao hợp và sự xuất tinh ra quy tội về lòng xấu của tên ác ôn.

Nhiều người khác nói: Được phép. Ý kiến này hữu lý hơn và ngày nay là ý kiến chung của các tác giả ; bởi vì tinh trùng kể như là tên xâm phạm bất công của sự vẹn tuyền và danh dự của người thiếu phụ. Nếu được phép lấy bạo lực để xua đuổi bạo lực, để bảo vệ của cải đáng giá, và vì vậy được giết tên bạo lực bất công, nếu cần ; thì cũng vậy, tinh trùng đã nhờ bạo lực mà xâm nhập, thì được phép dùng bạo lực mà tống cổ nó ra, để ngăn chận sự thụ thai cách nhục nhã và để bảo vệ trinh tiết cùng danh dự mình. Vả lại người ấy không có lỗi gì hết đối với bào thai, bởi vì có lẽ sau khi giao hợp chưa có sự kết hợp tức thì của tinh trùng và trứng, và vì vậy chưa có tượng thai. Vì vậy, lúc loạn lạc, đảo chánh, người nữ bị quân lính hiếp dâm, thì được phép uống thuốc ngừa thai để tự vệ. Nhưng cần lưu ý: có khi vì chắc chắn không còn thụ thai được mà ý chí kháng cự lại, bị giảm phần mãnh liệt hoặc biến tan đi...”

Thiết tưởng trong trường hợp nầy cũng cần lưu ý đến những lời dạy trong thông điệp Evangelium vitae trong đó không được phá thai vì bất cứ lý do nào (no 58) Vì thế ở đây, nếu thuốc nào thực sự không làm cho thụ thai (chứ không phải tiêu diệt phôi thai) thì có thể chấp nhận được.

 “Cũng gần như cưỡng dâm, ta có các tội bắt cóc hay dùng bạo lực cầm giữ một người (bất kể thuộc phái tính nào) phục vụ cho những mục tiêu đồi bại. Đây cũng là một tội nặng phạm đến đức công bằng và khiết tịnh. Vũ lực sử dụng ở đây có thể là thể lý hay luân lý, dùng trên chính người bị cưỡng hiếp hay trên những người mà đương sự thuộc quyền.” (tr. 98)

Người đoạt dâm cưỡng bách một người nào đưa đi để thỏa mãn tình dục. Cưỡng bách ở đây có thể là cưỡng bách thể lý, dùng bạo lực, hay cưỡng bách luân lý: gây áp lực nặng. Có thể gây áp lực với chính nạn nhân, hoặc với thân nhân của nạn nhân. Thí dụ: Nhóm A hăm dọa nếu gia đình không đưa tiền, họ sẽ bắt thiếu nữ trong nhà đi cưỡng dâm. Người bị dắt đi thường là phụ nữ có chồng hay chưa có chồng hoặc là phái nam, như con trai: các điều ấy cũng như nhau.

Tội đoạt dâm thêm vào tội tà dâm một tội đặc biệt khác nghịch cùng đức công bằng, vì cưỡng bách trái phép. Đoạt dâm là tội khác với tội cưỡng dâm, vì người đoạt dâm chiếm đoạt quyền tự do cách bất công ; mà sự tự do là thiện hảo khác với sự tuyền vẹn của thể xác. Vì thế khi đi xưng tội, hoàn cảnh đoạt dâm phải được trình bày, mặc dù có khi người đoạt không thỏa mãn được ý định của mình hay khi người bị đoạt lại ưng thuận phạm tội với người đoạt mình.

4.15 Loạn luân

Loạn luân là giao hợp giữa người có họ với nhau còn trong những đời cấm lấy nhau. Ngoài loạn luân tự nhiên (lý do có họ máu và họ kết bạn) còn có loạn luân giữa những người có họ với nhau chiếu theo luật đời (lý do dưỡng tử).

Đa số các nhà chuyên môn đều đồng ý không có xã hội nào, trong đó quy định hay cho phép cha và con gái, mẹ và con trai, anh chị em giao hợp với nhau và lấy nhau. Xã hội đã có lý khi phản đối những cuộc hôn nhân giữa những người bà con gần, vì điều ấy sẽ gây hại sức khoẻ cho con cái, về mặt sinh lý cũng như tâm lý và xã hội. Người ta đã ghi nhận một số ngoại lệ đối với luật cấm rất phổ biến này như giữa các hoàng tộc của người Ai cập ngày xưa, người Inca và người Hawai. Trong những trường hợp này, người ta sẵn sàng giết những đứa con bệnh tật.

Cựu ước cấm những sự kết hợp loạn luân trong một phạm vi còn rộng hơn, chứ không chỉ dừng lại ở mấy trường hợp kể trên đây. Đó cũng là quy luật trong hầu hết mọi xã hội. Cấm có sự kết hợp loạn luân giữa mẹ và con trai hay với con ghẻ (Lv 18, 8-20, …), giữa người ông với cháu gái hay cháu ghẻ (Lv 18, 10-17), giữa anh trai với em gái hay với em cùng cha khác mẹ, em cùng mẹ khác cha (Lv 18,9. 11 ; …), giữa cháu với cô dì (Lv 18, 12-14 …), giữa mẹ với con rể (Lv 20, 14 ; …), giữa cha với con dâu (Lv 18, 15 …), giữa anh với em dâu (Lv 18, 16 ; 20, 21) Dường như Tân ước cũng chấp nhận tất cả các quy định này, vì không thấy đưa ra một thay đổi nào về mặt này. Gioan Tẩy Giả đã khiển trách Hêrôđê lấy chị dâu mình trong khi anh còn sống, coi đó là một tội trụy lạc nghiêm trọng (Mc 6 17t) ; thánh Phaolô đã ra vạ tuyệt thông cho một người có quan hệ tính dục với mẹ kế của mình (1Cr 5, 1-13)”

Giáo luật còn hiểu sự loạn luân theo một nghĩa rộng hơn nữa. Nó bao gồm cả những mối quan hệ giữa những người có liên hệ huyết tộc và thân tộc như sau: đó là những cuộc hôn nhân giữa tất cả những người trên và người dưới theo hàng dọc, những cuộc hôn nhân giữa anh chị em ruột và giữa những anh chị em họ hàng ở cấp thứ hai (GL no 1091 ; cf. 108) ; giữa những người có liên hệ thân tộc với nhau ở bất cứ cấp độ nào nếu là hàng dọc, như giữa một người đàn ông với mẹ vợ hay với con dâu mình, giữa một người đàn bà với cha chồng hay với con rể của mình (GL no 1092). Tuy nhiên, luật cấm hôn phối giữa các anh chị em cấp thứ hai là một ngăn trở mà Giáo hội có thể tha được, dù rất miễn cưỡng. Tha ngăn trở theo hàng dọc còn hiếm thấy hơn.

“Các luật cấm loạn luân vừa kể xuất phát từ mối quan tâm tới sức khoẻ của con cái, tới sự lành mạnh của gia đình và sự ổn định của đời sống xã hội. Những luật cấm ấy cũng giúp loại bỏ thói ganh đua trong tính dục, nhờ đó thoát được những căng thẳng xảy ra trong chính gia đình và kềm chế được những sự lạm dụng tính dục trong các cấp gia tộc gần. Khi bắt con cái muốn tìm bạn phải tránh những người bà con gần nhất, các luật cấm ấy đã giúp cho thanh thiếu niên dễ hội nhập hơn vào xã hội nói chung, tránh được sư tập trung quá đáng những nét đặc dị và kỳ cục của gia đình.

Vì sự lệch lạc đặc biệt ấy, loạn luân không những là tội lỗi đức trong sạch mà còn là tội phạm đến đức hiếu đễ trong gia đình, một sự xúc phạm cực kỳ nghiêm trọng khi diễn ra giữa ông bà, cha mẹ với con cái, giữa anh em với chị em.” (tr. 98-100)

GLCG no 2388 cũng kết án nặng nề tội nầy: “Tội loạn luân là quan hệ tính dục giữa những người họ hàng cùng huyết tộc hoặc hôn thuộc, mà luật cấm kết hôn với nhau (x. Lv 18,7-20). Thánh Phaolô lên án trọng tội này: “Đi đâu cũng chỉ nghe nói đến chuyện dâm ô xảy ra giữa anh em... có kẻ ăn ở với thê thiếp của cha mình!... Nhân danh Chúa Giêsu, chúng ta phải nộp con người đó cho Xatan để xác thịt nó bị hủy diệt” (x. 1 Cr 5,1.4-5)...Tội loạn luân phá vỡ quan hệ gia đình và cho thấy một sự thoái hóa trở về thú tính.

Đồng thời cũng kể chung tội giao hợp với trẻ em được giao phó săn sóc vào tội nầy: “Có thể gọi là loạn luân, những lạm dụng tính dục do những người trưởng thành đối với trẻ con hoặc thiếu niên đã được ủy thác cho họ. Người phạm tội này phải chịu trách nhiệm gấp đôi: một mặt vì gây gương xấu xâm phạm đến sự toàn vẹn thể lý và luân lý của các người trẻ, và để lại hậu quả tai hại suốt đời, mặt khác vì họ lỗi trách nhiệm giáo dục của mình. (no 2389)

4.16 Lộng dâm

Lộng dâm là phạm tới người “thánh”, nơi thánh và đồ thánh do hành vi dâm dục. Lộng dâm đưa tới 2 tội nặng: thứ nhất nghịch đức khiết tịnh và thứ hai nghịch đức thờ phượng.

