
|
1. Ý NIỆM VÀ NGUỒN GỐC LƯƠNG TÂM |
Bài 5: LƯƠNG TÂM
1. Ý NIỆM VÀ NGUỒN GỐC LƯƠNG TÂM
1.1 Khái niệm lương tâm
1.1.1 Lương tâm là một khả năng luân lý
Sách Giáo lý Công Giáo cho biết Lương tâm là một phán quyết của lý trí; nhờ đó, con người nhận biết một hành vi cụ thể mình định làm, đang làm hay đã làm, là tốt hay xấu. (no 1778)
Thần học kinh viện và các thủ bản thần học luân lý ngày xưa thường coi lương tâm là một hoạt động, trong đó lý trí áp dụng các chuẩn mực chung của luật luân lý vào từng hành vi cụ thể mà đương sự sắp làm hay vừa làm xong, cho người ấy biết phải làm gì hoặc phê phán hành vi người ấy vừa thực hiện. Như thế, lương tâm rất nặng tính trí tuệ.
Trong số các nhà thần học gần đây, có người cho rằng lương tâm không phải chỉ là một khả năng, mà là kết quả phát sinh từ sự giao thoa giữa lý trí, ý chí và toàn thể con người. Lương tâm không phải chỉ là lý trí, không phải chỉ là ý chí, không phải chỉ là tình cảm, mà còn là nơi sâu thẳm của sự sống con người, là nơi sâu xa nhất của con người, nơi con người trực tiếp hướng thẳng đến Thiên Chúa và được Thiên Chúa đỡ nâng bảo tồn
Lương tâm không phải chỉ là lý trí, vì lương tâm không phải chỉ là kẻ thừa hành các luật luân lý đã có sẵn, có nhiệm vụ duy nhất là áp dụng các luật ấy vào nhũng hoàn cảnh cụ thể. Nếu không, ai có trí khôn sắc bén nhất thì cũng sẽ có lương tâm tốt nhất ; nhưng sự thật không phải như vậy. Lương tâm cũng không thể được đồng hoá với ý chí, vì con người có thể muốn và làm nhiều điều ngược với lương tâm. Lương tâm không phải chỉ là một tình cảm, vì lương tâm làm việc với những thực tại khách quan, những nội dung và yêu cầu rất rõ ràng.
Như vậy, lương tâm là khả năng giúp con người nhận biết các nghĩa vụ luân lý của mình và thúc đẩy con người chu toàn các nghĩa vụ đó. Nó cho con người biết ơn gọi tối hậu của họ và Thánh Thần Thiên Chúa đang đòi hỏi cá nhân họ điều gì như một nghĩa vụ riêng, và nó giúp con người nhận ra những đòi hỏi ấy là những đòi hỏi có tính bó buộc hẳn hoi. Không phải chỉ những đòi hỏi của bản tính con người, mà còn là những đòi hỏi của ân sủng. Tất cả những đòi hỏi ấy và Thánh Thần Thiên Chúa sẽ được bày tỏ qua lương tâm, vì trong thế giới cụ thể nầy ở đâu con người cũng sống dưới ảnh hưởng của ơn Chúa và Thánh Thần.
Do ảnh hưởng ấy, mọi người sẽ trở nên có khả năng theo đuổi ơn gọi tối hậu, cũng là ơn gọi chung của mọi người, mà theo Vatican II đó là ơn gọi duy nhất, và mang tính thần linh, dành cho hết mọi người (MV 22).
1.1.2 Phân loại lương tâm
Lương tâm có thể là tiền kết hay hậu kết. Gọi là tiền kết khi lương tâm đưa ra lời phê phán về giá trị luân lý của một hành vi và nghĩa vụ phải làm hay phải tránh của hành vi ấy, trước khi hành vi ấy biến thành hiện thực. Lương tâm tiền kết ra lệnh, thúc giục, cho phép hay cấm đoán. Gọi là hậu kết khi lương tâm đánh giá một hành vi đã làm hay đã bỏ qua. Lương tâm hậu kết sẽ tán thành, bào chữa hay khiển trách, tố cáo.
Lương tâm có thể đúng hay sai tùy theo sự phê phán luân lý thực tiễn ấy có phù hợp hay không với các chuẩn mực luân lý khách quan. Một lương tâm sai lầm có thể do sai lầm ấy không thể khắc phục được (bất khả thắng) hoặc có thể khắc phục được (khả thắng).Lương tâm lúng túng và những phán đoán của lương tâm bối rối cũng như của lương tâm phóng túng đều là những dạng của lương tâm sai lầm.
