ĐIỀU RĂN THỨ NHẤT

Điều răn thứ nhất dạy phải tôn thờ Thiên Chúa bằng cả con người của mình: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi.” (Mt 22,37)

Tôn sùng là bày tỏ lòng khâm phục vì nhìn biết vẻ cao sang của một người. Đối với Thiên Chúa, tôn sùng là thờ phượng, tôn thờ.

Người ta thường phân biệt ba loại tôn sùng:

Duy tôn (latria) dành cho Chúa.

Biệt tôn (hyperdulia) dành cho Đức Maria.

Liệt tôn (dulia) dành cho các Thánh.

 Thiên Chúa là Đấng uy nghi cao cả tuyệt đối nên con người phải dành cho Ngài sự tôn sùng, thờ phượng vượt trội hơn hết. Vậy mà “Linh hồn của mọi việc thờ phượng (như cầu nguyện, dâng lễ, các cử hành Phụng vụ…) là các nhân đức đối thần nhờ đó tâm hồn con người được mở ra với Chúa và con người được nối kết với Chúa.”[1] (tr. 15)

1. Các nhân đức đối thần nói chung

Có ba nhân đức đối thần nhưng không chỉ có ba mà thôi vì Kinh thánh còn nhắc đến những nhân đức khác nữa như: kính sợ Chúa, tín nhiệm vào Chúa, sùng mộ (piety). Dầu vậy, đây là ba nhân đức chính yếu mục đích là giúp cho con người đi vào đối thoại với Chúa. Vì thế con người không thể được công chính hóa nếu không có các nhân đức đối thần: tin, cậy, mến. (tr. 17)

Theo giáo lý truyền thống thì không có nhân đức đối thần tự nhiên. Tuy nhiên các thần học gia mới đã cho thấy rằng đối tượng các hành vi thờ phượng lại là chính Thiên Chúa từ đó giả thiết có một nhân đức đối thần tự nhiên. Công đồng Vat. II chấp nhận quan điểm này:

 “Sau khi giải thích rằng các Kitô hữu đã ‘nhận được những hoa trái đầu mùa của CTT (Rm 8,23), để nhờ đó có khả năng chu toàn luật mới là luật đức ái’ và có thể ‘tiến nhanh đến ngày Phục sinh một cách mạnh mẽ nhờ đức cậy’, công đồng lập tức bình luận thêm rằng ‘những điều đó không phải chỉ có giá trị cho các Kitô hữu, mà còn cho tất cả những ai có thiện chí’” (MV 22).

2. Đức tin

Đức tin trước hết không phải là sự đồng ý với một số mệnh đề rõ rệt, mà là một sự gặp gỡ giữa bản thân mình với Chúa. Thiên Chúa Cha tỏ mình ra cho chúng ta và chúng ta gắn bó với Ngài (tr. 23). Thiên Chúa tỏ mình ra để chúng ta hiểu biết Ngài còn chúng ta gắn bó với Ngài để được ơn cứu thoát.

Như vậy đức tin trước tiên đối với một người, tin một người, một Đấng. Abram tin vào Thiên Chúa và ông ra đi mà không biết đi đâu “đi đến nơi Ta sẽ chỉ cho” (St 12,1). Abram tin vào Thiên Chúa và từ đó tin vào Lời Chúa phán. Ở đây có sự liên hệ giữa lời nói và con người. Abram tin vào Lời của Đấng chân thật.

Thánh kinh hoàn toàn đồng ý với quan điểm này: tin trước hết là một sự gặp gỡ và liên hệ bản thân.

Theo cách hiểu của Cựu ước, tin là liên kết với Chúa, tín nhiệm vào Thiên Chúa của Giao Ước, chờ mong và hy vọng được Ngài cứu giúp. Còn trong Tân Ước, tin là nhận ra Đức Kitô là Đấng Messia cũng là Con Thiên Chúa và chấp nhận sứ điệp cứu độ. Tân Ước cũng cho thấy tin là sự thần phục, sự trao dâng chính bản thân mình cho Thiên Chúa, tin tưởng và tín nhiệm Ngài. Như vậy, đối với Kinh Thánh, tin là câu trả lời ưng thuận rất hàm súc ý nghĩa của con người với Thiên Chúa.

Huấn quyền Hội thánh dạy rằng tin là một sự phó mình hoàn toàn cho Chúa, bao hàm việc chấp thuận giáo lý mạc khải, tự nguyện tùng phục trước ơn Chúa và tin tưởng vào những Lời Chúa hứa (tr. 25).

2.1 Hai chiều kích căn bản của đức tin

Từ những nhận xét trên chúng ta thấy đức tin có hai chiều kích căn bản:

- Tin là sự tùng phục Thiên Chúa, là sự gặp gỡ giữa người tin với Thiên Chúa. (đức tin mà nhờ đó ta tin: fides qua creditur)

- Tin là sự hiểu biết các chân lý mạc khải. (đức tin được tin nhận: fides quae creditur) (tr. 25)

2.1.1 Tin: cuộc gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa

Tin là hiến mình cho Chúa trong sự tín nhiệm. Đức tin là thái độ cơ bản nhất của con người trước mặt Chúa. Đối tượng đức tin là Thiên Chúa và động lực khiến ta tin là chủ quyền tối cao của Thiên Chúa và là sự đáng tin cậy của Thiên Chúa. (tr. 26).

Vì Thiên Chúa là Đấng khôn dò nên chính Ngài phải tự tỏ lộ mình ra cho con người. Mạc khải ấy lên tới cao điểm và được hoàn thành mỹ mãn nơi bản thân và sứ điệp của Đức Kitô.

Tuy nhiên mọi người “đã luôn luôn là một tín hữu trong tiềm năng, và đã nắm được những gì phải tin… Đưa một người đến với đức tin là cố gắng phát triển đức tin đã có nơi người ấy thành một đức tin có tính Kitô và Hội thánh đầy đủ, mang hình thức công khai, xã hội, được tuyên xưng với tất cả ý thức” (tr. 28)

2.1.2 Tin: sự ưng thuận đối với chân lý được mạc khải

- Đối tượng của Đức tin là các chân lý được mạc khải trong Tân Ước và Cựu ước.

Trong Cựu ước, Giavê Thiên Chúa tự mạc khải như là Đấng Cứu độ duy nhất “Ta là Đức Chúa, và ngoài Ta ra, không có Chúa nào khác” (Is 43, 11)

Trong Tân Ước, tin là nhìn nhận Đức Kitô là Đấng Thiên Chúa Cha sai đến, Người là Con Thiên Chúa đã qua cuộc khổ hình, chết và sống lại để cứu chuộc mọi người. (tr. 30)

- Động cơ của Đức tin là chính Thiên Chúa, Đấng không lừa dối ai, đồng thời Thiên Chúa là chân lý, Ngài dạy con người biết con đường sống. Ta tin vì biết rằng điều ấy đến từ Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa nói cho con người biết về Ngài, về con người. Chính Thiên Chúa đến với con người, lôi kéo con người về phía chân lý. Tuy vậy con người vẫn còn được tự do lựa chọn. “Tin cũng luôn luôn là một quyết định tự do. Người đang đi tìm đức tin phải có một ước muốn chân thành là tìm kiếm sự thật, dù cho sự thật mà rốt cuộc người ấy khám phá được có đòi họ phải từ bỏ và thay đổi cuộc sống.” (tr. 33)

2.2 Cần tin những gì để được ơn cứu độ

Người Kitô hữu tin rất nhiều chân lý mạc khải. Vấn đề đặt ra là phải tin những gì là tối cần cho được ơn cứu độ ? Nói chung, có ba ý kiến về vấn đề này:

- Các nhà thần học thời xưa cho rằng phải tin vào 4 chân lý sau đây để được ơn cứu độ: Thiên Chúa hiện hữu, Thiên Chúa thuởng kẻ lành phạt kẻ dữ, Một Chúa Ba Ngôi và Thiên Chúa Nhập thể.

- Một số nhà thần học khác lại cho rằng chỉ cần phải tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa và chính Ngài thuởng kẻ lành phạt kẻ dữ là đủ để được ơn cứu độ.

- Ngày nay các nhà thần học cho rằng chỉ cần niềm tin mặc nhiên vào Thiên Chúa và sự thuởng phạt cuối cùng là đủ. (tr. 34)

Công đồng Vat. II ủng hộ ý kiến thứ ba khi cho rằng: “Thật vậy những ai không do lỗi mình mà không biết Phúc Âm Chúa Kitô và Hội thánh Người, nhưng thực tâm tìm Chúa và nỗ lực, dưới ảnh hưởng của ân sủng, hành động thế nào để làm trọn thánh ý Chúa, như lương tâm bày vẽ và nói cho họ, những người này cũng đi đến phần rỗi đời đời. Cả những người, không tại lỗi họ, chưa được hiểu rõ về Chúa, nhưng nhờ ơn Chúa họ cố sống đời ngay chính: đối với họ, Chúa Quan phòng cũng không từ chối ban ơn cần thiết cho phần rỗi của họ.” (LG 16)

2.3 Bổn phận đối với đức tin

Đời sống người Kitô hữu phải là đời sống đức tin, sống phù hợp với lời dạy của CG, của Kinh Thánh. Do tầm quan trọng này mà chúng ta cần chăm sóc để đức tin luôn lớn mạnh.

2.3.1 Bổn phận hiểu biết các chân lý đức tin

Những chân lý đức tin không dừng lại ở lý thuyết mà thôi nhưng là nguồn nuôi dưỡng đời sống người Kitô hữu. Vì thế người kitô hữu có bổn phận phải tìm hiểu đức tin, nhất là trong những gì cần thiết để sống đời kitô hữu tốt lành và để tránh những tin tưởng sai lạc đưa đến những thực hành mang tính mê tín dị đoan.

Làm thế nào để học hết những chân lý trong đạo ? Đó là đều không thể vì thế người ta đề nghị những kiến thức cơ bản. Những kiến thức cơ bản mà người Công giáo cần phải biết là Kinh Tin kính của các Tông đồ, Kinh Lạy Cha, Mười điều răn, các điều răn Hội Thánh và các Bí tích cần thiết như Rửa tội, Hòa giải và Thánh Thể.

Kiến thức không thì chưa đủ nhưng còn phải suy niệm và cầu nguyện để cho những hiểu biết ấy nhờ ơn Chúa đi vào đời sống. Đồng thời cũng nhớ đến tính cộng đoàn của đức tin: tin vào những điều Hội thánh dạy. Đặc biệt trong thánh lễ Chúa Nhật, mỗi người tuyên xưng niềm tin của mình nhưng tuyên xưng chung với nhau. Đây cũng là cách cộng đoàn giúp nhau nâng đỡ niềm tin.

2.3.2 Bổn phận tuyên xưng đức tin

Người Kitô hữu được kêu gọi làm chứng cho Chúa ở mọi nơi, mọi thời, khi thuận khi nghịch. Có thể làm chứng bằng đời sống yêu mến: yêu mến Chúa và tha nhân, nhưng cũng có khi làm chứng bằng lời nói.

Bổn phận tuyên xưng đức tin đòi buộc không được chối bỏ đức tin (phủ nhận ở bên ngoài mà thôi) cho dù chối bỏ trực tiếp hay gián tiếp. “Trực tiếp chối bỏ đức tin khi ta tuyên bố mình không phải là Kitô hữu hay mình là người vô thần hoặc tín đồ Hồi giáo, hay cúng tế các thần”“Gián tiếp chối bỏ đức tin là khi được hỏi về đức tin mà vẫn cứ thinh lặng, để cho người khác trả lời thay rằng mình không phải là Kitô hữu” (tr. 44-45)

Một số trường hợp đặc biệt:

- Đôi khi vì những lý do nghiêm trọng, “được phép hay đôi khi bắt buộc che giấu đức tin của mình như nhờ đó thoát được tù ngục, tra tấn hay giết chết, hoặc giữ được mạng sống của mình vì ích lợi của những người được giao cho mình chăm sóc trong gia đình, trong Hội thánh hay trong nước”

- Được phép trốn tránh trong thời kỳ cấm cách, tuy nhiên linh mục không được phép chạy trốn nếu sự có mặt của linh mục cần cho các tín hữu.