Người ta phạm tội lộng dâm khi phạm tội tà dâm với người có chức thánh hoặc với người có lời khấn khiết tịnh. Do đó, linh mục phạm tội tà dâm với nữ tu đã khấn, mắc tội lộng thánh bằng hai. Có thể phạm tội lộng dâm về nơi, khi phạm tội tà dâm ở nơi thánh ; mặc dù cách kín đáo hay chỉ có những hành vi sỗ sàng, thí dụ sờ mó, ôm hôn, nói tục tỉu ; bởi vì các điều đó vi phạm sự tôn nghiêm. Có thể phạm tội lộng lộng dâm về sự thánh, khi ai lạm dụng đồ thánh để làm điều tà dâm. Người ta cũng kể đến trường hợp linh mục giải tội lạm dụng Bí tích giải tội để quyến rũ hối nhân phạm tội tà dâm. Giáo luật no 1387 viết: “Tư tế nào trong khi giải tội, hay nhân dịp giải tội, hay lấy cớ giải tội, mà dụ dỗ hối nhân phạm tội nghịch giới răn thứ 6 của thập giới sẽ bị phạt huyền chức, cấm quyền, tước quyền tùy theo mức độ nặng của tội phạm, và trong những trường hợp nặng hơn sẽ bị trục xuất khỏi hàng giáo sĩ.”

5. Tình yêu vợ chồng

Theo GLCG, điều răn thứ sáu cũng nhắm đến điều tích cực là tình yêu vợ chồng (no 2360): “Theo ý định của Thiên Chúa, phái tính hướng về tình yêu vợ chồng. Trong hôn nhân, ái ân trở thành dấu chỉ và bảo đảm của sự hiệp thông tinh thần. Giữa hai tín hữu, dây liên kết hôn nhân được thánh hóa bằng bí tích.”

 “Nhờ khả năng tính dục, người nam và người nữ hiến thân cho nhau qua những hành vi dành riêng cho vợ chồng. Tính dục không chỉ là hành vi sinh lý, nhưng liên can đến những điều thâm sâu nhất của nhân vị. Tính dục chỉ thực sự xứng đáng với con người, khi nó là thành phần không thể thiếu của tình yêu giữa người nam và người nữ đã cam kết hiến thân cho nhau trọn vẹn suốt đời” (x. FC 11). (no 2361)

“Những hành vi thực hiện sự kết hợp thân mật và thanh khiết của đôi vợ chồng đều cao quý và chính đáng…

… Vì vậy, vợ chồng chẳng làm điều gì xấu khi tìm kiếm và tận hưởng sự khoái lạc đó. Họ đón nhận những gì Đấng Sáng Tạo đã ban cho. Tuy nhiên, họ phải biết giữ tiết độ (Piô XII, bài giảng 29 - 10 - 1951). (no 2362)

Nhờ sự kết hợp của vợ chồng, hai mục đích của hôn nhân được thực hiện: lợi ích của chính đôi vợ chồng và lưu truyền sự sống. Không thể tách rời hai ý nghĩa hoặc hai giá trị này của hôn nhân mà không làm biến chất đời sống tinh thần của vợ chồng cũng như phương hại đến lợi ích của hôn nhân và tương lai của gia đình. (no 2363)

5.1 Bản chất hôn nhân

Trong đời sống hôn nhân, người nam và người nữ cả hai hợp nhất với nhau trong cộng đồng yêu thương vợ chồng, tạo cho nhau một mái ấm và sự hỗ tương về mặt an toàn; họ đáp ứng những nhu cầu ham muốn về phương diện thể xác trong yêu thương, từ đó phát sinh ra con cái. Họ cũng lãnh nhận và đảm nhiệm vai trò giáo dục con cái. Quyền lập gia đình là một trong những quyền căn bản của con người, cũng như cái quyền được bình đẳng giữa những người phối ngẫu trong đời sống gia đình đã được liệt kê trong bản tuyên ngôn về nhân quyền của thế giới. Con người (nam lẫn nữ) khi đến tuổi trưởng thành, không bị giới hạn bởi chủng tộc, quốc gia hay tôn giáo, đều có quyền (được lập gia đình) đi đến hôn nhân và xây dựng mái ấm gia đình (điều 16).

(Xem thêm tài liệu của linh mục Trần mạnh Hùng DCCT, ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN: VIỆC ĐỔ VỠ TRONG GIA ĐÌNH)

5.2 Những xúc phạm đến phẩm giá hôn nhân

Những xúc phạm đến hôn nhân thường do ngoại tình, đa phu đa thê, ly thân ly dị.

5.2.1 Ngoại tình xem 4.13

5.2.2 Đa thê hay đa phu

Ngày nay thỉnh thoảng báo chí nêu lên trường hợp một người có hai vợ. Như thế tuy không còn phổ biến nhưng hiện tượng vẫn còn. “Đa thê là một hiện tượng khá phổ biến trong thế giới ngày xưa. Ngoại trừ những người Hy lạp và Rôma, tuy không trừng phạt việc đa thê nhưng thay vì thế họ thích sống theo kiểu nhân tình nhân ngãi nhiều hơn. Tuy nhiên, bình thường chỉ có người giàu mới có khả năng tận hưởng đặc ân đa thê. Còn trong thực tế, độc thê vẫn luôn luôn là hình thức hôn nhân thịnh hành hơn, cả ở những nơi cho phép đa thê. Từ xưa, cũng có những xã hội, kể cả những xã hội sơ khai, phi bác hẳn việc đa thê và chỉ cho phép độc thê. Con số các xã hội loại này cứ đều đặn tăng lên. Hiện tượng này đi đôi với sự kiện: việc trao thân của vợ chồng cho nhau ngày càng có tính nhân bản hơn, cũng như vợ chồng ngày càng trở nên bình đẳng hơn.

Trong Cựu ước, các cuộc hôn nhân của các tổ phụ thường rập theo khuôn mẫu thông dụng ở vùng Cổ Đông vào thiên niên kỷ thứ hai, nghĩa là đa thê. Vào thời các thủ lãnh và các vua, có nhiều vợ là dấu hiệu của sự giàu có và thế lực. Tuy nhiên, sau khi Israen định cư ở đất Canaan ta rất ít thấy dân thường sống theo chế độ đa thê. Lý do có thể là vì kinh tế, nhưng cũng có thể vì số phụ nữ bấy giờ có hạn. Tuy nhiên, ở Israen lý tưởng độc thê ngày càng lớn mạnh, như đã phản ánh trong các lời dạy của các ngôn sứ và trong văn chương minh triết. Về sau, họ chịu ảnh hưởng thêm của chế độ độc thê ở thế giới Hy- La. Thật ra, cả khi cho phép đa thê, người Israen vẫn tỏ ra thích tình yêu độc quyền hơn. Tình yêu được ca ngợi trên hết là tình yêu có tính ghen tuông, chỉ chọn một người giữa cả một chục người, như Bài ca Salômôn đã mô tả một cách hết sức nồng nàn. Sau cùng, bài ca này là một lời bênh vực nhiệt tình chế độ hôn nhân độc thê cũng như ca tụng sự chung thủy, nền tảng của chế độ hôn nhân ấy.

Cho dù đa thê được các ngôn sứ chấp nhận như một sự kiện đã có, nhưng lý tưởng của mọi cuộc hôn nhân vẫn là độc thê. Bằng chứng là người ta đã dùng giao ước hôn nhân độc thê để mô tả quan hệ giữa Giavê và Israen. Trong văn chương minh triết, ta không thấy còn chỗ nào liên tưởng tới việc lấy nhiều vợ. Điều này giả thiết rằng độc giả lúc ấy đã quen với chế độ hôn nhân độc thê.

Cuộc hôn nhân đầu tiên được mô tả trong thuật trình vườn địa đàng - hình ảnh mẫu của mọi cuộc hôn nhân sau này - rõ ràng gần gũi với lý tưởng được ghi lại trong văn chương sứ ngôn và minh triết ở chỗ đó là một cuộc hôn nhân độc thê (và có giá trị vĩnh viễn). Kiểu nói “một người trợ lực phù hợp với ông” và, để diễn tả quan hệ giữa hai người, “xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi” ở thuật trình đó là một bằng chứng xác nhận có một cuộc sống chung rất bền vững giữa hai người và chỉ giữa hai người. Truyền thống Giavít cũng như truyền thống Tư tế coi hôn nhân độc thê là hiện tượng bình thường, điều này sẽ được xác nhận thêm qua ghi chú nằm ở đầu danh sách các con cháu của Cain: Laméc là người đầu tiên lấy hai vợ và các tổ phụ thuộc gia tộc Sét được ghi nhận là những người chỉ có một vợ (St 5 và 7)

Chúa Giêsu và Tân ước không thảo luận vấn đề độc thê cách minh bạch rõ ràng, vì lúc đó độc thê đã được coi như một sự kiện hiển nhiên rồi. Khi nói: “Từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam có nữ. Vì lý do đó người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ ; và cả hai sẽ trở nên một" (Mc 10, 6-8ss). Chúa Giêsu đã gián tiếp nhìn nhận chế độ độc thê hơn là nói ra cách minh bạch. Tuy nhiên, ta có thể thấy rõ chế độ ấy qua kiểu nói “cả hai sẽ trở nên một xương một thịt”. Đối với thánh Phaolô cũng vậy, độc thê là một sự kiện hiển nhiên đến nỗi không cần truyền dạy nữa (1Cr 7, 2. 10t). Vì trong thế giới Hy-La hôn nhân thường là độc thê, ít là trên nguyên tắc luật pháp, nên về điểm này các Kitô hữu không gặp phải một vấn đề hay một sự hạn chế đặc biệt nào.

