
Thần học luân lý là một phần trong thần học, dùng đức tin Kitô giáo và lý trí tìm hiểu đường hướng con người cần phải theo để đạt tới mục tiêu cuối cùng. Thần học luân lý mang tính Kitô giáo là vì các chuẩn mực đề ra được rút ra từ Kinh Thánh, nhất là từ nơi lời dạy Ðức Giêsu Kitô.
Thần học luân lý có liên hệ với môn đạo đức triết học, hay triết học luân lý là những môn học tìm cách thiết lập những nguyên tắc và quy luật hướng dẫn đời sống luân lý của con người nhưng hoàn toàn dựa vào lý trí và không căn cứ trên mặc khải của Thiên Chúa.
Thần học luân lý dựa trên hai tiền đề: ý muốn tự do và khả năng chịu trách nhiệm. Tuy không phủ nhận rằng các hành vi con người có thể chịu ảnh hưởng của sức mạnh thể lý hay tâm lý nhưng con người thấy mình có thể sáng tạo, có thể lựa chọn và có khả năng tự quyết nghĩa là có tự do.
Tiền đề thứ hai là con người có khả năng chịu trách nhiệm trước một giá trị hay một thẩm quyền tối cao, thẩm quyền này có thể đòi con người phải vâng phục vô điều kiện. Khả năng chịu trách nhiệm này chính là cái làm cho những đòi hỏi luân lý trở nên có tính cách tuyệt đối. Luân lý Kitô giáo cho rằng thẩm quyền này là Thiên Chúa.
Về mặt phương pháp, thần học luân lý luôn luôn chấp nhận chủ trương đa nguyên trong phương pháp. Vì thế, thần học luân lý thường theo bốn hình thức sau đây:
* Trước hết, tìm hiểu các giáo huấn luân lý trong Kinh Thánh.
* Thứ đến, xem xét quá trình phát triển của một chuẩn mực luân lý trong lịch sử, nhất là trong lịch sử Kitô giáo.
* Tiếp theo, tìm hiểu giáo huấn chính thức của thẩm quyền Hội thánh và việc thực hành trong Hội thánh: qua các Công Đồng và các lời dạy của các Ðức Giáo Hoàng, các Hội Đồng Giám Mục của các quốc gia. Suy tư của các nhà thần học luân lý, những bất đồng và đồng ý của họ cũng đáng cho chúng ta chú ý.
* Cuối cùng, sử dụng lý trí dựa trên hai nền tảng: hữu thể và cánh chung. Hữu thể để tìm hiểu bản tính hiện sinh của con người và của thế giới chung quanh. Cánh chung cho ta biết về mục tiêu mà con người phải đạt tới, mẫu người cần trở thành và việc cần phải làm.
Thần học luân lý được chia thành: luân lý cơ bản và luân lý chuyên biệt.
Thần học luân lý cơ bản cứu xét những điều kiện và đặc tính tổng quát của hành vi con người. Còn thần học luân lý chuyên biệt nhấn mạnh đến hành vi của con người trong những tình huống khác nhau của cuộc sống.
Bài 1: THÁNH KINH: NỀN TẢNG LUÂN LÝ KITÔ GIÁO
Ðức Kitô và Thánh Kinh đưa ra những nguyên tắc cơ bản làm cho đời sống luân lý của người Kitô hữu có một nét riêng biệt.
Cựu Ước nhấn mạnh rằng đời sống luân lý hoàn toàn lệ thuộc Thiên Chúa. Ngài đã mặc khải ý muốn của mình, Ngài ban cho dân Israel Mười Lời qua Giao ước Xinai. Thiên Chúa là Ðấng thánh thiện. Chính vì thế, Thiên Chúa muốn dân Chúa chọn sống tốt lành và thánh thiện.
Ðồng thời, luật của Israel cũng được rút từ trong đời sống xã hội. Người ta tìm thấy trong luật Do Thái có các định chế quen thuộc vào thời ấy như tục nô lệ và chế độ đa thê nơi các dân sống chung quanh.
1.1 Vai trò của Giao ước
Luân lý Cựu Ước được chứa đựng trong Mười Lời (Thập giới) và luật Môsê. Israel phải thi hành các luật ấy vì đó là cam kết cũng như nghĩa vụ của họ trong giao ước giữa họ với Thiên Chúa. Trung thành giữ luật ấy là điều kiện để lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện.
Ðể giữ luật, thái độ trước tiên là vâng phục: "Mọi điều Ðức Chúa phán bảo, chúng tôi xin làm theo" (Xh 19,8). Thái độ vâng phục liên kết với thái độ tin tưởng. Tin là lập một quan hệ toàn diện với Thiên Chúa, và trong quan hệ đó có cả sự vâng phục. Vâng phục Thiên Chúa giao ước đã trở thành một lời tuyên xưng đức tin trong thực tế. Thái độ thứ hai là kính sợ Thiên Chúa. "Thiên Chúa đến là để thử thách anh em và làm cho anh em luôn kính sợ Người, ngõ hầu anh em đừng phạm tội" (Xh 20,20). Thái độ thứ ba là yêu mến Thiên Chúa. Sách Ðệ Nhị Luật lại lấy việc yêu mến Thiên Chúa làm động cơ để họ vâng lời làm theo luật pháp Ngài.