Lương tâm có thể chắc chắn hay hồ nghi. Một lương tâm chắc chắn sẽ thông qua các phán đoán của mình mà chẳng sợ bị sai lầm. Chỉ cần không có một sự sợ hãi hợp lý nào là đủ để coi đó là sự chắc chắn về luân lý. Lương tâm hồ nghi là lương tâm không chắc chắn về giá trị luân lý của một hành vi
1.2 Kinh Thánh nói về bản chất của lương tâm
Lương tâm là một từ xuất phát từ văn minh Hy lạp nên không lạ gì khi không thấy chữ lương tâm trong Cựu Ước, trừ ở sách Khôn ngoan (17,11) Tuy nhiên, các tác giả Cựu Ước dùng các từ ngữ khác để chỉ về lương tâm như: "trí" (có lúc được dịch là "lòng dạ") và "tim" hay "tâm can".
Ngay từ đầu lịch sử cứu độ, người ta đã biết đến hiện tượng lương tâm lên án con người sau khi con người phạm tội, như trường hợp của Ađam và Eva sau khi ăn trái cây bị cấm (St 3, 7-10), của Cain sau khi giết Aben, em mình (St 4, 9-14). Cũng vậy, người ta không lạ gì hiện tượng lương tâm khen ngợi con người mỗi khi con người thi hành sự công chính. Như thế, sự phê phán của lương tâm, xét cho cùng, chính là tiếng nói của Thiên Chúa.
Trong Tân Ước, Ðức Kitô và các sách Tin mừng cũng không dùng chữ "lương tâm", dù Người cảnh giác rất mạnh mẽ tình trạng lương tâm bị mù tối: "Nếu ánh sáng nơi anh em lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào!" (Mt 6, 23). Nhưng trong các tác phẩm khác của Tân Ước, chữ lương tâm trở đi trở lại thường xuyên, Phaolô còn triển khai cả một học thuyết liên quan đến lương tâm.
Lương tâm thường được xác định như một "chứng nhân" (Rm 2, 15 ; 9, 1 ; 2Cr 1, 12). Lương tâm đi theo các hành vi của chúng ta như một phần nhân chứng không thể hối lộ được nằm ngay trong chúng ta và ta có thể nại tới để xác nhận sự thật của những gì mình nói, mình làm. Phán đoán của lương tâm không phải chỉ là những trực giác tự nhiên, nhưng là những phán đoán được đức tin soi sáng. Theo thư thứ nhất gởi cho Timôthê, các phán đoán luân lý xuất phát vừa từ lương tâm vừa từ đức tin. "Lời truyền dạy của chúng tôi nhằm đưa tới đức ái, phát xuất từ một tâm hồn trong sạch từ lương tâm ngay thẳng và từ đức tin không dối trá" (1Tm 1,5, cf 1,18t ; 3,9).
Theo Phaolô, đức tin là toàn bộ thái độ của người Kitô hữu ; nó cũng tiếp thu những phán đoán về giá trị luân lý. Người Kitô hữu không bị giằng co nơi mình như thể một bên là chế độ tự nhiên một bên là chế độ siêu nhiên. Nhưng lương tâm chỉ có một phán đoán duy nhất ; và phán đoán ấy bị chi phối bởi đức tin.
Một lương tâm được đức tin hướng dẫn sẽ nói gì, nếu không phải là kêu gọi ta hãy đặt mình hoàn toàn dưới ý muốn của Chúa, một ý muốn được diễn tả hết sức cụ thể nơi con người và sứ mạng của Chúa Kitô.
Cần lưu ý không phải hễ có xác tín trong lương tâm là mỗi người tự động sẽ thi hành điều ấy, không cần suy xét thêm. Thi hành hay không, đó là tùy tình yêu. Các Kitô hữu được phép ăn mọi thức ăn, kể cả thịt cúng, theo Phaolô thì đó là điều rất đúng. Nhưng không phải ai cũng tin như thế. Một số người vì "lương tâm yếu đuối" đã tin rằng mình cần phải kiêng một số thức ăn và phải kiêng ăn thịt đã cúng. Như thế, những người có lương tâm mạnh phải biết quan tâm đến các anh em yếu đuối hơn.
Sau cùng, lương tâm là khả năng chung của hết mọi người. Trong Rm 2, 14t Phaolô cho thấy ngài tin rằng dân ngoại là những người không có luật Môsê, nhưng mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những gì luật dạy thì họ là luật cho chính mình, mặc dầu họ không có luật Môsê. Họ cho thấy là điều gì luật đòi hỏi thì đã được khắc ghi trong lòng họ. Lương tâm họ cũng chứng thực điều đó vì họ tự phán đoán trong lòng, khi thì cho mình là trái, khi thì cho mình là phải: mỗi người đều có khả năng đưa ra những phán đoán luân lý và đều có lương tâm.
1.3 Nguồn gốc và sự phát triển của lương tâm
Kinh nghiệm và hiểu biết của Thánh Kinh cho rằng nơi con người có một tiếng nói buộc họ phải làm điều tốt mà họ biết, và tố cáo họ khi họ không chịu vâng theo tiếng gọi ấy, và cho đây là một hiện tượng phổ quát.