Qua các thế kỷ, các Kitô hữu vẫn theo đuổi chế độ độc thê như Chúa đã truyền dạy. Các Kitô hữu bị cấm theo chế độ đa thê, điều này đã trở thành một tín điều trong công đồng Trentô (132). Công đồng Vatican II đã tóm tắt những lý lẽ hậu thuẫn quyết định ấy: “Vì sự dâng hiến của hai người cho nhau, hay vì sự kết hợp mật thiết giữa hai người, cũng như vì ích lợi của con cái, vợ chồng phải trung thành toàn diện đối với nhau cũng như giữa hai người có một sự hiệp nhất không thể phá vỡ được” (Mv 48) “Được Chúa thiết lập một cách vững chắc, sự duy nhất của hôn nhân còn xuất phát từ chỗ vợ chồng đều có phẩm giá ngang bằng nhau, phẩm giá này được hai người nhìn nhận khi yêu thương nhau cách trọn vẹn" (MV 49).

Đa phu (có nhiều chồng nhưng chỉ có một vợ) hay đa thê (có nhiều vợ nhưng chỉ có một chồng) đều đi ngược lại các mục tiêu của hôn nhân, vì chúng phá vỡ sự kết hợp yêu thương giữa vợ chồng và làm cho hai người khó cộng tác hay không thể cộng tác với nhau để giáo dục con cái. Tình trạng này càng rõ trong chế độ đa phu - một chế độ cản trở hơn là trợ giúp - không những trong việc giáo dục con cái mà cả trong việc truyền sinh. Còn chế độ đa thê ít cản trở việc truyền sinh hơn việc giáo dục cũng như tình yêu và sự dâng hiến giữa hai vợ chồng đối với nhau. Nó cũng làm phẩm giá người đàn bà bị hạ thấp. Nếu hoàn cảnh xã hội vào thời xa xưa không cản trở tuyệt đối việc đa thê (thế nên thần học kinh viện mới nghĩ rằng phép theo chế độ đa thê trong các thời kỳ ấy dựa trên căn bản là luật tự nhiên thứ yếu), thì ít ra hoàn cảnh xã hội ngày hôm nay tuyệt đối loại bỏ chế độ đa thê. (tr. 122-124)

Sách GLCG dạy: “Chúng ta hiểu được bi kịch của một người, vì muốn hoán cải theo Tin Mừng buộc phải từ bỏ một hoặc nhiều người vợ đã chung sống nhiều năm. Tuy nhiên, đa thê không phù hợp với luật luân lý, tuyệt đối nghịch lại với sự hiệp thông giữa vợ chồng: trực tiếp chối bỏ kế hoạch của Thiên Chúa đã được mặc khải cho ta từ buổi đầu, nghịch với phẩm giá bình đẳng của người nữ và người nam, cả hai hiến thân cho nhau trong một tình yêu trọn vẹn, duy nhất và độc hữu (x. FC 19 ; GS 47,2). Theo đức công bình, người đa thê khi trở thành Kitô hữu phải chu toàn những trách vụ tài trợ cho các bà vợ trước và con cái của mình.” (no 2387)

5.2.3 Ly dị

Sách GLCG dựa vào Giáo luật cho thấy: “Giữa hai người đã chịu Bí Tích Thánh Tẩy, hôn nhân đã ký kết và hoàn hợp thì không thể bị tháo gỡ bởi bất cứ quyền lực nhân loại nào, bất cứ vì lý do gì, ngoại trừ cái chết”. (no 2382)

Tuy nhiên cũng cho thấy có những trường hợp được phép ly thân “Trong một số trường hợp đã được Giáo Luật dự liệu, đôi vợ chồng có thể được phép ly thân nhưng vẫn còn duy trì dây liên kết hôn nhân (no 2383). Trong trường hợp nầy ly thân được coi như phương cách duy nhất để giải quyết vấn đề con cái, tài sản, nhiều khi để sống an toàn hơn (khỏi bị đánh đập chẳng hạn).

Tuy nhiên ly dị không phải là điều tốt và “tái hôn dù được luật đời công nhận càng làm cho tình trạng đỗ vỡ thêm tệ hại: người tái hôn, sau khi ly dị, phạm tội ngoại tình công khai và thường xuyên:

Nếu người chồng, sau khi đã chia ly với vợ mình, ăn ở với một người phụ nữ khác, thì phạm tội ngoại tình, vì làm cho phụ nữ đó cũng phạm tội ngoại tình ; người phụ nữ ăn ở với người đàn ông đó phạm tội ngoại tình vì đã dụ dỗ chồng của người khác (T. Baxiliô, nguyên tắc luân lý 73).

Tuy nhiên Giáo Hội cũng chú ý đến nạn nhân của cuộc ly dị: “Nếu một trong đôi vợ chồng là nạn nhân vô tội của phán quyết ly dị do tòa án dân sự, người này không vi phạm luật luân lý. Có sự phân biệt rõ ràng giữa người phối ngẫu thành thật cố gắng trung thành với bí tích Hôn Phối và bị ruồng bỏ bất công, với người phá hủy hôn nhân thành sự theo Giáo Luật (x. FC 84) do phạm lỗi nặng. (no 2386)

(Xem thêm tài liệu của linh mục Trần mạnh Hùng DCCT, ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN: VIỆC ĐỔ VỠ TRONG GIA ĐÌNH)

5.3 Chức năng truyền sinh

5.3.1 Con cái là quà tặng của Thiên Chúa

GLCG cho biết: “Truyền sinh là một ân huệ, một mục tiêu của hôn nhân, vì tình yêu vợ chồng tự nhiên hướng về việc sinh sản con cái. Con cái là hoa quả và thành tựu của tình yêu vợ chồng, hiện diện ngay trong việc vợ chồng hiến thân cho nhau, chứ không phải một cái gì từ bên ngoài được ghép vào. Vì thế Hội Thánh “bảo vệ sự sống” (x. FC 30) và dạy rằng “mọi hành vi ân ái phải tự nó mở ngỏ cho việc truyền sinh” (x. HV 11).” Giáo lý này đã được Huấn Quyền trình bày nhiều lần, nền tảng của giáo lý này là sự liên kết bất khả phân ly giữa hai ý nghĩa của hành vi ân ái: kết hợp và truyền sinh. Đây là điều chính Thiên Chúa đã muốn và con người không được tách rời (x. HV 12 ; x. Piô XI, enc. “Casti connubii”). (no 2366)

“Thiên Chúa đã chúc lành cho cặp vợ chồng đầu tiên rằng: “Hãy sinh sôi cho đầy mặt đất” (St 1, 28)... Đông con được Kinh thánh coi là một ân huệ của Thiên Chúa và là một lý do để vui sướng. Ngược lại, không con là một bất hạnh và là một hình phạt của Chúa (Lc 20, 20t …) “Con cái là hồng ân của Chúa, hoa quả lòng dạ là phần thuởng Chúa ban, một nhà thánh vịnh đã nói như thế (Tv 127, 3).

Ngày nay cũng không khác ngày xưa, con cái đúng là một ân huệ và là một quà tặng của Thiên Chúa. Một thi sĩ kia đã viết: “Có trẻ con trong nhà là có cả giếng khoái lạc”. Con trẻ là sự hoàn thành của hôn nhân và là niềm tự hào của cha mẹ.

Hơn nữa cần lưu ý là “Đứa trẻ không phải là một của nợ, nhưng là một món quà. “Món quà ưu việt của hôn nhân” là một con người. Không được coi đứa trẻ như một vật sở hữu, như người ta thường nghĩ là mình có “quyền trên con cái”. Trong lãnh vực nầy, đứa trẻ thực sự có những quyền: quyền được sinh ra trong tình yêu của cha mẹ, và quyền được tôn trọng như một con người ngay từ lúc mới thành thai (x. “Donum vitae” 2,8). (GLCG no 2378)

5.3.2 Về kĩ thuật chống lại vô sinh

Vì con cái là hồng ân của Thiên Chúa nên “những nghiên cứu nhằm giải quyết chứng vô sinh rất đáng khuyến khích, với điều kiện chúng phải phục vụ con người, phục vụ các quyền bất khả nhượng cũng như lợi ích đích thực và toàn vẹn của con người, đúng theo dự định và ý muốn của Thiên Chúa” (x.“Donum vitae” 2). (GLCG no 2375)

Một kĩ thuật phổ biến ngày nay là thụ tinh nhân tạo: “Thụ tinh nhân tạo là làm cho thụ tinh không phải bằng cách giao hợp tự nhiên, nhưng bằng những sự hỗ trợ nhân tạo, máy móc như dùng ống tiêm để đưa tinh trùng vào.

Nếu tinh trùng lấy từ một người cho (thường là không biết), chứ không phải lấy của chồng, ta gọi đó là thụ tinh khác nguồn.