- “Khi bị chính quyền hợp pháp tra hỏi, ta phải tuyên xưng đức tin dù phải thiệt mạng, chứ không được từ chối trả lời.”

- Giấu không cho người khác biết mình là linh mục, tu sĩ không phải là chối bỏ đức tin.

- Không buộc phải vâng lời một sắc lệnh đòi người Công giáo phải ra trình diện công khai hay mang một thứ dấu hiệu riêng nào đo vì đây là sắc lệnh bất công.

- Cần thận trọng khi tham dự những nghi thức có ý nghĩa không rõ ràng, thậm chí có vẻ mê tín dị đoan.

- Hội thánh đòi ta công khai tuyên xưng đức tin trước mặt một thẩm quyền của Hội thánh trong một số trường hợp: trước khi chịu phép Rửa ; kitô hữu thuộc Giáo Hội hay giáo phái khác trở lại Công giáo ; người bội giáo trở lại. (tr. 46-47)

2.3.3 Bổn phận truyền bá đức tin

Công đồng Vat. II viết: “Mỗi môn đệ Đức Kitô đều phải góp phần truyền bá đức tin” (LG 17). Tuy nhiên “Nhiệt thành truyền bá đức tin không phải là do giả định một cách sai lạc rằng tất cả những ai không tuyên xưng đức tin và nhìn nhận thẩm quyền của Hội thánh đều bị hư mất” (tr. 47).

Truyền bá đức tin là bởi vì do lệnh truyền của Đức Kitô ; “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân Danh Cha, Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ tất cả những điều Ta đã truyền cho anh em” (Mt 28, 19a). Công đồng Vat. II nhìn thấy đây là thánh ý Chúa: “Lý do của hoạt động truyền giáo bắt nguồn từ thánh ý Thiên Chúa ‘muốn cho hết mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý’” (AG 7). Công đồng cũng thấy hoạt động truyền giáo là do đức ái thúc đẩy: “Cho được đạt tới mục đích đó, thì các thành phần của Giáo Hội, đã được đức ái thúc giục để yêu mến Thiên Chúa và ước ao thông cho mọi người các ơn lành đời này và đời sau” (AG 7).

“Bởi vậy, bằng cách bày tỏ Đức Kitô cho mọi người, Hội thánh đã mạc khải cho họ thấy sự thật về thân phận và ơn gọi của họ. Vì chưng Đức Kitô là cội nguồn và khuôn mẫu cho một nhân loại mới, đậm tình huynh đệ, chân thành và hiếu hòa mà ai cũng ước mong.” (tr. 49)

2.3.4 Bổn phận bảo vệ đức tin

 “Các Kitô hữu có bổn phận phải bảo vệ mình khỏi những nguy hiểm đang đe dọa đức tin.” (tr. 52) Những nguy hiểm ấy có thể đến từ phim ảnh, truyền thanh, truyền hình. Những nguy hiểm ấy cũng có thể đến từ sách báo, những thứ làm hại đời sống tinh thần, quan điểm luân lý và đức tin của chúng ta. Những nguy hiểm ấy có thể đến từ bạn bè, nhóm, hội, đảng. Chính vì thế tham gia những tổ chức có những hành động thù nghịch với đức tin thì phạm tội nặng.

2.3.5 Vấn đề Đại Kết

Thực tế hiện nay là có nhiều cộng đoàn Kitô hữu khác nhau thậm chí đôi khi sử dụng bạo lực với nhau. Vấn đề là tất cả tự nhận mình là môn đệ đích thực của Chúa. Khi rao giảng Tin Mừng, các “môn đệ đích thực” ấy thường công kích nhau, ai cũng coi giáo lý của mình là chân thật. Vậy mà chân lý chỉ có một do đó người ta nghi ngờ và đặt câu hỏi ai nắm giữ chân lý còn ai không. “Bản thân các Kitô hữu nói chung cũng bị thiệt hại do sự chia rẻ ấy, bởi vì tính công giáo đã không thể hiện được giữa họ với nhau.” (tr. 57)

Tinh thần đại kết mời gọi canh tân Hội thánh và sống thực sự Tin Mừng đồng thời cũng mời gọi nghiên cứu học hỏi thêm về các Giáo Hội khác, biết những cái gây chia rẽ nhưng đồng thời cũng biết những cái chung, những cái giống nhau nơi các Giáo Hội. “Các công thức phát biểu thần học khác nhau thường bổ sung cho nhau hơn là mâu thuẫn nhau.” (tr. 59) Vấn đề là ở chỗ tìm ra những chỗ gặp nhau, bổ sung cho nhau qua những cuộc đối thoại giữa các Giáo Hội.

Tinh thần đại kết cũng được làm cho lớn lên qua việc cộng tác vào công việc xã hội. “Nhờ sự cộng tác đó, tất cả những ai tin Đức Kitô dễ biết được là họ có thể tìm hiểu nhau hơn, kính trọng nhau hơn và dọn đường cho sự hiệp nhất giữa những người kitô hữu” (UR 12)

Cuối cùng, “Cầu nguyện chắc hẳn là một trong những phương thế ưu việt để được ban cho ơn hiệp nhất” (tr. 61)

2.3.6 Bổn phận tùng phục Huấn quyền của Giáo Hội

Theo giáo huấn của Giáo Hội Công giáo, Đức Kitô trao việc gìn giữ và công bố lời mạc khải cho Giáo Hội vì thế các tín hữu phải chấp nhận giáo huấn của Giáo Hội. “Thẩm quyền giảng dạy cao nhất là tập thể các Giám mục cùng với và dưới sự lãnh đạo của ĐGH”. Huấn quyền can thiệp cách trực tiếp hay gián tiếp về những vấn đề liên quan đến đức tin và luân lý.

Có hai hình thức giáo huấn của Huấn Quyền: giáo huấn thông thường và giáo huấn bất khả ngộ.

Giáo huấn bất khả ngộ đòi buộc phải ưng thuận tuyệt đối bằng đức tin đối thần còn giáo huấn thông thường chỉ đòi buộc ưng thuận bằng đức thờ phượng trong tâm tình hiếu thảo và kính trọng. Sự ưng thuận này không ngăn cấm việc đặt vấn nạn và việc bày tỏ bất đồng ý kiến đối với những giáo huấn ấy. Tuy vậy, phải luôn tuân phục các quyết định của Huấn quyền.

Cần chú ý phân biệt thẩm quyền của Giáo Hội trên lý thuyết và thực hành:

- “Thẩm quyền trên lý thuyết liên hệ đến vấn đề đúng sai của các giáo lý đức tin và luân lý: chỉ trong lãnh vực này mới nảy sinh vấn đề những lời tuyên bố kia là bất khả ngộ hay không bất khả ngộ” và đòi sự ưng thuận của lý trí.

- “Thẩm quyền thực hành của Hội thánh liên hệ đến vấn đề kỷ luật Hội thánh, các qui định phụng vụ, các biện pháp hành chánh và các luật lệ của Hội thánh. Thẩm quyền này đòi sự vâng phục và tùng phục của ý chí, chứ không đòi sự ưng thuận của lý trí hay đức tin, vì ở đây không đặt ra vấn đề chân lý mà chỉ đặt ra vấn đề ích lợi, hợp tình hợp lý và khôn ngoan.” (tr. 78)

2.4 Các tội nghịch với đức tin

Tự phụ là “tội đi ngược với sự tùng phục của đức tin một cách rõ ràng hơn hết. Người tự phụ muốn tổ chức cuộc sống mình theo kế hoạch riêng, chứ không theo kế hoạch do ai khác vạch ra … Tội tự phụ lên tới cao điểm, khi đó là sự lựa chọn quyết liệt chống lại ý muốn của Thiên Chúa. Chỗ nào có tình trạng đó, chỗ ấy kể như đã bị kết án tuyệt thông.” (tr. 81)

Cố tình hoài nghi trong lãnh vực đức tin là tội xem thường hay không nhìn nhận là chân thật những điều Thiên Chúa mạc khải và Hội thánh dạy phải tin. (GLCG no 2088). Tuy nhiên hoài nghi nẩy sinh trong quá trình thành tâm tìm kiếm sự thật thì không có tội. (tr. 86)

Vô tình hoài nghi là do dự không tin, không cố gắng vượt qua những vấn nạn đức tin. (GLCG no 2088)

Vô thần là hiện tượng đặc biệt quan trọng mà Hiến chế về Mục vụ Gaudum et Spes của Công đồng Vat. II đã đề cập tới: “Danh từ vô thần chỉ những hiện tượng rất khác nhau. Thật vậy có người phủ nhận Thiên Chúa cách tỏ tường, có người lại nghĩ rằng con người hoàn toàn không thể quả quyết gì về Thiên Chúa… Có người hình dung một Thiên Chúa theo kiểu họ tưởng đến nỗi Thiên Chúa mà họ bài xích không phải là Thiên Chúa của PÂ. Cả vấn đề Thiên Chúa cũng có người không hề đặt ra.” (GS 19) (tr. 82)

Tội vô thần không chỉ là phủ nhận Thiên Chúa trong trí óc nhưng đồng thời là từ chối không tuân phục những đòi hỏi của Đấng Tuyệt đối, được trình bày trong lương tâm của mình. (tr. 83)

Chủ nghĩa Duy thế tục là một nhân sinh quan chỉ muốn một thế giới trần tục, hoàn toàn tự trị và tự mãn. Người ta không cần đến Thiên Chúa và Thiên Chúa không liên hệ gì đến thế giới nơi mà con người đang sinh sống. Người theo chủ nghĩa duy thế tục không tìm kiếm Nước Chúa, mà chỉ chạy theo vương quốc loài người và đặt thế giới trần gian lên hàng tuyệt đối. (tr. 83-84)

Chủ nghĩa duy thế tục khác với hiện tượng tục hóa. Các thực tại của thế giới này như khoa học, kỹ thuật, kinh tế, nghệ thuật… có quyền được độc lập. Chúng có những chuẩn mực riêng của chúng và những chuẩn mực này không phải lúc nào cũng tuân theo những chuẩn mực của đức tin và tôn giáo. (tr. 84)

Lạc giáo tình trạng của một Kitô hữu gắn bó một cách cố chấp với một điều sai lạc, đi ngược với một chân lý do Chúa mạc khải hay cố tình không tuân phục những quyết định bất khả ngộ của Huấn quyền Hội thánh (còn đối với giáo huấn không bất khả ngộ thì chỉ có tội đối với đức vâng phục và kính trọng Hội thánh mà thôi). (tr. 86)

Ly giáo là cố tình không chịu tùng phục quyền tối thượng của ĐGH, nhưng không bác bỏ giáo huấn của Hội Thánh.

Bội giáo là tình trạng một người đã lãnh nhận đức tin chân thật trong Bí tích Rửa tội nay lại hoàn toàn bỏ đức tin. (tr. 85)

3. Đức cậy

Con người không thể sống mà không hy vọng. Tuy nhiên để trở thành nhân đức cậy cần phải có một số điều kiện. Nhờ vào Kinh thánh chúng ta biết được những điều kiện này.

3.1 Đức cậy trong Kinh thánh

Ngay từ những trang đầu của sách Sáng Thế, lời hứa của Thiên Chúa là niềm hy vọng của nhân loại sa ngã: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy ; dòng giống nó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó”. Truyền thống kitô giáo thường hiểu đây là lời loan báo về một Đấng Messia chiến thắng.