1.2 Ý thức về cộng đoàn
Về đời sống xã hội, Cựu Ước đưa ra một giáo huấn luân lý nghiêng về chiều kích cộng đoàn. Vì thế, trong cộng đoàn Israel, mọi người phải giúp đỡ nhau với hết khả năng của mình và phải sống trung thành, ngay thẳng, công chính. Không có những điều đó, cộng đoàn Israel không thể tồn tại.
Người ta còn thấy có những luật để bảo vệ những người thiếu may mắn, thí dụ như: các cô nhi quả phụ, người nghèo, người tàn tật, con cháu nhà Lêvi, đầy tớ làm công và ngoại kiều. Ngoài ra, giáo huấn Cựu Ước còn nhắc đến trách nhiệm xã hội và quan tâm đến sự thăng trầm của cộng đoàn. Mỗi người phải sống cho cộng đoàn.
1.3 Những giới hạn của luân lý Cựu Ước
So với các dân chung quanh, luân lý Cựu Ước đặt toàn bộ luật pháp và tất cả mọi lãnh vực trong đời sống con người dưới sự điều khiển tuyệt đối của Thiên Chúa. Ðồng thời quan niệm độc thần cũng giúp đưa đến một nguyên tắc thống nhất tuyệt đối: chỉ có một vị thẩm phán trên toàn địa cầu và một lề luật cho tất cả mọi người.
Một nét khác là luật quan tâm sâu sắc đến con người. Sự sống con người được nhìn nhận là có giá trị vượt trên mọi của cải vật chất. Thái độ tôn trọng con người còn được biểu lộ qua sự kiện là không hề thấy có sự tàn bạo trong các hình phạt đối với phạm nhân.
Tuy nhiên, luân lý Cựu Ước cũng có những giới hạn của nó.
Giới hạn trước tiên là tuy nhận biết rằng thân thiện với Thiên Chúa thúc đẩy người ta sống tốt đẹp nhưng hy vọng được các phúc lộc trần gian vẫn còn là ao ước khá lớn đối với họ. Giới hạn tiếp theo là giới hạn tình huynh đệ và sự quan tâm trong cộng đồng Do Thái. Trong và sau thời kỳ lưu đày, các tiên tri đã bắt đầu phá vỡ hàng rào của một chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi. Họ nhìn tới một trật tự mới, trong đó dưới sự lãnh đạo của vị Messia, mọi dân sẽ tiến về nhà Chúa và được coi là dân Người. Giới hạn sau cùng là cách trình bày và thi hành luật nặng tinh thần vụ luật. Người Do Thái rất kính trọng luật Tôra, coi đó như là một bộ luật duy nhất hoàn hảo. Vì hoàn hảo nên không cần và cũng không chấp nhận được sửa chữa hay thay đổi.
Ðức Kitô biết rõ những giới hạn đó. Vì thế, hầu hết các cuộc tranh luận của Ngài với nhóm Biệt phái và Luật sĩ đều xoay quanh việc thực hành lề luật một cách hẹp hòi, vụ luật, đồng thời coi nhẹ các vấn đề quan trọng như đức tin, lòng thương xót và tình yêu. Chúa Giêsu đến thực hiện những gì mà luật cũ không thể thực hiện được.
2. GIÁO HUẤN LUÂN LÝ CỦA ÐỨC KITÔ THEO PHÚC ÂM
Ðức Kitô được Tân Ước trình bày như: "Giao ước mới". Ðiều này cho thấy Tân Ước đã tiếp tục và làm sống lại đề tài giao ước của Cựu Ước. Thiên Chúa được coi như nguồn gốc và động cơ tạo ra sự ràng buộc của luân lý.
Theo các Phúc Âm nhất lãm, Chúa Giêsu đã vượt qua những giới hạn của đạo Do Thái, Ngài đã phá vỡ hàng rào quốc gia quá khích và đặt nền móng cho một tôn giáo có tính phổ quát, cũng như tạo điều kiện cho con người được tự do sống đức tin triệt để và gắn bó với Thiên Chúa.
2.1 Nền tảng của những đòi hỏi luân lý
Thánh Máccô mở đầu Tin Mừng bằng câu tóm tắt lời giảng của Ðức Giêsu: "Thời gian đã mãn, Nước Chúa gần đến ; hãy ăn năn và tin vào Tin mừng" (Mc l,15). Câu đó nêu được ba chủ đề của giáo huấn Ðức Kitô: Nước Chúa, sự ăn năn và lòng tin.
Nước Thiên Chúa: các tiên tri trong Cựu Ước đã hứa hẹn một thời đại cứu độ, khi đó mọi dân tộc đều hiệp nhất với nhau trong việc thờ phượng Thiên Chúa duy nhất, chân thật. Theo lời Ðức Giêsu, thời điểm để thực hiện các lời hứa ấy đã đến, cùng với sự xuất hiện của Ngài. Chính nơi bản thân Ngài, Nước Chúa đang đến gần nhân loại.