Thụ tinh khác nguồn, ngoài hôn nhân hay trong hôn nhân, sử dụng tinh trùng của một đệ tam nhân bị coi là vô luân. Các nhà thần học luân lý Công giáo đều nhất trí với kết luận này. Đứa con được thụ thai trong trường hợp đó là con bất hợp pháp và, nếu sinh ra do một người đã kết hôn, thì đó là con ngoại tình… Đành rằng đứa con sinh ra do tinh trùng của đệ tam nhân vẫn sinh ra trong khuôn khổ của hôn nhân và vì thế bên ngoài vẫn có một gia đình. Nhưng đối với người cha hợp pháp, người con ấy chỉ là con ghẻ, đôi khi còn tệ hơn nữa. Đứa con ấy sẽ là lời nhắc nhở thường xuyên về sự bất lực của người cha ấy, một lời nhắc nhở làm ông cảm thấy nhục nhã. Còn đối với người mẹ, đứa con ấy sẽ không đem lại niềm vui mà người phụ nữ thường cảm thấy khi nhận ra những đặc điểm của người chồng thân yêu mình đang nảy nở nơi người con… Nếu cha mẹ vô sinh hết lòng ao ước con cái, giải pháp tốt hơn là nhận con nuôi.

Còn đối với trường hợp thụ tinh nhân tạo bằng tinh trùng của người chồng, vấn đề luân lý trở nên khác hẳn. “Người ta không nhất thiết phải cấm sử dụng một số phương pháp nhân tạo chỉ để tạo điều kiện dễ dàng hơn hay để thực hiện hành vi tự nhiên mà cứ theo cách thế thông thường sẽ đạt được mục tiêu của mình. Một phương tiện giúp cho việc thụ tinh được thực hiện dễ dàng hơn là dùng một cái muỗng để đưa tinh trùng vào cửa mình. Có thể gọi là “thụ tinh có sự giúp đỡ” hơn là “thụ tinh nhân tạo”. Một hình thức khác để thụ tinh có sự giúp đỡ là dùng một ống tiêm trong đó có đưa tinh dịch của người chồng sau một lần giao hợp bình thường giữa hai người, để đưa vào âm đạo của người vợ. Được phép sử dụng các phương pháp này.

Vấn đề được đặt ra đối với những tiến trình nào lấy tinh dịch của người chồng để cho thụ tinh nơi người vợ bằng cách giao hợp với bao cao su, giao hợp nửa chừng hay thủ dâm. Về mặt thực tiễn, thủ dâm là phương cách dễ dàng và an toàn nhất để cung cấp tinh dịch cần thiết. Tuy nhiên, đức Piô XII đã bác bỏ mọi hình thức thụ tinh cùng nguồn, trong đó tinh dịch được cung cấp từ những hành vi đi ngược với thiên nhiên. Rõ ràng là ngài muốn nói tới ba phương pháp trên đây.

Thế nhưng, ta phải nhìn nhận rằng khi nào tinh trùng sử dụng là tinh trùng lấy từ người chồng thì đứa con thụ thai đúng là kết quả của hôn nhân hợp pháp và vì thế đúng là đứa con hợp pháp. Chức năng sinh sản của hành vi tính dục ở đây không hề bị phá hỏng, mà còn được hỗ trợ là khác. Mục đích trực tiếp của việc thụ tinh này là thụ thai. Bao lâu vợ chồng còn muốn có con vì tình yêu giữa hai người, thì hành vi tính dục ấy vẫn còn đầy đủ ý nghĩa, nó là sự biểu hiện của tình yêu ấy. Hiểu như thế, hẳn vợ chồng sẽ đánh giá tốt việc thụ tinh này.

Hai mục tiêu của tính dục đã được bảo đảm trong việc thụ tinh cùng nguồn. Mới nhìn qua, cung cấp tinh dịch như thế không khác lắm với việc thủ dâm hay làm như Onan. Thế nhưng, nó hoàn toàn khác hẳn. Đây chính là lý do giải thích tại sao có sự hiểu lầm khi đánh giá việc thụ tinh này.

Dựa trên những nhận xét ấy, B. Haering đã đi tới kết luận: “Không có lập luận mạnh mẽ nào chứng tỏ sự xuất tinh của người chồng để có con hay việc đưa tinh trùng vào tử cung của người vợ là vô luân”.

Có người phản đối rằng việc thụ tinh nhân tạo cùng nguồn như thế sẽ không thể giữ được “khía cạnh hiệp làm một” của hành vi tính dục. Đúng như vậy, nếu ta hiểu khía cạnh này chỉ theo nghĩa thể lý. Tuy nhiên, trong trường hợp đó người ta thường không kể khía cạnh này vào số các mục tiêu cơ bản của hành vi tính dục. Còn nếu hiểu khía cạnh này theo nghĩa rộng rãi hơn như là sự kết hợp trong tình yêu, thì xem ra ta vẫn có thể tìm được khía cạnh ấy trong việc thụ tinh nhân tạo cùng nguồn, vì đứa con sinh ra ở đây chính là kết quả của tình yêu này.

Nên lưu ý, theo lời đức Piô XII giải thích, cho phép sử dụng việc thụ tinh nhân tạo như vừa nói không có nghĩa là ta đã gián tiếp có những cuộc hôn nhân, trong đó hai người không thể kết ước vì bất lực, là thành sự. Nói bất lực là nói không có khả năng giao hợp. Nếu trước khi lấy nhau không có khả năng làm việc này và tình trạng đó kéo dài mãi, chứ không chỉ tạm thời, thì phải nói đương sự không đủ khả năng ký kết hôn nhân (cf. GL no 1084,1) (tr. 167-170)

Lập luận nói trên có điểm giống với GLCG: “Những kỹ thuật phá vỡ liên hệ phụ mẫu qua sự can thiệp của một người thứ ba (cho tinh dịch hoặc noãn bào, cho mượn tử cung) là những hành vi phải bị loại bỏ. Những kỹ thuật này (thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo khác nguồn) vi phạm quyền của đứa trẻ phải được sinh ra do cha mẹ đã chính thức kết hôn và quyền được biết cha mẹ là ai. Những kỹ thuật này vi phạm “độc quyền làm cha làm mẹ của đôi vợ chồng” (x.“Donum vitae” 2,1). 2376

Tuy nhiên cũng có điểm khác “Nếu được thực hiện cho đôi vợ chồng, những kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo cùng nguồn, có lẽ sẽ ít tổn hại hơn ; nhưng về mặt luân lý, chúng vẫn không thể được chấp nhận, vì tách rời hành vi tính dục với việc truyền sinh. Sinh sản con cái không còn là một hành vi của hai con người hiến thân cho nhau, nhưng “sự sống và căn tính của phôi thai bị trao vào tay các bác sĩ và các nhà sinh học, và để kỹ thuật thống trị trên nguồn gốc và vận mệnh của con người. Một mối quan hệ thống trị như thế tự bản chất đi ngược với phẩm giá và sự bình đẳng chung của cả cha mẹ lẫn con cái” (x. “Donum vitae” 2,5). Về phương diện luân lý, việc truyền sinh mất đi sự hoàn thiện đặc thù của nó, khi không còn là kết quả của hành vi ân ái, nghĩa là quan hệ vợ chồng... Để cho việc truyền sinh xứng với phẩm giá con người, chúng ta phải tôn trọng mối dây liên hệ giữa những ý nghĩa của hành vi ân ái và sự tôn trọng tính thống nhất của bản tính con người” (no 2377)

Một kỹ thuật nữa là thụ tinh trong ống nghiệm. Theo TS Nguyễn đức Vy [1] thì:

- trước tiên tiến hành lấy noãn và tinh trùng: noãn thì “dùng thuốc kích thích nang noãn phát triển khi nang noãn đã trưởng thành có kích thước 16-18mm trở lên sẽ tiến hành chọc hút noãn qua siêu âm” ; còn về tinh trùng thì TS Vy cho biết cách đơn sơ là “lấy và lọc rửa tinh trùng của người chồng” (hình như là qua phẫu thuật thay vì thủ dâm như ngày xưa)

- “cho tinh trùng và trứng gặp nhau trong ống nghiệm với môi trường Ham—F10 hoặc tiêm tinh trùng vào bào trương trứng, đặt vào trong tủ ấm 370 (bằng với thân nhiệt của người mẹ)”

- “theo dõi sự thụ tinh và phát triển phôi (khi thấy sự phân chia từ 4 đến 6,8 và có vành tia là đã thành phôi). Chọn 2-3 phôi chuyển vào tử cung người mẹ. Quá trình chuyển phôi phải hoàn tất sau 48 giờ chọc hút trứng.”

- “vào tử cung, nếu điều kiện tốt, phôi sẽ phát triển bình thường. Nếu niêm mạc tử cung không tốt phôi không bám được sẽ trôi ra theo kinh”

TS Vy cũng cho thấy đây là kỹ thuật rất phức tạp và có những nguy cơ sau:

- “khi kích thích buồng trứng, nếu xảy ra hiện tượng quá kích ứng sẽ ảnh hưởng đến quá trình thụ thai, phải ngưng thụ tinh trong ống nghiệm chu trình nầy hoặc có thể phải nhập việc để theo dõi và điều trị.”

- “nếu làm một lần không kết quả phải làm nhiều lần”

- kết quả thụ tinh trong ống nghiệm là có thể là đa thai “vì hiện nay chúng ta chưa có kỹ thuật chủ động rút phôi. Ðây là đề tài đang được nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng thụ tinh trong ống nghiệm.”