Khi Chúa gọi Abraham, Ngài cũng đã hứa cho ông một dân lớn và một miền đất làm gia nghiệp tuy ông không biết sự việc sẽ xảy ra như thế nào: “Đức Chúa phán với ông Abram: Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi đến đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi.” (St 12, 1-2a)

Niềm hy vọng của dân Israel còn lớn mạnh hơn qua lời Chúa hứa sẽ ban Đấng Messia. Thời đại này được mô tả một cách hấp dẫn qua lời tiên tri Isaia 9, 1.5-6)

Như thế trong Cựu ước, dân Do thái tin cậy vào lời hứa của Chúa. Thiên Chúa đã hứa, Ngài sẽ thực hiện vào thời gian thích hợp vì Thiên Chúa luôn trung thành với lời đã hứa cũng như đã trung thành với giao ước Ngài đã ký. Từ đó “người Israel đã xây dựng được một giáo lý tu đức, đó là chỉ tín nhiệm vào Chúa – một khoa tu đức tiềm tàng khắp nơi trong Cựu ước, nhưng được biểu lộ một cách mạnh mẽ và rõ ràng hơn hết trong thánh vịnh: Thiên Chúa là nơi trú ẩn, là đá tảng, là đồn lũy.” (tr. 92)

Trong Tân Ước, “ĐG tự xưng mình là Đấng Messia. Người là sự thực hiện mọi chờ mong của người Israel qua bao thế kỷ.” (tr. 92) Người đến để loan báo nước Trời “nhưng nước ấy vẫn phải phát triển, như hạt giống phải lớn lên cho đến mùa gặt… Bởi đó, các kitô hữu sẽ khát khao chờ đợi ngày hoàn tất công trình cứu độ mà Chúa đã khởi sự”. (tr. 92-93) Người kitô hữu cũng đặt niềm hy vọng vào sự trung thành của Thiên Chúa, vào tình yêu của Thiên Chúa qua cái chết và Phục sinh của ĐGK.

3.2 Sống đức cậy

Thần học định nghĩa đức cậy là nhân đức nhờ đó “con người biết trông mong ơn cứu độ viên mãn và những phương thế để đạt tới ơn cứu độ ấy, vì tin vào sự cứu giúp quyền năng của Thiên Chúa.” (tr. 94)

Thần học truyền thống xác định đối tượng đức cậy là: sự cứu độ đời đời, hạnh phúc bất diệt, sống vĩnh cữu hiệp nhất với Thiên Chúa.

Thần học mới cho rằng đối tượng của đức cậy là sự hoàn thành triều đại của Đấng Messia hay sự hoàn thành của vũ trụ trong Đức Kitô, thủ lãnh của vũ trụ, hoặc sự viên mãn của vạn vật đã được tiên báo nơi sự Phục sinh của Đức Kitô. (tr. 95)

Đức cậy không phải là sự hy vọng hảo huyền. Đời sống trên trần gian là lữ hành nghĩa là chưa đạt tới đích. Hy vọng có nghĩa là trông mong một điều gì, cái gì chưa có nhưng có những dấu hiệu cho thấy sự chắc chắn sẽ có. Chính vì thế hy vọng có ơn cứu độ, hy vọng được hạnh phúc bên Chúa không phải là ảo vọng vì đặt trên lời hứa của Chúa. Chính nhờ những hy vọng này mà người kitô hữu đảm nhận cuộc sống trần gian.

- Đảm nhận những đau khổ, những dày vò lương tâm: “ơn gọi kitô hữu không miễn cho họ khỏi bị đau khổ và phiền muộn… Dù người kitô hữu cũng không đọc ra ý nghĩa sau cùng của đau khổ - nhất là những đau khổ cực độ – một cách minh bạch rõ ràng, nhờ đức cậy họ cũng có được sức mạnh và can đảm để đứng vững cả trong những lúc đen tối dầy đặc nhất, không thất vọng hay bỏ cuộc.” (tr. 97-98)

Đức cậy còn giúp cho tội nhân, thay vì phủ nhận tội lỗi của mình, biết nhìn thẳng vào thực tế tội lỗi của mình, biết đảm nhận một lương tâm cắn rứt, bị dày vò do hối hận. Nhưng nhờ vào sự trông cậy lòng thương xót của Chúa, vào ơn tha tội, tội nhân có thể làm lại cuộc đời, sống một đời sống mới bên Chúa.

- Đảm nhận cuộc sống hướng về tương lai. Khi gặp gỡ Thiên Chúa con người luôn thấy mình đứng trước một mầu nhiệm cần phải được khám phá luôn luôn. Người tín hữu nhận thấy mình trên con đường tiến tới sự viên mãn của chân lý. Đức tin và đời sống của người kitô hữu cần phải được kiện toàn hơn nhờ những cuộc đối thoại với mọi người có thiện chí. (tr. 99)

- Đảm nhận một cuộc sống biến đổi thế giới. Ơn gọi của kitô hữu là đưa vạn vật vào nước Chúa và qui thuận chủ quyền cứu độ của Chúa vì thế họ được mời gọi tham gia vào công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa, làm thay đổi thế giới theo kế hoạch sáng tạo và cứu độ của Chúa, chống lại những thế lực tối tăm, thế lực sự dữ.

3.3 Các tội phạm đến đức cậy

Quá tự tin có thể xuất hiện dưới ba dạng:

Hy vọng được cứu độ đời đời chỉ nhờ nỗ lực của con người.

Hy vọng được cứu độ đời đời chỉ dựa vào công nghiệp của Đức Kitô.

Hy vọng được Thiên Chúa giúp đỡ trong những mục tiêu tội lỗi hay bất xứng. Cứ phạm tội luôn mà không cần hối cải lấy cớ rằng Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ các tội nặng cho dù có phạm nhiều lần đến đâu đi nữa. (tr. 103-104)

Thất vọng khi nghĩ rằng mình sẽ không nhận được ơn cứu độ đời đời hay cho rằng mình không còn được Chúa trợ giúp để có ơn cứu độ hoặc để được tha thứ tội lỗi.

Tuy nhiên không được lẫn lộn với những hình thức suy sụp, lo lắng, buồn bã và bối rối do rối loạn tâm lý (vì họ vẫn tiếp tục sống đạo và cầu nguyện) cũng như một người vì đau khổ nhiều đã chán sống, mong ước được chết đi (vì họ vẫn luôn chấp nhận thánh ý Chúa. (tr. 104-105)

Cam chịu “là thụ động chấp nhận tình trạng thiếu thốn trong những điều kiện sống hiện tại, không tin là Chúa có thể giúp thay đổi những điều kiện ấy”. Người sống cam chịu là người không chịu cố gắng và nỗ lực thêm. Lý do là vì nhút nhát, vì thiếu tin tưởng vào Chúa, cũng có khi vì mệt mỏi sau nhiều thất bại.

4. Đức mến

Tình yêu là cảm xúc căn bản nhất của con người, nền tảng và nguồn gốc những cảm xúc khác. Tình yêu trước tiên đem lại sự khoan khoái đối với đối tượng ấy (amor complacentiae). Tình yêu được gọi là tình yêu ham muốn, nếu chủ thể tìm cách chiếm cho được điều tốt để phục vụ mình (amor concupiscentiae). Tình yêu được gọi là tình yêu hảo ý nếu chủ thể tìm cách bảo vệ và phát huy điều tốt của người khác hay hữu thể khác (amor benevolentiae). Tình yêu thờ phượng và huyền nhiệm là tình yêu trong đó con người tự hiến cho thần linh và khao khát hiệp thông, kết hiệp với thần linh (amor devotionis) (tr. 108-109)

4.1 Đức mến trong Kinh Thánh

Trong Cựu ước, tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Israel được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Và Thiên Chúa đòi buộc con người phải đáp trả tình yêu của Ngài bằng cách yêu mến Thiên Chúa bằng tất cả con người của mình. “Hãy yêu mến Đức Chúa, là Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, hết sức anh (em).” (Đnl 6, 5) Trong cụ thể “Tình yêu ấy được xác nhận khi con người biết kính sợ Đức Chúa, lắng nghe Lời Người, phục vụ Người, bước đi trong đường lối của Người và trung thành gắn bó với Người.” (tr. 111) Người yêu mến Chúa sống gắn bó với Chúa một cách huyền bí và Thiên Chúa chỉ ban ơn cứu độ cho họ, những người yêu mến Chúa.

Tân Ước xác nhận rằng “Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy” (1 Jn 4,16). Tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ qua việc Ngôi Hai Nhập thể để con người được đi vào trong huyền nhiệm của tình yêu, để trở nên con cái của Thiên Chúa. Đức mến là nhân đức lớn nhất vì “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại ; nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13,13). Con người đáp lại tình yêu Thiên Chúa bằng việc “hoàn toàn thuận theo ý muốn của Chúa, sẵn sàng thi hành các mệnh lệnh của Người” (tr. 116)

4.2 Đức mến trong thần học

Đức mến thường được định nghĩa là “nhân đức siêu nhiên giúp ta yêu mến Thiên Chúa như điều tốt cao cả nhất vì chính Người, và giúp ta yêu mến mọi thụ tạo vì Người.” (tr. 119) Người ta cũng có thể định nghĩa cách khác: “Đức ái đối thần là vui vẻ nhìn nhận sự tốt lành vô hạn của Thiên Chúa và ước ao đẩy mạnh vinh quang bên ngoài của Ngài, cũng như ước ao trở nên một với Ngài. Hoặc vắn tắt hơn: đức ái đối thần là vui vẻ và tích cực chấp nhận mọi sự Thiên Chúa là, và Thiên Chúa muốn.” (tr. 121)

4.3 Những đặc tính của đức mến

   + Tình yêu tuyệt đối. Con người phải yêu Thiên Chúa hơn hết vì “Thiên Chúa là Đấng thánh thiện, khôn ngoan, tốt lành và đẹp đẽ vô cùng… Hơn nữa, Thiên Chúa là nguyên lý đệ nhất và là nguyên nhân tối hậu của mọi sự… Sau cùng, tình yêu siêu việt của Thiên Chúa đối với loài người được bày tỏ nơi con Ngài là Chúa Giêsu Kitô…” (tr. 123). Tuy nhiên không buộc phải yêu Chúa một cách tình cảm. Điều quan trọng là hết lòng quí trọng Thiên Chúa và ý muốn của Người.

   + Tình yêu vừa nội tâm vừa thực tế. Yêu Chúa với hết cả con người trước tiên có nghĩa cống hiến tất cả con người mình cho việc thực thi thánh ý Thiên Chúa. “Điều này bao gồm trước tiên việc tuân giữ các giới răn của Chúa và tránh xa tội lỗi… Ngoài ra, đó còn là tích cực và mạnh mẽ xả thân cho chính nghĩa: xây dựng Nước Chúa và tôn vinh Người.” Điều cần là phải có cả hai: nội tâm và thực tế cụ thể. “Có tình cảm và lời lẽ yêu thương mà không có những hành vi tương xứng, đó chỉ là một tình yêu giả dối, không đáng gọi là tình yêu. Nhưng ngược lại, chỉ có những việc làm và nghĩa cử bên ngoài mà không có tinh thần yêu thương bên trong, đó cũng không phải là tình yêu chân chính… Những việc làm tốt bên ngoài phải xuất phát từ lòng yêu mến Chúa trong tâm hồn ; đây phải là cội nguồn và gốc rễ của các việc làm kia.”

4.4 Các tội phạm đến đức mến

Lãnh đạm xem thường hay không lưu tâm đến tình yêu Thiên Chúa, không biết đến bản chất và sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa.

