
ĐIỀU RĂN THỨ NĂM
Điều răn thứ năm có hình thức tiêu cực: “Ngươi không được giết người”, trích từ sách Đnl 5, 17 và Xh 20, 13. Tuy có hình thức tiêu cực nhưng lại nói lên điều tích cực: tôn trọng sự sống mà Giáo Hội luôn cổ vỏ. Vì thế vấn đề ở đây là làm thế nào để tôn trọng sự sống con người, tôn trọng quyền được sống, quyền được sống hạnh phúc ?
1.Giáo huấn của Giáo Hội về tôn trọng sự sống con người
Giáo Hội, trong Hiến chế Mục vụ (Gaudium et Spes) số 27, đã viết: “Hơn thế nữa, những gì đi ngược lại với chính sự sống như mọi thứ sát nhân, diệt chủng, phá thai, an tử, cố ý tự tử (le suicide délibéré) ; tất cả những gì xâm phạm tính toàn vẹn của con người như cắt bỏ một phần thân xác, hành hạ thân xác hoặc tinh thần, áp lực tâm lý ; tất cả những gì đối nghịch với nhân phẩm như điều kiện sống bất xứng với con người, sự giam cầm vô cớ, lưu đày, nô lệ, mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em ; cũng còn phải kể đến những điều kiện làm việc làm mất phẩm giá con người vì đã đưa người công nhân xuống hàng dụng cụ chứ không được coi như con người tự do và có trách nhiệm: tất cả những điều trên và những điều khác tương tự đều bị lên án. Những thực hành nầy làm nhiễm độc nền văn minh (nhân loại), chúng làm ô nhục những người thi hành hơn là những người phải chịu đựng và chúng cũng xúc phạm cách nặng nề vinh dự của Đấng Tạo Hóa.”
Như thế Giáo Hội kết án tất cả những hình thức xâm phạm đến sự sống của mình hay của người khác, cũng như kết án những hình thức làm cho con người không sống xứng danh một con người. Bởi vì, đối với Giáo Hội “Sự sống của con người là điều linh thánh, vì từ ban đầu sự sống này nằm trong quyền lực sáng tạo của Thiên Chúa và luôn liên kết với cứu cánh duy nhất của mình là chính Đấng Sáng Tạo. Từ khởi thủy cho đến cùng tận đời người, chỉ có Thiên Chúa là chủ sự sống: trong bất cứ hoàn cảnh nào, không ai được phép trực tiếp hủy hoại mạng sống người vô tội.” (x. ‘Donum Vitae’ intr. 5).
Thật ra, lập trường của Giáo Hội được rút ra từ Kinh thánh. Sách Giáo lý Công Giáo (số 2261) viết: “Thánh Kinh giải thích điều răn thứ năm: ‘Ngươi không được giết kẻ vô tội và người công chính.’ (Xh 23, 7). Cố ý giết một kẻ vô tội là một lỗi nặng phạm đến phẩm giá con người, phạm đến luật vàng của Đức Kitô và sự thánh thiện của Đấng Sáng Tạo. Luật cấm giết người có giá trị phổ quát, buộc mọi người và mỗi người, mọi lúc và mọi nơi.”
Thật vậy Kinh thánh cho thấy “Sự sống thân xác là một quà tặng của Thiên Chúa, và sống lâu được Kinh thánh coi là một phúc lộc của Thiên Chúa. Được sống lâu, tôi sẽ làm vui lòng Người…” (tr. 220)
Thiên Chúa ban sự sống cho con người và chính Thiên Chúa “sẽ đòi mỗi người phải đền nợ máu của người anh em mình. Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người làm đổ ra vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (St 9,5-6). Do thái giáo coi máu là dấu chỉ của sự sống (x. Lv 17,14) cấm đổ máu người khác tức là phải biết tôn trọng sự sống.
Tuy nhiên Thiên Chúa ban cho loài người sự sống không phải để họ muốn dùng thế nào tùy ý mà là để phụng sự Ngài. “Không ai trong chúng ta sống cho chính mình. Nếu chúng ta sống, chúng ta sống cho Chúa” (Rm 14, 7). Vì thế, không được coi sự sống là giá trị tối thượng, nhưng đúng hơn phải đặt nó phụng sự Chúa và tha nhân. Vì nếu quá tha thiết với cuộc sống trần gian nầy mà ta khó lòng noi gương Chúa, ta phải ‘ghét sự sống’, nghĩa là phải đặt nó vào đúng vị trí của nó. Ở mức cuối cùng, thậm chí người Kitô hữu còn có bổn phận phải sẵn sàng hy sinh cuộc sống trần gian của mình vì Đức Kitô và vì các anh em, như một hành vi tối thượng của tình yêu. ‘Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn mình’ (Ga 15, 13). (tr. 220)
2. Những hình thức bảo vệ sự sống
Bảo vệ sự sống con người cũng là bảo vệ chính con người. Thế nhưng nhận xét đầu tiên của chúng ta là đã có một thời người ta quan niệm tiêu cực về thân xác, nhất là nơi những người dâng hiến cuộc đời cho Chúa. Thực ra ‘lập trường của Kitô giáo đối với thân xác đứng giữa hai lập trường duy linh và nhị nguyên: thù nghịch với thân xác và thần thánh hóa thân xác một cách duy vật. Cả thân xác và linh hồn đều được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Thế nên khi con người sa ngã trong tội, không phải chỉ có thân xác bị tác động, mà cả xác lẫn hồn đều bị thương tổn và từ đó đều có khuynh hướng ngả theo sự xấu.’
Kiểu phân chia hồn xác nơi con người như đã nói trên cũng có thể tìm thấy trong thánh Phaolo. Khi nói về con người, ngài viết: “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo: những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa. Còn hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. Những ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê.” (Gl 6, 19-24)
Thánh Phaolo như muốn chia con người ra làm đôi. Thế nhưng thực ra theo thánh Phaolo cũng như theo người Do thái và của người Sêmita, con người luôn luôn là một đơn vị thống nhất, nhưng có thể được nhìn dưới nhiều góc cạnh khác nhau. 'Xác thịt' ám chỉ con người toàn diện nhưng là con người trong tình trạng yếu đuối, có thể bị cám dỗ và nô lệ tội lỗi.
Ngược lại, 'thần khí' là sự tham dự vào sự sống Thần khí của Thiên Chúa, là nguyên lý của một đời sống thánh thiện, có nhiệm vụ đổi mới cả hồn lẫn xác.
Từ nhận xét tiên khởi đó chúng ta thử đi vào một vài chi tiết liên hệ đến việc bảo vệ và hơn nữa làm tăng trưởng đời sống con người.
2.1 Sức khoẻ
‘Sự sống và sức khoẻ thân xác là những tài sản quí báu của Thiên Chúa giao cho con người. Bởi đó con người có bổn phận chăm sóc sức khoẻ của mình.’ (tr. 220) Sách Giáo lý Công giáo no 2288) cũng cùng nhận định trên, nhưng nhấn mạnh hơn: ‘Chúng ta có bổn phận chăm sóc chúng cách hợp lý, dù vẫn phải lưu tâm đến những nhu cầu của tha nhân và công ích.’
Chủ của mạng sống không phải là chúng ta nhưng là chính Thiên Chúa. Chúng ta được sinh ra và lớn lên mà không cần được sự tham khảo ý kiến. Mạng sống và thân xác không lệ thuộc vào con người nhưng kết hợp với linh hồn để làm nên con người. Vì thế con người có trách nhiệm làm cho chính mình cũng như cho người khác trở nên hoàn thiện hơn nghĩa là cả xác và hồn, cả con người toàn diện được thăng tiến hơn theo hướng mà Thiên Chúa đã định.
Sức khoẻ trước tiên là không bệnh, vì thế cần phải sống điều độ, vệ sinh. Sức khỏe còn đòi có một tinh thần lành mạnh: Một tinh thần lành mạnh trong một thân xác mạnh khỏe. Bởi đó con người cũng phải có trách nhiệm đối với sức khoẻ tâm lý của mình và sức khoẻ của những người được giao cho mình. Có một cuộc sống đúng đắn và lành mạnh về luân lý là cách phòng vệ hay nhất cho tâm hồn khỏi mắc những rối loạn. (tr. 221)
Từ đó, chúng ta thấy sức khoẻ và luân lý liên kết với nhau. Luân lý khuyến khích một cuộc sống lành mạnh bởi vì cuộc sống sa đọa làm băng hoại cả thể xác và tinh thần tức là cả con người. Sức khoẻ là sức khoẻ của cả con người toàn diện: ‘Không nên quan niệm sức khoẻ theo nghĩa giới hạn là sức khoẻ thân xác. Sự khoẻ mạnh về tinh thần và linh hồn thậm chí còn quan trọng hơn. Một thân xác tương đối yếu ớt nhưng biết phục tùng tinh thần và sẵn sàng phục vụ các đòi hỏi của lòng mến Chúa yêu người, sẽ tiến gần lý tưởng về sức khoẻ hơn là một thân xác tràn trề sinh lực nhưng lại không cho tinh thần được tự do. Vì thế, tiêu chuẩn toàn diện để đánh giá sức khoẻ loài người không phải ở sinh lực thể lý thuần túy, mà đúng hơn đó là khả năng tốt nhất con người có được để thực hiện ơn gọi toàn diện của mình.’ (tr. 220-221)
Còn hơn thế nữa, quá đề cao đến sức khoẻ thân xác đôi khi có thể làm cản trở cho sự thăng tiến của toàn thể nhân loại. Sách GLCG no 2289) dạy: ‘Luân lý đòi phải tôn trọng sự sống thể xác, nhưng không coi đó là một giá trị tuyệt đối. Luân lý chống lại quan niệm tân-ngoại giáo có khuynh hướng cổ võ sự tôn thờ thân xác, hy sinh tất cả cho thân xác, tôn thờ sự toàn mỹ của thân thể và các thành tích thể dục thể thao. Khi chọn người khỏe và bỏ người yếu, quan niệm này có thể làm cho các mối tương giao của con người xấu đi.’ Khi chỉ nêu lên như gương mẫu những người khoẻ, đẹp, xã hội có nguy cơ coi những người già, yếu, bệnh tật... như là vô dụng, là ăn bám, là bị loại ra ngoài xã hội.
Để giúp giữ gìn sức khoẻ, sách GLCG no 2290 đề nghị thực hành nhân đức tiết độ để ‘tránh mọi thái quá như: ăn uống quá độ, rượu chè, say sưa lạm dụng thuốc lá và y dược.’
Giải trí, và nghỉ ngơi đầy đủ cũng là những ‘điều kiện cần thiết để lấy lại những nghị lực làm việc đã bị tiêu hao. Đó là một yêu cầu và là một đòi hỏi của tự nhiên.’ (tr. 224) Sống vui tươi, lạc quan cũng giúp ích nhiều cho sức khoẻ, nhất là đối với bệnh nhân. Thể dục, thể thao giúp cho thân thể cường tráng, mạnh khoẻ. Tuy nhiên trong thế giới thể thao ngày nay, để đạt được những thành tích cao, người ta đã sử dụng chất kích thích. Đồng thời sau các cuộc thi đấu nhiều vận động viên bị chấn thương, thậm chí bị chết. Thể thao thay vì làm cho khỏe mạnh, lại trở nên làm hại cho sức khoẻ. Cái nhìn của Giáo Hội về các cuộc thi đấu thể thao vẫn là tích cực, nếu ít xảy ra chấn thương, không dùng chất kích thích và không gian lận.
2.1.1 Vài chất kích thích nhẹ với sức khỏe
Một số chất kích thích có thể giúp ích cho sức khoẻ vì làm cho người ta thư giãn nhưng đồng thời cũng có thể mang lại hậu quả tai hại khi dùng quá liều và thường xuyên. Tuy những thông tin về cà phê, thuốc lá, rượu thường trái ngược nhau, nhưng nói chung, nếu chỉ sử dụng một cách chừng mực thì hại không đáng kể so với lợi mà người ta có được về mặt khác. Nhiều người phải sử dụng cà phê, thuốc lá, rượu thì tâm trí minh mẫn hơn chút đỉnh, làm việc tốt hơn. Nhưng sử dụng quá nhiều thuốc lá và rượu thì gây hại trầm trọng cho sức khoẻ. Vì thế ‘tiết độ trong các chất kích thích là một bổn phận còn nặng hơn tiết độ trong sự ăn uống nữa, vì chúng có thể làm hại tới sức khoẻ và đưa tới nghiện ngập dễ dàng hơn. Điều nầy đặc biệt đúng đối với thuớc lá và càng đúng đối với các loại đồ uống có chất kích thích. Lạm dụng các loại rượu rất thường phá vỡ hạnh phúc của cá nhân và gia đình.’ (tr. 226)
Như thế sự tai hại của các chất kích thích không chỉ dừng lại ở nơi chính đương sự nhưng còn cho người khác sống chung quanh hay là cho xã hội. Trong chiều hướng nầy, nhiều nơi qui định những khu vực cấm hút thuốc vì không thể bắt người không hút thuốc phải hít thở không khí đầy khói thuốc.
Vấn đề là ngày nay có quá nhiều chất kích thích cũng như có quá nhiều chất gây nghiện. Làm thế nào để xác định một thứ nào đó là không được dùng xét về mặt luân lý ? Để xét đoán chúng ta có thể dựa vào những tiêu chuẩn sau:
Tiêu chuẩn thứ nhất là sức khoẻ. Thực ra các chất kích thích không ảnh hưởng trầm trọng ngay tức khắc đến sức khoẻ. Nhưng vì đây là những thứ tạo cho con người một thứ lâng lâng, sung sướng... nào đó nên dễ lôi kéo người ta dùng đến những lần tiếp theo. Sức khoẻ bị sa sút là vì sử dụng lâu và nhiều, và bị sa sút đến nổi không thể làm việc, không còn có thể sức để đảm nhận những công việc như trước.
Tiêu chuẩn thứ hai là gây nghiện. Nghiện ở đây theo nghĩa là không còn tự do nữa. Người sử dụng hầu như ít có khả năng thoát ra, thậm chí còn làm bất cứ điều gì, kể cả điều xấu để thoả mãn cơn nghiện.
Tiêu chuẩn thứ ba là chi phí. Người nghiện phải chi một món tiền khá lớn để thoả mãn cơn nghiện.
Sách GLCG cho biết sử dụng chất kích thích làm hại đến sức khoẻ của mình hay là người khác đều phạm tội nặng: ‘Những người say rượu hoặc say mê tốc độ, gây nguy hiểm cho tha nhân và ngay chính mình trên đường bộ, đường thủy và đường hàng không, đều phạm tội nặng. (no 2290)
2.1.2 Vấn đề ma túy
Từ những chất kích thích nhẹ như đã nêu trên còn có việc sử dụng ma túy. Sách GLCG cho biết ‘Việc sử dụng ma túy gây tác hại nặng nề cho sức khỏe và mạng sống con người. Chỉ trừ trường hợp trị liệu, sử dụng ma túy là một lỗi nặng. Bí mật sản xuất và buôn bán ma túy là tội ác, vì cộng tác trực tiếp vào các hành vi vi phạm nghiêm trọng luật luân lý, do hậu quả lôi cuốn người ta phạm tội. (no 2291) Vấn đề ở đây là chất nào được coi là ma túy ?
Theo định nghĩa của các chuyên gia hàng đầu Liên Hiệp Quốc thì ‘ma túy là các chất hóa học có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo khi xâm nhập cơ thể con người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm con người bị lệ thuộc vào chúng, gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng...’ Theo các chuyên viên, người ta có thể phân chia ma túy thành 5 nhóm như sau:
- Nhóm thứ nhất là các chất từ cây thuốc phiện
- Nhóm thứ hai là các chất từ cây cần sa
- Nhóm thứ ba là các chất kích thích
- Nhóm thứ tư là các chất ức chế
- Nhóm thứ năm là các chất gây ảo giác
+ Về cây thuốc phiện thì còn có tên là cây anh túc, cây a phiến, a phù dung có tên khoa học là papaver somniferum (còn một cây khác papaver setigerum cũng có khả năng cho morphin với hàm lượng cao). Mỗi hecta cho chừng 5-20kg nhựa từ quả và lá cây. Thứ nầy gọi là thuốc phiện sống. Thường người ta sơ chế thành thuốc phiện chín bằng cách dùng nước nóng hoà tan và lọc thuốc phiện sống nhiều lần. Sau cùng cô đặc lại thành bánh.
Để thu được lợi nhuận cao và vận chuyển đở vất vả người ta thường chế thành hêrôin (1 kg thuốc phiện sống giá chừng 170 USD trong khi một ký heroin (bạch phiến chất bột trắng kết tinh) giá chừng 15-20.000 USD). Người buôn á phiện thường thích vận chuyển héroin là thứ được tinh chế từ thuốc phiện sống trong những phòng thí nghiệm với những thiết bị hiện đại hơn là vận chuyển thuốc phiện.
Đây là thứ ma túy nguy hiểm nhất vì ‘Đây là thứ ma túy thực thụ. Những ai đùa giỡn với chúng sẽ rất mau rơi vào sự nghiện ngập. Cơ thể lúc nào cũng đói thuốc và nếu thiếu, cơ thể sẽ lên cơn co giật dữ dội vì đau đớn và buồn nôn, tới mức hầu như không thể chịu đựng được. Ngoài ra, người nghiện ma túy loại nầy phải chi nhiều tiền và thường làm được đồng nào thì nuốt đồng ấy (đặc biệt đối với người sử dụng hêroin). Chính vì thế, phần lớn những người nghiện thuốc sẽ trộm cắp, làm gia đình trở nên khánh tận. Sau cùng, chúng còn đe dọa trực tiếp tới sức khoẻ và sự sống đương sự. Chết vì sử dụng hêrôin quá nhiều là một hiện tượng thường xảy ra. Bởi đó, nếu y học không đòi phải sử dụng ma túy thì vì những lý do vừa kể không thể cho phép bệnh nhân tìm khoái lạc trong việc sử dụng thuốc ấy.’ (tr. 229)
+ Cây cần sa còn được gọi là cây gai dầu, cây lanh mèo, cây gai mèo, cây đại ma, bồ đà... có tên khoa học là Cannabis sativa. Thường người ta dùng cả lá, hoa và hạt. Sau khi phơi khô, người ta cuộn thành điếu như thuốc lá. Người ta còn đem chưng cất cây cần sa để tạo ra thứ nhựa cần sa, Hashish, có hàm lượng chất gây nghiện cao hơn. Ngoài ra người ta còn chế tinh dầu cần sa có hàm lượng gây nghiện còn cao hơn nữa.
Cần sa thường được sử dụng khá rộng trong dân gian để chữa bệnh hay cho súc vật ăn để tăng trọng nhanh. Theo tác giả Peschke thì có những nhận định khác nhau về cần sa. Có người thì cho rằng không hại vì không gây nghiện, không tạo thói quen, không tạo triệu chứng khó chịu, không làm hại nội tạng, không tạo thèm khát tình dục, không đưa tới tội ác hay bạo động... Có người thì cho rằng sử dụng loại cây nầy ‘thường xuyên có thể gây tình trạng lười và vô cảm, từ đó đưa tới một lối sống uể oải.’ (tr. 226-227) Luật pháp Việt Nam liệt cần sa vào hàng ma túy.
+ Amphetamin và các chất dẫn xuất thuộc nhóm các chất kích thích được sản xuất trong phòng thí nghiệm dưới nhiều dạng khác nhau: bột, viên nén, nhộng, ống tiêm có khả năng kích thích thần kinh và gây nghiện. Việc buôn bán chất nầy đứng hàng thứ tư trong bảng xếp hạng. Người ta cũng gọi đây là ‘ma túy tình yêu’ hay ‘ma túy ngọt ngào’. Các vận động viên quốc tế thường lạm dụng để có được thành tích cao.
+ Barbiturat và thuốc an thần chống co giật. Đây là nhóm các chất ức chế được dùng trong y tế như thuốc ngủ. Đây là những chất gây nghiện. Nếu dùng lâu và quá liều có thể mất trí nhớ, nói ngọng, ảo giác và gây tổn thương cho hệ tuần hoàn, ngộ độc và thậm chí tử vong. ‘Khi ngưng sử dụng thuốc một cách đột ngột, ta thường gặp những triệu chứng khó chịu. Những triệu chứng nầy đôi khi rất trầm trọng (như phải bị chuột rút, nôn mửa, mê sảng, co giật), khiến các bác sĩ phải khuyên người sử dụng nên ở lại bệnh viện trong thời gian cai nghiện. Cai nghiện các thuốc an thần xem ra còn khó hơn cai nghiện ma túy. Vì thế, không được sử dụng các loại thuốc nầy nếu không có ý kiến của các bác sĩ, và các bác sĩ cần cẩn thận hơn khi kê toa sử dụng các thuốc nầy.’ (tr. 228)
+ Chất gây ảo giác LSD được tổng hợp từ trong những phòng thí nghiệm bí mật. Trong y khoa người ta dùng LSD để điều trị bệnh rối loạn thần kinh. ‘Con người sau khi uống hoặc tiêm LSD có cảm giác không sợ hãi, làm được nhiều việc mà người bình thường không dám làm’. Tính chất dược lý của LSD là ảnh hưởng trên trung ương thần kinh, đặc biệt trên trung tâm thị giác, làm sai lệch trong nhận xét độ xa gần của mắt, làm khuếch đại, méo mó hình ảnh của các đồ vật chung quanh, không phân biệt được vùng tiếp giáp giữa ánh sáng và bóng tối, giữa vùng tiếp giáp của các màu sắc, sự vận động kỳ ảo của các đồ vật tạo nên cảm giác là bản thân vận động theo cách bò trườn. Việc sử dụng LSD có những nguy hiểm về mặt tâm lý, vì người sử dụng cũng có thể trải qua những kinh nghiệm tâm lý tiêu cực và không có khả năng chịu được. Chúng ta đã biết tới những trường hợp giết người, tự sát, rối loạn tinh thần’ (tr. 227) Vì thế cần phải hết sức thận trọng khi phải sử dụng LSD.
Nói về nguyên nhân nghiện ma túy thì ông Vũ ngọc Bừng (sđd trg 36-40) cho biết thường do hai yếu tố khách quan và chủ quan:
- về yếu tố khách quan người ta thấy:
+ Do ‘điều kiện sống thiếu thốn, nghèo nàn, chất lượng cuộc sống lạc hậu dễ làm nẩy sinh trong ý thức con người những thói hư tật xấu. Theo thống kê của các trung tâm nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc, hầu hết những người nghiện ma túy là những người nghèo, thất nghiệp, không có điều kiện học hành’ ở vùng cao, vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số... các nước kém hoặc đang phát triển.’
+ Có thể nhập vào nhóm các nguyên nhân khách quan gây nghiện những yếu tố khác nữa đó là truyền thống, tập quán sinh hoạt của một số nhóm dân cư... Vì sinh ra và lớn lên trong những truyền thống, tập tục nghiện hút từ các thế hệ trước...