Nhìn từ góc độ triết học và thần học, ta phải coi cảm thức đúng hay sai nơi con người là hậu quả tất yếu của ý định Thiên Chúa đối với thế giới này và của trật tự có ý hướng nơi thế giới: thế giới không những cố gắng bảo tồn mình mà còn vận hành có mục tiêu, tới chỗ ngày càng phát triển được nhiều hơn những tiềm năng của mình và ngày càng trở nên có ý thức hơn. Trật tự và mục tiêu của thiên nhiên, cũng như kế hoạch của Thiên Chúa sẽ không thể nào thực hiện được, nếu nơi con người không có một khả năng thông báo cho con người biết vị trí của họ trong trật tự sáng tạo và vai trò mà họ có nhiệm vụ phải chu toàn trong trật tự đó. Bởi vậy, ý thức về cái đúng cái sai - gọi là lương tâm - không thể được coi như sản phẩm do hoàn cảnh chung quanh của con người tạo ra như Nietzsche và Freud đã nghĩ. Nó bắt nguồn từ một trật tự của thế giới có mục tiêu hẳn hoi và bắt nguồn từ Thiên Chúa - Ðấng đã muốn con người trở thành cộng sự viên đắc lực của Ngài.
Nếu các quy luật này nhằm để bảo tồn và phát triển cộng đồng, ta sẽ thấy giá trị của chúng nhiều hơn khi biết rõ các quy luật ấy nhắm tới loại tăng trưởng và tiến bộ nào. Câu trả lời cuối cùng sẽ là: ta biết được điều ấy là do lương tâm. Chỉ cần có lương tâm, là mọi người có đủ trực giác cần thiết để thấy được các mục tiêu của thiên nhiên và kế hoạch của Thiên Chúa đối với thế giới.
1.4 Phát triển và đào tạo lương tâm
Cần phải phân biệt lương tâm còn đang phát triển vào thời thơ ấu (đó là một lương tâm độc đoán hay là "lương tâm phải làm") với lương tâm đã trưởng thành, có thể nói là "lương tâm nên làm". Ðể tiến tới tuổi trưởng thành, lương tâm độc đoán với những điều buộc phải làm của trẻ con cần phải phát triển thành lương tâm cá nhân với những điều khuyên nên làm của người lớn.
Như vậy, giai đoạn đầu của lương tâm được hình thành là do việc nội tâm hóa các quy luật và lý tưởng của cha mẹ và của xã hội. Bao lâu các quy luật này hợp với bản tính thật của đứa trẻ, chúng sẽ góp phần tạo nên lương tâm đích thật cho đứa trẻ. Nhưng nếu các quy luật ấy bỏ qua bản tính thật của đứa trẻ, thì có thể tạo ra những loại "siêu ngã" và "ngôi vị" cưỡng ép và ức chế nhân cách thật của đứa trẻ.
Khi đứa trẻ lớn lên và tiến tới tuổi trưởng thành, "lương tâm phải làm" cần nhường chỗ cho "lương tâm nên làm". "Lương tâm nên làm" là lương tâm không còn được nâng đỡ chủ yếu nhờ sợ hình phạt và vì muốn bắt chước một cách hời hợt bên ngoài. Nhưng đúng hơn, đó là lương tâm xuất phát từ sự xác tín về giá trị nội tại của các đòi hỏi luân lý từ luật nội tại của bản tính con người và từ tiếng gọi của Chúa được diễn tả trong chính trung tâm điểm của con người, tức là trong chính cái ngã đích thật của con người.
Xét cho cùng, không hề có sự đối chọi giữa lương tâm trưởng thành và những "điều phải làm" của luật luân lý. Bởi vì mục đích của luật chẳng qua chỉ là diễn tả và làm sáng tỏ những gì con người cần trở thành theo đúng khả năng của mình và theo tiếng gọi của Thiên Chúa. Một lương tâm trưởng thành về mặt thiêng liêng đúng theo lý tưởng là một lương tâm có tình yêu mạnh đủ để làm la bàn chỉ phương hướng chắc chắn, đến nỗi đương sự không còn cảm thấy cần có sự cưỡng chế từ các luật bên ngoài nữa.
Nhưng với những người vẫn còn một lương tâm độc đoán chưa đạt tới mức trưởng thành thì khác. Phản ứng luân lý của họ, ai cũng thấy là bị cưỡng bách, đúng theo nguyên tắc nhưng thiếu nhiệt tình ấm áp. Họ vẫn cảm thấy những đòi hỏi của lương tâm như một mớ luật lệ xa lạ, nằm bên ngoài, thậm chí đi ngược với bản ngã nội tâm, đích thật của họ. Những người này không hẳn là đã có kinh nghiệm lương tâm như một cái gì xa lạ, vì từ thời thơ ấu họ đã tiếp thu và nội tâm hóa các đòi hỏi luân lý của môi trường xã hội chung quanh. Nhưng xét cho cùng, họ đã không sống theo đáy lòng họ mà chỉ làm những gì người khác trông đợi nơi họ.