Vong ân là quên lãng hay từ chối nhận biết tình yêu Thiên Chúa và đáp trả tình yêu Thiên Chúa bằng tình yêu của mình.

Nguội lạnh là do dự, chểnh mảng trong việc đáp lại tình yêu của Thiên Chúa, hay từ chối dấn thân theo đức mến.

Lười biếng trong việc thiêng liêng có thể đưa tới từ khước niềm vui Thiên Chúa ban và khinh chê mọi lợi ích thiêng liêng.

Oán ghét Thiên Chúa là do kiêu ngạo, chống lại tình yêu của Người, cho rằng Người không tốt lành và chối từ Thiên Chúa vì Người cấm phạm tội và trừng trị bằng hình phạt. (GLCG no 2094)

5. Đức thờ phượng

Thiên Chúa là Đấng tối cao. Thờ phượng là gán giá trị tối cao cho Thiên Chúa. “Thờ phượng là nhân đức giúp cho con người trả cho Thiên Chúa danh dự mà Người đáng được” (tr. 136). Đối với người kitô hữu, Đức Kitô đã dạy cho biết cách thờ phượng đúng đắn và chính Người “cũng đã làm công việc thờ phượng ấy một cách cực kỳ hoàn hảo, thay cho nhân loại.” (tr. 136)

Khi sống đạo và thờ phượng Thiên Chúa, con người khẳng định hai sự thật:

+ Cảm thấy mình bất xứng: con người đâm ra kính sợ, tìm cách lui ra xa.

+ Cảm thấy mình bị lệ thuộc vào Đấng Tạo Hóa: sức hấp dẫn tỏa ra từ Thiên Chúa sẽ khiến con người khát khao và say mê tận tụy đối với Ngài, đẩy con người tới chỗ kết hợp với Thiên Chúa.

Khi con người bày tỏ ra bên ngoài những thái độ kính sợ và yêu mến Thiên Chúa trong lòng thì đó chính là việc thờ phượng. (tr. 137)

5.1 Các hình thức thờ phượng

5.1.1 Thờ lạy

 “Thờ lạy là hành vi đầu tiên của con người đối với Thiên Chúa. Thờ lạy là nhận biết Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo và Cứu chuộc, là Chúa và Thầy của mọi người, là Tình yêu vô biên và giàu lòng thương xót.” (GLCG no 2096) Thiên Chúa được tôn thờ không những trong tâm hồn nhưng còn bằng những cử chỉ bên ngoài. Thờ lạy chính là nhìn nhận uy quyền của Thiên Chúa trên con người và giúp con người gặp gỡ và kết hợp với Thiên Chúa. “Như Đức Maria trong kinh Magnificat, chúng ta thờ lạy Thiên Chúa bằng cách ca ngợi, chúc tụng Ngài, khiêm tốn tuyên xưng với lòng biết ơn rằng Thiên Chúa đã làm những việc trọng đại và Danh Ngài chí thánh (Lc 1,46-49). Việc thờ lạy Thiên Chúa duy nhất, giải thoát con người khỏi thái độ khép kín, khỏi nô lệ tội lỗi và sự sùng bái thế giới như ngẫu tượng.” (GLCG no 2097)

5.1.2 Cầu nguyện

Cầu nguyện thường được định nghĩa là nói chuyện với Chúa. Cầu nguyện cũng có thể được định nghĩa là nâng tâm hồn lên cùng Chúa. Sau cùng cầu nguyện cũng có thể được định nghĩa là chấp nhận thánh ý của Thiên Chúa, chấp nhận trong yêu thương và phần nào được bày tỏ ra thành lời thành tiếng. (tr. 174-175)

Cầu nguyện được chia thành cầu nguyện bằng cách thờ lạy hay ca ngợi, tạ ơn, xin ơn hay đền tội. Cầu nguyện có thể là trong lòng hay bên ngoài, cá nhân hay tập thể, không trang trọng hay trang trọng, ngoài phụng vụ hay trong phụng vụ.

Cần phải cầu nguyện vì trước tiên đó là do nghĩa vụ yêu mến Chúa của con người. Thứ đến đó là vì bổn phận thờ phượng Thiên Chúa. Sau cùng cầu nguyện còn là để nuôi dưỡng các nhân đức đối thần.

Để cầu nguyện nên cần có 3 điều kiện: chú ý, kính cẩn hay khiêm tốn, tin tưởng. Ngoài ra khi cầu xin thì điều cầu xin phải thích đáng.

5.1.3 Lễ tế

 “Con người phải dâng lên Thiên Chúa những lễ tế để tỏ lòng thờ phượng, tạ ơn, khẩn cầu và sự hiệp thông với người” (GLCG 2099). Nếu phải dâng lên Chúa lễ tế thì trước tiên phải do lòng thành: “Hy lễ đẹp lòng Chúa là tấm lòng tan nát khiêm cung…” (Tv 51,19)

Lễ tế thường gợi lên ý tưởng đau đớn cả đến máu đổ. Lễ tế của Chúa Giêsu trên thánh giá cũng là lễ tế đổ máu. Thế nhưng nội dung chính yếu của hy lễ này là ân huệ mà Chúa Giêsu đã hoàn thành, là sự thánh hiến mà Chúa Giêsu đã giải thích ở bữa tiệc ly “Họ không thuộc về thế gian cũng như Con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai Con đến thế gian, thì Con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, Con xin thánh hiến chính mình Con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.” (Ga 17, 16-19)

Lễ tế của Chúa Giêsu là mầu nhiệm trung tâm: Chúa Giêsu đã yêu con người đến hiến mạng sống. Lễ tế của Chúa Giêsu trên thập giá là bằng chứng tuyệt hảo của tình yêu Người đối với con người. Tuy nhiên, cả cuộc đời Người là lễ tế vì Người đã tự hiến cho Thiên Chúa Cha: Người đến để thực thi thánh ý Thiên Chúa Cha. Người kitô hữu được mời gọi trở nên như Đức Kitô: thực thi cho đến cùng thánh ý Thiên Chúa Cha và tất cả lễ tế của họ tìm được ý nghĩa trong lễ tế duy nhất của Đức Kitô.

5.1.4 Lời hứa và lời khấn

Lời hứa là xác định sẽ làm trong tương lai điều gì mình đã định, đã nói bây giờ.

Sách GLCG viết: “Trong nhiều hoàn cảnh, người Kitô hữu được mời gọi để tuyên hứa với Thiên Chúa. Các bí tích Thánh Tẩy, Thêm sức, Hôn phối và Truyền chức thánh luôn kèm theo những lời hứa. Do lòng đạo đức cá nhân, người Kitô hữu có thể hứa với Chúa thực hiện một hành động, một kinh nguyện, một việc bố thí, một cuộc hành hương hay một điều tương tự. Việc trung thành tuân giữ lời hứa với Chúa, chứng tỏ lòng kính trọng Thiên Chúa uy linh và tình yêu đối với Thiên Chúa hằng trung tín.” (GLCG no 2101)

Lời khấn là lời hứa cách ý thức và thong dong đối với Thiên Chúa, về một điều thiện tốt hơn và có thể thi hành được (Giáo Luật no 1191)

Giáo luật cũng phân loại các lời khấn như sau:

1. Lời khấn là công, nếu được bề trên hợp pháp chấp nhận nhân danh Giáo Hội ; đối lại, là lời khấn tư.

2. Lời khấn là trọng thể nếu được Giáo Hội nhìn nhận như vậy ; đối lại, là lời khấn đơn thường.

3 Lời khấn là tòng nhân, nếu người khấn hứa đích thân thi hành ; lời khấn là tòng vật, nếu hứa một đồ gì ; lời khấn là hỗn hợp, nếu có dính líu tới bản chất vừa của lời khấn tòng nhân vừa của lời khấn tòng vật. (Giáo luật no 1192)

Khấn hứa thường được coi là những hành vi thờ phượng đặc biệt. Nếu không được Thiên Chúa mời gọi cách đặc biệt, ta không bị buộc phải thờ phượng Người bằng cách khấn hứa. Khấn hứa tạo ra những bổn phận thờ phượng được ta tự nguyện chấp nhận. Được biết nhiều nhất vì được công khai tuyên bố trong nhiều dòng tu và tu hội của Hội thánh Công giáo cũng như của các Hội thánh Kitô giáo khác, là 3 lời khấn sống Khó nghèo, Khiết tịnh và Vâng phục theo Tin mừng. Ý nghĩa và nội dung của 3 lời khấn này đã được giải thích trong nhiều khảo cứu về đời tu. Còn trong khuôn khổ sách này, ta chỉ trình bày ý nghĩa của việc khấn hứa nói chung, những điều kiện để khấn hứa, mức ràng buộc và chấm dứt ràng buộc đối với việc ấy.

1. Ý nghĩa của việc khấn hứa

Trong lịch sử tôn giáo, khấn hứa là một hiện tượng rất phổ biến. Động cơ của việc này có thể rất khác nhau, như để cầu xin tha thiết hơn khi có nhu cầu lớn hoặc để thanh tẩy tâm hồn, đền tội, bày tỏ lòng biết ơn và muốn hiến thân cho Chúa.

Việc khấn hứa đã tìm được đất tốt để phát triển, nơi đạo Do thái và đạo Kitô. Chúng được đánh giá rất cao ; bổn phận giữ lời khấn hứa được tuân thủ rất nghiêm túc (Đnl 23,21-23 ; Tv 56,12 ; Ml 1,14). "Đã khấn hứa với Chúa thì đừng lần lữa chu toàn lời khấn hứa, vì Ngài không thích trò lừa phỉnh. Đã hứa thì phải giữ. Thà đừng khấn hứa còn hơn là khấn hứa mà không giữ" (Hc 5,4t).

Điển hình là trường hợp của Giacóp: ông hứa sẽ xây cho Chúa một ngôi nhà ở Bêthen và dâng cúng Ngài một phần mười huê lợi, nếu Chúa cho ông được trở về nhà cha an toàn (St 28,20-22). Hay trường hợp của Anna, tha thiết cầu xin cho có con và thề hứa sẽ dâng con cho Chúa nếu được nhận lời (1Sm 1,10t). Sách Công vụ Tông đồ cũng nói đến một lời khấn của Phaolô (Cv 18,18), có lẽ để tạ ơn Chúa vì đã được Ngài cứu khỏi hiểm nguy.

Thần học luân lý định nghĩa khấn là hứa với Chúa, qua đó ta tự nguyện bắt buộc mình làm một việc tốt khả thi và tốt hơn điều ngược lại. Đó là một hình thức thờ phượng có liên hệ mật thiết với việc tế lễ.

Lời khấn có giá trị trước hết là ở chỗ qua đó ta tỏ lòng tôn kính thần phục Thiên Chúa. Những gì ta khấn hứa chính là một cách bày tỏ lòng sùng kính và yêu mến của ta đối với Chúa. Ngoài ra, lời khấn còn giúp mỗi người thêm kiên định trong điều tốt mình mà mình hứa làm cho Chúa. Vì thế, mỗi khi tuân giữ lời khấn là ta đã làm một việc thờ phượng đặc biệt.

1. Điều kiện để lời khấn được thành sự

2. Điều kiện về phía người khấn

a/ Hiểu biết tương đối đầy đủ. Người khấn phải hiểu rõ điều mình khấn, nghĩa là phải có sự hiểu biết cần thiết để làm thành hành vi nhân linh đúng nghĩa. Bởi thế, ai không sử dụng trí khôn được, thì không thể khấn thành sự, như trẻ em hay những người say sưa. Khi hồ nghi một cách cơ sở không rõ lời khấn ấy đã được đưa ra với sự hiểu biết đầy đủ hay không thì lời khấn ấy không ràng buộc.