+ Một yếu tố khách quan khác không thể không nói tới, đó là sự hấp dẫn, sức hút mãnh liệt, sự lôi cuốn không gì cản được của cơ chế tác dụng dược lý các chất ma túy. Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng một số chất ma túy, trong đó có thuốc phiện là những chất có khả năng kích thích mạnh mẻ các trung tâm thần kinh, gây cho con người sự nhạy cảm, đam mê mạnh mẻ và xả thân hơn.
- Về yếu tố chủ quan, tác giả cho rằng ‘trước hết cần phải là trình độ văn hóa thấp, kiến thức về xã hội và thiên nhiên hạn chế, kinh nghiệm cuộc sống hết sức nghèo nàn, tính tự chủ không cao, không có niềm tin trong cuộc sống, thiếu thốn tình cảm, tự ty và mặc cảm...
Tuy nhiên, khi đưa ra những lý do như thế, tác giả cũng không thể phủ nhận tình trạng nghiện ma túy đang có xu hướng gia tăng nơi các sinh viên và những người có học vấn cao. Để thuận lý với chính mình, tác giả giải thích: ‘Những người nghiện ma túy trong số sinh viên đại học, mặc dù có trình độ học vấn cao, song về trình độ văn hóa của họ nhìn chung còn rất kém so với những sinh viên khác. Trong tâm lý và nhận thức của các sinh viên nầy còn có một yếu tố khác rất quái dị đó là ý thức tự do vô kỷ luật, thói quen tò mò, hiếu kỳ, đua đòi, trác táng và xem thường dư luận...
Khoảng 10% người nghiện ma túy là những người giàu, có địa vị xã hội cao ‘Họ là các ông chủ, là các thủ lĩnh, là các quan chức nắm quyền lực trong bộ máy nhà nước’. Họ dùng những đồng tiền kiếm được bằng các thủ đoạn tham nhũng, trốn thuế, lừa đảo thương mại, những phi vụ tội ác để làm giàu và tiêu xài, trác táng không có giới hạn. Nghiện hút các loại ma túy cao cấp như hêrôin, cocaine là thứ mốt thời trang của những con người đồi trụy nầy. Họ tự kiêu ngạo, thách đố với xã hội, xem thường dư luận, lôi cuốn và kích động, thúc ép những người khác lao vào con đường nghiện ngập ma túy sau đó là con đường tội phạm... họ cũng thuộc nhóm những người có trình độ văn hóa thấp, đạo đức băng hoại, tha hóa cả về tinh thần lẫn thể chất, dẫn đến cuộc sống nội tâm, tinh thần nghèo nàn, đối lập với chính cuộc sống giàu sang thừa thải của họ.’
Còn đối với Karl H. Peschke, ông cho thấy nguyên nhân sử dụng ma túy ‘Có thể là do thiếu kỷ luật bản thân và não trạng cho phép tìm kiếm lạc thú quá dễ dãi, vì cảm thấy bất an và lo lắng, nền tảng xã hội bị dao động, những xung đột gia đình hay vợ chồng, tuyệt vọng khi sống trong những điều kiện quá phi nhân như nhà cửa tồi tàn, thất nghiệp, hay bị xã hội khinh rẻ và những hoàn cảnh tương tự.’
Từ những nhận định trên, chúng ta có thể nêu lên những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất là do thiếu hiểu biết tác hại của ma túy trên tâm lý và thể xác con người.
Thứ hai là do nghe theo lời rủ rê, nói khích của những bạn bè nghiện ma tuý.
Thứ ba là do hoàn cảnh cuộc sống không được như ý: thất nghiệp, gia đình không êm ấm,...
Thứ tư là do theo lối sống truy tìm lạc thú, sống không cần biết đến tương lai.
Do đó ‘Kinh nghiệm thực tiễn của nhiều quốc gia cho thấy biện pháp giúp đỡ về tinh thần cho các con nghiện là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất. Bắt bớ, giam cầm, các loại hình phạt, ghét bỏ, xa lánh, thậm chí roi vọt,… không giúp được gì nhiều đối với con nghiện và những người có khuynh hướng nghiện. Chỉ có tình yêu, tình thương bao la, lòng nhân ái, tình cảm chân thành, sự quan tâm săn sóc mới thực sự giúp cho họ có nghị lực, can đảm, ý chí quyết tâm đoạn tuyệt 'nàng tiên nâu' để hòa nhập với cộng đồng.
Ngoài ra còn cần phải giúp người nghiện can đảm đương đầu với cuộc sống thực tế (nghĩa là tránh đi tìm một thế giới ảo) cũng như giúp họ hướng tới lý tưởng chân thật của cuộc sống (đời sống bác ái, phục vụ người đau khổ chẳng hạn). Vì thế gia đình, giáo xứ và xã hội cũng góp phần quan trọng giúp cho con nghiện thoát ra khỏi cảnh nghiện ngập. Những hoạt động tập thể lành mạnh có thể giúp cho con nghiện tìm thấy ý nghĩa chân thật của cuộc sống.
‘... Tuy nhiên, hiện tượng đông đảo người nghiện ở các nước và các nhóm giàu cũng là bài học Thiên Chúa gởi đến cho con người. Thịnh vượng, tiện nghi và lạc thú không phải là những giá trị làm no thỏa tâm hồn con người. Con người cần có những lý tưởng xứng đáng hơn để sống và để nỗ lực theo đuổi.’ (tr. 230) Tiện nghi và lạc thú hình như đưa con người tới chỗ không còn khả năng vượt qua khó khăn nữa. Hình như người ta muốn đạt được mọi sự một cách dễ dàng và nếu không thành công người ta chạy trốn vào trong thế giới ảo, vào các chất gây ảo giác cũng như vào các chất kích thích...
Chúng ta có thể dùng lời của sách GLCG để như lời kết cho vấn đề chăm sóc sức khoẻ của mọi người: ‘Việc chăm sóc sức khỏe công dân phải được sự trợ giúp của xã hội để họ có những thuận lợi mà lớn lên và đạt tới mức trưởng thành: cơm ăn, áo mặc, nhà ở, việc làm, chăm lo sức khỏe, giáo dục căn bản, và trợ cấp xã hội.’ (no 2288) Sự chăm sóc sức khoẻ không chỉ là vấn đề cá nhân nhưng còn là vấn đề của xã hội. Thực vậy kinh nghiệm cho thấy nhờ sự liên đới với nhau, sức khoẻ của mỗi cá nhân được chăm sóc tốt hơn.
2.2 Điều trị
Bổn phận chăm sóc sức khoẻ là nhằm cho cá nhân có một cuộc sống vui tươi hạnh phúc. ‘Sự sống thể xác là một món quà Thiên Chúa trao cho con người không phải để làm chủ nhân nhưng là để quản lý và để thu hoa lợi. Bởi đó, con người không được phép sử dụng và làm hại sự sống ấy cũng như sự toàn vẹn của thân xác một cách tùy tiện. Đàng khác, con người cũng có bổn phận phải khôi phục lại sức khoẻ đã bị thương tổn, một cách có trách nhiệm.’ (tr. 230) Bổn phận của mỗi người là phải cố gắng điều trị cơn bệnh để lấy lại phần nào những thương tổn do cơn bệnh gây ra. Vấn đề là ở chỗ người ta có buộc phải điều trị bằng bất cứ giá nào hay nói một cách khác người ta có buộc phải chi tiêu tối đa cho một bệnh nhân chỉ để làm chậm cái chết trong đau đớn của con bệnh ấy ?
2.2.1 Những nguyên tắc chung
Luân lý thần học thường đưa ra những nguyên tắc chung để giúp chu toàn bổn phận khôi phục lại sức khoẻ đã bị thương tổn.
Trước tiên đối với bác sĩ:
- Nhiệm vụ của bác sĩ là cứu sống, là chữa lành, là làm giảm bớt sự đau khổ. Họ không được phép gây hại người khác do những động cơ chính trị hay do lợi lộc nào đó.
- Bác sĩ cần cập nhật hóa những kiến thức của mình ‘ngoài ra, nền y học hiện đại cùng với những khả năng và đòi hỏi gia tăng không ngừng đòi các thầy thuốc ngày phải chuyên môn hơn. Không phải bác sĩ nào cũng chuyên môn như nhau trong hết mọi lãnh vực của y học. Thế nên ý thức giới hạn của mình, họ sẽ tìm sự giúp đỡ của các thầy thuốc khác mỗi khi tình trạng của bệnh nhân đòi hỏi thế.’ (tr. 222)
- Bác sĩ công giáo phải ‘sẵn sàng lắng nghe những phát biểu và nhận xét luân lý của những vị có nghĩa vụ đặc biệt công bố Lời Chúa và lên tiếng chống lại những sự vi phạm đức ái và đức công bằng.’ Dầu vậy người ta cũng đừng quá trông chờ vào giáo quyền vì ‘đạo đức học, thần học luân lý và giáo quyền không phải lúc nào cũng có sẳn câu trả lời cho các vấn đề luân lý mà người thầy thuốc có thể gặp phải. Có nhiều tình huống mà trong đó chỉ có các giáo dân mới có điều kiện được thông tin đầy đủ về các dữ kiện giúp đánh giá một hành vi về mặt luân lý. Vì thế, họ có quyền và có nghĩa vụ phải tự quyết định.’ Đừng để giáo dân nghĩ rằng chủ chăn của họ luôn luôn là những nhà chuyên môn tài giỏi tới mức có sẵn giải đáp cụ thể cho mỗi vấn đề, kể cả những vấn đề phức tạp nhất, hay đó chính là sứ mạng của các chủ chăn. Mà đúng hơn, được sự khôn ngoan Kitô giáo soi dẫn và quan tâm sâu sắc đến huấn quyền của Giáo Hội, các giáo dân hãy đảm nhận lấy vai trò đặc biệt ấy của mình' (MV số 43) (tr. 233)
- Bác sĩ có bổn phận phải làm hết sức mình cho việc cứu chữa bệnh nhân nghĩa là phải làm theo hết khả năng chuyên môn của mình, và theo tình trạng (tài chánh, sức khoẻ...) của bệnh nhân. Ông còn phải làm những gì có lý mà bệnh nhân yêu cầu ông làm. Bởi đó, trước tiên bác sĩ có bổn phận phải nắm chắc các ước nguyện của bệnh nhân hay của những người đại diện bệnh nhân. Nếu không thể như vậy, luật vàng sau đây quả là hữu dụng: bản thân bác sĩ sẽ muốn gì, nếu ông rơi vào tình trạng của bệnh nhân ấy ? (tr. 236)
Về cách điều trị thì thần học luân lý thường phân biệt hai cách điều trị: thông thường và đặc biệt:
- Điều trị thông thường ‘gồm tất cả các thứ thuốc, các cách điều trị và giải phẫu mang lại một niềm hy vọng hợp lý là sinh ích lợi cho bệnh nhân, cũng như có thể kiếm được và sử dụng được mà không phải chi tiêu, đau đớn hay chấp nhận những bất tiện khác cách quá đáng’. Có thể hy vọng được kết quả khả quan và tìm thuốc men, phương pháp chữa trị tương đối dễ dàng là hai điều kiện cho cách điều trị thông thường. Thiếu một trong hai thì phải chuyển sang cách điều trị đặc biệt. (tr. 234-235)
Điều trị bằng thuốc thang và giải phẫu cách thông thường, nếu cần thiết để chữa lành một bệnh nặng hay để bảo vệ khỏi bệnh ấy, là một bổn phận bó buộc. 'Lý trí tự nhiên và luân lý kitô giáo dạy rằng con người có quyền và nghĩa vụ dùng những biện pháp điều trị cần thiết, khi bệnh nặng, để bảo vệ sự sống và sức khoẻ. Nghĩa vụ đó là nghĩa vụ đối với bản thân mình, đối với Chúa, đối với cộng đoàn nhân loại và trong đa số trường hợp là nghĩa vụ đối với một số người nhất định. Nghĩa vụ ấy xuất phát từ đức ái có trật tự, từ việc tùng phục Đấng Tạo Hóa, từ đức công bằng xã hội và thậm chí từ sự công bằng tối thiểu cũng như từ lòng yêu thương đối với gia đình mình. Tuy nhiên, nói chung, ta chỉ bị buộc dùng các phương tiện thông thường - tùy theo hoàn cảnh của đương sự, nơi chốn, thời điểm và văn hóa - nghĩa là những phương tiện không gây ra gánh nặng cho mình hay cho người khác.’ (tr. 235)
- Điều trị đặc biệt là khi phải sử dụng thuốc men, phương pháp chữa trị rất khó tìm và rất tốn kém đồng thời kết quả cũng không khả quan lắm.
Theo sách GLCG no 2278, người ta ‘Có thể ngưng các phương thức trị bệnh quá tốn kém, mạo hiểm, dị thường hoặc không tương xứng với những kết quả mong muốn. Luân lý không đòi buộc phải chữa bệnh với bất cứ giá nào. Chúng ta không muốn giết người, nhưng chấp nhận không thể ngăn cản được sự chết.’
Sự phân biệt giữa thông thường và đặc biệt tùy thuộc vào chi phí (tiền bạc chẳng hạn) và vào phương tiện chữa trị (giải phẫu đặc biệt, thuốc rất hiếm...). Chính vì thế không thể áp dụng một cách cứng nhắc vì, đi vào những trường hợp cụ thể, không phải lúc nào ta cũng dễ xác định biện pháp nầy biện pháp nọ là phương tiện đặc biệt hay thông thường. Ta không thể tính toán dựa vào một công thức toán học, mà phải dựa vào sự phán đoán hợp lý của những con người khôn ngoan, có lương tâm.’ (tr. 237) Sự phân biệt nầy vì thế tùy thuộc vào người giàu nghèo, người có ít phương tiện và nhiều phương tiện.
Đằng khác phải lưu ý rằng ‘có nhiều phương tiện trước đây là đặc biệt nhưng nay đã trở nên thông thường vì nhiều lý do... có nhiều sự giải phẫu và điều trị trước kia là đặc biệt, nhưng nay đã trở nên thông thường.’ (tr. 237)
Tuy nhiên cho dù không buộc chúng ta cũng có thể dùng những phương pháp hơn mức tuyệt đối cần thiết để bảo tồn sự sống và sức khoẻ cho mình hay cho một người nào đó vì ‘trong những trường hợp đặc biệt, đôi khi ta còn có bổn phận phải sử dụng các phương tiện đặc biệt như khi cần phải kéo dài sự sống người nào đó vì công ích ; hay khi kéo dài sự sống ít là một vài ngày có thể giúp người ấy giải quyết các vấn đề quan trọng của gia đình hay của công ty ; hoặc khi cần để chuẩn bị chết tốt lành hơn.’ (tr. 236)
Về nghĩa vụ bảo tồn sự sống
‘Các bác sĩ và y tá có bổn phận không những phải chữa lành và giảm bớt sự đau đớn, mà còn phải kéo dài sự sống bao lâu có thể’. (tr. 238) Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp kéo dài sự sống là kéo dài sự đau khổ một cách vô vọng. ‘Có lúc người ta chỉ duy trì được một đời sống thực vật bằng đủ loại dược liệu, đủ cách giải phẫu và đủ thứ máy móc. Bệnh nhân rơi vào tình trạng bất tỉnh triền miên, nếu không nói là não bộ của người ấy đã bị hủy hoại. Vấn đề lúc ấy là kéo dài một sự sống thực vật như thế có còn coi như đã dùng y học phục vụ sự sống con người không ?’ (tr. 238)
Thực ra không buộc phải làm như vậy bởi vì ‘mục tiêu cuối cùng của y học không phải là đánh bại cái chết, mà đúng hơn giúp con người phục vụ Chúa và kế hoạch của Ngài càng hiệu quả càng tốt và giúp con người đạt được sự cứu độ đời đời của mình. Bởi vậy khi Chúa đã muốn con người chấm dứt nhiệm vụ của mình trên trần gian, nhiệm vụ của thầy thuốc cũng chấm dứt theo.’ (tr. 239)
Vấn đề là khi nào chấm dứt nhiệm vụ điều trị. Câu trả lời là ‘nếu đã hoàn toàn tuyệt vọng về sự sống của một người thì không cần kéo dài sự sống ấy một cách vô định dựa vào các dược liệu và các trang thiết bị.’ Trong trường hợp nầy ta được phép bỏ hết các phương tiện đặc biệt và cứ để cho tiến trình tự nhiên diễn ra. Người ta còn xác tín rằng sau khi não bộ đã chết, thậm chí ta còn có bổn phận phải bỏ qua các phương tiện đặc biệt ấy nữa.’
Nếu cứ tiếp tục chữa trị thì ‘càng ngày càng có nhiều người cho rằng 'thật là phi luân lý khi tìm các biện pháp nhân loại (tạo) để kéo dài sự sống, đang khi đó chỉ là kéo dài sự đau khổ, kéo dài sự hấp hối hay cái chết' (tr. 240)
‘... trong những trường hợp đó, cách giúp đỡ thích đáng nhất là dành cho bệnh nhân sự chăm sóc tận tụy (cho họ ăn uống những gì họ muốn), hoặc làm giảm cơn đau tối đa, hoặc giúp họ chuẩn bị chết lành...’
Sách GLCG no 2279 cũng nhất trí với cách giải quyết nầy khi viết: ‘Dù bệnh nhân sắp chết, vẫn phải tiếp tục chăm sóc bình thường. Về mặt luân lý, việc sử dụng các loại thuốc giảm đau, để làm dịu bớt sự đau đớn của người hấp hối, ngay cả khi có nguy cơ rút ngắn cuộc sống vẫn được xem là xứng hợp với nhân phẩm, miễn là không nhắm đến cái chết như mục đích hay như phương tiện, nhưng chỉ được tiên đoán và chấp nhận như điều không thể tránh. Săn sóc người hấp hối là một hình thức đặc biệt của đức bác ái vô vị lợi, cần được khuyến khích.’
Tuy vậy ‘bao lâu còn có hy vọng chữa khỏi bệnh nhân hay kéo dài sự sống để sống hạnh phúc và có ý nghĩa được thêm một thời gian, bác sĩ phải dùng các phương dược khả quan mà mình đang có.’ (tr. 240)
Ở đây cần phải quan tâm đến quyền của bệnh nhân ‘dù một trong những động cơ khiến người ấy từ chối là tránh chất thêm gánh nặng và gây ra nợ nần tai hại cho gia đình. Động cơ ấy không phải chỉ vụ lợi nhưng vì quan tâm tới những người lệ thuộc mình với tinh thần trách nhiệm.’ (tr. 241)
Có những trường hợp bác sĩ có thể từ chối không cứu chữa nữa. ‘Hoàn toàn không có gì đi ngược lại với công ích, khi bác sĩ nhìn nhận bệnh nhân đã ở trong tình trạng vô phương chữa trị và vì thế bác sĩ không tìm cách chữa trị nữa. Dĩ nhiên, ta cũng phải tôn trọng và thực hiện những ước nguyện hợp lý của bệnh nhân trong việc sử dụng các phương pháp điều trị nhằm kéo dài sự sống.’ Nghĩa là ngay trong những trường hợp đó, bác sĩ cũng nên theo yêu cầu của bệnh nhân hay của gia đình kéo dài sự sống của bệnh nhân. Trong trường hợp bệnh nhân còn nhỏ hay không có khả năng quyết định thì bác sĩ sẽ làm theo ý của người đại diện bệnh nhân. Tuy nhiên cũng phải lưu ý đến khả năng áp lực xã hội. ‘Thường thường gia đình chấp nhận gánh nặng tài chánh tốn kém ấy chỉ vì sợ mang tai tiếng. Thầy thuốc chữa trị bệnh nhân ấy sẽ hành động một cách vô trách nhiệm, nếu chiều theo các áp lực của gia đình trong trường hợp ấy.’ (tr. 241)
Đối với một số người, quyết định ngưng điều trị là một quyết định khó khăn. Thế nhưng ‘Những bác sĩ không chịu để cho nạn nhân ấy chết (những người có não bộ hư hỏng chẳng hạn) chẳng phải là đã xâm phạm tới sự an sinh của gia đình bệnh nhân và tới nguồn tài lực của họ, khi tìm cách trì hoãn cái chết bằng phương pháp nhân tạo hay sao ? Hay bỏ ra hằng trăm giờ đồng hồ hay hằng triệu đôla để chăm sóc các cơ thể của con người đã hóa thành thực vật, không còn hy vọng gì để khôi phục lại, chẳng phải là đã xâm phạm tới công ích hay sao ?
Sau khi đã bàn tới những nguyên tắc chung chúng ta thử đi vào một số hình thức điều trị sau đây:
2.2.2 Tâm lý trị liệu
‘Khoa tâm lý trị liệu nhằm cho bệnh nhân được giảm bớt những triệu chứng tâm bệnh. Mục tiêu cuối cùng là giải quyết những xung đột tâm lý dẫn tới tình trạng bệnh hoạn ấy.’ (tr. 260) Có những chứng bệnh hoàn toàn về tâm lý do bị khiếp sợ, bị ám ảnh, bối rối, bị các thứ thất bại (thất tình chẳng hạn)... Có những chứng bệnh tâm sinh lý bên ngoài thì có vẻ bị một cơn bệnh như những bệnh nhân khác như tê liệt, lở loét, nhức đầu,... nhưng thực chất đến từ tâm bệnh.
Nhiều người tiền mất, tật mang bởi vì chỉ lo chữa trị ngọn mà không trị được gốc. ‘Chỉ có thể điều trị hữu hiệu nếu tìm ra và giải quyết được nguyên nhân tâm lý.’ (tr. 261) Đứng về phương diện mục vụ thì nhiều khi biết một chút về khoa tâm lý trị liệu cũng có thể giúp ích phần nào cho linh mục trong việc mục vụ, nhất là cách thế đối xử với những người bị có triệu chứng bệnh tâm thần: bối rối, hoang tưởng... Đặc biệt nếu linh mục giải tội hiểu biết những khó khăn tâm lý của hối nhân thì có thể đưa ra những lời khuyên thích hợp hơn.
Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng để chữa trị tâm bệnh cần phải có những nhà chuyên môn được đào tạo và có kinh nghiệm. Tâm bệnh cũng có nhiều loại khác nhau và cũng có những nhà chuyên môn khác nhau phụ trách vì ‘về phía mình các nhà tâm lý trị liệu cũng phải luôn ý thức những hạn chế của mình.’ (tr. 260).
Trong xã hội ngày nay, văn minh vật chất tiến bộ khá nhiều nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều căng thẳng trong cuộc sống gia đình, công việc làm, xã hội..., tâm bệnh vì thế phát triển khá nhanh. Tuy nhiên, theo Karl H. Peschke, các Kitô hữu cần lưu ý rằng:
- ‘Thật là nguy hiểm khi đặt mình cho một nhà tâm lý trị liệu không chấp nhận đức tin Kitô giáo chăm sóc, hướng dẫn. Nhà phân tích tâm lý ấy khó lòng mà tránh không áp dụng các tiêu chuẩn luân lý và tôn giáo của mình cho bệnh nhân. Bởi vậy, người Kitô hữu và người Công giáo phải thận trọng trong việc lựa chọn nhà tâm lý trị liệu.’