Trưởng thành thật sự là khiêm tốn nhận ra những gì nơi mình còn ấu trĩ và vóc dáng tâm linh của ta còn xa vóc dáng trưởng thành viên mãn của Ðúc Kitô như thế nào. Ðương sự lúc đó sẽ sẵn sàng và hết lòng tri ân đón nhận những gì luật pháp cung cấp, giúp sửa chữa những quan điểm riêng và che chở họ khỏi ảnh hưởng tiêu cực của các xu hướng, các thành kiến. Ðón nhận luật lệ như thế không phải là tùng phục một cách ấu trĩ vì sợ và vì bị áp lực bên ngoài, nhưng là chấp nhận vì đã nhìn ra những giới hạn của mình cũng như vì đã ý thức rằng luật lệ là kết quả của nhiều thế hệ kinh nghiệm và làm việc chung với nhau. Tuy nhiên, sẽ có lúc đương sự thấy rằng mình đã có khả năng dựa vào lương tâm của mình, để đáp lại tiếng gọi và lời mời riêng của Chúa thì giữ đúng luật thôi không còn đủ nữa.
2. SỨC RÀNG BUỘC CỦA LƯƠNG TÂM
2.1 Lương tâm chắc chắn
- Phải luôn luôn nghe theo lương tâm chắc chắn khi nó ra lệnh hay cấm đoán. Còn khi nó cho phép làm điều gì, ta cũng luôn luôn có thể nghe theo.
- Sự chắc chắn mà lương tâm phải có trong các phán đoán của mình không cần là sự chắc chắn luân lý theo nghĩa chặt, mà chỉ cần là sự chắc chắn luân lý theo nghĩa rộng.
Nói chắc chắn luân lý theo nghĩa chặt là nói đến một sự chắc chắn không hề pha chút ngại ngùng rằng có thể sai lầm. Còn trong sự chắc chắn theo nghĩa rộng, vẫn có một chút (không dáng kể) e ngại là sai lầm, nhưng khả năng sai lầm này rất ít xảy ra. Người ta cũng gọi sự chắc chắn luân lý theo nghĩa rộng là một sự cái nhiên ở mức rất cao hay là sự "chắc chắn có thận trọng".
Chỉ có một số trường hợp là đòi phải có sự chắc chắn luân lý theo nghĩa chặt, như khi một giá trị quá lớn đến nỗi không được phép để bị thiệt hại do một chút xíu liều lĩnh.
- Ta cũng nghe theo một lương tâm sai lầm không tránh được (sai lầm bất khả thắng) y như nghe theo một lương tâm chắc chắn là đúng.
Lý do nội tại biện minh cho quan điểm này là lương tâm chắc chắn luôn đề ra một việc làm, một nghĩa vụ luân lý hay ý Chúa cho một người, dù điều ấy có thể đúng hay sai. Không nghe theo một phán đoán của lương tâm dù sai lầm nhưng chắc chắn là đã không nghe một điều được cho là nghĩa vụ luân lý và ý muốn của Chúa dành cho mình và bởi đó có tội.
Về điều này chúng ta thử xem lời giải thích của ĐGH Gioan Phaolo 2: “Dầu thế nào đi nữa, phẩm giá của lương tâm vẫn luôn luôn bắt nguồn từ chân lý: trong trường hợp lương tâm ngay thẳng, chân lý là chân lý khách quan được con người tiếp nhận còn trong trường hợp lương tâm sai lầm, chúng ta có cái mà do sai lầm con người cho là đúng là thật một cách chủ quan. Ðiều không bao giờ có thể chấp nhận, đó là lẫn lộn sai lầm "chủ quan" về điều thiện luân lý với chân ý "khách quan", là chân lý được đề nghị một cách hợp lý cho con người nhân danh cùng đích của con người, đó còn là nhận định rằng giá trị luân lý của một hành vi đã làm với lương tâm chân thật và ngay thẳng thì cũng ngang bằng với giá trị của một hành vi đã làm dựa theo phán quyết của một lương tâm sai lạc. Ðiều dữ đã phạm do nguyên nhân là một sự vô tri bất khả kháng hoặc là một sai lầm vô tội về phán quyết thì có thể không quy trách cho người vi phạm; thế nhưng, ngay cả trong trường hợp ấy, điều dữ vẫn cứ là điều dữ không kém, vẫn cứ là một sự xáo trộn đối với chân lý về điều thiện. Ngoài ra, điều thiện mà không được nhận thức thì không góp phần vào sự tiến bộ luân lý của con người thực thi điều thiện ấy: nó không mang lại cho con người một sự trọn hảo.” (Veritatis Splendor no 63)
Chính vì lương tâm có khả năng đưa ra những phán đoán sai lầm nên con người cần cẩn thận hơn trong các quyết định của mình và cần cởi mở lắng nghe sự góp ý của người khác. Tuy nhiên sau khi đã cố gắng hết sức để đi tới một quyết định đúng đắn, người ta có quyền và có bổn phận phải nghe theo tiếng lương tâm ấy, cả khi lương tâm ấy không biết và không có cách nào khắc phục. Bởi vậy, không loại trừ khả năng đôi khi xã hội cần phải can thiệp vào một hành vi xuất phát từ một lương tâm sai lầm nhằm ngăn ngừa những hậu quả tai hại.