Không biết và biết sai sẽ làm cho lời khấn trở thành vô hiệu, nếu sự không biết và biết sai ấy có liên hệ đến chính yếu tính của lời khấn, hoàn cảnh thiết yếu hay động cơ chính yếu của lời khấn. Chẳng hạn, lời khấn sống khiết tịnh hoàn toàn sẽ không có hiệu lực khi người khấn tưởng rằng sống khiết tịnh hoàn toàn chẳng qua chỉ là từ khước các thú vui xác thịt tội lỗi. Cũng vậy, lời khấn hành hương bằng đi bộ sẽ không có hiệu lực khi người khấn nghĩ rằng đoạn đường từ nhà đến nơi hành hương chỉ dài 20 dặm, đang khi trong thực tế nó dài tới 40 dặm. Hoặc kể như chưa có khấn hứa gì khi khấn dâng cúng một vật gì đó để mẹ mình được khỏi bệnh, đang khi kỳ thật mẹ mình không hề bệnh gì hết.

b/ Tự do tương đối đầy đủ. Phải khấn với sự ưng thuận hoàn toàn của ý chí. Khấn do sợ hãi quá đáng và không thích đáng thì không có hiệu lực. Nhưng nếu chỉ sợ do một biến cố tự nhiên nào đó như do sấm sét, bệnh tật v.v..., thì lời khấn đó vẫn thành sự, trừ khi người khấn đã sợ tới mức không còn sử dụng trí khôn được cách lành mạnh.

c/ Có ý nghiêm túc muốn ràng buộc mình tự trong lương tâm. Dốc lòng thôi chưa phải là khấn hứa. Vì khi dốc lòng, đương sự không có ý ràng buộc mình tới mức không làm thì có tội. Đang khi đó, lúc khấn, ta có ý như vậy. Trong trường hợp hồ nghi, ta có thể suy đoán rằng mình mới chỉ dốc lòng, chứ chưa khấn hứa.

2. Điều kiện về phía đối tượng khấn hứa

a/ Nội dung khấn phải là điều khả thi, không phải chỉ khả thi về mặt vật lý mà cả khả thi về mặt luân lý. Nếu nội dung khấn trở nên khả thi một phần và không thể thực hiện được một phần thì phải giữ trong mức độ có thể giữ, miễn đó là một việc có thể chia đôi được. Chẳng hạn khấn hành hương bằng cách đi chân đất nhưng sau đó nhận ra không thể làm việc ấy nếu không mang giày dép thì vẫn buộc phải hành hương. Còn nếu nội dung khấn là một công việc không thể chia đôi được thì không buộc phải giữ gì hết. Như nếu khấn đi hành hương ở Rôma, nhưng rốt cuộc không được phép rời nước thì không buộc phải đi hành hương. Nếu điều khấn hứa về sau trở nên không thể thực hiện được như do đau ốm, thì không còn ràng buộc nữa.

b/ Nội dung khấn phải tốt và tốt hơn điều ngược lại. Khấn không bao giờ đi xe hơi là khấn một điều không tốt không xấu, thậm chí vô ích nữa. Bởi đó, lời khấn ấy không thành sự. Cũng vậy, khấn kết hôn tự nó không tốt hơn là khấn không kết hôn và đi tu. Vì thế, lời khấn ấy không thành sự. Nhưng nếu nhờ kết hôn mà có thể loại bỏ một xìcăngđan hay có thể đền bù lại một sự xúc phạm trầm trọng thì việc ấy có thể trở thành nội dung giá trị để khấn hứa. Trên nguyên tắc, một lời khấn ngăn cản một người làm điều tốt hơn để phục vụ Chúa là không hiệu lực. Các tác giả cũng nhất trí cho rằng ta có thể khấn làm một điều vốn đã buộc phải thi hành.

3. Điều kiện về phía Hội thánh

Đối với những lời khấn công, muốn được thành sự cần phải được Hội thánh chấp nhận. Điều này được áp dụng trên hết cho những lời khấn công trong các dòng tu và tu hội. Vì tự bản chất, các lời khấn công vốn được Hội thánh phê chuẩn chính thức, nên Hội thánh cũng có quyền xác định lời khấn nào là lời khấn công và đâu là những hiệu quả pháp lý của những lời khấn ấy.

III. Sức ràng buộc và việc thực hiện lời khấn

Lời khấn là một loại luật cá nhân, áp dụng cho bản thân đương sự. Vì thế, cần phải tôn trọng ý hướng của người khấn, coi đó như tiêu chuẩn và chuẩn mực quyết định sức ràng buộc, cách giải thích và thực hiện lời khấn. Tuy nhiên, nếu không có ý hướng gì đặc thù thì theo luật chung phải cứu xét những bổn phận xuất phát từ lời khấn dựa vào những chuẩn mực có giá trị trong các luật lệ của con người, nhất là trong luật lệ của Hội thánh.

1. Sức ràng buộc của lời khấn

a/ Lời khấn ràng buộc nặng hay nhẹ là tùy theo ý hướng của người khấn và tùy theo tầm mức của điều khấn. Một điều vốn vô nghĩa chỉ có thể được khấn với sức ràng buộc nhẹ, như khấn đọc kinh cầu kính Trái Tim Chúa Giêsu mỗi ngày. Một điều vốn quan trọng có thể được khấn với sức ràng buộc nhẹ hay nặng, tùy theo ý hướng của người khấn. Nếu không có ý hướng rõ rệt thì phải suy đoán việc quan trọng sẽ ràng buộc nặng, như khấn dâng cúng một số tiền lớn vào một công cuộc từ thiện chẳng hạn.

b/ Người nào khấn thì ràng buộc mình, chứ không ràng buộc những người khác. Một đứa con không bị ràng buộc bởi những lời khấn của cha mẹ, một cộng đoàn không bị ràng buộc bởi những lời khấn của những vị tiền bối. Bởi đó, nếu cha mẹ khấn dâng con cho nhà dòng, người con sẽ không bị ràng buộc phải thực hiện lời khấn ấy. Hoặc nếu những vị tiền bối của cộng đoàn khấn hằng năm sẽ tổ chức rước kiệu, các phần tử về sau của cộng đoàn không bị ràng buộc giữ vì lời khấn ấy. (Họ có thể bị ràng buộc vì một tập tục chính đáng, có hiệu lực như một luật riêng).

Tuy nhiên, lời khấn liên hệ đến của cải cũng buộc cả những người thừa kế. Nếu một người qua đời mà chưa làm việc bố thí đã khấn thì những người thừa kế phải thực hiện lời khấn ấy. Bằng không, họ đã vi phạm không thi hành một bổn phận mà người lập di chúc đã muốn làm, cũng như không bày tỏ sự tôn kính chính đáng đối với Thiên Chúa.

c/ Một lời khấn có điều kiện chỉ ràng buộc sau khi điều kiện ấy được thoả mãn. Một lời khấn để chọn sẽ cho phép đương sự chọn bên này hay bên kia để thi hành, kể cả sau khi đã chọn một bên. Các tác giả thường cho rằng lời khấn sẽ không ràng buộc khi một trong hai bên ấy trở thành không thể thực hiện được mà không do lỗi của người ấy, trước khi người ấy chọn. Tuy nhiên, ý kiến này xem ra không có giá trị như nhau đối với các loại khấn này. Như một người khấn dâng cúng cho một nhà thờ nghèo một trong hai chén lễ của mình, nhưng trước khi thực hiện lời khấn, một chén trong số đó bị hư, người ấy không bị buộc phải dâng chén lễ còn lại, vì bản thân mình có thể cần dùng đến. Nhưng nếu khấn hoặc sẽ đi hành hương hoặc sẽ làm việc bố thí, nhưng rốt cuộc không thể đi hành hương được, lòng đạo đức sẽ buộc người ấy thực hiện phần lời khấn có thể thực hiện được, tức là làm việc bố thí. Dầu sao, các tác giả đều đồng ý rằng ta không được quyền thay đổi sự lựa chọn của mình nữa, một khi đã lựa chọn rồi và phần việc trước đây mình không chọn nay cũng không thể thực hiện được.

2. Giải thích lời khấn

Phải giải thích lời khấn theo ý hướng của người khấn. Nếu ý hướng ấy không rõ thì phải giải thích lời khấn theo nghĩa rộng.

Vì thế, nếu khấn tổng quát là dâng một chén lễ thì không cần phải dâng cúng chén lễ đắt tiền. Hoặc nếu đã khấn ăn chay một tháng thì không cần ăn chay các ngày Chúa nhật và những ngày phải làm việc nặng mà bình thường cho phép ta miễn giữ chay.

3. Thực hiện lời khấn

a/ Một lời khấn được thực hiện khi người ta làm những gì mình đã khấn hứa. Không buộc phải có ý hướng rõ rệt là đang thực hiện lời khấn khi làm việc này, dù để chu toàn nghĩa vụ này cho tốt hơn rất nên như thế. Người khấn làm việc bố thí hằng tuần, tự nhiên giơ tay giúp một người nghèo mà chẳng hề nghĩ tới lời khấn, không buộc phải làm một việc bố thí khác nữa trong tuần đó do lời khấn ràng buộc.

b/ Khấn một việc làm liên hệ tới con người thì phải đích thân thực hiện việc ấy, như khấn ăn chay chẳng hạn. Đang khi đó, khấn một điều liên hệ đến của cải thì được phép để cho người khác thực hiện, như khấn dâng cúng của bố thí. Người thực hiện lời khấn này chỉ cần được sự đồng ý của người đã khấn.

c/ Về thời gian thực hiện, cần phải thi hành lời khấn không chậm trễ nếu không có xác định thời điểm nào đặc biệt để thi hành. Còn nếu có, thì phải thi hành lời khấn trong khoảng thời hạn ấy hay vào đúng thời điểm đã xác định. Theo các chuẩn mực hướng dẫn việc tuân thủ nhân luật, đối với những việc liên hệ đến con người, khi quá thời hạn thì không còn ràng buộc nữa, như không buộc phải thực hiện lời khấn sẽ ăn chay các ngày thứ 6 trong mùa Chay bằng cách dời sang ngày khác. Nhưng nếu đó là những việc liên hệ đến của cải thì hết thời hạn mà chưa thi hành, lời khấn vẫn ràng buộc, như đã hứa làm việc bố thí trong mùa Chay thì phải thi hành kể cả sau mùa Chay, nếu chưa thi hành.

1. Tháo cởi lời khấn

2. Ngưng hiệu lực vì những lý do nội tại

Một lời khấn hết ràng buộc nếu mục tiêu không còn, thời hạn thi hành đã hết hay nếu sự việc được khấn đã thay đổi một cách cơ bản, như có sự thay đổi trong hoàn cảnh sâu xa tới mức việc ấy trở thành không thể thực hiện được nữa hoặc không còn là một việc tốt hơn. Khi thấy thực hiện lời khấn sẽ gây trở ngại hơn là hỗ trợ cho ta nên thánh hoặc phụng sự Chúa thì đương nhiên không được thi hành lời khấn. Chẳng hạn một phụ nữ khấn dự lễ mỗi ngày, nhưng kể từ khi làm vợ và làm mẹ, người ấy nhận thấy việc ấy không thể hài hoà với bổn phận hiện tại của mình nữa, vì mình không được ai giúp.

Nếu cố tình làm cho việc thi hành lời khấn trở thành không thể thực hiện được thì ta có bổn phận đặc biệt là đền bù tội lỗi đã phạm ấy. Chẳng hạn, nếu khấn sẽ trợ cấp cho một học sinh nghèo, nhưng cứ lần lữa mãi khiến sự việc trở thành vô ích, ta phải đền tội bằng một việc bác ái tương tự.