- Nhà tâm lý trị liệu cần phải: tuân giữ những chuẩn mực mà mọi nền luân lý lành mạnh nào cũng có ; tránh nhìn thấy tính dục ở khắp nơi ; tôn trọng những bí mật của bệnh nhân ; không khuyên bệnh nhân phạm tội, kể cả tội chất thể ; không cho phép con bệnh làm theo lương tâm sai lầm của họ ; khi xử dụng thuốc ngủ hay thôi miên, cần được bệnh chấp thuận hay mặc nhiên chấp nhận.
- Tránh luôn điều trị bằng phương pháp tâm lý và phân tâm nhưng chỉ chạy đến khi rất cần thiết, khi đương sự không thể sống một cuộc sống xã hội bình thường.
2.2.3 Giải phẫu
Điều răn thứ năm cấm hủy hoại thân xác của mình hay của người khác cách trực tiếp. Không được phép hủy hoại trực tiếp vì chi thể và cơ năng trực tiếp hướng về sự hoàn bị của con người mà chúng thuộc về ; chi thể hay cơ năng không hiện diện cho nó mà vì con người, cũng như một bộ phận hướng tất cả về mục đích chung của con người, và vì ích lợi chung ấy mà mọi phần thân thể cần được giữ gìn. Tuy nhiên chúng không được quí chuộng hơn toàn thể con người.
‘Vì thế được phép và đôi khi cần phải hy sinh sự toàn vẹn ấy (bằng cách cắt trụi hay trích lấy) để cả cơ thể được mạnh khoẻ...’ Tuy nhiên, nguyên tắc hy sinh một phần cho toàn thể (nguyên tắc toàn thể) không chỉ áp dụng cho các cơ quan, bộ phận đau ốm, mà cả cho các cơ quan, bộ phận lành mạnh nữa, nếu thấy nhờ hy sinh các cơ quan, bộ phận ấy mà cứu được sự sống toàn thể. Chẳng hạn được phép cắt cụt một bàn chân đang kẹt trong đường rầy xe lửa, nếu đó là phương thế duy nhất để cứu lấy tính mạng. (tr. 231)
Tuy nhiên đây phải là phương cách cuối cùng. Vì thế không được cắt bỏ buồng trứng hay cắt bỏ tử cung để khỏi sinh nở, với cớ là mỗi lần sinh đẻ là mỗi lần nguy đến tánh mạng. Lý do là vì việc làm nầy trực tiếp nhằm làm cho người đàn bà trở nên không còn khả năng thụ thai, rồi từ đó mà tính mạng không bị lâm nguy. Đàng khác, đây không phải là phương cách duy nhất và cuối cùng vì người ta còn có nhiều phương thế khác: thí dụ như kiêng cữ việc vợ chồng trong thời kỳ thụ thai. Cũng lý do đó người ta không được phép triệt sản để khỏi sinh ra những đứa con bệnh tật hay dị tật.
2.2.3.1 Giải phẫu thẩm mỹ
‘Giải phẫu thẩm mỹ là giải phẫu để làm cho vẻ bên ngoài của một người được đẹp hơn.’ Nếu chỉ làm mất đi những dị tật (sứt môi chẳng hạn) nếu chỉ vì mục đích đẹp mà thôi thì giải phẫu thẩm mỹ phải được coi là tốt.
Thậm chí còn cần phải giải phẫu thẩm mỹ vì ‘tâm lý học đạo đức cho biết những khuyết điểm ấy có thể làm hại sâu xa tới toàn bộ quá trình phát triển cá tính. Ngoài ra, có một số khiếm khuyết thể lý có thể cản trở nghiêm trọng cho việc tiến thân trong nghề nghiệp hay cho việc kết hôn. Chính vì thế trong một số trường hợp, cha mẹ thậm chí còn có bổn phận liệu sao xóa bỏ một vết ruồi hay vết chàm hoặc một khiếm khuyết thẩm mỹ trên thân thể con cái qua một cuộc giải phẫu chẳng hạn, miễn là không gây nguy hiểm nghiêm trọng và quá lớn cho nạn nhân.’
Tuy nhiên không phải mọi cuộc giải phẫu thẩm mỹ đều là tốt. Nếu cuộc giải phẫu thẩm mỹ là để thỏa mãn yêu cầu xấu (gái mại dâm chẳng hạn) hay can phạm sửa chữa cơ thể hay khuôn mặt để người ta không phát giác ra mình. Trong trường hợp nầy chính ý hướng xác định giải phẫu thẩm mỹ là xấu hay tốt. (tr. 244)
2.2.3.2 Cấy, ghép, cắt bộ phận
Nếu ngày xưa những ca cấy ghép bộ phận thường đưa tới tử vong thì ngày nay người ta có nhiều cơ may thành công. Cấy ghép có nhiều trường hợp khác nhau.
‘Cấy ghép cơ thể là trên cùng một ngươì, giữa hai người hay hai loài. Trên cùng một người là cấy các mô da hay xương từ phần thân thể nầy sang phần thân thể khác của cúng một người. Đây là việc làm được phép vì lý do sức khoẻ.’
Cũng có thể lấy mô của thú vật cũng như việc lấy cơ quan của loài thú mà ghép cho con người thì không có chi phải thắc mắc, bởi vì Chúa dựng nên thú vật để nuôi sống loài người và để làm cho loài người được toàn vẹn. Tuy nhiên cần phải thận trọng, đừng làm hạ phẩm giá con người, thí dụ như việc lấy những tuyến sinh dục của thú vật mà ghép cho người ta sẽ đưa tới những thay đổi nghiêm trọng: đó là điều mà Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tuyên bố không được làm trong bài diễn văn đọc ngày 14-5-1956. Tóm lại việc nầy cần rất thận trọng và ‘việc nầy chỉ được phép bao lâu nó không gây ra những thay đổi trong nhân cách’ (tr. 245).
Còn cấy các bộ phận từ người nầy sang người khác thì nói chung phải phân biệt:
- Trường hợp lấy một bộ phận của người chết mà ghép qua cho người sống thì đây là một việc nên làm, miễn là giữ nhiều điều kiện phải giữ. Một người đã chết không còn bị thiệt gì nữa, bởi vì cơ quan ấy không còn giúp ích gì cho cuộc sống trần thế người đó nữa. Tuy nhiên, cần có sự ưng thuận của người cho hay của gia đình, những người liên hệ với người người ấy qua đời vì thân nhân có quyền đòi người ta phải đối xử tử tế với người chết của mình. Cần lưu ý là gia đình hay những người liên hệ không có quyền ưng thuận nếu người quá cố đã công khai phản đối điều đó trước khi chết.
Sự ưng thuận ấy, nếu vì mục đích nhân đạo, là điều đáng khen. Sách Giáo lý Công giáo viết: ‘Hiến các bộ phận sau khi chết là điều cao quí đáng khen thuởng, và phải được khuyến khích như một biểu lộ tình liên đới quảng đại.’ (GLCG no 2296) Tuy nhiên, vì đây là việc bác ái, không có luật nào buộc họ phải ưng thuận.
Cũng cần lưu ý là Giáo Hội Công giáo vẫn tôn trọng xác chết. Khi sống, xác ấy kết hợp với linh hồn để thành một nhân vị, một con người và con người được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, được thông phần với sự sống của Thiên Chúa, đã được thánh hóa và ngày sau sẽ sống lại. Những nghi lễ an táng kẻ chết luôn luôn chứng minh điều đó. Cho nên không được hủy hoại, cắt mổ xác chết, trừ phi vì lý do tương xứng: thí dụ như khi mổ xác chết để thực tập cho các sinh viên y khoa, để khám nghiệm tử thi cho biết vì sao họ chết, trong các vụ án, hay là ghép qua một người khác để kéo dài sự sống cho người ấy. Có những trường hợp đặc biệt thí dụ như để tìm căn bệnh truyền nhiễm hầu phòng ngừa cho những người khác, hay là để tìm ra manh mối án mạng. Những khi tối cần như vậy, thì Chính quyền có phép bắt buộc mổ xác chết mà không cần sự ưng thuận của thân nhân. Trong bài diển văn đọc ngày 14-5-1956, Đức Piô XII vừa kết án cách sử dụng bừa bãi xác chết trong các bệnh viện công vừa dạy cho các tín hữu biết rằng: việc mổ xác chết vì ích lợi của kẻ khác thì không có chi là bất kính và trái với sự tôn kính những người chết của mình.
- Trường hợp ghép cơ quan của người còn sống cho người bệnh. Sách GLCG no 2296 cho biết: ‘Việc ghép các bộ phận cơ thể phù hợp với luật luân lý nếu các nguy hiểm và rủi ro về thể xác và tâm lý nơi người cho, cân xứng với lợi ích của người nhận.’ Karl H. Peschke cũng đồng ý với điều đó khi viết: “Được phép hy sinh một quả thận để cứu mạng sống của người khác, nếu đó là sự đánh giá khá chắc chắn... Lý do biện minh cho sự hy sinh ấy là chính nhu cầu khẩn cấp của người bệnh và khả năng có thể không cần dùng bộ phận ấy mà sự sống của người cho vẫn tốt.” (tr. 231)
Vì thế, nên cho máu vì đó là một nghĩa cử bác ái cao quí, cũng phải nói như vậy về việc cho một miếng da... Tuy nhiên, việc ấy nên làm đối với điều kiện, là không gây thiệt hại cho người cho máu cách thường xuyên và thường người khoẻ mạnh thì không thiệt hại đáng kể và đây không phải là hủy hoại. Tuy nhiên việc cho mắt, cho phổi... thì kẻ cho mất mãi mãi bộ phận mình cho. Vì thế chỉ nên cho vì mục đích nhân đạo, bác ái, chớ không có tính cách mua bán. Một số cơ quan thí dụ như: mắt, thận, tuyến sinh dục... thì ai ai cũng có hai hay nhiều cái, có cho đi một thì cũng còn lại một và cơ quan còn lại vẫn tiếp tục sinh hoạt được. Để biện minh người ta đưa ra những lý do sau:
1. Đó chỉ là sự hủy hoại cách gián tiếp,
2. Theo y khoa ngày nay có nhiều cơ quan tự nó có khả năng ghép qua người khác mà còn sinh hoạt được như thường, vì vậy sự ghép ấy không có chi trái với bản chất của nó ;
3. Thiên Chúa tạo được các chi thể và cơ quan con người để làm ích cho toàn thân con người, hiểu theo nghĩa rộng, tức là làm ích cho toàn thể xã hội, hay nói cách khác, cho nhiệm thể Chúa Kitô ;
4. Sau hết, như thể ai thí mạng sống mình vì anh em, đó là một hành vi bác ái đáng khen, thì khi cho anh em một cơ quan là một việc còn nên làm hơn nữa. ‘Tình yêu đối với tha nhân cho phép ta tiến hành những công việc ấy, miễn là cơ thể của người cho không vì thế mà bị thiệt hại nghiêm trọng. Chỉ có khác trong mức độ hy sinh. Dĩ nhiên hy sinh càng lớn thì lý do để thực hiện việc cấy ghép càng phải nghiêm trọng. Ý kiến nầy được khá nhiều nhà thần học luân lý theo, nên đủ làm cơ sở vững chắc để coi đây là việc làm hợp pháp. Nếu việc cấy ghép không đi ngược với y học, thì có thể tiến hành.’ (tr. 247)
Điều cần lưu ý là luôn luôn phải có sự ưng thuận rõ ràng của người cho và ‘về phương diện luân lý, không thể chấp nhận việc trực tiếp gây tàn phế hoặc cái chết cho một người, dù nhằm mục đích kéo dài đời sống của những người khác.’ (GLCG no 2296). Karl H. Peschke còn nhấn mạnh đến sự ưng thuận của người nhận. ‘Nếu bệnh nhân không còn tỉnh táo hay còn nhỏ tuổi, cần phải có sự đồng ý của người đại diện cho bệnh nhân (chồng, vợ, cha mẹ)’.
Tuy nhiên đôi khi trong thực tế cũng đặt ra nhiều vấn đề khó khăn thí dụ như ghép tim vì ‘nguồn duy nhất cung cấp tim là từ những người đã chết.’ Từ đó đặt ra vấn đề khi nào một người được coi là chết vì không thể lấy tim người chết quá trễ, cũng không thể lấy tim khi người ấy còn sống nên cần phải bảo đảm là người cho đã chết thật sự. Vì thế, hiệp hội y học thế giới và nhiều tập thể y bác sĩ quốc gia đã đồng ý với nguyên tắc: ‘mỗi khi có cấy ghép một bộ phận, thì phải có hai bác sĩ hay hơn nữa quyết định là người cho đã chết ; các bác sĩ quyết định lúc chết của đương sự không được can dự trực tiếp vào việc cấy ghép bộ phận.’ (tr. 246) Vấn đề cũng còn ở chỗ việc ghép tim có khả năng thành công hay không ? Có thật sự ích lợi cho bệnh nhân không ?
2.2.3.3 Triệt sản
Ngày nay, trong kế hoạch hóa gia đình, thỉnh thoảng người ta dùng phẩu thuật để triệt sản. Vậy thì theo luân lý Công giáo, có được phép giải phẫu để biến một người nào không còn sinh sản được nữa không ?
Trước tiên cần phân biệt: hoạn và triệt sản. Hoạn thì không còn khả năng quan hệ tính dục nữa trong khi triệt sản là làm cho người ta trở nên không thể sinh con cái mà vẫn còn có khả năng quan hệ tính dục. Người ta trở thành hoạn nhân khi bị cắt tinh hoàn nơi đàn ông và buồng trứng nơi đàn bà. Cũng có khi người ta cắt toàn bộ tử cung.
Còn triệt sản có thể được thực hiện bằng cách giải phẫu nơi người nam cũng như người nữ. Phương pháp giải phẫu để ngừa thai có hiệu năng làm gián đoạn sự di chuyển của trứng và tinh trùng một cách vĩnh viễn. Người đàn ông được thắt ống dẫn tinh, sẽ không bao giờ có con nữa. Người đàn bà được cột và cắt ống dẫn trứng, vẫn có kinh bình thường nhưng trứng không rơi vào tử cung được, nó tan héo và biến mất, không để lại một di tích nào cả. Người ta nói rằng để có con lại thì phải làm vi phẫu thuật thông ống dẫn tinh tuy nhiên rất khó khăn.
Như thế ‘triệt sản và hoạn là hai hình thức cắt bỏ các bộ phận thân thể. Chúng làm cho cơ thể con người không còn những chức năng sinh sản được nữa. Tuy nhiên, những chức năng và cơ quan ấy không thể bị ức chế và hủy bỏ một cách tùy tiện, mà chỉ được hủy khi nào có lý do đủ mạnh. Theo thần học luân lý cổ truyền, lý do ấy chính là tình trạng sức khoẻ của con người sẽ phải chịu cắt bỏ chức năng và cơ quan ấy.’
Chúng ta thử nghiên cứu vấn đề cắt bỏ tử cung. Theo thần học luân lý cổ truyền... không được cắt bỏ buồng trứng hay cắt bỏ tử cung để khỏi sinh nở trong trường hợp người ấy có thể bị tử vong nếu mang thai. Không cần phải làm như vậy để tránh nguy tử vì còn có những phương thế khác để tránh thí dụ kiêng cữ làm việc vợ chồng trong thời gian đậu thai. Chỉ được cắt buồng trứng khi nào sự hiện hữu của buồng trứng hay của tử cung sẽ mang đến sự nguy cho tánh mạng mà thôi...
Cách giải quyết trên dựa trên phương pháp tránh thai tự nhiên. Cách giải quyết đó cũng giả thiết rằng phương pháp tránh thai đó hiệu nghiệm 100%. Thế nhưng trong thực tế không được như vậy vì không có phương pháp nào hiệu quả tới 100%. Chính vì thế một số nhà thần học chấp nhận cắt bỏ vì cho rằng ‘tình hình có thể gây nguy hiểm là tình hình có thật, nên ta được phép cắt bỏ tử cung, bởi lẻ tử cung ấy đã lâm bệnh nặng và trở nên vô dụng. Các cơ quan vốn là các chức năng để làm việc chứ không phải chỉ là những trạng thái. Một tử cung hư hại không còn khả năng mang thai nữa phải kể là một tử cung vô dụng. Bởi đó nếu vì sức khoẻ mà cần cắt bỏ tử cung thì ta không có bổn phận gì phải giữ lại. Số nhà thần học nầy đủ lớn, nên ta có thể cắt bỏ tử cung đã bị hư hại mà không phải lo lắng áy náy, dĩ nhiên trước hết phải có sự đồng ý của bệnh nhân.’ (tr. 251)
Từ những ý kiến đó, thiết tưởng trong trường hợp nầy: có thể cắt bỏ tử cung khi có khả năng còn mang thai (vì tử cung không thể chứa thai) ; không nên cắt khi không còn khả năng có con nữa (như khi chồng đã chết, mãn kinh...). Lý do là vì nếu không có con thì tử cung ấy không hề gây nguy hiểm cho người ấy nên việc cắt bỏ không phải là thiết yếu.
Trường hợp một phụ nữ có tim hết sức yếu, không thể sống sót nếu sinh con một lần nữa thì lại khác. Cơ quan truyền sinh của người ấy còn nguyên vẹn không bị bệnh, sự hiện diện của nó cũng không làm cho cơ thể bị bệnh hay làm sinh bệnh tim nghĩa là nếu cắt bộ phận sinh dục thì bệnh tim cũng y vậy. Cắt bỏ bộ phận truyền sinh trong trường hợp nầy là triệt sản trực tiếp và theo luân lý Công giáo cổ truyền thì bị cấm vì việc triệt sản nầy xấu tự bản chất. Người ấy chỉ còn một cách là tránh thai.
Tuy nhiên tác giả Karl. H. Peschke cũng cho thấy cách lập luận nầy cũng đặt ra cho các nhà luân lý một vấn nạn: ‘Sự toàn vẹn của các cơ quan truyền sinh có phải là một giá trị cao tới mức triệt sản trực tiếp luôn luôn, không hề có ngoại lệ nào, là xúc phạm tới vinh quang và kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa không ? Tuy nhiên, Thánh bộ giáo lý Đức tin năm 1975 tuyên bố rằng: ‘mọi việc triệt sản trực tiếp đều bị cấm tuyệt đối. Vì việc triệt sản nầy nhằm mục đích và hậu quả trực tiếp là làm cho các cơ quan sinh dục không còn khả năng truyền sinh nữa, nên phải coi đó là một hành vi xấu tự bản chất.’ (tr. 252-255)
2.2.3.4 Cộng tác vào việc giải phẫu bất hợp pháp
Ngày nay, không thiếu trường hợp các y tá được gọi giúp các cuộc giải phẫu, nhưng lại không tán thành trong lương tâm khi chuẩn bị bệnh nhân, trao các dụng cụ giải phẫu cho bác sĩ … Nếu không tán thành hành vi và ý đồ xấu xa của bác sĩ, các y tá mới chỉ cộng tác về mặt chất thể. Với một vài điều kiện, họ được phép cộng tác theo lối đó.
‘Dĩ nhiên, nếu còn có thể từ chối phụ giúp vào những trường hợp giải phẫu bất hợp pháp ấy thì hãy từ chối.’ Còn nếu thấy trước hay dựa vào kinh nghiệm quá khứ mà suy đoán rằng yêu cầu như thế chẳng những vô ích mà còn đem lại những bất lợi nghiêm trọng cho mình thì được phép không nói ra thỉnh nguyện và bày tỏ sự bất đồng một cách khác.
‘Giả như không thể từ chối cộng tác vào một trường hợp giải phẫu đáng trách thì họ được phép phụ giúp một cách bất đắc dĩ khi không thể tránh mà đồng thời không chuốc lấy một sự bất lợi nào đó nghiêm trọng chẳng kém. Có nguy cơ mất việc và không có hy vọng kiếm được việc khác, đó có thể là lý do đủ để cho phép họ cộng tác một cách chất thể. Hoặc nếu thấy rằng có thể làm được nhiều việc ích lợi về mặt tâm linh tại bệnh viện, như mời linh mục hay các mục sư cho các bệnh nhân, giúp người hấp hối hòa giải với Chúa, rửa tội cho các trẻ sơ sinh hấp hối, v.v...’
‘Còn nếu các điều kiện vừa kể không có hay nếu bị yêu cầu cộng tác như thế quá thường xuyên, hoặc nếu các cuộc giải phẫu ấy bị lên án không những từ phía Giáo Hội mà cả từ phía Nhà Nước (như phá thai ngược với luật, giết các trẻ sơ sinh khuyết tật, làm các cuộc thí nghiệm bất hợp pháp), các y tá phải có bổn phận rút khỏi bệnh viện ấy và tìm việc ở bệnh viện khác.’ (tr. 242-243)
2.3 Bảo vệ phẩm giá con người
Sự sống con người cần phải được bảo vệ. Thế nhưng không chỉ bảo vệ mạng sống nhưng còn phẩm giá con người nghĩa là cần phải bảo vệ cả con người. GLCG no 2284-2287 nhắc trước tiên đến việc cần phải bảo vệ con người khỏi gương xấu.
2.3.1 Gương xấu
‘Gương xấu là thái độ hoặc cách sống làm cho người khác bắt chước làm điều xấu. Kẻ làm gương xấu cám dỗ người thân cận, làm hại đến nhân đức và sự chính trực của họ, và có thể đưa người anh em đến cái chết về phần linh hồn. Nếu vì làm một điều xấu hay bỏ một điều tốt, mà lôi kéo tha nhân đến chỗ phạm một lỗi nặng, thì gương xấu ấy là một lỗi nặng.’ (no 2284)
‘Gương xấu đặc biệt nghiêm trọng khi người gây gương xấu có uy thế hay người vấp phạm vì gương xấu là kẻ yếu đuối’. Gương xấu còn nghiêm trọng hơn nữa khi do người có bổn phận dạy dỗ và giáo dục kẻ khác gây ra. (no 2285) Gương xấu có thể phát sinh từ luật pháp hoặc những cơ chế, thời trang (la mode) hoặc dư luận. (no 2286)
2.3.2 Tôn trọng sự toàn vẹn của thân thể
GLCG no 2297 cũng nêu lên một số trường hợp xâm phạm đến nhân phẩm như: nạn bắt cóc và giữ làm con tin, gây kinh hoàng và tạo áp lực nặng nề cho những nạn nhân ; dùng khủng bố để đe dọa, gây thương tích và giết người bừa bãi ; tra tấn thể xác hay tinh thần để điều tra, để trừng phạt tội phạm, để làm đối phương khiếp sợ, để trả thù,
Tuy nhiên GLCG no 2298 cũng cho thấy rằng đã có một thời, các mục tử của Giáo Hội cũng đã từng áp dụng các qui định của bộ luật Rôma về tra tấn trong tòa án của mình. Và ‘đến nay, người ta thấy rõ là các biện pháp tàn bạo đó không cần thiết cho trật tự công cộng, cũng chẳng phù hợp với những quyền chính đáng của con người. Ngược lại, những thực hành đó lại còn đưa đến những suy thoái tệ hại hơn. Chúng ta phải đấu tranh để hủy bỏ chúng. Phải cầu nguyện cho những nạn nhân và các lý hình.