TS Vy cũng cho biết “mục tiêu của chúng ta là phấn đấu chọn phôi có chất lượng tốt mới đưa vào tử cung để cháu bé ra đời bằng thụ tinh trong ống nghiệm sẽ phát triển thể chất và trí tuệ như các trẻ khác.”

Đối chiếu với luân lý Công giáo phương pháp nầy hiện nay có những khó khăn như sau:

- lấy tinh trùng bằng thủ dâm

- chọn phôi (đồng nghĩa bỏ phôi khác) hay đem phôi còn dư vào “ngân hàng phôi” để dùng về sau hay để chế tạo những cơ quan của con người (từ tế bào gốc).

- Ngày nay kỹ thuật rút phôi (phá thai) đã được tiến hành để tránh có nhiều con một lúc và để tránh việc bị mù mắt do sinh non [2]

- cho dù có thể vượt qua những khó khăn trên chúng ta thấy vẫn còn có khó khăn mà tài liệu của Giáo Hội đã nêu bên trên.

Cuối cùng, sách GLCG cho thấy: “Tin Mừng cho thấy vô sinh thể lý không phải là một điều dữ tuyệt đối. Đôi vợ chồng nào, sau khi đã tận dụng mọi trợ giúp chính đáng của y khoa, vẫn phải chịu nỗi đau khổ vô sinh, được mời gọi liên kết với Thập Giá của Chúa là nguồn mạch mọi phong phú thiêng liêng. Họ có thể sống quảng đại bằng cách nhận nuôi những đứa trẻ bị bỏ rơi hoặc tham gia những công tác phục vụ tha nhân.” (no 2379)

5.3.3 Điều hòa sinh sản

 Các giới tôn giáo, đôi khi có khuynh hướng (hay ít ra trong quá khứ) giảm nhẹ tầm quan trọng của vấn đề kiểm soát sinh đẻ. Người ta thường hay chỉ ra gốc rễ của vấn đề này nằm ở chỗ phân phối tài nguyên không đồng đều và không sử dụng hữu hiệu các tài nguyên bất tận của thiên nhiên nhiều hơn. Thiên Chúa đã trao cho con người nhiệm vụ gia tăng sinh sản ; Ngài cũng đã cho con người hiện hữu…

Thế giới vẫn có thể nuôi sống nhiều người hơn nữa, chỉ cần là tất cả mọi đất đai sử dụng được đều được canh tác kỹ lưỡng, chỉ cần áp dụng và cải thiện kỹ thuật khắp mọi nơi, chỉ cần đưa các đại dương bao la vào sử dụng như các nguồn cung cấp lương thực. Tuy nhiên, tất cả những khả năng này đều có giới hạn. Nếu dân số gia tăng quá nhanh, như tại nhiều quốc gia còn trẻ, sự phát triển kinh tế ở các nước ấy sẽ không thể nào theo kịp. Kết quả là chế độ dinh dưỡng kém, thiếu nhà cửa, thất nghiệp, các điều kiện học hành thiếu sót, thiếu sự chăm sóc y tế và các điều kiện vệ sinh. Ngoài ra, một số quốc gia đã đạt tới một mật độ dân số quá dày, khiến họ không thể tiếp nhận những đợt gia tăng dân số đáng kể nữa.

Vì thế, nhu cầu và bổn phận làm cha mẹ một cách có trách nhiệm đã được các nhà thần học trong những thập niên vừa qua nhìn nhận rõ ràng hơn và được các văn kiện chính thức của Giáo hội Công giáo xác định rõ nét hơn. Cha mẹ có bổn phận phải sinh con đẻ cái một cách có trách nhiệm.

Nghĩa vụ này cũng được trình bày trong các văn kiện của công đồng Vatican II. Cha mẹ “sẽ phải cứu xét tới hạnh phúc của mình cũng như của con cái, của những con đã sinh ra và những con có thể dự kiến. Để làm việc nầy, cha mẹ sẽ lưu ý tới những điều kiện vật chất lẫn tinh thần của thời đại cũng như của hoàn cảnh mà mình đang sống. Sau cùng, cha mẹ sẽ nhìn tới những ích lợi của gia đình, của xã hội trần thế và của cả Giáo Hội nữa” (MV 50)

Công đồng cũng nhìn nhận rằng việc kiểm soát dân số không phải chỉ là bận tâm của những cặp vợ chồng đang gặp khó khăn, mà cả chính quyền cũng có quyền và nghĩa vụ góp phần giải quyết các vấn đề dân số trong đất nước mình. “Trong phạm vi thẩm quyền của mình, các giới chức chính phủ có quyền và có nghĩa vụ đối với các vấn đề dân số của đất nước mình, như ban hành luật lệ xã hội thế nào để tác động lên các gia đình, như vấn đề di cư lên các thành phố, vấn đề thông tin về tình hình và nhu cầu của đất nước" (MV 87) Tuy nhiên, Công đồng nói thêm: vấn đề sinh bao nhiêu con cái, sau cùng phải để lại cho cha mẹ suy nghĩ và quyết định. "Không thể giao vấn đề này cho chính phủ quyết định”.

Một khi đã xét đến sức khoẻ của cha mẹ, sự an ninh về tinh thần và vật chất của gia đình, ích lợi của xã hội, ta có thể coi các lý do sau đây là những lý do cho phép giới hạn một số con trong gia đình:

1. Khi có nguy cơ tới sức khoẻ và tính mạng của người mẹ ;

2. Khi muốn có sự ưu sinh trước khả năng có những khuyết tật di truyền ;

3. Khi gặp những khó khăn kinh tế, như gia đình có mức thu nhập thấp, bị đe dọa thất nghiệp luôn luôn, thiếu phòng ốc và nhà cửa ;

4. Khi gặp những khó khăn trong việc giáo dục như đòi hỏi của các xã hội công nghiệp về giáo dục ngày càng cao ;

5. Khi các nhu cầu trong nước bị ảnh hưởng bởi số tài nguyên có giới hạn. Nhất là đối với các nước kém phát triển, hầu như không thể nào trợ cấp cho một số công dân túng thiếu quá đông, dựa vào những sự giúp đỡ và phúc lợi xã hội.

Làm cha mẹ một cách có trách nhiệm bao hàm một chính sách đẻ con cách quãng sao cho hợp lý. Tuy nhiên, những phân tích về giáo dục cho biết không nên để sự cách biệt về tuổi giữa các con quá lớn, mà tốt hơn nên cách quãng không quá 2 năm rưỡi.

Nhu cầu làm cha mẹ một cách có trách nhiệm và sự hợp lý của việc kiểm soát dân số một cách chừng mực đã được mọi người nhìn nhận, không còn là một vấn đề tranh cãi trong Giáo hội Công giáo nữa. Nhưng làm thế nào để đạt mục tiêu ấy, đó vẫn còn là một vấn đề còn trong vòng tranh cãi. (tr. 149-153)

Sách GLCG cũng cho thấy việc làm cha mẹ có trách nhiệm có thể đưa tới việc điều hòa sinh sản: “Một khía cạnh đặc biệt của trách nhiệm đó là điều hòa truyền sinh. Khi có lý do chính đáng, đôi vợ chồng có quyền kéo dài khoảng cách giữa các lần sinh nở. Chính họ phải chứng thực rằng ước muốn đó không do ích kỷ, nhưng xứng hợp với lòng quảng đại chính đáng của bậc làm cha mẹ có trách nhiệm. Ngoài ra, họ phải xử sự theo những tiêu chuẩn khách quan của luân lý:

 “Khi cần hòa hợp tình yêu vợ chồng với việc sinh sản con cái có trách nhiệm, phải ý thức rằng giá trị luân lý của hành động không chỉ lệ thuộc vào ý muốn thành thực và việc cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định theo những tiêu chuẩn khách quan suy diễn từ bản tính nhân vị và của hành động nơi nhân vị: những tiêu chuẩn ấy tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự trao hiến và sinh sản con cái trong khung cảnh tình yêu đích thực. Đó là điều không thể thực hiện được nếu không thực tâm vun trồng đức khiết tịnh trong bậc vợ chồng” (x. GS 51,3).

 “Khi duy trì hai khía cạnh thiết yếu là kết hợp và truyền sinh, hành vi ân ái giữ được toàn vẹn ý nghĩa của tình yêu hỗ tương và chân thực, qui hướng về ơn gọi vô cùng cao cả của con người là được làm cha làm mẹ”. (no 2368-2369)

“Cho đến nay Hội thánh Công giáo mới chỉ chính thức nhìn nhận phương pháp gọi là phương pháp theo nhịp hay là kế hoạch hoá gia đình một cách tự nhiên là phương pháp kiểm soát sinh đẻ hợp pháp. Lập trường này mới đây đã được xác nhận lại trong tông thư “Humanae Vitae” ("Sự sống con người”) của Đức Phaolô VI năm 1968.

Phương pháp theo nhịp được xây dựng trên những khám phá của các bác sĩ Ogino người Nhật (1930) và Knauss người Áo (1929). Hai người này khám phá ra rằng người phụ nữ không phải lúc nào cũng dễ thụ thai như nhau, nhưng có những thời kỳ thụ thai có những thời kỳ không. Sở dĩ thế là vì trứng nơi tử cung người phụ nữ chỉ rụng một lần duy nhất trong chu kỳ kinh nguyệt của bà, cụ thể là trong vòng 12 đến 16 ngày trước khi bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt sau. Vì trứng ấy chỉ sống được từ 12 giờ đồng hồ đến 2 ngày là tối đa, nên suốt thời gian còn lại người phụ nữ không thể thụ thai. Như vậy, một cặp vợ chồng muốn tránh mang thai, tạm thời hay vĩnh viễn, chỉ cần giao hợp trong những ngày không thụ thai, nghĩa là trong những ngày không có trứng rụng.