Ðối với lương tâm sai lầm của người khác, chúng ta phải tôn trọng những xác tín chân thành của họ. Tuy nhiên, nếu sai lầm ấy có hại về một mặt nào đó, như trong hầu hết các trường hợp, thì chắc chắn tìm cách để loại trừ sai lầm ấy đi là một bổn phận của bác ái.
Nên lưu ý những điều bất khả dĩ (không thể tránh được) sẽ không là tội, dù đương sự có ngộ nhận đó là tội. Chẳng hạn một tù nhân không thể đi dự lễ Chúa nhật sẽ không có tội, dù đương sự nghĩ rằng mình đã phạm tội nặng.
2.2 Lương tâm phóng khoáng và sai lầm có thể khắc phục
Gọi là lương tâm sai lầm có thể khắc phục được, khi con người nhận ra rằng cái nhìn luân lý của mình lúc này không hoàn toàn lành mạnh hay khi con người ý thức mình đang cẩu thả và vô trách nhiệm trong các quyết định của bản thân. Do đó, không được nghe theo lương tâm sai lầm có thể khắc phục được như nghe theo một quy luật hành động hợp pháp. Ngược lại, nếu có lương tâm sai lầm mà có thể khắc phục được thì trước khi hành động, ta cần phải loại đi tình trạng hồ nghi ấy trước tiên, bằng cách tìm cho ra sự thật. Nếu tạm thời lúc này không thể làm điều ấy thì phải hoãn hành động, hoặc phải theo hướng hành động nào an toàn hơn.
Lương tâm phóng khoáng là lương tâm có xu hướng phê phán một việc tội là việc hợp pháp hay một tội nặng là tội nhẹ, dựa trên những cơ sở không đầy đủ. Ngược với lương tâm phóng khoáng là lương tâm tinh tế hay lương tâm bén nhạy, có đặc điểm là nhận định điều tốt một cách rất rõ ràng và tỉnh táo.
2.3 Lương tâm bối rối
Lương tâm bối rối là một loại lương tâm sai lầm, khi đứng trước hai điều phải làm nhưng chỉ làm được một, đâm ra sợ mình phạm tội dù chọn bên này hay bên kia. Trong những tình huống ấy, nếu có thể thì trước hết người ta phải hoãn quyết định lại để thu thập thông tin cho đầy đủ và có thì giờ suy nghĩ về những điều ấy. Ở đây không có vấn đề tội một cách danh chính ngôn thuận vì đương sự không thể tránh được cả hai sự việc đặt ra cho tình huống khó khăn ấy. Hoàn cảnh bất khả kháng và tình trạng thiếu tự do miễn cho ta khỏi bị kết tội.
Ta xếp lương tâm bối rối vào số các lương tâm sai lầm, vì khách quan mà nói, chỉ có một trong hai bổn phận xung đột ấy là bó buộc. Nếu con người bị đặt đứng trước hai bổn phận ràng buộc như nhau mà chỉ có thể thi hành một trong hai, thì đó là điều mâu thuẫn với sự công bình và khôn ngoan của Thiên Chúa.
2.3.1 Phân loại
Có ba loại lương tâm bối rối:
- Bối rối do những cơn khủng hoảng tạm thời
Trong đời chúng ta, cũng có một vài thời kỳ hay một vài biến cố quan trọng có thể gây ra sự bất an tạm thời trong cảm xúc và những nỗi lo sợ thái quá của lương tâm. Những cơn khủng hoảng tạm thời này có thể được coi là những thời kỳ hoán cải và đào sâu tâm linh, buộc chúng ta phải đánh giá lại những quan hệ của mình với Chúa, với thụ tạo, và đào sâu trách nhiệm cũng như đời sống tâm linh của mình. Khi đối diện với những khủng hoảng ấy, tâm hồn có thể bị chao đảo, và cảm giác ngây thơ trước đây về sự an toàn tâm linh nay bỗng dưng không còn. Tình trạng bối rối này chỉ kéo dài một thời gian và dần sẽ tan biến đi khi ta lấy lại hướng cho cuộc đời và đào sâu lại ý thức của mình.