2.3.3 Tôn trọng người chết
Tôn trọng phẩm giá của một người cũng có nghĩa là tôn trọng giây phút cuối cuộc đời dương thế của họ. Sách GLCG no 2299 viết: ‘Phải lưu tâm săn sóc những người hấp hối để giúp họ sống những giây phút cuối đời cách tốt đẹp và bình an. Thân nhân phải nâng đỡ họ bằng lời cầu nguyện và lo cho họ lãnh nhận các bí tích đúng lúc, để chuẩn bị họ gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống.’
Hơn thế nữa còn tôn trọng thi hài người quá cố. Trong niềm tin và hy vọng vào sự sống lại, người tín hữu phải tôn trọng và bác ái đối với thi hài của những người quá cố. Chôn xác kẻ chết là một trong ‘bảy mối thương xác’ (x. Tb 1,16-18). (GLCG no 2300)
Giáo Hội cũng cho ‘phép mổ tử thi để điều tra pháp lý hoặc để nghiên cứu khoa học. Việc hiến các bộ phận cơ thể sau khi chết là việc hợp pháp và đáng khen. Giáo Hội cũng cho phép hỏa táng nếu việc này không phương hại tới đức tin vào sự sống lại của thân xác. (GLCG no 2301)
2.3.4 Thử nghiệm trên người
Thử nghiệm trên con người là dùng các phương pháp điều trị chưa ổn định đủ vì ích lợi của bệnh nhân hay dùng các tiến trình nhằm đẩy mạnh y học và từ đó làm lợi cho người khác. Thông thường tại các bệnh viện người ta chỉ thử nghiệm các tiến trình chủ yếu có lợi cho bệnh nhân. Tuy nhiên, trong các trường hợp ngoại lệ, có thể cho phép thử nghiệm chủ yếu hay thậm chí chỉ vì lợi ích của những người khác. (tr. 264)
Thí nghiệm trên con người nói chung được đánh giá tích cực. Sách GLCG no 2292 viết: ‘Những thí nghiệm khoa học, y học hoặc tâm lý học, trên những con người hoặc các nhóm người, có thể góp phần vào việc chữa bệnh và tiến bộ của y tế công cộng.’ Tuy tích cực nhưng người ta cũng cần lưu ý đến thái độ duy khoa học. ‘Việc nghiên cứu khoa học, lý thuyết hay ứng dụng là một cách biểu lộ quyền bá chủ của con người trên các thụ tạo. Khoa học và kỹ thuật là những phương tiện quí giá khi phục vụ và phát triển toàn diện con người để mưu ích chung ; nhưng khoa học kỹ thuật không đem lại ý nghĩa cho cuộc đời và sự tiến bộ của loài người. Khoa học và kỹ thuật qui hướng về con người, xuất phát từ con người và tiến bộ nhờ con người, vì thế chính con người và các giá trị luân lý của con người là mục đích và là những giới hạn cho khoa học kỹ thuật.’ (GLCG no 2293)
Như thế nghiên cứu khoa học lý thuyết và ứng dụng không thể hoàn toàn có giá trị trung lập về phương diện luân lý. Những thí nghiệm nầy có thể gây tổn hại đến con người, hay đến một số người. Những thí nghiệm nầy có thể phục vụ cho một chủ nghĩa làm hại đến một số người (thời chủ nghĩa phát xít chẳng hạn). ‘Khoa học và kỹ thuật, phải tôn trọng vô điều kiện các tiêu chuẩn căn bản của luân lý, phải phục vụ con người cũng như các quyền bất khả nhượng, lợi ích đích thực và toàn vẹn của con người, theo đúng kế hoạch và ý muốn của Thiên Chúa.’ (GLCG no 2294)
Chính vì thế khi thử nghiệm, cần có những người chuyên môn về lãnh vực ấy và phải cân nhắc xem có hy vọng làm bệnh nhân khá hơn. ‘Ích lợi hy vọng đạt được cho bệnh nhân hay tầm ảnh hưởng quan trọng của thử nghiệm đối với y học phải tương xứng với những nguy cơ xảy đến cho người chịu thử nghiệm. Cần hết sức thận trọng đối với các thử nghiệm có sử dụng các loại thuốc hay các tiến trình nghiên cứu có nguy cơ làm thay đổi cá tính của người chịu thử nghiệm. Cần phải có mọi biện pháp đề phòng hợp lý để tránh gây thiệt hại về thể lý hay tâm lý cho người ấy.’ Sử dụng một người làm phương tiện phục vụ cho các tham vọng khoa học của người thầy thuốc là đã lỗi phạm nghiêm trọng tới bổn phận phải kính trọng và yêu mến bản thân người khác.’ (tr. 264-265)
Tóm lại cần phải tôn trọng phẩm giá con người trong các cuộc thử nghiệm đó. Cần phải tránh những rủi ro không cân xứng. Cần phải tránh những gì làm hại mạng sống và sự toàn vẹn tâm sinh lý của đương sự. (GLCG no 2295)
3. Những hình thức xâm phạm đến sự sống
Điều răn thứ năm dạy gìn giữ mạng sống của mình và của người khác, nghĩa là tránh những hình thức xâm phạm đến sự sống. Thiên Chúa giao phó cho con người sự sống và thân xác mà con người có nghĩa vụ trông nom và gìn giữ cẩn thận. Vì thế mỗi người có trách nhiệm phải dùng các phương thế thông thường để sự sống và thân xác của mình đạt tới cứu cánh tối hậu của con người.
3.1 Những trường hợp gây nguy hiểm cho sức khoẻ và sự sống
Con người cần phải đạt tới cứu cánh của mình. Thế nhưng cứu cánh tối hậu của con người không phải chỉ lo cho thân xác, nhưng cả con người toàn vẹn. Vì thế, đôi khi người ta có thể đặt sức khoẻ và sự sống vào tình trạng nguy hiểm nhưng đem nhiều ích lợi cho việc đạo đức, cho một công việc hữu ích, cho việc hãm mình, đền tội. Nghĩa là không phải mọi trường hợp gây nguy hiểm cho sức khoẻ và sự sống đều không được phép.
3.1.1 Được phép
Khi có lý do cần thiết, người ta có thể liều mạng sống mình. Lý do cần thiết đó là có lợi cho sự an sinh chung và trực tiếp nhắm tới một điều tốt khá quan trọng khác. Vì vậy:
- Thợ được làm việc trong môi trường nguy hiểm, độc hại như: trèo cao, luyện kim, lái thử máy bay… họ được làm vì lợi ích cho cuộc sống mình và cho xã hội.
- Khi nhà cháy và khi không còn cách nào khác, đành phải nhảy qua cửa sổ để hy vọng thoát nạn, thoát chết. Ở đây người nhảy không nhằm cái chết, mà chỉ trốn lửa (nguy hiểm gần) cho dù người ấy có thể bị chết vì cú nhảy đó (nguy hiểm xa hơn).
- Quân nhân chiến đấu ngoài biển khơi được phép đánh đắm tàu hay đốt tàu, không để lại tàu lọt vào tay địch vì việc này có hại cho tổ quốccho dù việc ấy có làm mình chết theo. Cũng vậy, vì lợi ích của Tổ quốc, quân lính được lệnh ở lại vị trí để chống trả hay tấn công một nơi nào đó, hay làm các việc tương tự như vậy, mặc dù biết chắc mình khó tránh được cái chết. Hành động như vậy không nhằm cái chết một cách trực tiếp.
- ‘Một tù nhân bị giam giữ không công bằng có thể tìm cách vượt ngục, dù có thể làm nguy hiểm đến tính mạng, để đương sự tránh bị hành quyết hay bị án tù chung thân.’ (tr. 268)
- Được đi truyền giáo cho lương dân, kẻ rối đạo, lạc đạo cho dù biết gặp nhiều nguy hiểm. Lúc bị bắt vì đạo có thể không bỏ trốn với hy vọng được tử đạo.
- Được thăm viếng những người mắc bệnh truyền nhiễm ‘đôi khi còn bắt buộc’ (tr. 267) thăm viếng vì có thể giúp đỡ họ, ban Bí tích cho họ, mặc dù có thể bị lây bệnh. Nhất là khi những người bị bệnh ấy ở trong tình trạng rất khẩn cấp về phần rỗi linh hồn. Vì thế, trong trường hợp con chiên ở trong tình trạng như thế hay gần như thế, nhất là trong lúc cấm đạo hay là ở nơi có bệnh truyền nhiễm, chủ chăn phải liều mạng sống mình vì con chiên.
- Trong khi đắm tàu, chìm ghe, người ta có thể nhường tấm ván hoặc phao cho người khác, còn mình thì để mặc cho sóng biển đưa đi đâu thì đi, mặc dù biết rằng không hy vọng sống sót: đó là không phải trực tiếp tìm sự chết, mà chỉ bỏ qua việc bảo vệ tánh mạng của mình thôi.
- Có thể nhảy xuống sông, biển, để cứu người đang bị chết đuối mà tính mạng mình có thể bị lâm nguy ở một mức nào đó. Trường hợp nầy cũng cần có một chút hy vọng cứu được, nếu không thì không được.
- Để bảo vệ đức khiết tịnh, cô thiếu nữ có thể chống cự mãnh liệt dù biết rằng việc ấy có thể đưa mình tới cái chết. Nhưng cô không được tự tử.
- Vì đạo đức có thể ăn chay và làm các việc hãm mình khác để tập cho ý chí tùng phục lý trí. Tuy nhiên việc ấy không được làm hại một cách nghiêm trọng đến sức khoẻ. Thường nên bàn hỏi với Bề Trên hay Cha giải tội trước.
- Khi phải chọn lựa giữa hoặc là chết hoặc là chối đạo hay phạm một tội trọng, bất cứ tội trọng nào, thì bấy giờ buộc thà chịu chết, bất cứ chết cách nào. Ở đây cần phải lưu ý đến trường hợp người ta không còn chọn lựa nào khác.
- Bệnh nhân mắc bệnh nặng, muốn dùng thuốc mới để cầu may (có thể chữa bệnh nhưng cũng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng) vì các thuốc khác không chữa trị được, thì khi đó có thể chấp nhận được, vì mục đích là hy vọng được khỏi bệnh. Tuy nhiên, sự nguy hiểm đến tánh mạng không được vượt quá sự hy vọng được mạnh lại, trừ phi đây là phương thế duy nhất hay là phương thế cuối cùng để cứu vãn tình trạng của bệnh nhân.
3.1.2 Không được phép
Đặt sức khoẻ và sự sống vào chỗ lâm nguy một cách đáng trách có thể chỉ là vì bất cẩn. Sự bất cẩn ấy sẽ là tội nặng hay nhẹ tùy theo mức tội của chủ thể và tùy theo thiệt hại có thể gây ra. Mức tội của chủ thể càng lớn, nếu nguy hiểm gây ra chỉ là do người ấy vô tâm và tàn bạo đối với mình. Trong trường hợp nầy, mối nguy hiểm đi đôi với hành động ấy đã được dự kiến, cũng như hành động ấy được thực hiện mà không có lý do nghiêm túc đủ. Nếu gây nguy hại nghiêm trọng thì đó luôn luôn là tội nặng - tội phạm đến đức ái. Vì thế, không được phép:
- Người mắc bệnh nguy hiểm mà cứ ăn những thứ bác sĩ cấm. Cũng vậy người ăn chơi, nhậu nhẹt quá độ hay người có thói quen làm điều gì đó, khi biết chắc vì đó mình sẽ bị giảm thọ hay là thể xác sẽ suy yếu.
- những người liều mạng trong giao thông, cả người lái xe lẫn người đi bộ như: lái xe khi say rượu, quá mệt mỏi. Những người coi thường luật giao thông. Những người không làm chủ được phương tiện giao thông xe cộ thí dụ như lái xe quá nhanh, đua xe hay không còn phản ứng nhanh do già hay bệnh tật.
‘Ai vi phạm các nghĩa vụ nầy vì bất cẩn một cách trắng trợn là phạm tội nặng, dù vì may mắn đã không có gì xảy ra. Ở đây tội là do ta đã có thái độ tạo ra những nguy cơ lớn cho mình và cho người khác một cách trắng trợn. Đã đành luật giao thông không phải là luật buộc mà không có ngoại lệ, nhưng ít ra trong điều kiện bình thường luật ấy vẫn ràng buộc ta trong lương tâm. Các luật quan trọng cũng ràng buộc cả người đi bộ.’ (tr. 270)
- Người nào vì những lý do không quan trọng mà làm cho tính mạng mình bị lâm nguy, thí dụ: những người đu dây và nhào lộn trên chỗ rất cao rất hiểm nguy đến tính mạng. Tuy nhiên không mắc tội nếu họ đã được huấn luyện khéo léo đến nỗi theo sự nhận xét của huấn luyện viên, sự nguy hiểm ít có thể xảy ra. ‘Nếu diễn viên nhào lộn bỏ tấm lưới bảo vệ mình, phòng khi bị rơi, để làm tăng tính hấp dẫn, thì đó là hành động phản luân lý vì đã gia tăng nguy hiểm cho tính mạng mình một cách không cần thiết.’ (tr. 268)
- Những người đánh cuộc: để có được tiền nhờ làm những việc nguy hiểm đến tính mạng.
- Người chơi các môn thể thao nguy hiểm cho mạng sống, thí dụ như đua xe hơi (hay gây tai nạn chết người), đấu quyền Anh, đô vật (thắng nhờ đánh gục đối thủ). Tuy nhiên được phép nếu có những biện pháp phòng ngừa hữu hiệu (thắng nhờ tính điểm chẳng hạn).
- Những người hành nghề liên hệ tới mạng sống người khác (thí dụ như: những nhân viên phụ trách an toàn giao thông cho xe cộ hay cho máy bay, những người chăm sóc sức khoẻ như bác sĩ, y tá,... những người chăm sóc người già, trẻ em) đã hành nghề cách cẩu thả làm nguy hại mạng sống của người khác.
- ‘Người ta có thể vô tình làm hại sức khoẻ hay giết người do không tạo đủ những biện pháp lao động an toàn cho người làm việc, những điều kiện vệ sinh thích đáng, khai thác sức lao động cách tàn nhẫn.’ (tr. 270)
- Các sản phụ có thể mắc tội đã làm hại hay thậm chí làm chết thai nhi một cách vô tình do thiếu ý tứ, như mang đồ quá nặng,... Người chồng cũng có thể mắc tội ấy khi đối xử thô lỗ với vợ, nhất là bằng cách đánh đập vợ... (tr. 271) Thiết nghĩ điều nầy cũng có thể hiểu rộng ra cho mọi người (không chỉ người chồng mà thôi) khi người nầy làm cho sản phụ sẩy thai.
3.2 Tự vệ
3.2.1 Quyền được tự vệ
‘Tự vệ là dùng vũ lực để chống lại một sự đe dọa có thật và bất chính trên mình hay trên một người thứ ba. Sự tự vệ có thể bao hàm cả việc giết kẻ tấn công bất chính ấy khi nó đe dọa những thiện ích có tầm sinh tử của một người.’ (tr. 297)
Khi bàn về tự vệ, sách GLCG no 2264 viết: ‘Yêu bản thân là nguyên tắc căn bản của luân lý. Do đó, có quyền bắt kẻ khác tôn trọng mạng sống mình. Nếu vì phải bảo vệ mạng sống mình mà giết kẻ tấn công thì không mắc tội sát nhân.’
Ở đây giết kẻ tấn công không phải là ngoại lệ của luật cấm giết người vô tội, nghĩa là cấm cố sát. Hành động tự vệ đưa đến hai hậu quả: một là cứu lấy chính mạng sống mình, hai là giết kẻ tấn công. Chỉ được phép nhắm tới điều trước, chứ không phải điều sau. (GLCG no 2263)
Như thế có nghĩa là ‘để tự vệ, không được sử dụng bạo lực quá mức cần thiết, nhưng được ứng phó cách tương xứng... chúng ta không buộc phải từ bỏ hành động tự vệ chính đáng, để tránh giết kẻ khác, vì chúng ta có bổn phận phải giữ gìn mạng sống của mình hơn là mạng sống của kẻ khác. (GLCG no 2264)
Tự vệ chính đáng là quyền không phải chỉ dành cho người bị hại nhưng còn cho người có trách nhiệm bảo vệ mạng sống kẻ khác, cho xã hội. ‘Việc bảo vệ công ích đòi phải đặt kẻ xâm phạm bất chính vào tình trạng không thể tác hại. Vì lý do này, những nhà chức trách hợp pháp có quyền sử dụng cả đến vũ khí để ngăn chận những kẻ xâm phạm đến cộng đồng dân sự được ủy thác cho mình.’ (GLCG no 2265) Hơn nữa ‘Bổn phận bảo vệ ích chung đòi buộc nhà nước phải nỗ lực ngăn chặn các vi phạm về nhân quyền và về những quy tắc cơ bản cho cuộc sống chung của công dân khỏi lan tràn, đáp ứng bổn phận bảo vệ ích chung đòi hỏi.’
3.2.2 Những điều kiện để tự vệ
Tự vệ chính đáng là một quyền quan trọng vì nhiều khi được phép đến nổi gây ra cái chết của người tấn công. Vấn đề đặt ra là khi nào được thi hành quyền tự vệ ? Theo Karl. H. Peschke, điều kiện để tự vệ gồm có:
- a) ‘Sự tấn công ấy phải là sự tấn công bất chính, nghĩa là không được biện minh là chính đáng về phía người tấn công.’ Sự tấn công được coi là chính đáng như trong trường hợp khẩn cấp: vì đói mà cướp, giật, ăn cắp lương thực (để sống). Chỉ cần không thể biện minh được về mặt chất thể (hành động bên ngoài) là đủ kết luận hành động đó là bất chính, nghĩa là không cần xét về mặt chủ quan (hay mô thức). (tr. 297)
Vì thế khi người điên hay người say rượu xâm phạm đến mạng sống mình thì vẫn được phép tự vệ bởi vì quyền tự vệ phát sinh không phải vì đối phương có lỗi phép công bằng hay lỗi nào khác, mà vì Tạo hóa đã phó thác mỗi người cho chính mình. Vì vậy, mặc dù tên tấn không mắc tội (vì say rượu hay điên) nhưng người bị tấn công vẫn có thể thi hành quyền tự vệ.
- b) ‘Sự tấn công ấy phải là sự tấn công có thật, nghĩa là sắp xảy ra hay đang xảy ra hoặc vẫn còn đang tiếp diễn.’
Vì thế trường hợp một người sắp xâm phạm đến tính mạng của người khác. Thái độ của người sắp bị hãm hại như thế nào ?
Người ấy cần phải phân biệt:
- Nếu đây là sự chuẩn bị xa, nghĩa là còn trong thời kỳ trù liệu kế hoạch để hãm hại, thì không được, bởi vì kẻ sắp sát nhân chưa dùng bạo lực. Đồng thời cũng cần lưu ý rằng có khi tên ấy bỏ ý định giết người, hoặc bỏ cuộc vì một lý do nào khác. Cũng có khi người ta bị ám ảnh, tưởng tượng người khác đang tìm cách giết mình. Đằng khác nếu thực sự người kia có ý định như vậy thì tại sao không dùng cách khác để thoát thân trước khi sự việc xảy ra.
- Nếu đây là chuẩn bị gần, đến nỗi có thể nói là cuộc tấn công đã bắt đầu, và người bị tấn công không còn đường thoát thân. Khi đó, người bị tấn công được phép giết người tấn công bởi vì lúc đó mới là tự vệ thực sự, nếu không thì đã muộn.
‘Còn giết người sau khi cuộc tấn công đã trôi qua sẽ không còn là tự vệ nữa mà là trả thù. Bởi đó một phụ nữ không được phép giết người đã cưỡng hiếp mình.’
- c) ‘Sự tự vệ phải dừng lại với những phương thế cân xứng với tầm mức của nguy hiểm đang đe dọa mình. Chỉ được phép đả thương nặng hay giết chết khi cần bảo vệ các giá trị cao cả như sự sống, sự toàn vẹn của người nhà mình, sự toàn vẹn thân thể khi sắp bị cưỡng hiếp chẳng hạn, những của cải trần gian có giá trị lớn. Ta được phép bảo vệ sự sống và của cải của người khác như khi bảo vệ sự sống và của cải của mình.’ (tr. 298)
Trường hợp có thể đả thương nặng hay giết chết để bảo vệ của cải trần gian có giá trị lớn đặt ra một vấn đề phải chăng sự sống con người có thể được tính ngang với của cải vật chất ?
Thực ra ở đây không phải là vấn đề đánh giá như vậy nhưng lý do là vì tài sản là thứ cần thiết cho cuộc sống người bị tấn công. Nếu không có tài sản đó thì họ không thể sống được hay không thể sống tiện nghi được. Vì thế, mưu toan chiếm đoạt cách bất công thì cần phải được ngăn chặn bằng mọi cách và đôi khi đòi người tấn công phải trả bằng giá máu.
- d) ‘Để kháng cự, ta chỉ được sử dụng bạo lực ở mức tối thiểu, vừa cần thiết vừa đủ để đạt được mục tiêu chính đáng là tự vệ thôi.’ Bạo lực ở mức tối thiểu nghĩa là tức là tới mức đó cũng đủ cho được đánh đuổi hay làm cho vô hiệu kẻ tấn công. Vì thế nếu người bị tấn công có thể thoát được bằng cách chạy trốn, bằng cách tước vũ khí của địch, bằng cách đánh bại nó, thì người ấy không được phép giết kẻ tấn công.
Tuy nhiên ‘nói chung, ta không có bổn phận bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách giết kẻ tấn công mình. Đức ái Kitô giáo có thể mời gọi ta không cướp đi sự sống của kẻ tấn công vô lối ấy, thay vào đó mình tự nguyện đón nhận sự bất công.’ (tr. 302) Người bị tấn công có quyền tự vệ nghĩa là không buộc bảo vệ bằng cách giết chết người tấn công. Vì vậy, nếu người bị tấn công vui lòng chịu thiệt để kẻ tấn công khỏi bị hư mất đời đời, thì họ có thể làm như ý họ muốn.
Tuy nhiên, ta sẽ có bổn phận phải giết người tấn công ấy để tự vệ, nếu thấy mình cần sống để nuôi dưỡng và để bảo vệ gia đình hay cộng đoàn của mình. Đức ái cũng có thể buộc ta bảo vệ người khác (vợ con, cha mẹ hay những người được giao cho mình chăm sóc). (tr. 302-303) Vì chức vụ của mình, các nhân viên luật pháp, công an, người bảo vệ thường có bổn phận phải bênh vực người khác trước sự tấn công bất chính. Ngoài ra đôi khi còn buộc kẻ bị tấn công phải bảo vệ mình, nhất là khi người nầy đang ở trong tình trạng tội lỗi nặng.
3.3 Tự sát
‘Tự sát là trực tiếp lấy đi sự sống của mình chỉ dựa vào quyết định của mình.’ (tr. 272) Thiên Chúa là Đấng ban sự sống nên là Chủ của sự sống. Chúng ta là người quản lý vì thế không có quyền định đoạt về mạng sống mình.