Khi sử dụng phương pháp này, ta có thể được giúp đỡ nhờ lấy nhiệt độ thân thể người phụ nữ mỗi ngày. Sở dĩ thế là vì lúc rụng trứng nhiệt độ căn bản của người phụ nữ lên cao hơn và cứ giữ mức ấy cho đến khi bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt sau. Lúc ấy nhiệt độ lại hạ xuống mức ban đầu.

Mới đây người ta còn đưa ra một phương pháp khác hỗ trợ việc xác định thời điểm rụng trứng gọi là phương pháp chất nhờn. Cơ sở cho phương pháp này dựa vào là thân thể người phụ nữ sẽ tiết ra một chất nhờn ở âm hộ khi sắp đến thời kỳ thụ thai. Phương pháp ấy cốt tại ở chỗ quan sát chất nhờn này. Không có chất nhờn là dấu không thể thụ thai.

Ngay khi phương pháp theo nhịp được khám phá, thần học luân lý Công giáo và giáo huấn của các Đức giáo hoàng đã nhìn nhận đó như một phương pháp hợp với lề luật. Sở dĩ thế là vì trong phương pháp này con người vẫn làm chủ các định luật thiên nhiên và các nhịp thụ thai như Chúa đã an bài trong bản tính con người. Con người không can thiệp vào khả năng của hành vi vợ chồng hướng tới việc truyền sinh. Nếu trong những ngày không thụ thai ấy việc thụ thai không xảy ra, vì đó là chính thiên nhiên ngưng làm cho thụ thai trong thời gian đó. Trái lại, mọi phương pháp khác đều ngăn cản tích cực vào sự tiến triển của quá trình tự nhiên hoặc bằng cách cắt ngang, đưa vào những vật dụng hay sử dụng thuốc.

Thỉnh thoảng việc áp dụng phương pháp theo nhịp này gặp khó khăn hay thậm chí không thể làm được, do chu kỳ kinh nguyệt quá bất thường… Tuy nhiên, ta có thể dùng các hợp chất progestin để bình thường hoá những chu kỳ kinh nguyệt quá bất thường, như đã dùng thuốc này làm “thuốc viên” để ngăn cản sinh sản trong một thời gian. Thần học luân lý Công giáo đã nhìn nhận việc sử dụng các hợp chất ấy là hợp pháp.

Ta phải nhìn nhận phương pháp theo nhịp này không tuyệt đối an toàn… Cũng phải nhìn nhận là quan sát và tính toán cẩn thận ngày thụ thai, ngày không thụ thai là một công việc có phần nào gây khó chịu, nhất là khi kết hợp với phương pháp đo nhiệt độ và theo dõi chất nhờn. Ngoài ra, phương pháp nào cũng đòi phải có sự hy sinh tiết dục định kỳ. (tr. 154-155)

Cũng một chiều hướng đó, sách GLCG cho biết: “Tiết dục định kỳ cũng như những phương pháp điều hòa sinh sản đặt nền tảng trên việc tự quan sát và sử dụng những thời gian không thể thụ thai (x. HV 16), đều phù hợp với các tiêu chuẩn khách quan của luân lý. Những phương pháp này tôn trọng thân thể của vợ chồng, khuyến khích họ âu yếm và giúp nhau hướng đến tự do chân chính. Ngược lại, “mọi hành động nhằm mục đích hay tạo phương thế ngăn cản sự truyền sinh trước, hoặc trong khi giao hợp, hoặc trong diễn tiến các hiệu quả tự nhiên của việc giao hợp, tự bản chất là xấu” (HV 14).

Trong hôn nhân, hai vợ chồng hiến thân trọn vẹn cho nhau. Việc ngừa thai đi ngược lại vì họ không còn trao tặng cho nhau trọn vẹn nữa. Chẳng những họ không cộng tác vào công cuộc trao ban sự sống mà còn làm sai lạc chân lý nội tại của tình yêu vợ chồng là hiến thân trọn vẹn cho nhau. Về mặt nhân học và luân lý, sự khác biệt giữa ngừa thai và việc sử dụng các chu kỳ thụ thai bắt nguồn từ hai quan niệm không thể giản lược với nhau về con người và về tính dục của con người (FC 32). (số 2370)

Sách GLCG lưu ý “Ngoài ra, mọi người đều phải ý thức rằng sự sống con người, và trách nhiệm lưu truyền sự sống, không chỉ giới hạn ở đời này, cũng như không thể hiểu và đo lường được trọn vẹn ý nghĩa ở đời này, nhưng luôn qui chiếu về định mệnh vĩnh cửu của con người”. (số 2371)

Phương pháp điều hòa sinh sản theo chu kỳ không thụ thai mà Giáo Hội đề nghị đòi phải có một trình độ hiểu biết tương đối và không phải là dễ áp dụng cho mọi người. Người ta đưa ra nhiều phương pháp khác. Tuy nhiên những phương pháp nầy trái với “Humanae Vitae” của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI. Thực ra, ngài “chỉ nhắc lại giáo huấn cổ truyền của Công giáo, khi viết ở khoản 14 của tông thư: “Chúng ta phải một lần nữa tuyên bố: phải tuyệt đối loại bỏ việc trực tiếp làm gián đoạn tiến trình sinh sản đã bắt đầu và nhất là phá thai chủ ý, dù chỉ vì những lý do trị liệu, đó là những phương pháp điều hoà sinh sản không hợp pháp. Cũng phải loại bỏ - như Huấn quyền Giáo hội thường xuyên dạy - việc triệt sản trực tiếp, dù có tạm thời hay vĩnh viễn, dù về phía người đàn ông hay về phía người dàn bà. Cũng phải loại bỏ mọi việc... lấy việc cản trở không cho việc sinh sản được thực hiện làm mục tiêu hay làm phương tiện để đạt một mục tiêu nào đó... Thật là sai lầm khi nghĩ rằng một hành vi vợ chồng đã cố tình làm cho không có khả năng truyền sinh và vì thế tự bản chất là một hành vi bất lương sẽ có thể trở nên lương thiện và đúng đắn khi liên hệ với toàn bộ cuộc sống hôn nhân phong phú". Giáo lý này một lần nữa lại được Đức Gioan-Phaolô II xác nhận trong tông huấn “Familiaris consortio” năm 198l. Ở các điều chính yếu, tông huấn này chẳng qua chỉ lặp lại đúng nguyên văn của thông điệp “Humanae Vitae”.

Đáng chú ý là thông điệp đã tránh xác định minh nhiên hay mặc nhiên tất cả hay một số các tội đã được kể ra là “tội nặng”. Hai nhóm từ xác định có tính luân lý là “tuyệt đối phải loại bỏ”  “bất lương tự bản chất” càng cho thấy rõ không bao giờ được phép làm các việc ấy. Nhưng qua những nhóm từ ấy, người ta không xác định rõ các việc ấy là tội nặng hay tội nhẹ. (tr. 156)

Trong những phương pháp gọi là phản tự nhiên có:

Triệt sản vĩnh viễn: Thật là phản luân lý nặng nề khi tiêu diệt khả năng thụ thai của loài người một cách tùy tiện dựa vào phương pháp triệt sản vĩnh viễn, không phải vì lý do sức khoẻ. Đây là phán đoán chung của thần học luân lý Công giáo cổ truyền.

Đến đây, một vấn đề tương đối khó khăn được đặt ra cho các vị giải tội. Linh mục ấy phải dùng biện pháp nào khi hối nhân đã tự thú tội ấy ? Ngài có cần đòi được sự giải phẫu ngược lại không ? Giả như mang thai lần này và lần sau là đi ngược lại nguyên tắc làm cha mẹ có trách nhiệm, thì không có bổn phận luận lý nào nặng ở đây. Nhưng cả trong những trường hợp khác, khi những khó khăn và phí tổn phải chịu nếu giải phẫu trở lại là quá lớn thì linh mục không cần phải đòi hỏi đương sự phải giải phẫu ngược lại. Tuy nhiên, ăn năn thật thì cũng phải đền tội một cách nào đó tương xứng. Nếu như động cơ triệt sản chỉ là từ chối có thêm con một cách không chính đáng, thì việc đền tội tương xứng có thể là trợ cấp đều đặn cho một cô nhi viện. (tr. 159)

5.3.4 Vấn đề điều hòa sinh sản bằng phương pháp không tự nhiên

Thường thường những phương pháp điều hoà sinh sản không tự nhiên bị những tài liệu chính thức của Giáo Hội liệt và số những phương tiện “bất hợp pháp” (moyens illicites)

Ngày nay người ta xử dụng rất nhiều phương pháp tránh thai nên rất khó có thể liệt kê ra hết tất cả. Tuy nhiên thiết nghĩ chúng ta có thể liệt kê ra các phương pháp theo cái nhìn của luân lý Công giáo.