3. Đình chỉ thi hành

Các lời khấn riêng được đưa ra trước khi khấn dòng đều đương nhiên bị đình chỉ khi ta khấn dòng (GL no 1198). Tuy nhiên, Giáo luật mới không còn nói đến quyền của các bề trên dòng bãi bỏ các lời khấn riêng của thuộc cấp sau khi đã khấn dòng, hoặc quyền tương tự của cha mẹ đối với các lời khấn riêng của con cái chưa đến tuổi thành niên như Giáo luật cũ có minh định.

Việc đình chỉ lời khấn (hay bãi bỏ cách gián tiếp) là việc của những ai có quyền trên nội dung khấn, bao lâu việc khấn ấy còn nằm trong quyền của họ (cf. GL no 1195). Chẳng hạn các bề trên dòng có thể đình chỉ các lời khấn riêng nào của thuộc cấp gây cản trở cho kỷ luật của cộng đoàn. Người kết hôn có quyền đình chỉ những lời khấn nào của bạn đời mình có thể làm hại các quyền lợi hỗ tương của vợ chồng. Người làm cha có thể giải các lời khấn nào của con cái có thể gây cản trở việc ông cai quản gia đình.

Lý do nội tại giải thích quyền này là một người không được phép khấn một điều gì nằm ngoài khả năng của mình và trong quyền hạn của người khác. "Đương sự không có quyền làm những gì mình muốn đối với những việc mà trong đó mình phải lệ thuộc người khác ; trái lại đương sự phải dựa vào ý muốn của người khác. Bởi đó, đương sự không được phép tự ràng buộc mình một cách nghiêm nhặt đối với những lời khấn có liên quan tới những điều mình phải lệ thuộc, nếu không được bề trên đồng ý". Tuy nhiên, những chi tiết luật pháp của quyền bãi bỏ các lời khấn trên đây chỉ là luật thiết định của Hội thánh.

4. Giải gỡ lời khấn

Là gỡ một người khỏi sự ràng buộc của lời khấn, do một bề trên có thẩm quyền vì một lý do chính đáng. Vì ích lợi thiêng liêng của cá nhân hay của cộng đoàn tu trì và của Hội thánh, đôi khi người ta nên và thậm chí phải giải gỡ lời khấn. Thẩm quyền chuyên môn để cứu xét sự hợp lý của việc giải gỡ ấy là giáo quyền. Đức Kitô đã ban quyền tháo cởi và ràng buộc cho những người cai quản Hội thánh (Mt 16,19 ; 18,18). Vì người ta giải gỡ lời khấn nhân danh Thiên Chúa nên quyền này là quyền thay mặt. Chính vì thế, những việc giải gỡ lời khấn nào không có lý do đủ sẽ chẳng những không hợp pháp mà còn không hiệu lực nữa.

Theo Giáo luật, những người sau đây có quyền giải gỡ các lời khấn tư, không kể Đức Thánh Cha: đó là đấng Bản quyền địa phương, linh mục quản xứ và bề trên các tu hội giáo sĩ thuộc quyền giáo hoàng đối với thuộc cấp của mình, và những vị đã được Toà thánh hay đấng Bản quyền địa phương ban những năng quyền đặc biệt (GL no 1196). Chỉ có Toà thánh là có quyền giải gỡ những lời khấn công, trọn đời cho tu sĩ các tu hội thuộc quyền giáo hoàng. Giám mục địa phương của đương sự có quyền giải gỡ những lời khấn công, trọn đời cho tu sĩ các tu hội thuộc quyền giáo phận (GL no 691 #2).

Thỉnh thoảng người xin giải gỡ lời khấn không có lý do hiệu lực đủ để được giải gỡ, nếu xét riêng người ấy. Nhưng cách riêng đối với lời khấn tu trì, Hội thánh có đủ lý do để giải gỡ người ấy khỏi các lời khấn vì ích chung và vì ích lợi của nhà dòng người ấy. Chẳng hạn như khi đương sự đã mất hết nhiệt tình đối với đời sống thiêng liêng, hoặc là thành phần luôn luôn bất mãn, liên tục gây xáo trộn trong cộng đoàn và gây gương mù cho người ngoài. Trong trường hợp này, bề trên Hội thánh được phép giải gỡ lời khấn cho đương sự. Nhưng những người được giải gỡ lời khấn trong các trường hợp ấy không đương nhiên được miễn tội bất trung. Đức thờ phượng vẫn buộc họ phải đền tội vì đã lấy lại những gì đã dâng hiến cho Chúa.

Việc giải gỡ lời khấn không thể gây thiệt hại cho quyền lợi sẵn có của người khác. Đó là trường hợp của những lời khấn đã đưa ra vì ích lợi của người khác và đã được người khác chấp nhận.

5. Chuyển lời khấn

Chuyển lời khấn là lấy một việc để thay cho việc đã khấn. Bao lâu việc mới này còn tốt hơn hay ít ra tương đương với việc đã khấn và bao lâu đó chỉ là lời khấn riêng, thì người đã khấn được quyền chuyển lời khấn. Còn nếu muốn chuyển sang một việc không tốt bằng thì chỉ những người có quyền giải gỡ lời khấn mới có quyền chuyển đổi này (GL no 1197).

Cũng vậy, khi chuyển đổi, phải lưu ý đừng để quyền lợi sẵn có của người khác bị thiệt hại. Ngoài ra, muốn chuyển lời khấn thành một việc ít có giá trị hơn, thì phải có lý do, nhưng không nhất thiết phải nghiêm trọng bằng lý do cần phải có khi giải gỡ lời khấn ] (trích từ trang 239-250).

5.1.5 Các Bí tích và Á Bí tích (trg 187- 205)

5.1.5.1 Bí tích và á Bí tích nói chung

Theo Giáo Hội Công Giáo, có 7 Bí tích: Thánh Thể, Rửa Tội, Thêm sức, Sám Hối, Xức dầu bệnh nhân, Truyền chức Thánh, Hôn phối.

Ngày xưa, người ta định nghĩa Bí tích là những dấu hiệu đem lại ân sủng. Công đồng Vat. II thì tuyên bố rằng “mục đích của các Bí tích là thánh hóa con người, xây dựng thân thể Chúa Kitô và sau cùng, thờ phượng Thiên Chúa”. Như thế thánh hoá con người và thờ phượng Thiên Chúa là hai chức năng quan trọng nhất của Bí tích, cũng như của Phụng vụ nói chung.

Hơn nữa, Hiến chế Phụng vụ (số 7) còn nhấn mạnh đến tính tập thể của cử hành Bí tích: “Bởi vậy Phụng vụ đáng được xem là việc thi hành chức vụ tư tế của Chúa Giêsu Kitô, trong đó việc thánh hóa loài người được biểu thị bằng tin và Phép Rửa tội trở thành con Thiên Chúa, được qui tụ với nhau để ca tụng Thiên Chúa trong Hội thánh, để dự phần tế lễ và ăn tiệc của Chúa.”

Trong Giáo Hội Công giáo còn có những á Bí tích. Á Bí tích không thánh hoá con người một cách cơ bản như các Bí tích, nhưng “nhờ chúng, con người được chuẩn bị để lãnh nhận các hiệu quả chính yếu của Bí tích và làm cho các hoàn cảnh khác nhau trong cuộc sống được thánh hóa” (SC 60) Các á Bí tích thánh hóa các biến cố nhỏ trong đời người, các dụng cụ và phương tiện sinh sống của con người như mùa màng (thường cử hành trong một buổi rước kiệu), nhà cửa (thường cử hành vào đầu năm), cây cỏ, gia súc, xe cộ, v.v… Và dĩ nhiên các á bí tích cũng được cử hành để ban phép lành cho các cơ sở và vật dụng dùng vào các mục đích tôn giáo.

Người kitô hữu có bổn phận phải lãnh nhận Bí tích và tham dự việc thờ phượng bằng Bí tích nói chung vì mỗi người phải lo tự thánh hóa bản thân và thế giới.

Tuy nhiên người tín hữu nhiệt thành với lòng mến sẽ không đến với các Bí tích như một bó buộc phải làm nhưng như đón nhận một quà tặng của Thiên Chúa và như lời đáp lại tiếng gọi tình yêu của Chúa. Như thế họ sẽ đón nhận trong tinh thần yêu mến và biết ơn.

5.1.5.2 Những điều kiện về phía người lãnh nhận Bí tích

Để lãnh nhận Bí tích thành sự và kết quả thì điều kiện tiên quyết là người lãnh nhận phải còn sống nghĩa là không thể ban Bí tích cho người chết. Đồng thời Bí tích Rửa tội cũng là điều kiện tiên quyết để lãnh nhận sáu Bí tích còn lại.

Điều kiện quan trọng nữa đó là, theo Công đồng Vat II, phải có lòng tin. Các Bí tích đều “giả thiết lòng tin”, cũng như các Bí tích là phương tiện nuôi dưỡng và biểu lộ niềm tin. (SC.59) Lời quả quyết ấy gợi cho thấy rằng niềm tin cần thiết để lãnh nhận Bí tích cho thành sự.

Muốn lãnh nhận Bí tích cách thành sự thì còn phải có ý hướng ngay lành. Thiên Chúa không ban ơn cho ai khi người ấy không muốn. Ý hướng có thể là:

+ Ý hướng hiện tỏ: sự quyết tâm của ý chí ý thức rõ ràng muốn lãnh nhận.

+ Ý hướng tiềm ẩn: hiện tại thì không ý thức thế nhưng người ấy đã ý thức, đã muốn và vì thế người ấy mới đến lãnh nhận.

+ Ý hướng thường xuyên: tình trạng sẵn sàng bền bỉ để làm một việc gì đó, nhưng không ảnh hưởng tới hành vi của người ấy trong lúc này.

Để lãnh nhận các Bí tích thành sự, cần phải có tối thiểu ý hướng tiềm ẩn để có thể gặp gỡ Thiên Chúa và làm việc thờ phượng cá nhân. Tuy nhiên có ý hướng thường xuyên cũng đủ, nghĩa là có ý hướng muốn nên thánh và sử dụng tất cả mọi phương tiện trong đó có Bí tích để đạt được mục đích ấy.

Cuối cùng, để lãnh nhận Bí tích cho xứng đáng và kết quả (không đặt vấn đề thành sự) thì cần có lòng yêu mến Chúa, muốn vâng phục và phục vụ Thiên Chúa.

Người ta thường phân biệt hai loại Bí tích:

+ Bí tích dành cho người chết (người mắc tội nặng): Rửa tội và Sám Hối.

+ Bí tích dành cho người sống (người không mắc tội nặng): những Bí tích còn lại như Thánh Thể, Thêm sức, Xức dầu Bệnh nhân, Truyền chức Thánh và Hôn phối.

Muốn lãnh nhận Bí tích dành cho người sống một cách xứng đáng phải ở trong tình trạng ân sủng (tuy vẫn thành sự). “Do đó, một kitô hữu đang phạm tội nặng, muốn lãnh nhận Bí tích của người sống, trước hết phải khôi phục tình trạng ân sủng hoặc bằng cách ăn năn trọn vẹn hoặc tốt hơn bằng cách xưng tội trong Bí tích Sám Hối. Phải xưng các tội nguy tử của mình trước khi rước lễ, đó là một bổn phận bó buộc, trừ khi có nhu cầu khẩn cấp buộc phải Rước lễ và hầu như không thể xưng tội được (GL no916). Trong trường hợp này, chỉ cần ăn năn trọn vẹn là đủ. Tuy nhiên một linh mục đã cử hành thánh lễ hay một tín hữu đã rước lễ trong những đều kiện trên đây đều phải lãnh nhận Bí tích Sám Hối càng sớm càng tốt.” (tr. 200)

5.1.5.3 Những điều kiện về phía người cử hành

+ Thừa tác viên phải được Đức Kitô và Giáo Hội cho phép: Thừa tác viên của các Bí tích hành động như người đại diện Đức Kitô. Vì thế chỉ có những người được Đức Kitô trao quyền mới có thể cử hành thành sự các Bí tích. Vậy mà Đức Kitô trao quyền cho Giáo Hội. Vì thế chỉ những thừa tác viên được Giáo Hội ban phép mới có thể cử hành bí tích cách thành sự và hợp luật.