3.3.1 Những lý do chống lại tự sát
Sách GLCG kết án nặng nề tự sát: ‘Tự sát nghịch với khuynh hướng tự nhiên muốn bảo tồn và kéo dài sự sống của con người. Lỗi phạm nặng nề đến tình yêu chính đáng đối với bản thân. Tự sát còn xúc phạm đến tình yêu đối với người thân cận vì nó cắt đứt một cách bất công những mối dây liên đới với gia đình, quốc gia và nhân loại mà chúng ta có trách nhiệm. Tự sát đối nghịch với tình yêu của Thiên Chúa hằng sống. (no 2281) Tội nầy càng nặng hơn nếu tự sát với ý định nêu gương, nhất là đối với giới trẻ. Luân lý cấm cộng tác vào việc tự sát. (no 2282)
Như thế Thần học luân lý chống lại mọi hình thức tự sát vì:
a) Con người không có quyền làm chủ thân xác và sự sống của mình, mà chỉ có quyền quản lý và hưởng dụng với trách nhiệm. Chính Thiên Chúa mới là chủ sự sống. Vì thế theo nguyên tắc chính Thiên Chúa mới có thể ra lệnh cho người nào đó tự sát, nếu đó là phương thế giúp ích nhiều hơn cho kế hoạch sáng tạo và cứu độ của Người. (tr. 273)
Điều đó có thể tìm thấy nhiều nơi trong Kinh thánh: Sách Đệ nhị luật viết: ‘Ta cầm quyền sinh tử, Ta đánh phạt rồi Ta lại chữa lành’ (32, 39), và trong Rm 14,7-8, tác giả viết: ‘Thật vậy không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy dù sống dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa.’ Thiên Chúa có thể định đoạt hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp về mạng sống con người.
Từ đó có người cho rằng: khi tội nhân đã bị tòa án kết án tử hình rồi, người ấy có phép tự xử lấy, bởi vì, trong trường hợp đó, quyền hành của chính quyền hợp pháp là do bởi Thiên Chúa và do đó tội nhân trở thành có thể trở nên lý hình cho mình. Thánh Alphôngxô cho rằng ý kiến ấy có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, cách chung, nhiều tác giả không cho là đúng, bởi vì hành động ấy tự nó là xấu. Vì có nghi vấn trong vấn đề trên nên tội nhân không buộc phải tự xử.
b) Tự sát thường, cho dù không phải luôn luôn, là tội ác đối với những người thân thuộc của mình và đối với xã hội loài người. Nhưng cũng có những trường hợp chính vì quan tâm đến ích chung mà người ấy phải hy sinh tính mạng. Đó là trường hợp của một điệp báo viên bị bắt phải tự sát để khỏi phản bội các đồng nghiệp của mình và để khỏi làm hại tới sự an ninh của quốc gia mình. (tr. 273)
c) Tự sát là một sự vi phạm nghĩa vụ phải yêu thương bản thân mình và phải nỗ lực trở nên hoàn thiện. Thế nhưng ‘tại sao trong một số trường hợp ta lại không được phép hy sinh tính mạng, nhất là vì một điều tốt đẹp hơn chẳng những phải chấp nhận hy sinh tính mạng cách gián tiếp mà có khi phải đòi buộc điều ấy ?’ (tr. 274)
Điều đó có nghĩa là tuy, nói chung, không được tự sát cách gián tiếp, tức là làm một việc gì hay bỏ làm một việc gì mà vì đó người ấy chết, thì người ta cũng có thể làm chuyện ấy khi có lý do chính đáng và tương xứng. Lý do là vì khi nào một nguyên nhân tốt trực tiếp phát sinh 2 hiệu quả tốt và xấu ; đồng thời hiệu quả tốt cân xứng với cái xấu, thì nên nhằm cái tốt và đành chịu cái xấu. Thánh Maximilianô Kolbê ở trong tình trạng như vậy: thay thế một người bị kết án tử (nguyên nhân tốt) để cứu anh khỏi chết (hậu quả tốt cho anh và gia đình) với hậu quả xấu là mình bị bỏ đói đến chết.
Chúng ta cũng lưu ý là lời dạy trên của Giáo Hội cũng gặp khó khăn trong trường hợp một Giám mục Pakistan tự sát trước tòa án. Theo tin từ Internet: Ngày 6/05/1998, thế giới bàng hoàng trước tin Đức Giám Mục Công Giáo John Joseph bắn một viên đạn vào đầu mình ngay tại tòa án ở Sahiwal Session, Pakistan để phản đối việc kết án tử hình bất công một thanh niên Công Giáo 27 tuổi, anh Ayub Masih. Anh Ayub Masih đã bị tố cáo tội "phạm thánh" và chiếu theo luật Hồi Giáo, anh Ayub Masih bị kết án tử hình. Những người tố cáo Ayub Masih cho rằng anh đã xúi giục những người Hồi Giáo hãy tìm đọc cuốn Những Vần Thơ của Quỷ Satan của Salmon Rushdie để biết mặt thật của Hồi Giáo.
Thật ra, theo điều tra của Ủy Ban Nhân Quyền Á Châu (hồ sơ AHRC\UA980508 8 May 1998), câu chuyện bắt đầu từ những tranh chấp về đất đai với những người Hồi Giáo trong vùng. Những người chiếm đất đã muốn 17 gia đình Công Giáo rút lại đơn thưa kiện họ chiếm đất bất công. Họ đã sử dụng luật "phạm thánh" như là một cách thế hiệu quả để hà hiếp những người Công Giáo.
Đức Giám Mục John Joseph, 66 tuổi, là Giám Mục giáo phận Faisalabad ở miền Trung Punjab từ năm 1981, đồng thời là chủ tịch Ủy Ban Nhân Quyền Công Giáo thuộc Hội Đồng Giám Mục Pakistan. Ngài là một người tranh đấu rất quả cảm cho nhân quyền, đặc biệt quyền tự do tôn giáo tại nước này. Sau cái chết kinh hoàng của ngài, Hội Đồng Giám Mục Pakistan đã họp khẩn cấp tại Lahore và ra tuyên bố khẳng định: "Không thể gọi cái chết của ngài là một vụ tự sát. Ngài đã tự hy sinh đời mình để tranh đấu chống lại bất công"...
Thứ Năm 15/8/2002, đúng ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, tòa án tối cao Pakistan đã tuyên bố anh Ayub Masih trắng án và rằng những người tố cáo anh đã vì tư thù mà tố cáo anh nói xấu tiên tri Mohammed của đạo Hồi. Anh Ayub Masih đã được phóng thích ngay tại tòa án.
Còn đối với vấn đề tuyệt thực: Có người cho rằng có tội nặng vì không bảo vệ mạng sống mình cũng giống như trường hợp tự sát. Nhưng có lý hơn khi cho rằng: Không có tội vì người tuyệt thực không chủ ý đến tự sát mà chủ ý đến kết quả của việc tranh đấu.
3.3.2 Giáo Hội đối với người tự sát
Giáo lý Công giáo nhận định rằng: ‘Người tự sát vì những rối loạn tâm thần trầm trọng, quá lo âu và sợ hãi trước một thử thách, trước đau khổ hoặc sợ bị tra tấn, có thể được giảm bớt trách nhiệm.’ (GLCG no 2282)
Vì thế, luật chung của Giáo Hội trước đây đã qui định: những ai tự sát sẽ không được an táng theo nghi thức Giáo Hội. Nhưng nay, luật ấy không còn giá trị nữa. Luật mới chỉ dự trù rằng các tội nhân tỏ tường sẽ không được vinh dự an táng theo nghi thức Giáo Hội, khi làm như thế có thể gây ra gương xấu công khai (GL no 1184). (tr. 274)
Giáo Hội cho rằng: ‘Ta không được tuyệt vọng về phần rỗi đời đời của những người tự tử. Thiên Chúa có thể thu xếp cho họ có cơ hội sám hối để được ơn tha thứ, bằng những đường lối mà chỉ một mình Người biết. Hội Thánh vẫn cầu nguyện cho những người hủy hoại mạng sống mình.’ (GLCG no 2283)
3.4 Giết chết để tránh đau
Giết người êm ái hay giết người vì thương xót đều là trực tiếp giết những bệnh nhân nan y, bất kể đó là theo lời yêu cầu của bệnh nhân hay của người đại diện hợp pháp như trong trường hợp những bệnh nhân không có khả năng tự quyết định thí dụ như trẻ em và những người thiểu năng tinh thần. (tr. 280)
Giết chết để tránh đau khác với việc ngưng chữa trị vì trường hợp trước là trực tiếp giết chết trong khi trường hợp sau thì chỉ ngưng chữa trị cho dù vì đó mà bệnh nhân chết.
Những người bênh vực giết chết để tránh đau cho rằng ‘thà hủy diệt sự sống còn hơn là đau khổ vất vả một cách vô nghĩa.’ Như thế vấn đề chính yếu ở đây là làm thế nào cho xứng với phẩm giá con người ? Đối với một số người thì tôn trọng phẩm giá bệnh nhân đồng nghĩa với việc giúp cho bệnh nhân đang đau đớn tới cái chết. Từ đó đưa tới hậu quả là thuốc men không chỉ để chữa bệnh nhưng còn đưa tới cái chết. Cũng vậy bác sĩ hay y tá là những người duy nhất trong xã hội được phép giết người vô tội. ‘Phân tích đến cùng, ta còn thấy quan điểm triết học nấp đằng sau phong trào ủng hộ giết người êm ái chính là một quan điểm duy lợi, duy thế tục, và giới hạn trong thế giới nầy.’
3.4.1. Euthanasia theo tài liệu của Giáo hội
Trong Tuyên ngôn về An tử, bộ Giáo lý Đức tin cho biết: "Euthanasia được hiểu là hành động hoặc không hành động để do chính hành động ấy hay do ý định mà gây ra cái chết ngõ hầu sự đau khổ được chấm dứt."
Trong tài liệu "Tôn trọng phẩm giá người hấp hối" của ACADÉMIE PONTIFICALE POUR LA VIE, người ta thấy euthanasia được hiểu như một hành vi hay một sự thiếu sót mà tự bản chất và trong ý hướng của hành vi ấy gây nên sự chấm dứt sự sống của người bệnh nặng hay của một trẻ sơ sinh dị dạng (l'euthanasie comprise comme un acte ou une omission qui, de par sa nature et dans ses intentions, provoque l'interruption de la vie du grand malade, ou celle du nouveau-né mal formé). Sách Giáo Lý Công Giáo cho biết:
Với bất cứ lý do nào và bất cứ phương thế nào, việc trực tiếp giết chết để tránh đau vẫn là nhằm chấm dứt sự sống của những người tật nguyền, đau yếu hoặc hấp hối. Về phương diện luân lý, việc này không thể chấp nhận được.
Do đó, có ý làm hoặc bỏ không làm[1] một việc tự nó đưa đến cái chết, để chấm dứt sự đau đớn của một người, là một tội cố ý giết người, tội nghiêm trọng nghịch với phẩm giá con người và với lòng tôn kính Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng Tạo Thành con người. Một phán đoán sai lầm một cách ngay tình không thay đổi bản chất của hành vi sát nhân, một hành vi cần phải bài trừ và cấm chỉ về mặt luân lý. (GLCG số 2277)
Qua những định nghĩa và hướng dẫn của những tài liệu của Giáo hội chúng ta thấy nổi lên những điểm quan trọng sau:
- Hành vi tự bản chất đưa đến việc chấm dứt sự sống hay hành vi tự nó đưa đến cái chết của một người. Ở đây chúng ta thấy có vấn đề hành vi trực tiếp và hành vi gián tiếp, một ý niệm rất quen thuộc và rất quan trọng trong luân lý Công giáo. Chúng ta thử xem trong Giáo lý Công giáo, Giáo hội dạy gì khi đề cập vấn đề này:
GLCG số 1736: Con người phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi trực tiếp chủ ý của mình:
- Trong vườn địa đàng, sau khi con người phạm tội, Thiên Chúa chất vấn E-và: “Ngươi đã làm gì thế ?” (St 3,13). Chúa cũng hỏi Ca-in như vậy (x. St 4,10). Sau khi Vua Đa-vít phạm tội ngoại tình với vợ U-ri-a và ra lệnh giết ông này (x. 2V 12,7-15), ngôn sứ Na-than cũng đặt câu hỏi tương tự với vua.
Thế nhưng đối với hành vi gián tiếp thì khác:
GLCG số 1736: - Một hành động có thể là gián tiếp chủ ý khi nó là hậu quả của sự chểnh mảng đối với điều phải biết hay phải làm ; ví dụ: gây ra một tai nạn vì không biết luật đi đường.
GLCG số 1737: Một hậu quả, không do tác nhân cố tình gây nên, có thể được dung thứ ; ví dụ: người mẹ kiệt sức vì chăm sóc đứa con đau yếu. Một hậu quả xấu sẽ không bị quy lỗi nếu nó không phải là mục đích hay phương tiện chủ ý của tác nhân ; ví dụ: một người bị thiệt mạng vì muốn cứu người khác. Tác nhân bị quy lỗi khi có thể thấy trước hậu quả xấu và có thể tránh được ; ví dụ: người say rượu lái xe cán chết người.
Từ đó chúng ta thấy hành vi trực tiếp qui trách nhiệm về chủ thể là người thi hành việc ấy, còn hành vi gián tiếp thì khác. Có loại gián tiếp chủ ý thì người làm phải chịu trách nhiệm vì đây là việc phải nên ai cũng phải lưu tâm thưc hiện: ai đi xe thì cũng phải biết luật đi đường ; linh mục phải biết thần học, phải biết dâng thánh lễ ; thầy giáo phải hiểu biết môn mình dạy... những việc đó liên kết chặt chẽ với nghề của mình. Người làm nghề nào thì phải biết nghề ấy, phải có trách nhiệm làm nghề nghiệp của mình cách tốt nhất. Vì thế nếu một người nhận dời nhà mà làm sập nhà hay làm chết người khác thì phải chịu trách nhiệm cho dù người ấy không hề muốn trực tiếp chuyện ấy bao giờ. Có loại gián tiếp vô ý như trên đã nói, vì người mẹ không bao giờ muốn mình bị kiệt sức và hành vi chăm sóc con không trực tiếp làm hại sức khỏe của mình. Trái lại khi chăm sóc con, người ấy lo lắng cho đứa con mau mạnh nên quên ăn quên ngủ, quên luôn sức khỏe của mình đang sa sút.
Tuy vậy chúng ta cũng cần lưu ý rằng trong cụ thể, trách nhiệm của mỗi người rất khác nhau vì có khi người ta làm với chủ ý hoàn toàn nhưng cũng có khi người ta không chủ ý như vậy:
GLCG số 1734 Có tự do, con người phải chịu trách nhiệm về các hành vi của mình theo mức độ chủ ý. Người càng đức hạnh, hiểu biết về sự thiện và sống khổ hạnh, ý chí càng làm chủ được các hành vi.
GLCG số 1735 Việc quy lỗi và trách nhiệm về một hành động có thể được giảm bớt hay xóa bỏ do thiếu hiểu biết, sơ suất, do áp lực, sợ hãi, do thói quen, do tâm lý bất ổn, do các nhân tố tâm lý hay xã hội.
Chính vì thế trong trường hợp muốn chết, Giáo hội cho biết:
"Có thể xảy ra là, do đau đớn kéo dài và ngoài sức chịu đựng, do những lý do riêng tư hoặc những lý do khác, người ta đi đến chỗ tin rằng được phép yêu cầu cái chết cho bản thân hay cho người khác.
Mặc dù trong những trường hợp này đương sự có thể được giảm lỗi hay hoàn toàn không có lỗi, nhưng phán đoán sai lầm ấy của lương tâm – có khi là của đức tin tốt lành nữa - không làm thay đổi bản chất của hành vi giết chết này, hành vi mà tự thân luôn là điều cần phải bác bỏ. ("Tuyên ngôn về an tử" số II)
Áp dụng vào trường hợp euthanasia thì chỉ khi nào dùng thuốc men (thuốc độc: thuốc dùng với liều lượng nhất định nào đó thì gây chết cho bất cứ ai) hay hành vi gây trực tiếp cái chết (bóp cổ, đâm…) thì mới kể là euthanasia còn nếu dùng thuốc để giảm đau đớn cho bệnh nhân nhưng làm cho bệnh nhân chết sớm hơn thì không kể là euthanasia.
- Những người bị giết chết là những người tật nguyền, đau yếu hoặc hấp hối. Giáo hội không hạn định tuổi tác cho đối tượng này. Chính vì thế họ có thể là những người rất trẻ, họ có thể là những người rất già, họ có thể là những người không có khả năng xét đoán và quyết định như trẻ nhỏ hay không còn khả năng ấy nữa như những người bị mất trí... Giáo hội muốn tổng quát hóa các trường hợp: cho dù đương sự nhờ người khác làm hay người ta có thể làm bất chấp ý kiến của đương sự thì đó cũng mang tính luân lý như nhau vì cùng một hành vi giết người. Giáo hội không loại trừ ngay cả việc một người tự tử khi quá tuyệt vọng về cơn bệnh của mình.
- Đây là tội giết người, tội nghiêm trọng nghịch với phẩm giá con người và với lòng tôn kính Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng Tạo Thành con người" và là "tội cố ý giết người". Giáo hội còn nói rõ thêm: "Một phán đoán sai lầm cách ngay tình không thay đổi bản chất của hành vi sát nhân, một hành vi cần phải bài trừ và cấm chỉ về mặt luân lý." Nếu đúng là euthanasia thì chúng ta thấy đây là hành động trực tiếp giết người. Người thi hành euthanasia chắc chắn ý thức việc mình làm là giết một con người (cho dù người ấy đang hết sức đau khổ, tuyệt vọng), nhiều khi người thực hiện euthanasia còn cố gắng tìm các phương pháp giết người nhanh nhất, kỹ thuật ít đau đớn nhất.
- Đối với người Công giáo, đây là hành động liên hệ tới Đức tin, vì liên hệ tới chính Thiên Chúa, Đấng dựng nên con người theo hình ảnh Thiên Chúa, liên hệ tới chính phẩm giá của người bệnh: vì đây là “một tội cố ý giết người, tội nghiêm trọng nghịch với phẩm giá con người và với lòng tôn kính Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng Tạo Thành con người.”
3.4.2 Lý do khiến Giáo hội Công giáo chống euthanasia
Những tài liệu hướng dẫn của Giáo hội về euthanasia thường cho thấy Giáo hội Công giáo không chấp nhận thực hành này. Nếu so sánh với những chủ trương của những người ủng hộ an tử chúng ta thấy họ dựa vào quyền con người, vào phẩm giá con người, vào quyền tự quyết của con người. Vậy phải chăng Giáo hội bất chấp những quyền trên ? Để trả lời trước tiên chúng ta thử tìm hiểu lập luận của Giáo hội về euthanasia.
Theo "Tuyên ngôn về an tử" số I, chúng ta có thể kể ra ba lý do khiến Giáo hội chống đối euthanasia:
"1. Không ai xâm phạm sự sống của người vô tội mà lại chẳng đi ngược lại tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người ấy, mà không phạm đến một quyền căn bản và vì thế phạm một tội ác nặng nề nhất.
2. Mọi người có bổn phận sống hoà hợp với kế hoạch của Thiên Chúa. Sự sống được trao phó cho con người như một điều tốt lành phải sinh hoa kết quả ngay ở đời này, nhưng chỉ đạt đến mức viên mãn ở cuộc sống vĩnh cửu.
3. Vì thế, cố ý gây ra cái chết cho chính mình, tức tự tử, là sai trái tương đương với giết người ; hành vi này được coi là phủ nhận quyền chủ tể và chương trình yêu thương của Thiên Chúa. Ngoài ra, tự tử thường còn là từ chối yêu mến bản thân gạt bỏ bản năng sinh tồn, thoái thác bổn phận thực thi công bằng bác ái đối với tha nhân, đối với các cộng đồng khác nhau, tức toàn xã hội mặc dầu, như mọi người đều công nhận, đôi khi có những yếu tố tâm lý làm giảm bớt trách nhiệm hoặc thậm chí hoàn toàn bãi miễn trách nhiệm."
Sách GLCG cũng trích lại tài liệu Donum vitae để xác nhận quyền sống là quyền căn bản của con người: "Quyền được sống là quyền bất khả nhượng của mọi người vô tội... Những quyền này không tùy thuộc vào các cá nhân, không tùy thuộc vào các bậc cha mẹ, cũng không phải là một nhân nhượng của xã hội và của Nhà Nước, nhưng thuộc về bản tính con người và gắn liền với con người do chính hành động Thiên Chúa sáng tạo nên con người. Trong những quyền căn bản ấy, phải kể đến quyền được sống và được toàn vẹn thân thể của mọi người từ lúc được thụ thai đến khi chết”. (GLCG số 2273)
Như thế những lý do Giáo hội đưa ra để chống lại euthanasia không chỉ liên hệ đến quyền tự nhiên của con người nhưng còn có liên hệ đến Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa là sự sống con người không phải là một cái gì hoàn toàn thuộc về con người nhưng có liên hệ đến Thiên Chúa và cộng đoàn nhân loại nói riêng (làng xóm, quốc gia…) hay nói chung (cả thế giới). Chính vì thế mà Tuyên ngôn không ngần ngại cho biết:
"Những điều được xét đến trong văn kiện này có liên quan trước hết đến những ai đặt niềm tin và sự trông cậy vào Đức Kitô, Đấng đã bằng đời sống, cái chết và sự phục sinh của mình mà trao ban ý nghĩa mới cho cuộc sinh tồn và đặc biệt cho sự chết của Kitô hữu, như lời thánh Phaolô: "Chúng ta sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa" (Rm 14,8; x. Phil 1,20)." (Tuyên ngôn về an tử, I)
Hơn nữa, Giáo hội cũng cho thấy Giáo hội muốn hướng đến những người thuộc các tôn giáo khác với hy vọng cùng chia sẻ với họ những gì mà họ cũng tin tưởng như Giáo hội: thí dụ như Đấng Chủ Tể, phẩm giá con người, sự bình đẳng đối với mọi người:
"Với những ai thuộc các tôn giáo khác, nhiều người sẽ đồng ý với chúng tôi rằng niềm tin vào Thượng Đế là Đấng Tạo Hóa, Đấng an bài và Đấng chủ tể của sự sống - nếu họ cùng chia sẻ niềm tin này - đem lại một phẩm giá quý trọng cho mọi con người và bảo đảm sự tôn trọng đối với mọi con người."(Tuyên ngôn về an tử, I)
Còn đối với những người không tôn giáo, những người chỉ sống dựa vào lý trí hay dựa vào sự đồng thuận (do trưng cầu ý kiến chẳng hạn), Giáo hội mời gọi họ suy nghĩ về an tử dựa trên quyền con người, là quyền mà ai ai cũng công nhận là quyền căn bản.