- Phương pháp tránh thai tự nhiên: Kiêng giao hợp trong thời kỳ thụ tinh

Đây là phương pháp không cần dùng đến thuốc, hoá chất dụng cụ gì cả. Phương pháp nầy cần quan sát cơ thể người nữ để có thể biết thời kỳ có khả năng thụ tinh và không thụ tinh. Phương pháp nầy đòi phải kiêng giao hợp trong thời kỳ có thể thụ tinh.

- Phương pháp tránh thai không tự nhiên:

Phương pháp làm không thụ thai

Bao cao su (condom, capote)

Màng ngăn cổ tử cung

Thuốc diệt tinh trùng hay làm cho tinh trùng bất động

Thuốc ngăn trứng rụng

Phương pháp có thể diệt phôi thai

Vòng tránh thai IUD làm thay đổi chất nước nhầy ở cổ tử cung hay ngăn cản trứng thụ tinh không cấy vào màng nhầy được (diệt thai).

Thuốc ngày hôm sau (Postinor) có thể ngăn cản thụ tinh những cũng có thể diệt thai.

- Phương pháp diệt thai và phá thai

Hút điều hòa kinh nguyệt

Thuốc RU 486

Và các cách phá thai.

Bảng phân tích trên cho thấy các phương pháp gọi là tránh thai hoạt động trên những cơ chế khác nhau. Có những phương pháp làm không tạo nên phôi thai nhưng cũng có phương pháp trực tiếp diệt phôi thai và phá thai. Vì Giáo Hội lên án gắt gao việc phá thai, nên chúng ta không bàn đến những phương pháp diệt phôi thai hay phá thai nhưng chỉ đề cập tới phương pháp ngừa thai không tự nhiên.

Peschke viết: “Cho đến gần đây, việc sử dụng phương pháp nhân tạo để kiểm soát sinh đẻ cũng bị coi là phạm tội nặng. Phán đoán này được sự hậu thuẫn của các Đức Giáo Hoàng. Nhưng vì các phương pháp này vẫn còn khá mới mẻ, nên quan điểm luân lý ấy vẫn chưa có một truyền thống lâu dài hỗ trợ. Thông điệp “Humanae Vitae” chỉ xác nhận một cách giản dị đó là những phương tiện “bất hợp pháp”. Số nhà thần học và giám mục phản đối cách đánh giá truyền thống ấy (cụ thể là kết án việc sử dụng các phương pháp nhân tạo mà không phân biệt chi tiết hơn là mắc tội nặng) hiện nay lên rất đông. (tr. 159-160)

Nếu các nhà Thần học trong Giáo Hội nhất trí cao về chuyện cấm phá thai thì vấn đề ngừa thai lại đưa đến những tranh cải.

Dựa vào các chỉ dẫn của một số HĐGM, Peschke đã đi tới những kết luận sau:

- Các vợ chồng gặp khó khăn nhưng vẫn không xa rời tình yêu Thiên Chúa. Các hội đồng giám mục như của Áo, Anh, Braxin, Nhật bản và Italia đã chỉ ra rằng trong thông điệp của Đức Giáo Hoàng không hề có lời đe dọa kết tội. Thay vì bị khai trừ không cho lãnh nhận các bí tích, những vợ chồng đang gặp khó khăn được mời gọi siêng năng lãnh nhận các bí tích. Nếu đã hết sức thiện chí mà không theo được các chỉ thị của thông điệp vì những hoàn cảnh vô phương tránh khỏi, vợ chồng đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã xa lìa tình thương và ân sủng của Thiên Chúa. “Nếu có ai đó, dù có thiện chí thi hành các chỉ thị của thông điệp mà vẫn không thể tuân giữ trong một vài trường hợp vì những hoàn cảnh khách quan và tất yếu, người ấy đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã tách lìa khỏi tình yêu Thiên Chúa.”

Về phần mình, các vị giải tội không nên bắt những người chưa xác tín lắm vào chân lý của giáo huấn chính thức ấy hay những người đang lâm cảnh khó khăn vì đau ốm hay vì lý do nghiêm trọng nào khác phải đoạn giao với bí tích Thánh thể.

- Chọn điều xấu nhỏ hơn khi có xung đột giữa các nghĩa vụ. Các giám mục Canađa và Pháp dự kiến rằng những vợ chồng phải đối phó với vấn đề kiểm soát sinh đẻ thường lâm vào tình trạng xung đột bổn phận. Họ không biết làm sao dung hoà những đòi hỏi của tình yêu vợ chồng với những nhu cầu của việc làm cha mẹ có trách nhiệm. Các giám mục Canađa giải thích rằng vợ chồng đã chân thành tìm cách sống theo các chuẩn mực do thông điệp đưa ra mà vẫn không đạt được mục tiêu ấy, có thể “tin chắc rằng mình đã không đứng tách khỏi tình yêu Thiên Chúa, nếu họ đã thành thật chọn giải pháp nào mình thấy là tốt hơn”.

Các giám mục Pháp còn triển khai ý tưởng này xa hơn nữa, họ đưa ra nhận xét sau đây: “Ngừa thai không bao giờ là điều tốt, nó luôn luôn là sự xáo trộn, tuy nhiên không phải lúc nào sự xáo trộn nầy cũng đáng tội. Sở dĩ thế là vì các vợ chồng thường phải đối đầu với hai điều xấu, đang khi đó họ chỉ có thể tránh được một trong hai. Nếu hoàn cảnh bắt họ phải kiểm soát sinh đẻ dưới hình thức nào đó và nếu họ không thể núp bóng phương pháp chu kỳ đã được phép, họ sẽ thấy mình đang đứng trước một sự lựa chọn hoặc sử dụng các phương pháp kiểm soát sinh đẻ bất hợp pháp và nhân tạo, hoặc không diễn tả tình vợ chồng trên bình diện thể lý và từ đó làm hại tới sự ổn định của đời sống gia đình”.

Các giám mục Pháp nói tiếp: “Đối với sự kiện này, chúng tôi chỉ xin nhắc lại giáo huấn xưa nay của thần học luân lý: nếu ai rơi vào tình thế xung đột giữa hai bổn phận, trong đó để có quyết định thế nào họ cũng không tránh được một điều xấu, thì đức khôn ngoan xưa nay trù liệu rằng lúc ấy ta phải xem trước mặt Chúa bổn phận nào trong hai bổn phận đó quan trọng hơn. Vợ chồng sẽ quyết định sau khi suy nghĩ chung, dựa vào sự chăm sóc giúp đỡ mà ơn gọi vợ chồng cao cả đòi hỏi”.

Các giám mục Thụy sĩ cũng đi tới cùng một kết luận của các giám mục Canađa và các giám mục Pháp.

- Quyền nghe theo lương tâm của mình, khi đưa ra ý kiến bất đồng với những lý do nghiêm trọng. Một vài hội đồng giám mục cho thấy có khả năng có sự bất đồng nghiêm túc đối với văn kiện của đức giáo hoàng. Trong số này có các giám mục Bỉ, Đức, Áo, Anh, Canađa và Scandinavia. Ai cũng chỉ ra rằng mọi người đều có bổn phận nghiêm túc là đào tạo lương tâm. Nói thế cũng có nghĩa là mọi người phải có bổn phận cẩn thận chú ý tới giáo lý của Giáo hội, kiên trì và ngoan ngoãn nghe theo bổn phận ấy (cf. TD 14) Tuy nhiên, một tông thư không phải là không thể sai lầm. Tông thư vẫn để cho khả thể sau đây có thể xảy ra: một người Công giáo sau khi cẩn thận nghiên cứu vấn đề, đôi khi lại đi tới những kết luận khác…

Chẳng hạn các giám mục Đức giải thích rằng huấn quyền Giáo hội có quyền ban hành các chỉ thị về mặt giáo lý tương tự như các chỉ thị được ban hành qua một tông thư, thậm chí nếu xét chi tiết có thể vướng vào một số sai lầm.

 “ai cho rằng muốn theo lý thuyết và cách thực hành riêng của mình thì phải đi lệch ra ngoài giáo lý không bất khả ngộ của huấn quyền Hội Thánh – một trường hợp có thể hình dung được trên nguyên tắc, kẻ ấy phải thành thật tự hỏi mình với tinh thần tự kiểm xem mình có dám lãnh nhận trách nhiệm về điều ấy trước mặt Chúa không". Tuy nhiên, cho dù vợ chồng có thể đi tới một quyết định khác với giáo huấn của thông điệp, “cách thể hiện vai trò cha mẹ có trách nhiệm ấy không được làm thiệt hại tới phẩm giá của con người, cũng như không được làm tổn thương tới gia đình – một cộng đoàn yêu thương một cách sáng tạo”.