- Bối rối để bù trừ
Ðây là sự bất an của lương tâm, che đậy một sự thật căn bản là ta đang thiếu quảng đại trong đời sống tâm linh. Người ta cố ý quan tâm quá đáng tới những chi tiết luân lý nhỏ nhặt, vô tội để tránh khỏi miễn cưỡng sống cho đúng với sự thật của mình.
Ðể chữa trị loại bối rối này, cần phải làm cho đương sự ý thức về tình trạng thiếu quảng đại sâu xa của họ, bằng cách tạo điều kiện cho họ được trò chuyện chân thành, kiên nhẫn và được thông cảm với một linh mục hay một nhà đồng hành thiêng liêng nào đó. Ðương sự phải ý thức rằng sự bất an của họ chính là lời mời gọi họ hãy thay đổi tâm hồn thật tình và hãy đáp lại tiếng gọi của ơn sủng một cách trung thành hơn.
- Bối rối liên tục và day dứt
Ðây là một căn bệnh tâm lý, hệ tại ở chỗ sự phát triển tâm lý của đương sự bị xáo trộn và cản trở chỉ vì không có khả năng hội nhập một số xung lực căn bản và các giá trị của cuộc sống vào trong các cơ cấu nhân cách của mình. Tiến trình hội nhập ấy bị cản trở do những tác nhân vô thức đã hình thành khi ta còn thơ ấu, và những sự bối rối chính là những triệu chứng bên ngoài của tình trạng què quặt và bệnh hoạn tâm lý ấy.
Loại bối rối này cũng mang nhiều hình thức khác nhau. Có khi đó là nỗi âu lo chung chung của đương sự, rằng có thể mình sẽ phạm tội hay đã thật sự phạm tội trong mọi việc mình làm. Cũng có khi đương sự chỉ âu lo trong một số lãnh vực (như trong các vấn đề liên quan đến đức tin, đức khiết tịnh, trách nhiệm đối với người khác, những việc đạo bên ngoài như cầu nguyện, ăn chay và kiêng thịt). Theo các nhà tâm lý, nguyên đo của căn bệnh này chủ yếu là vì đương sự đã nhận được một nền giáo dục tâm linh và luân lý không ổn, phiến diện nay quá khắt khe (ở đây, giáo huấn tu đức và luân lý quá khắt khe của các Hội thánh và các tôn giáo cũng đóng một vai trò nào đó).
Cuối cùng, sự cứng đầu thường thường cũng là một phần gây ra tính bối rối. Nói thế có lẽ là vì hối nhân thường có ấn tượng rằng lời khuyên của các nhà cố vấn không có ích gì cho họ.
2.3.2 Một vài lời khuyên
Tốt nhất là người mắc bệnh này nên tới gặp một nhà tâm lý trị liệu. Bệnh càng nặng, càng cần tham khảo ý kiến của chuyên viên tâm lý trị liệu. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể tìm được sự giúp đỡ của các chuyên viên ấy. Những lúc đó, linh mục có thể giúp đỡ bệnh nhân bằng cách thử dùng các phương pháp cổ truyền với một vài thay đổi và điều chỉnh.
Các thủ bản truyền thống yêu cầu người bối rối phải vâng lời tuyệt đối vị linh hướng của mình. Vâng lời được coi là điều kiện tối cần để việc hướng dẫn được thành công và là cơ may duy nhất để bệnh nhân được hồi phục.
Sau đây là một vài nguyên tắc chung để hướng dẫn người bối rối:
- Người bối rối có thể làm bất cứ điều gì anh ta thấy những người đáng kính làm, dù điều ấy đi ngược lại với những xác tín của anh.
- Không bao giờ được cắt đứt công việc họ đã bắt đầu khi chưa có bằng chứng đó là tội, chỉ vì nghi ngờ sự thanh liêm của họ chẳng hạn.
- Người bối rối không được xét mình về những hành vi họ đã làm dù đã cảm thấy có lo ngại.
- Người bối rối không được làm lại những việc mà mình không biết là đã làm tốt hay chưa
- Vì những khó khăn đáng kể mà người bối rối thường gặp, nên họ được miễn thi hành nhiều luật thiết định như giữ chay Thánh Thể, đọc kinh phụng vụ, xưng tội đầy đủ hay sửa sai huynh đệ
- Vị đồng hành phải đưa ra những nguyên tắc đó một cách chắc chắn, không được do dự về giá trị của chúng chẳng hạn.
- Người bối rối không nên bàn luận những khó khăn của mình với những linh mục khác hay bất cứ người nào khác.
Người bối rối nên bước ra khỏi mình bằng cách bắt tay vào một việc phục vụ Nước Chúa hay nhu cầu của đồng loại, trong đời sống văn hóa và xã hội.