"Hy vọng rằng tuyên ngôn này sẽ nhận được sự tán thưởng của nhiều người thiện tâm, tuy có những dị biệt về nhân sinh quan và ý thức hệ nhưng cùng có ý thức sống động về các quyền của con người. Thật vậy các quyền này thường được chỉ ra trong những năm gần đây bằng các tuyên ngôn của các hội nghị quốc tế và vì đây là những quyền căn bản nội tại của mỗi con người nên không được nại vào các luận cứ đa nguyên chính trị hay tự do tín ngưỡng mà phủ nhận giá trị phổ quát của các quyền căn bản này." (Tuyên ngôn về an tử, I)
Cùng với mọi người, Giáo hội coi quyền sống là quyền căn bản nội tại. Căn bản vì là nền tảng mọi hoạt động con người ; nội tại vì liên kết chặt chẽ đến bản tính con người, và con người không tự mình tạo ra sự sống nên không ai có quyền tự ý hủy hoại sự sống:
"Sự sống con người là nền tảng cho mọi điều thiện hảo, là khởi nguồn cần thiết và điều kiện cần thiết cho mọi hoạt động của con người và cho mọi xã hội. Hầu hết mọi người đều coi sự sống là điều thánh thiêng và quan niệm rằng không ai có quyền tự ý hủy hoại sự sống" (Tuyên ngôn về an tử, I)
Từ ngữ thánh thiêng mà Giáo hội dùng ở đây có thể hiểu là những gì vượt lên trên con người, ngoài tầm tay của con người chứ không nhất thiết là thuộc về Đấng Chí Tôn hay Thiên Chúa.
Phân biệt như thế cho thấy những chủ trương của Giáo hội về an tử liên quan chặt chẽ đến niềm tin của Giáo hội, của những người con của Thiên Chúa, được Thiên Chúa ban cho sự sống và đời sống ấy không dừng lại ở trần gian hay là kết thúc sau cái chết. Đời sống ấy theo mẫu gương của Chúa Giêsu Đấng đã chịu đau khổ, đã chết và sống lại để được ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Chính vì thế Giáo hội muốn liên kết đau khổ của con người với đau khổ của Chúa Giêsu:
"Đau đớn thể lý là yếu tố không thể tránh khỏi của thân phận làm người. Trên bình diện sinh học, nó làm nên sự cảnh báo mà tầm hữu ích không ai có thể phủ nhận được. Thế nhưng, vì đau đớn tác động đến cơ cấu tâm lý nên nó thường vượt quá mức hữu ích sinh học, do đó có thể trở nên dữ dội đến nỗi gây ra ước muốn giải toả nó bằng bất cứ giá nào.
Tuy nhiên, theo giáo huấn Kitô giáo thì đau khổ, nhất là đau khổ trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời, có một vị trí đặc biệt trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa; quả thật chịu đau khổ là thông phần với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô và là sự hiệp nhất với hy tế cứu chuộc mà Ngài đã dâng lên trong sự vâng phục thánh ý Chúa Cha.
Vì thế chớ ai lấy làm ngạc nhiên nếu một số Kitô hữu muốn bớt đi việc dùng thuốc giảm đau ngõ hầu chấp nhận cách tự nguyện ít ra là một phần những đau khổ của mình và vì vậy kết hiệp một cách có ý thức với những đau khổ của Chúa Kitô chịu đóng đinh. x. M( 27:34)." (Tuyên ngôn về an tử, III)
Những lời trên cho thấy sự khác nhau giữa đời sống của người kitô hữu và người ngoài kitô hữu. Nếu không kết hiệp với Chúa Kitô sự đau khổ, cái chết là vô lý hoàn toàn, là không thể chấp nhận được. Thế nhưng đối với người kitô hữu thì khác, sự đau khổ ấy có thể gắn với Đức Kitô và sự đau khổ có thể làm cho người kitô hữu giống Chúa Giêsu hơn bao giờ hết. Điều này giải thích việc họ có thể dấn thân vào những nơi có thể làm cho họ phải chịu nhiều khổ cực, phải nguy hiểm đến tính mạng với mục đích làm cho người khác, nhất là người đang gặp đau khổ cùng cực, có đời sống bớt khổ hơn, sống xứng với nhân phẩm con người hơn. Nếu tất cả mọi người đều trốn chạy khỏi những người đang đau khổ thì chắc hẳn có một số lớn con người bị bỏ rơi, hay đi tìm đến cái chết. Tuy vậy Giáo hội cũng cho thấy hành động này không giống với hành động hiếu khổ hay tự tử vì thế Tuyên ngôn viết:
"Tuy nhiên, cần phải phân biệt rõ ràng hành vi tự tử với hành vi hy sinh mạng sống, nghĩa là vì một nguyên nhân cao đẹp hơn, chẳng hạn: vì vinh quang Thiên Chúa, vì sự cứu rỗi các linh hồn hay để phục vụ tha nhân, mà con người hiến dâng sinh mạng của mình hay đưa nó vào nguy hiểm. (x. Yn 15:14)." (Tuyên ngôn về an tử, I)
Những nhận xét trên cho thấy lập trường của Giáo hội thật rõ ràng về vấn đề an tử. Điều đó có thể đưa tới thắc mắc: Người Công giáo phải có thái độ như thế nào để gọi là đúng đắn theo giáo huấn của Giáo hội ?
3.4.3 Thái độ đối với người đau nặng
Đối với những người trong tình trạng đau nặng thì Giáo hội đôi khi coi việc muốn bớt đi thuốc giảm đau như là muốn "kết hiệp một cách có ý thức với những đau khổ của Chúa Kitô chịu đóng đinh" nhưng Giáo hội không đề nghị áp dụng rộng rãi thực hành như vậy cho mọi kitô hữu vì những hành vi "anh hùng" đó mang tính tự nguyện hơn là bó buộc: "sẽ là thiếu khôn ngoan nếu lấy cách hành xử anh hùng này mà đặt thành quy tắc cho hết thảy mọi người". Đối với người đau yếu bệnh tật, Giáo hội đề nghị áp dụng nguyên tắc tổng quát là tôn trọng sự sống:
"Phải đặc biệt tôn trọng sự sống của những người tàn tạ, yếu ớt. Những người bệnh hoạn tật nguyền phải được nâng đỡ để sống một cuộc sống càng bình thường càng tốt. (GLCG số 2276)
Đồng thời người ta cũng có thể dùng thuốc giảm đau: "đức khôn ngoan nhân loại và Kitô giáo gợi mở cho đại đa số bệnh nhân việc sử dụng những dược liệu có khả năng làm giảm bớt hay trấn áp đau đớn tuy chúng có thể gây ra tác dụng phụ, làm suy giảm ý thức và sự minh mẫn. Với những người lâm vào cảnh không còn khả năng diễn đạt ta có thể giả định rằng họ muốn sử dụng các loại thuốc giảm đau này và dùng thuốc cho họ theo lời khuyên của bác sĩ."
Ngay cả khi có những phản ứng phụ có thể gây nguy hiểm cho sự sống người bệnh, người ta cũng được phép những thứ thuốc ấy với vài lưu ý:
Nhưng việc sử dụng thường xuyên các thuốc giảm đau lại gặp phải những khó khăn bởi vì hiện tượng quen thuốc thường dẫn đến nhu cầu tăng liều lượng để duy trì hiệu quả. Về điểm này, rất nên nhớ lại một tuyên ngôn của Đức Giáo Hoàng Piô XII mà ngày nay vẫn còn nguyên vẹn hiệu lực. Phúc đáp vấn nạn của một nhóm bác sĩ: "Việc trấn áp đau đớn và làm tê liệt ý thức bằng thuốc gây mê... có hợp lẽ đạo và hợp luân lý cho bác sĩ và bệnh nhân hay không (ngay cả khi cái chết đã gần kề và có thể thấy trước được rằng việc sử dụng thuốc gây mê sẽ làm cho cái chết mau đến hơn) ? Đức Piô XII nói: "Nếu không có phương tiện nào khác và nếu, trong các hoàn cảnh cụ thể, hành vi này không ngăn cản sự thi hành các bổn phận khác trong tôn giáo và luân lý thì được phép". Trong trường hợp này tất nhiên không ai có chủ tâm gây ra tử vong cho dù có, một cách hợp lý, gây ra nguy cơ tử vong ; chủ tâm ở đây chỉ là nhằm xoa dịu đau đớn một cách hiệu quả khi sử dụng các phương tiện giảm đau có sẵn trong y khoa cho mục đích này.
Phương pháp sử dụng các phương tiện giảm đau trong y khoa cho người bệnh nặng hình thành một khoa Điều trị giảm đau (Les Soins Palliatifs). Theo Société Française d'Accompagnement de Soins Palliatifs thì điều trị giảm đau là cách điều trị tích cực đối với người bệnh đang tiến tới tình trạng nặng hay là đang ở giai đoạn cuối của cơn bệnh. Người ta điều trị giảm đau nhằm để làm giảm bớt những đau đớn thể lý cũng như những triệu chứng khác của cơn bệnh, đồng thời cũng lưu ý đến những đau khổ liên quan đến tâm lý, xã hội và tinh thần.[2] Như thế điều trị giảm đau không chỉ là những phương tiện y tế mà còn có sự hỗ trợ của những người thân yêu nhất trong gia đình, và sự hỗ trợ đó phải đến từ lòng yêu thương, trìu mến, mang nghĩa cử cao cả nhất của người Kitô giáo và với tấm lòng khoan dung độ lượng nhất.
Giáo sư Bernard Debré xác nhận: "Nếu các bác sĩ có thể và phải làm mọi cách để làm giảm nhẹ những đau đớn thể lý cũng như tâm lý thì tôi không thể tưởng tượng nổi việc người ta xin họ (các bác sĩ) làm chết cách hợp pháp ; để cảm thông, người ta có những phương thế khác hơn là giết người." ("Si les médecins peuvent et doivent tout faire pour soulager la souffrance physique et psychologique, il me semble impensable de leur demander de donner légalement la mort ; il y a d’autres moyens de compassion que l’assassinat".)
GLCG cũng trù tính đến tình trạng bệnh không thể được chữa lành: 2278
Có thể ngưng các phương thức trị bệnh quá tốn kém, mạo hiểm, dị thường hoặc không tương xứng với những kết quả mong muốn. Luân lý không đòi buộc phải chữa bệnh với bất cứ giá nào. Chúng ta không muốn giết người, nhưng chấp nhận không thể ngăn cản được sự chết. Chính bệnh nhân phải quyết định nếu họ có thẩm quyền và khả năng; nếu không, việc quyết định phải do những người có quyền theo luật pháp nhưng luôn phải tôn trọng ý muốn hợp lý và các quyền lợi chính đáng của người bệnh. (GLCG số 2278)
Ngay cả trong trường hợp đó, Giáo hội cũng mời gọi đồng hành với người bệnh trên con đường về Nhà Cha:
"Dù bệnh nhân sắp chết, vẫn phải tiếp tục chăm sóc bình thường. Về mặt luân lý, việc sử dụng các loại thuốc giảm đau, để làm dịu bớt sự đau đớn của người hấp hối, ngay cả khi có nguy cơ rút ngắn cuộc sống vẫn được xem là xứng hợp với nhân phẩm, miễn là không nhắm đến cái chết như mục đích hay như phương tiện, nhưng chỉ được tiên đoán và chấp nhận như điều không thể tránh. Săn sóc người hấp hối là một hình thức đặc biệt của đức bác ái vô vị lợi, cần được khuyến khích." (GLCG số 2279)
Trong chiều hướng này, người Công giáo còn phải kể đến bí tích Xức dầu bệnh nhân. Nếu ngày xưa đây là bí tích dành cho người “hòng sinh thì”[3] thì ngày nay bí tích này được gọi là bí tích xức dầu bệnh nhân. Sách GLCG viết: "Xức dầu bệnh nhân “không phải chỉ là bí tích dành cho những người hấp hối. Do đó, thời gian thích hợp để lãnh nhận bí tích Xức Dầu Thánh là khi người tín hữu bắt đầu lâm cơn nguy tử vì bệnh tật hay già yếu”. (GLCG số 1514). Như thế, đối với Giáo Hội, việc chăm sóc giảm đau có nghĩa là tìm ra những phương cách có hiệu lực nhất để có thể chế ngự được sự đau đớn và đau khổ. Người bệnh có thể chạy đến bí tích Thánh Thể qua việc rước lễ như của ăn đàng (viaticum), và chuẩn bị cho việc chết lành qua việc lãnh nhận bí tích xức dầu.
“Bằng việc xức dầu thánh và lời cầu nguyện của linh mục, toàn thể Hội Thánh phó thác các bệnh nhân cho Chúa Ki-tô đau khổ và vinh hiển để Người an ủi và cứu rỗi họ; hơn nữa, Hội Thánh còn thúc giục họ sẵn sàng kết hợp với Chúa Ki-tô đau khổ và chịu chết để mưu ích cho Dân Thiên Chúa” (LG 11). (GLCG số 1499)
Như thế thái độ đối với người đau nặng không chỉ đơn giản là những chăm sóc về y tế vì dù sao người đau nặng cũng là còn là thành phần trong cộng đồng là gia đình, xã hội và Giáo hội. Người ta có những hành động khác nhau có lẽ là do quan điểm đối với cái chết: nếu chết là hết, thì người ta tìm đến cái chết để gọi là giải thoát khỏi đau khổ ; nếu cho rằng cái chết không phải là dấu chấm hết vĩnh viễn đời một con người mà đúng hơn chỉ là để chuyển sang đời sống mới như Giáo hội Công giáo tin tưởng thì việc dùng mọi cách để chấm dứt cái chết xem ra không hẳn là đã đạt được mục đích, vì người kitô hữu cần phải chết trong Đức Giêsu Kitô. Đó là cái chết nào ?
3.4.4 Chết trong Đức Giêsu Kitô
Theo GLCG, chết là số phận chung của mỗi người và là hậu quả của tội lỗi. “Khi chính thức giải thích những điều Thánh Kinh (x. St 2,17 ; 3,3 ; 3,19 ; Sg 1,13 ; Rm 5,12 ; 6,23) và Thánh Truyền khẳng định, Huấn quyền của Hội Thánh dạy rằng cái chết đã vào trần gian vì con người đã phạm tội (x. DS 1511)” (GLCG số 1008). Tuy nhiên:
“Nhờ Đức Ki-tô, chết mang một ý nghĩa tích cực. "Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô và chết là một mối lợi" (Pl 1,21). "Đây là lời đáng tin cậy: Nếu ta cùng chết với Người, chúng ta sẽ cùng sống với Người" (2 Tm 2,11). Ki-tô giáo đem lại ý nghĩa mới cho cái chết: nhờ bí tích Thánh Tẩy, Ki-tô hữu đã "cùng chết với Đức Ki-tô" cách bí nhiệm để sống một đời sống mới. Nếu chúng ta chết trong ân sủng Đức Ki-tô, cái chết thể xác sẽ kết thúc việc "cùng chết với Đức Ki-tô" mỗi ngày để hoàn tất việc tháp nhập chúng ta vĩnh viễn vào Người nhờ công trình cứu độ của Người” (GLCG số 1010)
Qua cái chết, Thiên Chúa gọi chúng ta về với Người. Vì thế đối với cái chết, Ki-tô hữu có thể mong ước như Thánh Phao-lô: "Ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô" (Pl 1,23); theo gương Đức Ki-tô, họ có thể biến cái chết của mình thành một hành vi vâng phục và yêu mến đối với Chúa Cha (x.Lc 23,46) (GLCG số 1011)
Vì thế, Giáo hội khuyên chúng ta chuẩn bị cho giờ chết: "Trong mọi hành động, trong mọi suy tư của con, con phải xử sự như hôm nay con phải chết. Nếu lương tâm thanh thản, con sẽ không quá sợ cái chết. Thà giữ mình không phạm tội, hơn là trốn tránh sự chết. Nếu hôm nay con chưa sẵn sàng chết, thì làm sao ngày mai con sẵn sàng được? (x. Gương Chúa Giêsu 1,23,1)" (GLCG số 1014)
Ngày nay, vấn đề an tử vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi tại nhiều nơi vì người ta có nhiều ý kiến khác nhau. Một số nước theo cách đồng thuận, qua việc trưng cầu dân ý, để thông qua luật cho phép an tử. Giáo hội Công giáo không chấp nhận kiểu kết thúc cuộc đời như thế. Cuộc chiến chống lại sự dữ là đau khổ và cái chết vẫn là một cuộc chiến khó khăn nhưng vẫn phải tiếp tục. Đối với Giáo hội Công giáo người ta không có quyền bỏ đói (không cho ăn, không cho uống) để người ấy chết như trong trường hợp của Terri Schiavo[4]. Trái lại cái chết lý tưởng vẫn là trong tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng, trong lời cầu nguyện như Đức Thánh Cha Gioan Phaolo 2.
Người Công giáo hướng về Đức Kitô như nguồn lực và gương mẫu sống, chiến thắng đau khổ và cái chết. Người đau khổ, người bị tàn tạ, rách nát như Đức Kitô sau trận đòn của quân lính vẫn là con người (Ecce homo), là hình ảnh Thiên Chúa. Chết và phục sinh cùng với Đức Kitô vẫn luôn là lý tưởng của người Công giáo.
3.5 Cố ý giết người
Sách GLCG lên án nặng nề việc cố ý giết người. Điều răn thứ năm coi việc giết người cách cố tình và trực tiếp là một tội trọng. Kẻ sát nhân và đồng lõa phạm cùng một tội, tiếng máu kêu oan đến trời. (x. St 4,10)
Tội giết con cái, anh em, cha mẹ, vợ chồng là những tội ác ghê tởm vì cắt đứt liên hệ tình thân. Không thể biện minh cho bất cứ một tội sát nhân nào vì lý do bảo vệ nòi giống tốt hay y tế xã hội, dù chính quyền có ra lệnh. (GLCG no 2268)
Đồng thời GLCG cũng lên án về việc cố ý gián tiếp gây chết người: ‘Điều răn thứ năm cũng cấm những hành động cố ý gây chết người cách gián tiếp. Nếu không có lý do nghiêm trọng, luật luân lý cấm không được phép đặt một người vào chỗ nguy hiểm sinh tử, cũng như không được phép từ chối giúp đỡ một người đang lâm nguy.
Thật là một bất công tày trời và trọng tội, khi xã hội để nhân dân chết đói mà không tìm cách giúp đỡ. Các thương gia cũng gián tiếp phạm tội giết người, khi để cho đồng bào đói khổ và chết chóc vì buôn bán gian tham và hám lợi. Họ phải chịu trách nhiệm về tội này (x. Am 8,4-10). (GLCG no 2269)
Ngay cả trong trường hợp vô ý giết người, kẻ sát nhân cũng không được miễn hoàn toàn trách nhiệm luân lý: ‘Về mặt luân lý, con người không phải chịu trách nhiệm về tội ngộ sát. Thế nhưng, khi không có lý do tương xứng mà hành động gây chết người, dù không cố ý, người ta vẫn mắc lỗi nặng.’ (GLCG no 2290)
Vấn đề đặt ra là có khi nào được giết người không ? Chúng ta thử phân thành hai trường hợp: giết người trực tiếp và giết người gián tiếp:
3.5.1 Giết người trực tiếp
3.5.1.1 Giết người phạm tội ác
Giáo Hội Công giáo dựa vào truyền thống vẫn không bác bỏ hẳn án tử hình (GLCG no 2267). Người ta đưa ra những lý do và điều kiện như sau:
- Theo nguyên tắc của đức công bằng ta không thể cướp đi một quyền của con người bằng bất cứ sức mạnh trần gian nào, trừ trường hợp để bảo vệ một quyền còn cao hơn nữa. Chẳng hạn phải xét lại quyền nầy nếu phạm nhân đang làm thiệt hại tới các quyền căn bản của người khác và của cộng đoàn. Trong những trường hợp ấy vì quyền công bằng và quyền bảo vệ sự thịnh vượng chung mà một can phạm phải bị chết. (tr. 278)
- Người phạm pháp mất mạng sống riêng của mình để tái lập an ninh trật tự bị vi phạm và để răn những người khác: đó là quyền và nghĩa vụ của xã hội.
- Nếu tội ác không được xử cho cân xứng, thì cộng đồng không được bảo vệ cách hữu hiệu.
- Nếu được phép cắt bỏ phần hư thối để cứu thân xác, thì cũng được phép loại trừ những phần tử xấu để cứu vãn cộng đoàn.
- Giết tên đại gian ác là để cho xã hội được an toàn, vì thế chỉ có những người được xã hội phó thác nhiệm vụ (chính quyền) mới có quyền đó, tư nhân không được phép.
- Không được giết tội phạm khi chưa được đem ra xử theo pháp luật và Tòa chưa kết án: tội phạm biện hộ cho mình. Tuy cũng có luật trừ khi mọi người đều hay biết và khi sợ có bạo loạn.
3.5.1.2 Giết người vô tội:
Theo Thần học luân lý mà Hội Thánh Công giáo thường hay giảng dạy, trong trường hợp người vô tội ta không có quyền đời nào cao hơn quyền tự nhiên của con người là được bảo vệ khỏi bị những sự tấn công trực tiếp vào sinh mạng mình. Ngay cả những đòi hỏi của sự thịnh vượng chung cũng không là một quyền hạn cao hơn bắt ta phải hy sinh quyền sống của mình. Sở dĩ như thế là vì con người không hiện hữu thay cho quốc gia (tương tự như một chi thể có mặt là vì toàn thân), mà đúng hơn quốc gia hiện hữu là vì con người. (tr. 278)
Như thế, không ai được phép trực tiếp giết người vô tội bởi vì đây là một hành động xấu xa và bất công cách nội tại. Nhà Nước cũng không có quyền ấy, cho dù với lý do công ích, bởi vì đó là quyền sơ khởi của con người. Nhà Nước không được ra lệnh giết trực tiếp những người vô tội chỉ vì họ xấu xí, bệnh tật, không làm ích cho Quốc gia nữa, và ngược lại, còn là gánh nặng cho Nhà Nước.
Tuy nhiên Karl H. Peschke cũng lưu ý rằng: ‘Nói như thế chưa chứng minh được hy sinh một người vô tội (bằng cách giết trực tiếp) vì ích lợi chung luôn luôn là phi pháp.’ (tr. 279)
3.5.2 Giết người gián tiếp
Nếu trực tiếp giết người vô tội là không được phép còn trường hợp gián tiếp thì sao ?
‘Giết người vô tội cách gián tiếp không phải lúc nào cũng là tội sát nhân, nhưng thỉnh thoảng là điều được phép làm để bảo vệ một giá trị cao hơn. Sở dĩ thế là vì nếu không làm như vậy, các giá trị quan trọng, nhất là sự an sinh chung, sẽ không thể nào được bảo vệ hay tồn tại. Dĩ nhiên, một hành vi càng chắc chắn đưa tới cái chết gián tiếp của người vô tội, lý do để biện minh cho hành vi đó càng phải nghiêm túc.’