Giáo hội khuyên những chủ chăn hãy tôn trọng những quyết định nghiêm túc của các tín hữu, nhất là trong việc cử hành các bí tích thánh. Các vị phải thừa nhận những trường hợp vợ chồng đôi khi cảm thấy mình có lý với phán đoán của mình, dù nó không đi đúng đường với giáo huấn của Giáo hội, như các giám mục thuộc các Giáo hội Scandinavia nhận xét. “Trong trường hợp đó, có lẽ không có tội gì buộc phải xưng thú hay khiến cho đương sự không được rước lễ”. (tr. 163-166)

Thực ra, trong luân lý, người ta cũng kể ra một vài trường hợp có thể sử dụng phương pháp ngừa thai không tự nhiên:

+ lúc loạn lạc, đảo chánh, nếu người nữ có nguy cơ bị hiếp dâm, thì được phép uống thuốc ngừa thai (anticonceptionalibus[3]) để tự vệ.”[4] Luân lý gia Curran cũng có cái nhìn tương tự: "Ngày nay, các nhà thần học nhìn nhận rằng: giả như trong trường hợp một phụ nữ đang có nguy cơ bị cưỡng hiếp, thì cô ấy có thể dùng thuốc ngừa thai, với mục đích là tránh thụ thai. Vì ngừa thai trong trường hợp của cô ấy không phải là ngừa thai tự nguyện, cho nên việc ngừa thai này không phải là sự đảo nghịch của tự nhiên."[5]

+ "Có những lúc, vì sức khỏe của bà mẹ và vì lợi ích của gia đình đòi hỏi bà mẹ không được mang thai trong tình cảnh đó. Với những hoàn cảnh chắc chắn như thế thì liều lĩnh mang thai sẽ là một tội ác lớn hơn là việc sử dụng các phương pháp ngừa thai. Sự công bằng và lòng nhân ái đối với người vợ và gia đình phải vượt lên trên đức khiết tịnh và việc làm chủ bản năng tính dục. Mặc dù, ngừa thai nhân tạo, xét theo khách quan, là sai, nhưng nhiều khi, khách quan mà nói, giữa hai cái xấu luân lý thì ngừa thai nhân tạo ít xấu hơn. Các nhà thần học thừa nhận rằng, trong những tình huống như vậy, một cha giải tội có thể khuyên chọn cái ít xấu hơn giữa hai cái xấu (The lesser of two evils )."[6]

+ Đức Cha Albert Rouet, chủ tịch Ủy ban xã hội thuộc Hội đồng GM Pháp, khi bàn về Sida đã viết về préservatif (bao cao su) như sau: "Beaucoup de médecins compétents affirment que le préservatif de qualité fiable est actuellement le seul moyen de prévention. À ce titre, il est nécessaire." [7]

Cách giải quyết như trên là do các nhà thần học dựa vào một nguyên tắc vẫn thường được áp dụng trong luân lý. Nguyên tắc nầy được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolo 2 lập lại trong thông điệp Veritatis splendor (số 80) khi trích dẫn lại lời của Đức Thánh Cha Phaolo 6 "Đức Phaolô VI dạy rằng: "Quả thực, nếu một đôi khi được phép nhân nhượng một điều dữ luân lý nhỏ hơn để tránh một điều dữ lớn hơn hoặc để thăng tiến một điều thiện lớn hơn, thì dầu vậy vẫn không được phép ngay cả khi có lý do nghiêm trọng làm điều dữ để từ đó mà có được điều thiện (x.Rm 3, 8), nghĩa là không được phép lấy điều tự nó là vô trật tự và bởi đó là một điều bất xứng với con người để làm đối tượng cho một hành vi tích cực của ý chí, ngay cả khi có ý hướng bảo toàn hoặc cổ võ những điều thiện cá nhân, gia đình và xã hội".[8]

Để áp dụng nguyên tắc nầy, chúng ta cần lưu ý đến điều kiện trong hai điều xấu hay trong nhiều điều xấu nghĩa là nếu có 3 khả năng trong đó có một điều không xấu không tốt hay có một điều tốt thì nguyên tắc trên không thể được áp dụng. Vì thế nếu người nữ có thể tìm cách khác để mình không bị hiếp dâm (như đi hai hay ba người thay vì đi một mình trên đường vắng) thì phải chọn giải pháp này. Ngoại lệ trên thiết tưởng có thể áp dụng rộng ra trong trường hợp người chồng (hay vợ) thường vắng nhà và chỉ gặp nhau trong thời gian ngắn (tài xế xe liên tỉnh hay thủy thủ chẳng hạn).

Trong số những phương pháp tránh thai không tự nhiên, Tác giả Peschke nhận xét:

Một số phương pháp nhân tạo như dùng bao cao su rõ ràng là không giúp bảo vệ tính toàn vẹn tự nhiên của hành vi vợ chồng khi biểu lộ ra ngoài như một hành vi kết hợp của hai người. Bởi đó, những phương pháp ấy đi ngược lại diễn biến tự nhiên của hành vi vợ chồng nhiều hơn. Có những phương pháp ít cản trở tính toàn vẹn ấy hơn hoặc không cản trở chút nào hết như dùng một số thuốc kháng sinh có thể giết các tinh trùng hay đưa tinh dịch đông đặc và màng chắn vào trong âm đạo để che cửa tử cung, nhờ đó ngăn cản không cho tinh trùng tiến vào, hoặc dùng các loại thuốc ngừa thai (thường là những hợp chất progesterol) hay đặt các vòng xoắn ? trong tử cung (IUD). (tr. 160)

Về thuốc ngừa thai tác giả nhận xét: “Sử dụng các thuốc ngừa thai (tức là các hợp chất progesteron) để trị bệnh luôn luôn được phép như chính thông điệp “Humanae Vitae” đã cho biết (số 15). Thông điệp cũng nói tới việc dùng các thuốc ấy để điều hoà chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ. Việc này được phép làm, dù từ đó có thể làm cản trở việc sinh sản tạm một thời gian. Có được dùng các hợp chất progesteron trong thời kỳ cho bú theo quan điểm y học và theo quan điểm luân lý hay không, điều ấy vẫn còn đang được các bác sĩ và các nhà luận lý bàn luận. Người ta lập luận rằng trong thời gian cho con bú, cơ thể người phụ nữ khoẻ mạnh cũng sản xuất các hócmôn tương tự như các hợp chất progesteron, cản trở việc rụng trứng, và hiện tượng này thường kéo dài từ 6 - 9 tháng. Như vậy, chính thiên nhiên đã bảo đảm cho người phụ nữ có thời gian nghỉ sinh đẻ. Trong trường hợp cơ thể người mẹ không sản xuất các hoócmôn ngăn trở việc rụng trứng trong thời gian cho con bú - như hiện nay thường thấy nơi người phụ nữ - ta được phép dùng thuốc để chữa trị sự thiếu sót này của thiên nhiên bằng cách cho người mẹ dùng progesteron nhân tạo trong thời kỳ cho bú. Ý kiến này được ủng hộ bởi L. Janssens, O'Callaghan, Ford, Kelly và nhiều tác giả khác.

Nên lưu ý: Một người chồng hay một người vợ không đồng ý cho bạn mình dùng các phương pháp bất hợp pháp để kiểm soát sinh đẻ, lại không thể làm cho bạn mình thay đổi ý kiến, vẫn được phép trả món nợ của hôn nhân (tức là ăn ở với người phối ngẫu). Thậm chí người ấy còn có thể đòi hỏi việc này, trừ những ngày có thể thụ thai mà mình cũng nhất trí với bạn mình không muốn có con nữa. Sự cộng tác của bên vô tội trong những trường hợp này chỉ là sự cộng tác chất thể. Được phép làm thế khi có những lý do tương đối nghiêm trọng như để bảo vệ sự yên ổn trong gia đình hay để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra khi phải kiêng chuyện vợ chồng. Theo B. Haering, nguyên quyền lợi hôn nhân giữa hai người với nhau đã là lý do đủ cho có sự cộng tác chất thể ấy. (tr. 160)

Tóm lại, ngừa thai là vấn đề khó khăn trong mục vụ. Thực tế cho thấy, người Công giáo Việt Nam bình thường không dễ theo phương pháp tự nhiên. Vậy thì, người mục tử có thái độ như thế nào với người phá thai vì “bể kế hoạch” (thường xảy ra ở Việt Nam) ? Nói chung các đôi vợ chồng vẫn sử dụng phương pháp ngừa thai nào đó. Phải chăng vị mục tử có thể buộc người ta chấm dứt phương pháp không tự nhiên để trở về với phương pháp tự nhiên mà đôi khi họ không làm nổi ? Những suy nghĩ trên chỉ áp dụng trong đời sống vợ chồng vì thực ra Giáo hội không bao giờ chấp nhận "hành động tính dục" ngoài hôn nhân. Thường khi người giáo dân đặt câu hỏi về ngừa thai, họ chỉ mong câu trả lời được hay không. Những phân tích trên cho thấy câu trả lời như vậy thường không chính xác và câu trả lời cũng không phải dễ vì dù sao người ta vẫn còn đang tranh luận với nhau.

__________________________

[1]Nơi những phụ nữ vô sinh gởi gắm ước mơ, bài phỏng vấn TS Nguyễn đức Vy trong Báo Sức khoẻ & Đời sống, số 105, tháng 1 năm 2001, tr. 6-7.

[2] Xem thêm báo Thuốc và sức khoẻ số 185 tr. 6

[3] I. Aertnys, C. Damien, I. Visser C.SS.R, Theologia Moralis, Vol II, Editio XVIII, 1968, p. 181.

[4] LM Nguyễn Thành Thông, Điều răn thứ sáu và thứ chín trong Giáo trình Thập Giới.

[5] CHARLES E. CURRAN, Christian Morality Today Chapter 4: Christian Marriage and Family Planning. Văn Anh chuyển ngữ. (Tài liệu VietCatholic)

[6] như trên.

[7] Đức Cha Albert Rouet, Le sida interroge la société, in SIDA La société en question, Bayard Édition/Centurion, 1996, tr. 191

[8] Tđ Humanae Vitae (25-7-1968), s. 14: AAS 60 (1968), tr. 490-491.