Ăn năn sám hối: muốn được nhận vào nước Chúa, con người phải từ bỏ đi vào con đường sai lầm. Muốn điều chỉnh, người ta phải biết mình đã sai lạc ở chỗ nào và đâu là những giá trị thật mà mình phải tự định hướng lại cho phù hợp. Giáo huấn luân lý của các sách Phúc Âm sẽ cung cấp chất liệu để thực hiện công việc định hướng ấy.
Tin vào Tin Mừng: Tin là mặt tích cực của hoán cải. "Hãy tin vào Tin mừng" có nghĩa là tin vào sứ điệp do Ðức Giêsu rao giảng liên quan đến Nước Chúa.
2.2 Ðặc tính của giáo huấn Ðức Giêsu
Giáo huấn luân lý của Ðức Giêsu có một nét đặc biệt vì thường thường Ngài trình bày giáo huấn ấy bằng ngôn ngữ ẩn dụ. Nhiều mệnh mệnh của Ðức Kitô không thể được đưa từ sách vở áp dụng thẳng vào hành động. Thí dụ: "Hễ ai xin thì cứ cho". "Hãy bỏ cha mẹ, vợ con và hãy ghét mạng sống mình". "Nếu tay hay mắt ngươi làm dịp tội cho ngươi, hãy chặt, hãy móc và quăng đi". "Chớ lo phải ăn gì, uống gì. Ngày mai hãy để ngày mai lo", "Chớ mời bạn bè hay anh em, mà hãy mời người nghèo, người què, người mù". Những lời này là những lời thách đố, thách đố ta thực thi một lòng quảng đại vô biên. Chúng không cho phép ta nuôi dưỡng một sự tự mãn nào. Các giới luật của Ðức Kitô đặt ta vào trong tình trạng luôn luôn cần được tha thứ, cần được hoán cải.
Tóm lại, sứ điệp cứu độ của Ðức Giêsu không chỉ bao gồm một yêu cầu rất phổ quát là vâng phục Thiên Chúa cách trọn vẹn, mà còn nêu ra những việc làm và những mệnh lệnh rõ rệt để tỏ bày một cách cụ thể, trông thấy được lòng vâng phục ấy.
2.3 Giới luật yêu thương
Khi trả lời câu hỏi: giới răn nào được Ngài coi là quan trọng nhất? Ðức Giêsu tuyên bố đó là giới răn yêu thương Thiên Chúa và yêu thương con người. Chính vì thế, đây phải luôn luôn là đặc điểm nổi bật của luân lý Kitô giáo (Mt 22,37-40 ss).
Tình yêu đối với người chung quanh sẽ đem lại cho tình yêu Thiên Chúa một nội dung cụ thể, vừa với tầm tay của mọi người. Nhưng tình yêu đối với người chung quanh cần đến tình yêu Thiên Chúa và lòng mến Nước Chúa làm hướng đi và chuẩn mực cuối cùng, vì không có tình yêu này, tình yêu đối với người chung quanh sẽ có tính bất chợt, ngẫu hứng và không thể xác định đâu là những ưu tiên cho mình.
Yêu mến người chung quanh là một bổn phận dựa trên tình yêu vô cùng tuyệt đối dành cho Thiên Chúa. Yêu mến Thiên Chúa có nghĩa là yêu thương tất cả những ai được Ngài yêu mến, gồm cả những người tội lỗi và các kẻ thù (Mt 5,43-48 ss). Bất cứ ai đang có nhu cầu đều là người thân cận của tôi, khi tôi đang có điều kiện giúp đỡ người ấy, bất luận họ thuộc quốc gia hay chủng tộc nào.
2.4 Thái độ của Ðức Giêsu đối với luật Do Thái
Ðể trả lời câu hỏi của một thanh niên giàu có: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì tốt để được sống đời đời?", Ðức Kitô liệt kê ra một phần lớn trong số mười giới răn, và như thế chứng tỏ rằng trong giáo huấn luân lý của Ngài, Thập giới vẫn còn giá trị (Mt 19,16-19).
Ðức Kitô cũng từng nói: "Ðừng tưởng Tôi đến để hủy bỏ lề luật và các sách Tiên tri: Tôi đến không phải để huỷ bỏ mà là để kiện toàn" (Mt 5,17). Ðàng khác, Ðức Giêsu chỉ trích thái độ vụ luật của các Kinh sư và các người Biệt phái, nhưng Ngài không hề công kích chính bản thân lề luật (Mt 23,23). Nói cách khác, không được coi thường lề luật, không được tuân giữ lề luật một cách hời hợt. Nếu tuân giữ lề luật mà không vì tinh thần công chính, thương xót và yêu thương thì chưa sống theo luân lý đích thực là bao nhiêu.
Tóm lại, luân lý của Ðức Giêsu là sự tiếp nối quan điểm đạo đức của Cựu Ước về thái độ tùng phục tuyệt đối của con người đối với Thiên Chúa. Ðối với Ðức Giêsu, chuẩn mực quan trọng nhất để hướng dẫn đời sống luân lý là phải thi hành ý Chúa.
(Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau)