Chẳng hạn được phép ném bom các mục tiêu hay các nhà máy quân sự có ảnh hưởng quan trọng đối với một cuộc chiến chính đáng, dù dự kiến thấy một số thường dân sẽ bị giết cùng với cuộc ném bom ấy. Có thể giao nộp những người vô tội cho nhà độc tài đang đòi giết họ, nếu nhờ đó mà cả thành phố được cứu thoát. Được phép bắn trả những người tấn công hay bạo loạn cách bất chính, dù vì núp sau phụ nữ và trẻ em cuộc bắn trả có thể làm các người vô tội ấy bị thiệt mạng, nếu không có cách nào khác để tự vệ. Thấy thắng xe bị đứt và xe bắt đầu lao xuống dốc, tài xế xe đò không buộc phải lái xe vào bờ hay thành cầu (có thể làm chết nhiều người trên xe) dù vì thế mà có thể đụng một số xe khác trên đường hay làm thiệt mạng một người đang đi đường. Dĩ nhiên, nếu lái xuống ruộng ít nguy hiểm hơn và có thể tránh được một tai nạn lớn hơn thì tài xế buộc phải làm như thế. Trên nguyên tắc chỉ được phép hy sinh gián tiếp một người vô tội để cứu các sinh mạng khác, khi các sinh mạng hay các giá trị được cứu ấy nhiều hơn, quan trọng hơn, hay ít ra quan trọng bằng những sinh mạng phải bị hy sinh. (tr. 279-280)
Ở đây người ta thấy nổi lên nguyên tắc song hiệu: khi do một việc làm phát sinh 2 hậu quả tốt và xấu một cách trực tiếp, và cái tốt cân xứng được cho cái xấu thì nên nhắm điều tốt và đành chịu hậu quả xấu.
Cũng cần lưu ý là không được giết những sứ giả hoặc con tin, mặc dù đối phương không giữ lời giao ước, bởi vì các sứ giả đó là những người vô tội.
3.6 Phá thai
‘Phá thai là lấy khỏi bụng mẹ một con người không thể sống được dựa vào một phương pháp nào đó của con người, hoặc bằng cách giết nó trước khi lấy ra khỏi bụng mẹ, hoặc bằng cách làm cho nó phải liều mạng khi sống ngoài bụng mẹ.’ (tr. 283)
GLCG nhấn mạnh: ‘Sự sống con người phải được tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ từ lúc được thụ thai. Ngay từ giây phút bắt đầu hiện hữu, con người phải được kẻ khác nhìn nhận các quyền làm người, trong đó có quyền được sống là quyền bất khả xâm phạm của mọi người vô tội (GLCG no 2270). Bản văn nhấn mạnh đến sự sống con người phải được bảo vệ từ lúc thụ thai. Vậy nên cũng cần phải biết rõ hơn về vấn đề thụ thai vì những khám phá về phôi thai cho chúng ta một hiểu biết rõ hơn về tiến trình hình thành một con người.
Trước tiên là sự thụ tinh. Trứng được sinh ra từ buồng trứng di chuyển về phía vòi trứng nếu gặp được tinh trùng đang di chuyển tới thì sẽ thụ tinh. Thường chỉ những tinh trùng mạnh mới có thể vượt qua nhiều cản ngại mới có thể đi tới gặp được trứng và thụ tinh tại vùng thụ tinh. Sau khi đã thụ tinh, trứng thụ tinh vẫn còn ở trong tình trạng di động trong các ống dẫn trứng và tử cung chừng 7-8 ngày (có người bảo là 12 ngày). Kế đó mới bắt đầu làm tổ, nghĩa là trứng thụ tinh bắt đầu bám chặt vào vách tử cung. Việc nầy hoàn tất vào khoảng 12 ngày sau khi thụ thai. Các y bác sĩ cho rằng trong khoảng thời gian trước khi làm tổ, có tới 40% - 50% trứng thụ tinh bị rớt và đẩy ra ngoài một cách tự nhiên. (tr. 285)
Điều đáng lưu ý là từ khi thụ thai cho tới khi hoàn thành việc làm tổ và ngay cả 2,3 ngày sau khi làm tổ luôn luôn có khả năng trứng đậu thai ấy bị phân thành hai tế bo hoàn toàn y như nhau và phát triển thành hai người. Điều đó có nghĩa là cho tới lúc ấy ta không thể nói trứng thụ tinh là một cá thể và do đó không thể nói đó là một người đúng nghĩa. (tr. 285) Đó là trường hợp song thai một trứng (monozygote): chiếm khoảng 30% các trường hợp song thai. Hai thai nhi là kết quả từ sự thụ tinh của một noãn (trứng) với một tinh trùng. Trong quá trình phân sinh và biệt hóa tế bào, hợp tử đột nhiên phát triển phân đôi thành hai thai nhi (song thai đồng tính).
[Đồng thời ‘người ta đã tìm ra bằng chứng cho biết trong giai đoạn đầu tiên ấy hai tế bào kia có thể kết hợp lại, thậm chí hai trứng đã thụ tinh (hai trứng và hai tinh trùng) có thể kết hợp lại thành một. Như thế, ta phải kết luận rằng việc trứng thụ tinh có linh hồn hay được nhân hóa có thể chỉ xảy ra sau khi phôi thai đã được cá thể hóa xong xuôi, nghĩa là không trước 14 ngày sau khi thụ thai.’ (tr. 285)]
Tuy nhiên sự sống con người là một vấn đề quan trọng ‘nên các nhà thần học thường bảo rằng trong thực tế ta phải theo hướng hành động nào an toàn hơn, đó là luôn luôn xử với một trứng đã thụ tinh và còn sống như một con người, với đầy đủ quyền lợi của một con người, bất kể nó đang ở giai đoạn phát triển nào.’ (tr. 284)
Giáo Hội Công giáo kết án nặng nề việc phá thai: ‘Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Hội Thánh đã xác định phá thai là một tội ác. Giáo huấn ấy bất biến, không hề thay đổi. Trực tiếp phá thai, dù là mục đích hay phương tiện, đều vi phạm nghiêm trọng luật luân lý.’ (GLCG no 2270)
‘Cộng tác vào chính việc phá thai là một lỗi nặng. Theo giáo luật, Hội Thánh ra vạ tuyệt thông cho kẻ phạm tội này. ‘Ai thi hành việc phá thai, và việc phá thai có kết quả, thì mắc vạ tuyệt thông tiền kết. (GL. 1398), do chính hành vi phạm tội (GL. 1314) và theo những điều kiện đã được giáo luật dự liệu (GL. 1323-1324). Cách làm này cho thấy Hội Thánh không có ý giới hạn lòng thương xót của Thiên Chúa, nhưng muốn nhấn mạnh tính cách nghiêm trọng của tội ác đã phạm, sự thiệt hại không sửa chữa được đã gây ra cho trẻ vô tội bị giết chết, cho cha mẹ của em và cho toàn xã hội. (GLCG số 2272)
Như thế Giáo Hội kết án nặng nề việc phá thai trực tiếp. Chúng ta thử đi sâu vào việc phân biệt trực tiếp và gián tiếp nầy.
3.6.1 Phá thai trực tiếp
‘Gọi là phá thai trực tiếp khi ta nhắm việc đẩy bào thai không thể sống ấy ra ngoài hay coi việc tiêu diệt bào thai ấy trong bụng mẹ là mục tiêu của hành vi hay là phương tiện để đạt được mục tiêu nào đó, như phá thai để cứu vãn danh dự của một người mẹ dù chưa kết hôn.’ (tr. 283)
Tại Việt nam đã có gần 30.000 ca phá thai mỗi năm của riêng độ tuổi của từ 13-17 tuổi (theo thống kê năm 1994). Theo thống kê của Trung Tâm Bảo Vệ Sức khỏe Bà Mẹ Trẻ Em –Kế Hoạch Hóa Gia Đình, tại Thành phố Hồ Chí Minh thì năm 1996: có 141.207 ca nạo phá thai, và số trẻ được sinh ra là 85.000 em. Năm 1997: có 141.269 ca nạo phá thai, và số trẻ được sinh ra là 109.700 em.
Theo báo Phụ Nữ ngày 16.8 và 24.10.2000 thì tại thành phố Hồ Chí Minh: năm 1998 có 138.222 ca phá thai, trong đó có 1.240 ca dưới 18 tuổi ; năm 1999 có 131.653 ca phá thai, trong đó có 1.179 ca dưới 18 tuổi.
Những nguyên nhân đưa tới phá thai trực tiếp thường là ưu sinh, đạo đức, xã hội và để trị bệnh.
3.6.1.1 Pháthai vì ưu sinh trong những trường hợp dự đoán khá chắc chắn trẻ sơ sinh sẽ bị những khuyết tật nghiêm trọng. Những khuyết tật nầy có thể bị gây ra do những rối loạn di truyền hay do những bệnh tật vướng phải như người mẹ bị sởi. (tr. 287)
Giáo Hội Công giáo bác bỏ hình thức phá thai vì ưu sinh nhằm loại bỏ những thai nhi ‘không đạt tiêu chuẩn’ như dị dạng, bệnh tâm thần... Về mặt luân lý, khám thai là điều được phép làm, nếu nó tôn trọng sự sống và sự toàn vẹn của phôi thai và của thai nhi, và nếu nó được nhắm tới sự bảo tồn hay chữa trị chính phôi thai hay thai nhi. Việc khám thai nghịch với luật luân lý cách nghiêm trọng, khi có ý khám thai để căn cứ vào kết quả có thể dẫn đến phá thai. Khám thai không thể trở thành phiên tòa tuyên án tử hình. (GLCG no 2274)
GLCG no 2275 cho biết thêm: Chỉ được phép can thiệp trên phôi thai con người, với điều kiện phải tôn trọng sự sống và sự toàn vẹn của phôi thai, và không gây những rủi ro không cân xứng cho phôi thai, nhưng phải nhằm tới việc chữa trị, cải thiện sức khỏe, hoặc để cứu sống chính phôi thai. Sản xuất những phôi thai con người với dụng ý khai thác như một vật liệu sinh vật để sử dụng cho việc chữa bệnh chẳng hạn là phản đạo đức.
Đã có một vài thử nghiệm can thiệp trên bộ nhiễm sắc thể hoặc gen di truyền không phải để trị liệu, nhưng muốn tạo ra những con người được tuyển lựa theo phái tính hoặc với những tính chất định sẵn. Những hành vi đó nghịch lại với phẩm giá của nhân vị, sự toàn vẹn và căn tính duy nhất, không trùng lắp của con người.
Tuy nhiên đây thực sự là một vấn đề gây khó khăn trong mục vụ bởi vì nhiều gia đình lo âu khi biết rằng con mình sẽ bị tật nguyền nghiêm trọng. Họ hoàn toàn không yên tâm khi tưởng tượng ra con mình sẽ ở trong trại tâm thần cho tới chết. Phải chăng trong những trường hợp như thế họ cần được nâng đỡ của GH, của xã hội để giảm bớt gánh nặng cho họ ?
Vấn đề đối với quái thai cũng thế, có những quái thai không não hay thiếu những bộ phận quan trọng để có thể sinh sống như một người. Phải chăng Giáo Hội cũng liệt kê trường hợp trên vào loại phá thai vì ưu sinh ? Một vài nhà luân lý Công giáo không coi đây như là hành động phá thai đúng nghĩa. Tuy nhiên đụng chạm đến con người luôn phải hết sức thận trọng và đôi khi người ta nhờ đến phá thai là vì tưởng rằng không còn giải pháp nào khác, trong khi họ có thể chọn giải pháp không làm chết thai nhi.
3.6.1.2 Phá thai mang tính đạo đức như khi mang thai do bị cưỡng hiếp. Phá thai trong trường hợp nầy được biện minh là vì đứa trẻ sinh ra là một gánh nặng không chính đáng mà người mẹ phải chịu ngược với ý muốn của mình và vì thế khó lòng yêu thương nó. Ngoài ra, sự có mặt của đứa trẻ có thể đặt người mẹ vào tình trạng là nạn nhân của sức ép luân lý và ô nhục trong xã hội. Một số tác giả cũng kể việc loạn luân và ngoại tình vào số nầy. (tr. 288)
Giáo Hội chống đối những việc phá thai như thế. Tuy nhiên, trong trường hợp bị cưỡng hiếp có tác giả cho rằng ‘được phép dùng 'thuốc viên sáng hôm sau' để ngăn chặn trứng làm tổ. (tr. 286) Và ngay cả luân lý thời xưa cũng cho biết: Nếu được phép lấy bạo lực để xua đuổi bạo lực, để bảo vệ của cải đáng giá, và vì vậy được giết tên bạo lực bất công nếu cần ; thì cũng vậy, tinh trùng đã nhờ bạo lực mà xâm nhập, thì được phép dùng bạo lực mà tống cổ nó ra để ngăn chận sự thụ thai cách nhục nhã và để bảo vệ danh dự mình. Vả lại sau khi giao hợp chưa có sự kết hợp tức thì của tinh trùng và trứng, và vì vậy chưa hẳn là đã có thai. Vì vậy, lúc loạn lạc, đảo chánh, người nữ bị quân lính hiếp dâm, thì được phép uống thuốc phá thai hay ngừa thai (anticonceptionalibus) để tự vệ.
3.6.1.3 Phá thai mang tính xã hội như khi đứa trẻ (được sinh ra thêm) là một gánh nặng quá lớn về mặt xã hội và đặc biệt về mặt kinh tế cho gia đình hay cho người mẹ. Tuy nhiên trong thực tế việc phá thai có tính xã hội thường dựa trên cơ sở không phải là áp lực tài chánh nghiêm trọng. Người ta đã chứng minh rằng việc phá thai thường xảy ra nơi những người được an ninh về kinh tế hơn là nơi những người nghèo, cho dù sự nghèo nàn cùng cực sẽ thật sự làm cho tình hình thêm nguy ngập.
Giáo Hội cũng không chấp nhận việc phá thai mang tính xã hội và thường khuyến khích các gia đình có khả năng (như gia đình hiếm muộn chẳng hạn) tiếp đón những trẻ sơ sinh ngoài ý muốn như thế.
3.6.1.4 Phá thai để chữa bệnh khi tính mệnh người mẹ bị lâm nguy nghiêm trọng do việc mang thai... Đang khi số vụ phá thai trị liệu ngày càng giảm, thì những vụ phá thai vì những lý do tâm bệnh ngày càng gia tăng. (tr. 288)
Tông thư 'Casti Connubii' của Đức Piô 11 là văn kiện đầu tiên bày tỏ sự bất bình minh bạch và tuyệt đối về việc phá thai trị liệu. Lập trường nầy cũng được Đức Piô 12 và Đức Phaolô 6 đón nhận. Một tuyên bố mới đây của thánh Bộ Giáo lý đức tin đã xác nhận sự phản đối ấy một lần nữa.
Lời phi bác việc phá thai trực tiếp để trị liệu của Huấn quyền Hội Thánh và của các nhà thần học luân lý Công giáo được xây dựng trên cùng một nguyên tắc như việc phi bác các hình thức phá thai trực tiếp khác. Trực tiếp giết một trẻ vô tội luôn luôn là một hành động vô luân và bất kể trong hoàn cảnh nào cũng bị cấm. (tr. 292)
Nguyên tắc ấy đôi khi cũng gặp phải một vấn nạn khó giải quyết. Thí dụ trường hợp một bà bị xuất huyết trầm trọng và có nguy cơ tử vong. Chuyên viên liền lấy bào thai ra và bà ấy được chữa lành. Như thế chuyên viên đã trực tiếp phá thai để cứu người mẹ và như vậy là không hợp với giáo huấn của Hội Thánh Công giáo. Cách làm đúng giáo huấn là cắt tử cung đang xuất huyết cùng với cái thai vì trường hợp nầy chỉ là phá thai gián tiếp.
Chúng ta thấy rằng nếu không can thiệp phẩu thuật cắt khối u thì cả mẹ lẫn con đều chết. Nếu làm theo giáo huấn thì người mẹ sống nhưng không còn khả năng sinh sản nữa, còn nếu ‘phá thai trực tiếp’ thì tử cung được bảo toàn nên còn có khả năng sinh sản. Một số nhà luân lý chấp nhận cách giải quyết thứ ba nầy: ‘Các tác giả Công giáo gần đây cho phép phá thai trị liệu để cứu người mẹ’. Tác giả cuối cùng nầy (L. Cornerotte) chỉ cho phép phá thai khi không làm thế cả mẹ lẫn con sẽ chết. Nếu một trong hai người có thể còn sống, ta nên chờ đợi và để sự việc xảy ra theo sự quan phòng của Thiên Chúa. Đây có vẻ là một sự hạn chế đúng đắn, vì trong trường hợp ấy ta không có cách nào để biết ai trong hai người ấy có giá trị hơn. (tr. 297)
Nếu Giáo Hội Công giáo không thiện cảm mấy với việc phá thai trực tiếp thì Giáo Hội cho phép phá thai gián tiếp trong một số trường hợp.
3.6.2 Phá thai gián tiếp
Gọi là phá thai gián tiếp khi ta chỉ cho phép phôi thai chết như một hậu quả đi kèm theo một điều ta trực tiếp nhắm tới, như làm chết phôi thai do cắt bỏ tử cung của một người mẹ đang mang thai. (tr. 284)
Như thế khi chữa bệnh cho người mẹ đang lâm nguy và khi không còn cách nào khác, người ta có thể dùng thuốc men và các cách chữa trị vốn nhắm đến việc trị bệnh cách trực tiếp, còn việc phá thai kia chẳng qua là gián tiếp. Người ta trực tiếp nhắm cứu mạng người mẹ, nhưng đồng thời cũng trục xuất luôn bào thai. Việc trục xuất bào thai như thế chỉ là gián tiếp làm chết bào thai.
Trong trường hợp thai nhi nằm bên ngoài tử cung, hoặc ở trong buồng trứng hoặc ở trong ống dẫn trứng, hoặc ở dạ dưới, thai nhi không sống được mà còn có thể gây tử vong cho người mẹ thì cần phải giải phẫu khối u ấy cho dù vì vậy mà phải cắt bào thai.
Khi ống dẫn trứng hay tử cung bị bệnh thì có thể cắt ống dẫn trứng hay tử cung (cùng với bào thai) nhưng không được loại bỏ chỉ một mình bào thai (trực tiếp) mà thôi. Cách giải quyết nầy cũng đưa tới vấn nạn như phần phá thai để chữa bệnh.
Vì lý do quan trọng thì được trục thai thiếu tháng, nghĩa là nếu phải đợi đến đủ ngày thì tính mạng của đứa con hay của cả hai mẹ con đều có thể lâm nguy, hoặc bị bệnh tật nặng nào khác. Bởi vì đây là việc làm bất đắc dĩ để cứu mạng của mẹ và của con.
Điều đó có thể xảy ra trong những trường hợp sau đây:
- Vì cửa mình của người mẹ quá nhỏ: nếu để thai nhi đến đủ tháng thì phải mổ bụng mẹ để đem đứa con ra, và như vậy có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của người mẹ ; mặt khác, hy vọng đứa con thiếu tháng sinh ra còn có thể sống và nuôi được, hơn nữa tính mạng của người mẹ cũng không đến nỗi nguy lắm.
- Trường hợp người mẹ mắc bệnh hay phải cơn nguy hiểm nào khác, nếu phải để sinh đứa con thiếu tháng, sức khỏe của bà vẫn còn hy vọng ; còn nếu bà chết trước khi sinh đứa con đủ tháng thì bào thai cũng sẽ rất nguy.
Trục xuất bào thai thiếu tháng có nguy cơ làm chết hài nhi nhưng xét ra cũng không nhất thiết là trực tiếp giết hài nhi vì với kỷ thuật tiên tiến, cả hai mẹ con có cơ may sống sót.
4. Chiến tranh và nhiệm vụ bảo vệ hòa bình
4.1 Chiến tranh
Chiến tranh là một sự xung đột có vũ trang giữa các quốc gia hay giữa các tập thể rộng lớn có tổ chức gần như quốc gia. Đôi khi khái niệm chiến tranh còn được dùng theo nghĩa rộng, để chỉ những sự xung đột được tiến hành không phải bằng các vũ khi quân sự, mà bằng các phương tiện khác như áp lực kinh tế và tuyên truyền. Thuật ngữ 'chiến tranh lạnh' đã được chế ra để chỉ những trường hợp ấy. (tr. 168)
Vì những xung đột có vũ trang thường gây những tác hại về người, về của cải vật chất, cũng như để lại những vết thương tâm lý trầm trọng và kéo dài, Giáo Hội mời gọi xa lánh chiến tranh: ‘Hội Thánh khẩn thiết thúc giục chúng ta cầu nguyện và hành động để Thiên Chúa nhân lành giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ ngàn đời của chiến tranh. (GLCG no 2307)
Tuy nhiên, dẹp bỏ vũ trang một cách vô điều kiện tưởng để bảo vệ quyền lợi của mình thì nhiều khi đưa tới những hậu quả tai hại không kém. Vì như thế, những người sử dụng bạo lực bừa bãi không bị trừng phạt và nhân loại có thể rơi vào tình trạng vô trật tự vì công lý không được tôn trọng. Trong trường hợp này, sự mất mát còn lớn hơn là sự đổ nát vật chất.
Chính vì thế mà Giáo Hội lưu ý rằng: ‘Mỗi công dân và mỗi người lãnh đạo đều phải hành động để tránh chiến tranh. Tuy nhiên, bao lâu nguy cơ chiến tranh tồn tại, bao lâu chưa có quyền bính quốc tế nào có thẩm quyền và có đủ sức mạnh, thì một khi đã tận dụng mọi phương thế ôn hòa, các chính phủ được phép sử dụng quyền tự vệ chính đáng.’ (GLCG no 2308) Quyền tự vệ ở đây có thể hiểu là khởi đầu một cuộc chiến.
Như thế, chiến tranh có thể ở thế công hoặc thế thủ. Quan điểm về công và thủ (hay tự vệ) rất khác nhau. Có người cho bên gây chiến cách bất công là thế công, còn bên gây chiến tranh chính đáng là tự vệ. Gọi là 'chính đáng' vì chống lại xâm lăng bất công. Quan điểm nầy mang tính luân lý.
Có những người khác quan niệm theo sự việc xảy ra bên ngoài: ai khai chiến trước, người đó thế công hay là xâm lăng còn người sau chỉ tự vệ. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng quan niệm nầy chưa hẳn là chính xác vì khai chiến trước nhưng nhiều khi là để ngăn chặn một sự xâm lăng gần kề, vì vậy đó là chiến tranh chính đáng. Còn bên kia, xét về mặt ngoài hay chất thể là tự vệ, mà sự thực là xâm lăng, vì họ đã cố gắng giữ lại việc bất công mà họ đã phạm trước đó. Những nhận xét đó cho thấy không phải mọi cuộc chiến đều có lý do chính đáng.