+ Để cử hành Bí tích cho thành sự, cần phải có ý hướng tiềm ẩn, làm những gì Giáo Hội làm hay những gì do Chúa Giêsu thiết lập hoặc những gì các Kitô hữu đã tin là đủ.

+ Thừa tác viên có bổn phận trong lương tâm là phải bám theo các nghi thức Giáo Hội đã qui định và phải giữ luật chữ đỏ hướng dẫn việc cử hành các Bí tích. Cố tình coi thường các nghi thức quan trọng, gây ra chướng kỳ và khó chịu cho các tín hữu, hay ít ra cho các tín hữu lành mạnh và trưởng thành, là có tội nặng, nhất là khi để xảy ra liên tục. Tuy nhiên thông thường chỉ là tội nhẹ.

+ Thừa tác viên phải có lòng sùng kính vì đây là những hành vi tôn vinh Thiên Chúa và là nguồn động viên lòng đạo đức của các tín hữu. Đàng khác, các thừa tác viên phải có đời sống hợp với ơn gọi và bổn phận linh thiêng của mình nên khi cử hành Bí tích họ phải ở trong tình trạng có ơn sủng nếu không thì mắc tội nặng, trừ trường hợp khẩn cấp.

6. Các tội nghịch với đức thờ thượng và điều răn thứ nhất

6.1 Thử thách Thiên Chúa

 “Thử thách Thiên Chúa là dùng lời nói hay hành động để thử lòng nhân hậu và quyền năng của Thiên Chúa… Thách đố như vậy là xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng chúng ta phải cậy trông vì là Đấng Sáng tạo và là Đức Chúa. Thử thách Thiên Chúa luôn ẩn chứa thái độ ngờ vực tình yêu thương, sự quan phòng và quyền năng của Thiên Chúa.” (GLCG no 2119)

Thử thách Thiên Chúa đúng nghĩa (thường tội nặng vì nghịch với đức tin) khi người ta không tin hoặc hồ nghi một đặc tính nào của Thiên Chúa (xin Chúa làm phép lạ để minh chứng Đức Kitô là Thiên Chúa). Thử thách Thiên Chúa nhẹ hơn (thường tội nhẹ) khi trông cậy Chúa cùng sức riêng mình quá đáng (không dọn bài giảng nhưng cũng cứ giảng vì trông cậy vào Chúa sẽ mở miệng cho mình).

Khi có lý do chính đáng và cần thiết kêu xin Chúa làm phép lạ hoặc phó mình trong tay Chúa, thì đó không phải là thử phép Thiên Chúa, nhưng là một hành vi tín nhiệm vào Chúa và làm vinh danh Chúa.

Từ đó, ai mắc bệnh nặng nhưng từ chối uống thuốc, chỉ trông cậy vào phép lạ cho mạnh lại thì thuộc loại thử thách Thiên Chúa. Còn nếu đau bệnh nhẹ mà cầu xin thì không phải thử thách Thiên Chúa.

6.2 Phạm thánh

 “Phạm thánh là xúc phạm hay cư xử bất xứng đối với các bí tích và các hành vi phụng vụ khác, cũng như đối với người, đồ vật và các nơi đã thánh hiến cho Thiên Chúa. Phạm thánh là một tội nặng, đặc biệt khi phạm đến thánh thể, bởi vì trong Bí tích này, chính Đức Kitô hiện diện thực sự với chúng ta.” (GLCG no 2120)

Tuy cùng một tính từ thánh nhưng ý nghĩa khác nhau: nơi người thánh thì sự thánh thiện ở nơi chính con người trong khi gọi là nơi thánh vì nơi đó chứa các đồ thánh là những thứ dùng để thánh hóa con người, những thứ dành cho việc tế tự.

6.2.1 Kính trọng người thánh (tr. 254-255)

Người thánh là những người được dành cho sứ vụ tôn giáo do một sự thánh hiến đặc biệt hay do những lời khấn công. Đó là các linh mục, phó tế và các tu sĩ.

Cư xử một cách bạo lực với các vị ấy là mắc tội phạm thánh đối nhân. Cũng phạm tội ấy khi cưỡng bức các ngài làm các dịch vụ hoàn toàn trần tục, không phù hợp với ơn gọi tu trì của các ngài.

Người thánh có thể phạm tội khi sống ngược hẳn với ơn gọi tu trì của mình: tội phạm đến đức khiết tịnh chẳng hạn (cùng với người đồng phạm). Người thánh cũng có thể xúc phạm tới ơn gọi của mình khi “cờ bạc thường xuyên, lui tới tửu quán và những thứ tương tự tới mức bỏ bê các nghĩa vụ linh mục của mình. Đó thậm chí còn là những xúc phạm tới ơn gọi tu trì của mình nhiều hơn là những lầm lỡ một đôi khi trong đời sống khiết tịnh.” (tr. 255)

6.2.2 Kính trọng nơi thánh

Nơi thánh là những địa điểm được dâng cúng đặc biệt dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa. Đó là các nhà thờ, nhà nguyện công các nghĩa trang được làm phép.

Tội phạm đến nơi thánh:

+ Phàm tục hóa nơi thánh: biến thành nhà hát, tòa án, nhà chứa xe, kho hàng, văn phòng làm việc…

+ Làm những việc tội lỗi, xấu xa trầm trọng tại những nơi ấy: làm đổ máu khá nhiều, giết người hay là những hành động khác do Đấng Bản quyền xét định.

Giáo luật no 1211: “Các nơi thánh bị xúc phạm do những hành động bất xứng trầm trọng, sinh gương xấu cho giáo dân tại đó và, theo sự phán đoán của Bản quyền sở tại, có tính cách nặng nề và trái nghịch với sự thánh thiện của nơi thánh đến nỗi không thể cử hành việc thờ phượng tại đó được nữa cho đến khi phạt tạ mọi bất xứng bằng một lễ nghi thống hối theo qui định của sách phụng vụ.”

no 1212: “Các nơi thánh mất sự cung hiến và làm phép, nếu bị phá hủy một phần lớn, hay bị sử dụng thường xuyên vào những công việc phàm tục, do một nghị định của Bản quyền có thẩm quyền, hoặc do một sự kiện thực tế.”

Nơi thánh không bị xúc phạm:

+ Trong trường hợp chiến tranh, khi nhiều người bị thương đến trú ẩn.

+ Khi ăn riêng, khi xem sách báo tranh ảnh đồi trụy.

+ Khi phạm các tội nặng nhưng kín đáo.

6.2.3 Kính trọng của thánh

Của thánh là tất cả những thứ chỉ dành cho việc phụng tự Thiên Chúa: hoặc do chính bản chất của chúng như các Bí tích, hoặc do Giáo Hội thánh hiến đặc biệt như chén thánh, y phục thánh…

Phạm đến của thánh khi sử dụng các của thánh một cách bất xứng như:

+ Nhận và ban các Bí tích một cách bất xứng. Đặc biệt đối với Bí tích Thánh thể, ai khinh thị Mình và Máu Chúa thì bị vạ tuyệt thông dành cho Tòa Thánh còn ai đối xử cách bất xứng như để dơ bẫn những thứ chứa đựng Bí tích này thì có thể mắc tội phạm thánh.

+ Sử dụng cách bất xứng các vật thánh (đồ dùng phượng tự, lễ phục, dầu thánh, thách tích, ảnh tượng …) như bất xứng với hài cốt các thánh, đập vỡ ảnh tượng do khinh dễ, tạc vẽ ảnh tượng cách bất xứng, mua bán vật đã làm phép, dùng Kinh thánh vào các chuyện không thánh thiện hay tội lỗi (trích dẫn Kinh thánh để giễu cợt là một việc bất xứng nhưng không phải phạm thánh), dùng chén thánh hoặc áo lễ cho những việc phàm tục (trừ khi bị hư cũ không dùng cho việc thờ phượng được nữa), ăn cướp hay tước đoạt các đồ dùng thánh hoặc tự bản chất như Mình Thánh Chúa hoặc được làm phép, kể cả nhà thờ (chiếm đoạt bất động sản của Giáo Hội như đất đai, nhà cửa thì thuộc về phép công bình).

6.3 Mại thánh (Simonie)

Sách GLCG no 2121 cho rằng: “Mại thánh là mua hay bán những thực tại thiêng liêng. Khi phù thủy Simon muốn mua quyền năng Thánh Thần mà ông thấy đang hoạt động nơi các tông đồ, Phêrô đã trả lời: Bạc của anh tiêu tan luôn với anh cho rồi, vì anh tưởng có thể lấy tiền mà mua ân huệ của Thiên Chúa” (Cv 8,20). Người ta lấy tên của phù thủy Simon để đặt tên cho chính tội này. Hành vi mại thánh bị cấm là vì dám đánh giá của thiêng liêng và của vật chất bằng nhau hay là có vẻ bằng nhau.

Mại thánh bị cấm vì nó làm hạ thấp giá trị của vật hay chức tước… bị bán. Đàng khác khi bán của thiêng liêng là bán những thứ không thuộc về mình và việc ấy trái với nguồn gốc các của thiêng liêng: của thiêng liêng là do Thiên Chúa ban một cách nhưng không. Mại thánh cũng thường làm hại Giáo Hội vì có khi chọn những thừa tác viên bất xứng.

Phân biệt giữa mại thánh và tiền dâng cúng là một vấn đề tế nhị, Giáo luật no 848 ghi: “Khi ban các Bí tích, thừa tác viên không được đòi thêm cái gì khác ngoài số tiền dâng cúng mà thẩm quyền Hội Thánh đã ấn định, và cũng còn phải cẩn thận đừng để những người nghèo không được lãnh nhận Bí tích vì lý do túng thiếu”. Sách GLCG còn thêm: “Thẩm quyền của Hội Thánh ấn định các của dâng cúng này theo nguyên tắc dân Kitô giáo phải cấp dưỡng cho các thừa tác viên. ‘Thợ thì đáng được nuôi ăn’” (Mt 10,10)

Từ đó:

+ Nhận thù lao (nhưng không được đòi hay đòi quá mức đã được Đấng Bản Quyền ấn định) trong khi thi hành tác vụ như giải tội, chứng hôn, dâng lễ (hoặc lễ ngoại lệ phải trả cao hơn bình thường do phải đi xa), ban các chứng thư, lễ an táng… thì không phải là tội mại thánh.

+ Nhận thù lao khi dạy giáo lý, thần học, Kinh thánh, khi giải đáp những thắc mắc về đạo, về luân lý… thì không mắc tội mại thánh vì người dạy cần có điều kiện để sinh sống.

+ Mắc tội mại thánh khi nhận tiền hay vật dụng để bỏ phiếu hay giới thiệu, tiến cử (bằng lời nói) một người vào một chức vụ trong Giáo Hội. Cũng mắc tội phạm thánh khi hối lộ cho một người để người ấy từ khước nhận một chức vụ. Cuối cùng mắc tội phạm thánh khi bán một đồ vật đã được làm phép với giá cao (còn khi bán với đúng giá trị của nó, dù giá cao, cũng không phạm tội mại thánh vì đồ cổ thường có giá cao như vậy)

+ Mắc tội mại thánh khi cho và nhận một sự gì như giá phải trả để được đi tu (vào dòng, vào chủng viện) nhưng không mắc tội khi cho và nhận như để giúp cho nhà dòng, chủng viện có phương tiện để cấp dưỡng cho chu đáo.