- Người ấy phải cố gắng lắng nghe tiếng gọi trong nội tâm của mình và lời mời gọi của Chúa Thánh Thần, cố gắng vươn tới mức sẵn sàng đáp trả và lãnh nhận trách nhiệm thật sự.
2.4 Lương tâm hồ nghi
Lương tâm hồ nghi là lương tâm đang ở trong tình trạng không chắc hành vi này hành vi nọ có hợp pháp và có buộc phải làm hay không.
Có thể hồ nghi một luật và một nguyên tắc luân lý có hay không ("hồ nghi về luật": "dubium iuris"), hay hồ nghi một sự kiện có hay không ("hồ nghi về sự kiện": "dubium facti").
Người ta còn phân biệt hồ nghi trên lý thuyết và hồ nghi trong thực tế. Loại thứ nhất có liên quan đến sự thật của một quan điểm đạo đức học trên bình diện lý thuyết. Loại thứ hai có liên quan đến tính hợp pháp của một hành vi cụ thể phải làm ngay lúc này, ở đây.
Các tiêu chuẩn để hành động khi có lương tâm hồ nghi:
Nguyên tắc căn bản là: khi có sự hồ nghi thực tiễn về tính hợp pháp của một hành vi cụ thể thì không bao giờ nên hành động.
Chẳng hạn khi đi săn mà hồ nghi không biết mục tiêu mình đang nhắm kia là một con vật hay một người thì nếu hạ sát là đã có tội giết người, dù về sau khám phá ra đó chỉ là một con vật. Phải hoãn hành động lại cho đến khi có được sự chắc chắn. Sự chắc chắn thực tiễn này có thể có được một cách trực tiếp nhờ đã hết nghi ngờ sau khi suy nghĩ vụ việc ấy dựa vào những nguyên tắc chung, sau khi tham khảo các nhà chuyên môn và các sách vở liên hệ.
3. ÐÀO TẠO LƯƠNG TÂM
3.1 Nguyên tắc hồi cố
Các nguyên tắc hồi cố là những nguyên tắc khôn ngoan nhằm giúp cho ta hết nghi ngờ về sự có mặt của một luật. Các nguyên tắc hồi cố sẽ xác định chi tiết hơn khi nghi ngờ ta phải đứng về bên nào. Ðó là các nguyên tắc:
1. Khi nghi ngờ, ai sở hữu thì có lợi thế hơn.
2. Khi nghi ngờ, thì phải ưu tiên cho bên bị cáo, hay không phải giả định là đủ mà còn phải chứng minh nữa thì mới kết luận được là có tội.
3. Khi nghi ngờ, phía bề trên sẽ được giả định là đúng nhiều hơn.
4. Khi nghi ngờ, thì phải cho là hành vi đã có hiệu lực
5. Khi nghi ngờ, thì được quyền giải thích rộng điều có lợi và cắt nghĩa hẹp điều bất lợi.
6. Khi nghi ngờ, thì điều gì thông thường và hay có sẽ được ưu tiên hơn
7. Khi nghi ngờ, thì phải ưu tiên hơn cho những gì thường xảy ra theo thói quen và bởi đó thường được chấp nhận.
8. Luật bị nghi ngờ thì không ràng buộc ("lex dubia non obligat"), nghĩa là phải giả định ta được tự do với luật ấy.
3.2 Các quy luật ưu tiên
Một phương thế khác hỗ trợ ta trong những tình huống xung đột là áp dụng các quy luật ưu tiên. Một quy luật hết sức căn bản, cũng là tiền đề cho nhiều quy luật khác, là nguyên tắc: phải ưu tiên cho các giá trị có tầm quan trọng căn bản hơn những giá trị có tầm quan trọng ít hơn. Thứ tự ưu tiên của các giá trị được quyết định theo cứu cánh của đời người. Những giá trị nào quan trọng hơn cho việc thực hiện cứu cánh ấy sẽ phải được ưu tiên. Thứ tự các giá trị theo quan điểm của Kitô giáo là lấy vinh quang và Nước Chúa làm giá trị tối thượng.
Có một số quy luật ưu tiên cụ thể như sau:
- Các thiện ích nhất thời của một người phải được đặt dưới thiện ích chung của người ấy, các thiện ích của cá nhân phải được đặt dưới các thiện ích của tập thể hay cộng đồng xét chung, các thiện ích của những cộng đồng nhỏ phải được đặt dưới các thiện ích tương ứng của các cộng đồng lớn hơn.
- Hễ là người duy nhất thích hợp cho một công việc cần phải được thực hiện hay rất nên được thực hiện, thì cũng là người duy nhất có bổn phận thi hành công việc đó.