4.1.1 Chiến tranh chính đáng
Lịch sử nhân loại cho thấy cảnh cá lớn nuốt cá bé rất thường xảy ra vì thế cần phải tìm cách tự vệ một cách có hiệu quả. ‘Lý trí nhìn nhận quốc gia có quyền tự vệ bằng chiến tranh dựa vào nguyên tắc nhà cầm quyền có trách nhiệm đối với công ích của một quốc gia không thể bị thiếu các phương tiện cần thiết để làm việc ấy. Thế mà đôi khi chiến tranh lại là phương thế duy nhất để bảo vệ sự thịnh vượng của quốc gia trước những sự xâm lăng bất chính. Điều tốt bị lâm nguy càng cao, những hy sinh hợp lý cần phải có để bảo vệ điều tốt ấy càng lớn. Mỗi khi sự xâm lăng bất chính đe dọa tới những ích lợi cao cả nhất của quốc gia (như sự sinh tồn, sự tự do luân lý và sự tự do tôn giáo của quốc gia ấy) quốc gia nào cũng có quyền, thậm chí có nghĩa vụ bảo vệ các giá trị ấy trước sự tấn công đó.’ (tr. 170-171)
Tuy nhiên chiến tranh, do những hậu quả kinh khủng của nó, không thể được xem như phương thế thông thường để đem lại công lý. Vì thế, phải xem xét nghiêm ngặt các điều kiện phải có để tự vệ chính đáng bằng sức mạnh quân sự. Một quyết định như thế rất nghiêm trọng, nên phải hội đủ các điều kiện sau đây:
- Thiệt hại do kẻ xâm lược gây ra cho quốc gia hoặc cho cộng đồng các quốc gia có tính lâu dài, nghiêm trọng và chắc chắn ;
- Tất cả các phương thế khác để chấm dứt tình trạng này không thể thực hành được hoặc vô hiệu;
- Phải hội đủ các điều kiện quan trọng để thành công ;
- Việc sử dụng vũ khí không gây những tai hại và hỗn loạn nghiêm trọng lớn hơn những tai hại ta đang cố loại trừ. Phải lượng định sức mạnh tàn phá của các phương tiện chiến tranh hiện đại khi thẩm định điều kiện nầy. (GLCG no 2309)
Đó là những yếu tố thường được nêu lên trong học thuyết ‘chiến tranh chính đáng’ của Giáo Hội Công giáo.
Một vài nhận xét:
- Quyết định chiến tranh là một quyết định quan trọng vì thế phải do Chính Quyền hợp pháp, tức là quyền nào cao nhất trong nước, khai chiến, vì chỉ có quyền đó mới có bổn phận bảo vệ quốc gia.
- Chính nghĩa của cuộc chiến có thể là sự chống lại cuộc đàn áp bất công ; có thể là ngăn chận một tai họa nặng đang đe dọa quốc gia hay trật tự xã hội hay trật tự quốc tế ; nếu tai họa ấy đã xảy ra rồi, thì chính nghĩa là sự chỉnh đốn trật tự ấy lại. Không thể là chính nghĩa, nếu gây chiến chỉ để bành trướng thế lực chính trị hoặc kinh tế.
- Chính nghĩa ấy phải tương xứng với các đổ vỡ vật chất và tinh thần của người dân và của quốc gia đang chiến tranh. Chiến tranh thường diễn ra không những trên đất, ngoài biển mà còn dưới lòng biển và trên không. Người ta phải tiêu phí nhiều cho chiến tranh nên toàn dân và mọi hoạt động công, tư phải dồn hết sức cho chiến tranh nên trật tự kinh tế, xã hội bị xáo trộn trong nhiều năm. Phải chăng cần phải đẩy mạnh thương thuyết hơn là sử dụng vũ trang ? Phải chăng thà chịu đôi chút bất công còn hơn là gây chiến để rồi bị thiệt hại nặng hơn ?
4.1.2 Các phương tiện chính đáng
Khi đã lăn xả vào cuộc chiến chính đáng thì không có nghĩa là người ta được phép dùng bất cứ phương tiện nào để đạt được mục đích. ‘Các phương tiện và các phương pháp sử dụng trong chiến tranh đều không được bất hợp pháp tự bản thân chúng, và phải tương xứng với lý do và các mục tiêu chính đáng của cuộc chiến.’ (tr. 173)
Vì thế, sách GLCG viết: ‘Hội Thánh và lý trí con người đều khẳng định rằng luật luân lý vẫn còn nguyên hiệu lực trong thời gian chiến tranh. Không phải vì chiến tranh đã chẳng may khai diễn, mà các đối thủ đều được phép muốn làm gì thì làm.’ (no 2312)
Vì thế đối với phía địch: ‘Phải tôn trọng và đối xử nhân đạo với thường dân, thương binh và tù binh.’
‘Những hành động cố ý vi phạm nhân quyền và các nguyên tắc phổ quát của nhân quyền, cũng như các lệnh truyền thi hành các hành động ấy, đều là tội ác. Chấp hành mệnh lệnh cách mù quáng không đủ để bào chữa cho những ai tuân hành các lệnh đó. Do đó, việc tiêu diệt một dân tộc, một quốc gia hoặc một nhóm thiểu số phải bị kết án như một tội trọng. Luân lý đòi chúng ta phải chống lại các mệnh lệnh diệt chủng.’ (GLCG no 2313)
Cũng cần lưu ý đến những phương tiện chiến tranh, những vũ khí giết người, đặc biệt là giết người trên diện rộng, gây tác hại lâu dài: ‘Mọi hành động hiếu chiến nhằm tiêu diệt bừa bãi nguyên cả một thành phố hoặc những vùng rộng lớn cùng với dân cư ở đó, là một tội ác chống lại Thiên Chúa và chính con người. Phải cực lực lên án và không ngần ngại tố cáo tội ác đó.’ Nguy cơ của chiến tranh hiện đại là tạo dịp cho những người có trong tay các vũ khí khoa học, đặc biệt là vũ khí nguyên tử, sinh học hoặc hóa học, phạm những thứ tội ác như thế. (GLCG no 2314)
Từ đó:
- Trong lúc giao tranh, được dùng các chiến lược không xấu cách nội tại, thí dụ: được giả đò rút lui. Cũng vậy, được tàn phá ruộng, vườn, đồn bót, được chiếm giữ tài sản của địch, được vây hãm và phong tỏa thành nếu các điều ấy đưa tới chấm dứt chiến tranh, mặc dù những việc ấy có thể đưa nhiều kẻ vô tội bị thương tích hay bị giết. Đôi khi được phép triệt hạ nhà thờ, nhà Dòng khi địch trốn vào các nơi ấy để đánh trả lại, nhưng cần có lệnh của vị chỉ huy.
- Lính không được ăn cắp, ăn trộm, trừ trong trường hợp thiếu ăn.
- Được phép tấn công và giết những người cần phải giết để kết thúc chiến tranh, thí dụ: tướng lãnh chỉ huy và bất cứ ai khác trợ giúp họ ; vì những người nầy là kẻ xâm lăng trái phép, cho nên dùng bạo lực để đánh đuổi họ, dù phải giết họ.
- Những biện pháp khác bị cấm theo luật tự nhiên gồm có vu cáo và lừa gạt ; giết người vô tội hàng loạt để trả đũa ; giết người vô tội bị bắt làm con tin ; cưỡng hiếp, tra tấn và đối xử tàn bạo ; lưu đầy các công nhân thuộc phe thù nghịch và cưỡng ép làm việc trong công nghiệp chiến tranh. (tr. 174)
- Những phương tiện và phương pháp bị cấm theo luật quốc tế gồm có: cố tình tiêu diệt những người không chiến đấu ; phá hủy hay tịch thu các tài sản của phe thù địch không phục vụ các mục tiêu quân sự ; giết kẻ thù đã bị thương hay bị bắt chỉ vì họ là thù địch ; ám sát cách bẩn thỉu các binh lính hay dân chúng của phe thù địch ; dùng những người không thể nhận ra là quân đội (thí dụ trẻ em) để thực hiện những hành vi quân sự ; sử dụng các vũ khí độc hại như hơi độc ; sử dụng các vũ khí nhằm gây ra những thương vong không cần thiết ; lạm dụng cờ hưu chiến, cờ quân địch và những huy hiệu quân sự của phe địch, cờ trắng hay cờ chữ thập đỏ ; giết những người được coi là vô hại như các sứ giả, các vị tuyên úy quân đội, các nhân viên thừa hành của bệnh viện. (tr. 174)
- Thường không nên nhắm quân đội và các mục tiêu chiến đấu, nếu vì đó mà nhiều kẻ vô tội phải chết hay tài sản của họ bị hư hao quá đáng như khi tấn công thành phố chẳng hạn. Nếu có thể báo trước để thường dân vô tội lo di tản thì hay hơn nhưng ít ai làm. Tuy được phép tấn công khi nào hậu quả tốt mình trực tiếp muốn có thể cân xứng với thiệt hại gây ra nhưng cũng còn đòi buộc phải có sự thận trọng đừng đi quá mục đích mà mình nhắm tới.
- Khi bên địch đã bắt đầu sử dụng bừa bãi các thứ vũ khí bị cấm để tấn công những thành đông dân cư, thì không thấy lý do gì cấm kẻ bị xâm lăng cách bất công không được làm như thế đối với các thành trì của địch. Tuy nhiên, ngay trong trường hợp đó, cũng không khi nào có phép trực tiếp tấn công người vô tội hay trực tiếp dùng khí giới cấm để giết họ.
4.1.3. Chiến tranh hạt nhân
Mục tiêu mà ta phải nhanh tay thực hiện đối với chiến tranh hạt nhân là ngăn chận nó. Sở dĩ thế là vì nó có thể gây ra sự tiêu diệt hàng loạt, không phân biệt, vượt ra khỏi giới hạn của một sự tự vệ hợp pháp. (tr. 175)
Messner phân biệt những vũ khí hạt nhân không thể kiểm soát được về hậu quả với những vũ khí có thể kiểm soát được. Tuy nhiên, ngay cả đối với các vũ khí hạt nhân có thể kiểm soát được, nguy hiểm vẫn còn vì một khi đã khởi sự chiến tranh hạt nhân, ta sẽ không thể nào tránh khỏi rơi vào chỗ sử dụng các vũ khí hạt nhân để đánh trả một cách vô hạn định. Bởi đó, B. Hring cho rằng tung ra một cuộc tấn công bằng hạt nhân nào cũng là một tội nặng. Nhận xét nầy cũng được các Giám mục Hoa kỳ ủng hộ trong thư mục vụ về hòa bình và chiến tranh năm 1983 (số 150-153) (tr. 176)
Trường hợp bị kẻ địch tấn công bằng vũ khí hạt nhân thì người ta được phép tự vệ bằng vũ khí hạt nhân nhưng phải làm mọi cách để tránh tàn phá các thành phố hay các vùng rộng lớn, không có tầm quan trọng đối với cuộc chiến. Thế nên, chỉ được phép sử dụng các vũ khí hạt nhân có thể kiểm soát, dù quân địch có thể sử dụng cả các vũ khí hạt nhân không thể kiểm soát. Chỉ khi không còn vũ khí hạt nhân nào khác để sử dụng, ta mới có thể dùng các vũ khí không thể kiểm soát chống lại kẻ tấn công. (tr. 176-177)
Nói chung lý tưởng là chấm dứt việc sản xuất, tồn trữ để đi đến chỗ tiêu diệt hoàn toàn các vũ khí giết người hàng loạt. Phải chăng đó chỉ là ảo tưởng ?
4.1.4. Tham gia chiến tranh
Nói chung, không được tham gia (hay được thuê) trong các cuộc chiến bất công, trái phép. Người nào bị cưỡng bách, thì có thể lo liệu để bảo vệ mạng sống mình được chừng nào hay chừng ấy. Trái lại, trong cuộc chiến chính nghĩa, chẳng những được phép, mà còn phải tham gia chiến tranh nữa. Trong trường hợp này, Nhà Nước có quyền và bổn phận đề ra cho công dân những nghĩa vụ cần thiết để bảo vệ tổ quốc. (GLCG no 2310)
Giáo Hội luôn ủng hộ việc gia nhập quân đội để bảo vệ quốc gia vì ‘Những người phục vụ tổ quốc trong quân đội là những kẻ phụng sự cho an ninh và tự do của các dân tộc. Khi chu toàn đúng đắn bổn phận, họ thật sự góp phần vào lợi ích chung của quốc gia và gìn giữ hòa bình.’ (GLCG no 2310)
Tuy nhiên nếu có ai với ý ngay lành, cho rằng: gia nhập quân đội luôn luôn là điều không nên làm, thì theo Giáo Hội, ‘Chính quyền phải dự liệu một cách công bằng cho trường hợp những người, vì lý do lương tâm, không chịu sử dụng vũ khí, nhưng vẫn có bổn phận phục vụ cộng đồng nhân loại dưới một hình thức khác.’ (GLCG no 2311)
Trong trường hợp nghi ngờ tính chính đáng của cuộc chiến thì nếu họ bị động viên theo luật của quốc gia thì họ được phép chiến đấu ; bởi vì khi nghi vấn, họ phải tuân lệnh của cấp trên. Còn tình nguyện chiến đấu thì xét ra không được, bởi vì họ không được tự ý dấn thân vào nguy cơ có thể lỗi về đức công bằng đối với tha nhân.
4.2 Nhiệm vụ phục vụ hoà bình
Chiến tranh không phải là giải pháp tối ưu cho vấn đề phát triển và sự sống còn của các dân tộc. Hòa bình trên trần thế là hình bóng và hoa trái của bình an của Đức Kitô, Thủ lãnh Hòa Bình thời Mêsia (Is 9,5). Nhờ máu đổ ra trên Thập Giá, Người đã tiêu diệt sự thù hận, ngay trong thân xác Người (Ep 2,16) (x. Cl 1,20-22). Người đã giao hòa loài người với Thiên Chúa và làm cho Hội Thánh trở thành bí tích hiệp nhất nhân loại và kết hợp nhân loại với Thiên Chúa. Chính Người là bình an của chúng ta (Eph 2,14). Người tuyên bố phúc thay ai xây dựng hòa bình (Mt 5,9).
Những ai khước từ bạo lực và đổ máu, sử dụng những phương thế tự vệ vừa tầm những kẻ yếu nhất, để bảo vệ quyền lợi của con người là những người làm chứng cho đức bác ái Tin Mừng, miễn là điều này không phương hại đến các quyền và bổn phận của những người khác cũng như các tập thể khác. Họ ý thức được những tác hại trầm trọng về thể lý và luân lý khi sử dụng bạo lực để gây ra tàn phá và chết chóc. (GLCG no 2305-2306)
Như thế để tránh chiến tranh, thì không hẳn chỉ đơn giản là từ bỏ vũ khí để chấp nhận sống trong áp bức nhưng cần phải lập một trật tự dựa trên công lý và bác ái giữa các dân tộc. Muốn được vậy, cần có những điều sau:
- Hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh và không chỉ giới hạn ở việc giữ thế quân bình giữa các lực lượng đối lập. Thế giới chỉ có hòa bình khi tài sản của con người được bảo vệ, con người được tự do giao lưu, phẩm giá của con người và của các dân tộc được tôn trọng, tình huynh đệ được thực thi. Hòa bình là ‘ổn định trật tự’, là công trình của công lý và hoa quả của đức ái. (GLCG no 2304)
- Hòa bình không thể được xây dựng trên thù hận: ‘Chúa đòi chúng ta giữ tâm hồn bình an. Ngài kết án cơn giận dữ giết người và lòng thù ghét.
Giận dữ là một ước muốn trả thù. Kitô hữu không được ước muốn trả thù điều ác của kẻ đáng trừng phạt, nhưng được phép bắt họ làm một việc đền bù để sửa chữa các việc xấu và bảo tồn công lý. Giận dữ đến độ muốn giết chết, hay làm bị thương người khác, là vi phạm nặng nề đức ái, là phạm một tội trọng. Chúa nói: Ai giận anh em mình, thì cũng đáng bị đưa ra tòa rồi (Mt 5,22). (GLCG số 2302)
- Hòa bình phải được xây dựng trên nguyên tắc công bằng và danh dự. Bảo đảm cho các nước lớn và nhỏ, mạnh và yếu, có quyền tồn tại và độc lập. Các nước nhỏ và yếu phải được tự do về chính trị để bảo vệ một nền kinh tế phát triển. Đồng thời không được tiến đến sự độc quyền nào đó về những tài nguyên kinh tế, nhất là khi tài nguyên nhiên liệu đó cần cho hết mọi người.
Giáo Hội cho thấy có sự liên hệ giữa chiến tranh và tội lỗi vì thế hòa bình cũng có nghĩa là thắng vượt tội lỗi: ‘Bao lâu con người còn là những kẻ tội lỗi, hiểm họa chiến tranh còn đe dọa, và vẫn còn đe dọa cho đến khi Chúa Kitô quang lâm. Tuy nhiên, nhờ kết hiệp trong bác ái, con người thắng vượt tội lỗi, và cũng thắng vượt bạo lực cho tới khi lời sau đây được hoàn tất: Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến (Is 2,4).’
- Muốn có một nền hòa bình bền vững, cần phải giảm trang bị vũ trang vì sự chạy đua quân sự làm cho nền hòa bình trở nên bấp bênh hơn, vì nguy cơ xâm phạm quyền lợi của nước khác lớn hơn. Việc ấy cần phải được thỏa thuận cùng nhau, bởi vì nếu có nước nào vi phạm việc giảm chi phí quân sự thì nước ấy trở nên mối đe dọa cho nền hòa bình đối với các nước khác. Sống trong tình trạng nghi kỵ nhau người ta dễ dàng chạy đua vũ trang. Trong trường hợp nầy, thái độ trung lập càng làm cho ý đồ xâm lăng trở nên lộ liễu hơn nữa.
Sách GLCG cho biết: ‘Thật là nghịch lý, nhiều người xem việc tích lũy vũ khí như một phương thế khiến đối phương không dám gây chiến. Họ coi đó là một phương thế hữu hiệu nhất khả dĩ bảo đảm hòa bình giữa các quốc gia. Về mặt luân lý, phải rất dè dặt đối với phương thức ngăn đe này. Chạy đua vũ trang không bảo đảm được hòa bình, thay vì loại bỏ các lý do gây chiến, lại có nguy cơ làm cho các lý do đó trở thành trầm trọng hơn. Việc chi tiêu những khoản tiền khổng lồ để chế tạo vũ khí ngày càng tối tân ngăn cản việc trợ giúp các dân tộc nghèo đói, ngăn trở các dân tộc phát triển. Việc vũ trang quá mức làm gia tăng những lý do xung đột và tạo thêm nguy cơ lây lan chiến tranh.’ (no 2315)
Từ đó Giáo Hội đặt vấn đề cho tính luân lý tìm cách gây chiến tranh để buôn bán khí giới: ‘Việc sản xuất và buôn bán vũ khí có ảnh hưởng đến công ích của các quốc gia và của cộng đồng quốc tế. Do đó, các nhà cầm quyền có quyền và bổn phận ra những qui định về vấn đề này. Lợi nhuận trước mắt của cá nhân hoặc tập thể không thể biện minh cho các tổ chức kinh doanh châm ngòi bạo lực và xung đột giữa các quốc gia, và gây nguy hại cho trật tự luật pháp quốc tế.’ (GLCG no 2316)
- Cuối cùng, điều quan trọng là các vị lãnh đạo quốc gia phải là những người phấn đấu cho công lý, cho tình yêu, cho sự sống chung giữa các dân tộc. Các vị ấy phải tạo điều kiện cho mọi người trong một nước có thể sống chung với nhau bất kể tín ngưỡng, tôn giáo, màu da tiếng nói để tránh những cuộc nội chiến.
Tóm lại ‘Hòa bình phải được sinh ra từ sự tin tưởng lẫn nhau giữa các quốc gia và phải lớn lên như kết quả của ý chí muốn xây dựng công bằng và tình huynh đệ ngày càng nhiều hơn. Quả thật xây dựng hòa bình là một việc của đức ái, của lòng yêu thương đối với nhân loại.’ (tr. 181)
________________
[1]Bỏ không làm từ có thể gây khó hiểu. Từ này dịch từ chữ omission ý muốn nói đến việc một người bỏ qua một hành động mà người đó phải làm. Trong thánh lễ, từ này được dịch là những điều thiếu sót.
[2] "Les Soins Palliatifs sont des soins actifs dans une approche globale de la personne atteinte d'une maladie grave évolutive ou terminale. Leur objectif est de soulager les douleurs physiques ainsi que les autres symptômes et de prendre en compte la souffrance psychologique, sociale et spirituelle."
[3] 23 "Bí tích xức dầu là các bệnh nhân trong tình trạng “exitus vitae”, sắp lìa đời; chính vì thế mà Bí tích xức dầu cuối cùng (extrema unctio) còn được gọi là “sacramentum exeuntium”, như thế Công Đồng đã hạn hẹp Bí tích xức dầu chỉ cho những người “hòng sinh thì”; các người bị bệnh nhẹ không được lãnh nhận." (Nguyễn văn Trinh, Bí tích xức dầu bệnh nhân, trang 229)
[4] Cô Terri Schiavo 41 tuổi đã sống như tình trạng bất toại, không còn biết gì nữa trong suốt thời gian 15 năm qua. Cô có thể hít thở một mình nhưng cần phải được tiếp dưỡng thực phẩm và nước qua đường ống từ năm 1990, sau khi cô đã bị ngất xỉu tại nhà.
Người chồng của Michael Schiavo, vẫn còn là chồng trên mặt pháp lý mặc dù đang chung sống với người đàn bà khác, nhất định xin rút ống cho Terri Schiavo và nói rằng đó là điều mà người vợ của ông (bà Terri) muốn. Nội vụ giằng co đã 7 năm và thứ sáu 18/3/2005, một tòa án tại Miami bang Florida đã truyền cho bệnh viện Pinellas Park, nơi bà Terri được săn sóc, phải gỡ bỏ các ống để bà chết dần. Vào sáng sớm thứ Năm 31/3 tức là khoảng 2 tuần sau, bà đã chết. Điều đáng lưu ý là bà không hoàn toàn trong tình trạng sống như cây cỏ bởi vì bà có khả năng phản ứng lại với những kích thích bên ngoài.
Đức Cha Elio Sgreccia, chủ tịch Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về Sự Sống đã nói: "Bà Terri Schiavo dù thế nào đi nữa, có thể được xem như một con người còn sống, thiếu một sự hiểu biết hoàn toàn, nên những quyền lợi pháp lý của bà phải được công nhận, tôn trọng và bảo vệ"... "sự thu hồi máy truyền sinh dinh dưỡng nơi người này, trong những điều kiện này, có thể được coi như một sự làm chết êm dịu trực tiếp"... "Trong trường hợp này máy truyền sinh ăn uống không thể được coi như một 'phương tiện bất thường', cũng không được coi như một phương tiện chữa bịnh. Máy truyền sinh là thành phần nguyên vẹn của hệ thống mà nhờ đó Bà Terri Schiavo có thể được cho ăn uống ".
Trong tuyên bố đưa ra hôm 24/3/2005, Đức Hồng Y William H. Keeler, chủ tịch Ủy Ban Các Hoạt Động Phò Sinh của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ nhận định rằng bà Terri Schiavo không thể bị để chết đói chết khát như vậy. “Chính Thiên Chúa sẽ gọi Terri Schiavo khi giờ của bà ta đến. Chúng ta không có quyền gì định đoạt thời điểm đó”… "Bà ta không bị hôn mê, không cần ‘trợ sinh’. Bà chỉ cần những chăm sóc cơ bản và sự trợ giúp tiếp nhận thức ăn và nước uống”.
Cha John McCormick tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Giacôbê tông đồ tại Orlando nhận xét: “Tôi nghĩ điều đáng kinh ngạc đối với những tín hữu chúng ta là giờ đây nước và thức ăn được mô tả là những trợ giúp người ta sống cách nhân tạo!”
Trong cuộc họp báo tại Vatican, tiến sĩ Joaquin Navarro-Valls nhận định rằng đây là “một cái chết được gia tốc tùy tiện vì việc nuôi dưỡng một người đau yếu không khi nào có thể được coi là một liệu pháp ngoại thường”.