Mại thánh thường là tội nặng nhưng không phải trong mọi trường hợp (tr. 261)

Giáo Luật đưa ra những hình phạt rất nặng về tội này:

   + no 1380: “Ai cử hành hay nhận lãnh một bí tích vì mại thánh sẽ bị phạt cấm chế hay huyền chức”

   + no 149 # 3 “Sự chỉ định chức vụ nhờ việc mại thánh đương nhiên vô giá trị.”

   + no 188 “Sự từ chức vì sợ hãi trầm trọng được gây ra cách bất công, vì lường gạt hay lầm lẫn về thực chất hay vì mại thánh, sẽ vô hiệu do chính luật.”

Vì đương nhiên vô hiệu, nên cho dù có nhận được quyết định sau đó, quyết định này cũng vô giá trị.

6.4 Thờ Chúa không đúng cách

Thờ Chúa đúng cách đó là tìm cách làm vinh danh Thiên Chúa và cảm tạ Thiên Chúa vì những ơn Ngài đã ban cho chúng ta.

Thờ Chúa sai cách là:

   + Gán cho những kinh nguyện một hiệu quả rất đặc biệt nhất là kèm theo những qui định khắt khe về số lần cũng như cách đọc, cách truyền bá… “Những hiệu quả rút ra từ đó không còn được coi là quà tặng của Thiên Chúa quảng đại và nhân ái, mà chỉ là kết quả của một sức mạnh bí mật nào đó nội tại trong các nghi thức và các kinh nguyện ấy. Sức mạnh này bảo đảm cho ta được những thành quả như ý muốn.” (tr. 153)

+ Một vài kiểu chữa bệnh mặc lớp niềm tin nhưng lại mang màu sắc ma thuật vì những công thức chữa bệnh bắt buộc phải giử bí mật. Cách chữa bệnh này khác với kiểu cầu xin danh Chúa hay là danh Đức Kitô mà thánh Phaolo nói tới. (1 Cr 12, 28-30)

   + Hy vọng quá đáng vào những vật thánh. “Người ta gán cho hình ảnh hay thánh tích một quyền năng đặc biệt… Sai lầm nằm ở chỗ ta đã tin cậy vào hiệu năng của chính vật ấy, thay vì chú ý đến việc sùng kính Thiên Chúa tự trong lòng.” (tr. 154)

   + Khi coi Thiên Chúa như vị Vua đang đòi nợ con người dưới hình thức tế lễ và các việc thờ phượng khác mà quên rằng Thiên Chúa muốn tâm hồn, tình yêu và sự tuân phục hơn là của lễ. “Không có tấm lòng, mọi lễ vật và nghi thức bên ngoài đều vô nghĩa.” (tr. 155)

6.5 Thờ thần giả hiệu

 “Điều răn thứ nhất lên án thuyết đa thần, buộc con người không được tin vào thần nào khác ngoài Thiên Chúa, không được tôn kính các thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa duy nhất” (GLCG no 2112)

 “Thờ ngẫu tượng không chỉ là sai lầm của dân ngoại, nhưng còn là một cám dỗ thường xuyên đối với tín hữu. Thờ ngẫu tượng là tôn thờ và kính bái một thụ tạo thay vì Thiên Chúa, cho dù đó là thần linh hay ma quỉ (ví dụ: giáo phái thờ Satan), quyền lực, khoái lạc, chủng tộc, tổ tiên, nhà nước, bạc tiền …” (GLCG no 2113).

Như thế thờ ngẫu tượng có thể là

+ Do tin vào thuyết nhị nguyên. Bên cạnh Thiên Chúa tốt lành còn có một thần dữ, đối thủ của Thiên Chúa. Con người phải thờ phượng cả hai.

+ Thờ những thứ có trong thiên nhiên thú vật, cây cối, cá… cũng có thể là thần thánh hoá một nhân vật lịch sử. Thờ ngẫu tượng cũng có thể là “việc ta nâng các giá trị trần gian lên thành những điều thiện tối hậu. Kinh thánh gọi những người suy tôn tiền bạc, lạc thú và những sự vật trần gian tương tự là những tín đồ của đạo thờ ngẫu tượng… Loại ngẫu tượng này là mối nguy lớn nhất trong nền văn minh hiện nay của chúng ta: thờ lạy sự giàu sang, sự tiến bộ về vật chất, quyền hành … Khi đã bỏ Chúa và hoàn toàn ngụp lặn trong những gì là trần gian, vật chất và xác thịt, con người sẽ đội hào quang thần thánh lên đầu các giá trị thụ tạo ấy, hiến dâng cả đời mình cho chúng, và như thế một lần nữa phản bội bản tính của mình, vốn đã mang tính tôn giáo.” (tr. 158)

 “Rất nhiều vị tử đạo đã chết vì không chịu thờ ‘Con Thú’ dù chỉ giả vờ thôi. Ai thờ ngẫu tượng là mặc nhiên không nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa tể duy nhất, nên không thể thông hiệp với Thiên Chúa.” (GLCG no 2113)

Như thế, tội thờ thần giả hiệu dù bên ngoài hay bên trong cũng thường là tội nặng. Thế nhưng khi lương tâm của người nào đó cho rằng phải thờ thần dữ để tránh bị làm hại thì trách nhiệm của người ấy nhẹ hơn.

6.6 Mê tín

 “Mê tín chính là tin tưởng và hành động một cách hời hợt vô ích, do tin cậy vào những quyền năng tưởng tượng… Sai lầm của sự mê tín theo nghĩa hẹp cốt ở chỗ tin tưởng vào những quyền năng không hề có thật” (tr. 158)

Thật ra khó phân định hành vi nào là mê tín vì con người không phải là đã biết hết những quyền năng ở trong thiên nhiên, ở nơi con người nhất là hiện tượng siêu tâm lý của con người.

Nguyên nhân sâu xa nhất của mê tín là thiếu đức tin chân chính vào Thiên Chúa và thiếu đức thờ phượng đích thực. Mê tín do dốt nát kiến thức khoa học thì thường chỉ có tội nhẹ, nhưng nếu do thiếu đức tin thì thường là tội nặng.

+ Phạm tội mê tín khi người ta kiêng cữ một cách vô lý, sử dụng đồ vật để bảo vệ mình hay để gặp may mắn. Thần học luân lý kết án nặng nề những kiểu kiêng giữ như trên. Thế nhưng thường “chỉ là tội nhẹ hay đôi khi chỉ là những khuyết điểm, do nhút nhát sợ sệt không biết lập luận, không dám bỏ qua những tập tục phi lý, nhất là khi chúng đã được phổ biến. Đó đúng hơn chỉ là do yếu đuối không thể không bắt chước và làm theo người khác.” (tr. 163) Nếu việc kiêng cữ ấy khống chế toàn bộ đời sống và đẩy việc tôn thờ Thiên Chúa vào hàng thứ yếu thì mắc tội nặng. (tr. 164)

+ Phạm tội mê tín khi người ta tin vào bói toán để biết tương lai và một số điều bí ẩn khác. Vấn đề này cũng rất tế nhị vì “không phải tin vào lời tiên đoán nào cũng bị coi là mê tín và vì thế có tội. Quả thật có một số người được ban cho ơn đặc biệt là tiên tri và tiên báo” Tuy vậy, “Thật thiếu trách nhiệm khi dựa vào những lời tiên đoán (về học hành thi cử, nghề nghiệp, gia đình) để bỏ bê các bổn phận.” (tr. 164-165)

Sách GLCG kết án nặng những hình thức bói toán: “Phải loại bỏ mọi hình thức bói toán: cậy nhờ Satan hay ma quỉ, gọi hồn người chết hay những cách khác ngỡ rằng sẽ đoán được tương lai. Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải điều mộng, xin xăm, bói toán quá khứ vị lai, đồng bóng, là những hình thức che giấu ước muốn có quyền trên thời gian, trên lịch sử và trên cả con người, cũng như ước muốn liên kết với các thế lực huyền bí. Điều này nghịch lại với lòng tôn kính và thần phục chỉ dành cho Thiên Chúa.” (GLCG no 2116)

Như thế sách GLCG kết án nói chung các trường hợp bói toán trong khi Karl H. Peschke thì cố gắng phân biệt những cái thật và không thật ;

Trong chiêm tinh: theo tác giả, tuy đây không phải là môn khoa học đúng nghĩa nhưng “không có nghĩa là cho rằng tinh tú không hề có ảnh hưởng gì trên sức khoẻ thể lý và tâm lý của con người, như mặt trăng chẳng hạn.” (tr. 168) Ảnh hưởng ấy có thể kéo dài trong suốt cuộc đời con người.

 Trong các thứ bói khác (bói bài, quả cầu thủy tinh, xem chỉ tay…): tác giả cho rằng những người hành nghề này chỉ khai thác sự ngây thơ của khách hàng. “tuy nhiên, phải nhìn nhận các đường nét trên lòng bàn tay con người là những chỉ dẫn thật sự cho biết tính tình của người ấy, cũng như chữ viết của họ vậy.” (tr. 169)

 Trong các thứ chiêu hồn và thần thông: tác giả bác bỏ vì liệt kê chúng vào số những hình thức thờ phượng sai lạc nhưng lại thấy có thể tham dự “để tìm hiểu và điều tra khoa học” (tr. 169)

+ Cũng phạm tội mê tín khi người ta sử dụng ma thuật. “Ma thuật là những nỗ lực tạo ra một số hiệu quả dựa vào những quyền lực huyền bí một cách ngoại nhiên. Ma thuật được chia thành ma thuật trắng, nhằm tạo ra những hiệu quả có lợi hay ít là có thể chấp nhận được, và ma thuật đen để gây hại hay để theo đuổi những mục tiêu tội lỗi.” (tr. 170)

Sách GLCG lại kết án nói chung về ma thuật “Ai muốn dùng ma thuật hay pháp thuật để chế ngự các thế lực huyền bí, bắt chúng phục vụ mình và nắm được quyền lực siêu phàm trên người khác dù là để chữa bệnh, cũng lỗi nặng nhân đức thờ phượng. Các việc này càng đáng lên án hơn nữa khi có dụng ý hại người, hay nhờ đến sự can thiệp của ma quỉ. Mang bùa cũng là điều đáng trách… Hội Thánh cảnh giác các tín hữu phải lánh xa các điều ấy. Khi dùng các phương thuốc gia truyền, không được kêu cầu các thế lực ma quỉ cũng như lợi dụng sự nhẹ dạ của người khác.” (GLCG no 2117)

Tuy nhiên, Karl H. Peschke cũng đã cố gắng phân biệt những cái thật và không thật trong vấn đề ma thuật. Ông nhận biết rằng người ta có thể chứng minh ảnh hưởng của một số người trên “đồ vật và người khác cả về thể lý lẫn tâm lý chỉ nhờ vào các sức mạnh tinh thần của mình.” Người ta có thể chứng minh hiệu quả của thôi miên và chữa bệnh nhờ vào lòng tin (tr. 170). Ông cho rằng “Tự bản chất, các khả năng siêu tâm lý không xấu. Chúng là những ơn Thiên Chúa Tạo hóa ban cho, cũng như bất cứ đức tính đặc biệt nào mà con người có được. Bổn phận của con người là phải sử dụng chúng cho đúng đắn và cho tốt. Tận dụng những khả năng này vào những việc tốt hay ít là không tốt không xấu đều được phép. Nhưng vận dụng chúng phục vụ cho những ý đồ xấu và những hậu quả tai hại là có tội và vô trách nhiệm.” (tr. 171) Tác giả đưa ra nguyên tắc chung: “muốn kết luận tội ác thì phải chứng minh được, chứ không chỉ giả định.” Và để kết luận tác giả nhấn mạnh đến đời sống tích cực: đức tin, đức ái, cầu nguyện, tham dự các Bí tích … (tr. 172)

[1] K. Peschke.