- Một việc hay một hoàn cảnh đem lại nhiều khả năng thành công hơn phải được ưu tiên hơn một việc hay một hoàn cảnh ít có cơ may thành công. Dĩ nhiên, ở đây phải giả thiết là các việc đó không phải là những việc có vấn đề về mặt luân lý.
- Một giá trị lâm nguy mà muốn bảo vệ cần phải có hành động ngay sẽ được ưu tiên hơn là một giá trị cũng bị lâm nguy nhưng sau này vẫn cứu kịp.
- Xoa dịu một nhu cầu chắc chắn phải được ưu tiên hơn là xoa dịu một nhu cầu chỉ mới dự đoán.
- Thà không xâm phạm các giá trị hiện có còn hơn là tạo ra những giá trị mới. Bảo vệ một sinh mạng đang có thì cấp bách hơn là sinh ra thêm một sự sống mới. Tuy nhiên, những giá trị thấp hơn đôi khi có thể bị hy sinh để nhường chỗ cho những giá trị cao hơn. Nếu đó là cách duy nhất để thực hiện những giá trị cao này.
4. TỰ DO VÀ SỰ RÀNG BUỘC LƯƠNG TÂM
4.1 Quyền được tự do lương tâm
Như đã thấy ở trên, những phán đoán chắc chắn của lương tâm chính là chuẩn mực chủ quan và gần gũi của các hành vi con người. Con người có bổn phận phải trung thành và nghe theo phán đoán ấy và không thể bất phục tùng nếu không muốn phạm tội. Nếu đã có bổn phận phải nghe theo lương tâm, thì con người cũng có quyền được hành động theo lương tâm. Nói cách khác, con người có quyền được tự do lương tâm.
Quyền được tự do lương tâm bao gồm hai yêu sách. Một là có quyền không bị cưỡng bức hành động ngược với lương tâm mình, đây là một quyền không bị hạn chế. Hai là có quyền không bị cấm cản hành động theo lương tâm mình. Quyền này có thể bị hạn chế khi va chạm với những đòi hỏi của công ích.
Sở dĩ có những sự xung đột và hòa hợp được như thế là vì một lương tâm sai lầm có thể đưa ra những phán đoán lệch lạc. Vì thế, mỗi người có nhiệm vụ nghiêm nhặt là phải kiểm tra lại các xác tín của lương tâm mình một cách nghiêm túc, và có nghĩa vụ luôn luôn tìm cách giáo dục lương tâm kỹ lưỡng hơn.
4.2 Bổn phận đào tạo lương tâm
Vì lương tâm cần được soi sáng và hướng dẫn, nên con người có trách nhiệm phải dào tạo lương tâm. Các nguồn cung cấp thông tin cho lương tâm là trật tự vũ trụ, Lời Chúa, sự hiệp thông cá nhân giữa con người với Thiên Chúa, đức tin sống động của cộng đồng Kitô hữu và những khám phá của các khoa đạo đức.
4.3 Khi lương tâm xung đột với thẩm quyền
Lương tâm xung đột với thẩm quyền là một vấn đề đã có từ xưa. Gần đây, vấn đề này lại bùng lên trong Hội thánh Công Giáo khi có cuộc tranh luận về các phương pháp nhân tạo để kiểm soát sinh sản.
Trong một số trường hợp, giới thẩm quyền có thể không đưa ra được một quyết định khôn ngoan và công bình nhất. Nhưng cá nhân cũng không thể cho rằng mình luôn luôn không sai lầm trong các phán đoán của lương tâm. Vì cả hai bên đều có giới hạn trong việc tìm đượïc một sự chắc chắn, nên hai bên sẽ cẩn thận hơn trong các lời khẳng định và phi bác của mình. Tuy nhiên, phía được giả định nhiều hơn vẫn là phía thẩm quyền.
Nếu thấy lương tâm mình đi ngược lại ý kiến chung của các nhà chuyên môn, thì cá nhân phải rất cẩn thận, bằng không có thể phạm tội vì đã hành động vô trách nhiệm và cố chấp chỉ khi nào tìm được sự chắc chắn có cơ sở hẳn hoi để bênh vực phía ngược lại, ta mới có thể đảo ngược sự giả thiết - và mới được phép quyết định khác.
Nếu một cá nhân rút ra được kết luận chắc chắn rằng xác tín của mình là đúng, dù đi ngược với ý kiến chung, người ấy có thể không cần phải tuân theo những mệnh lệnh hay những nguyên tắc ngược với lương tâm mình.
Các thẩm quyền không phải là không thể sai lầm. Ngay cả khi có ý hướng tốt lành nhất, họ vẫn có thể lầm lẫn. Tuy nhiên, nguy hiểm ngược lại còn dễ xảy ra nhiều hơn nữa, hay nói cách khác, người ta dễ lạm dụng sự tự do lương tâm để biện minh cho việc bất tùng phục các thẩm quyền hợp pháp.
(Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau)

