
Bài 4: LUẬT LUÂN LÝ
Con người đã được Thiên Chúa ban cho một mục tiêu khách quan cuối cùng, nên có bổn phận phải nỗ lực theo đuổi mục tiêu ấy. Và khi hướng tới mục tiêu ấy, con người sẽ thấy rõ một trật tự phải chấp hành: trật tự luân lý. Trật tự luân lý được tỏ cho chúng ta biết qua luật luân lý. Luật luân lý chủ yếu là luật nằm ngay trong chính cơ cấu hữu thể của con người.
1. LUẬT LUÂN LÝ
1.1 Khái niệm
Theo nghĩa rộng, luật là bất cứ điều gì mang tính vững bền để hành động, là bất cứ quy tắc hướng dẫn hành động. Từ đó, ta có quy luật vật lý, quy luật hóa học và sinh học. Chúng ta cũng có những quy luật của ngữ pháp, của nghệ thuật, là những quy luật chỉ huy sinh hoạt tự do của con người, nhằm những mục đích có phần gần gũi hơn, rộng rãi hơn. Cuối cùng luật luân lý liên quan với những quy luật rút ra từ nghĩa vụ của con người là làm sao hướng mọi hoạt động của mình về với cứu cánh tối hậu.
Theo nghĩa rộng, luật luân lý là một chỉ thị để hướng các hoạt động của con người tới mục tiêu cuối cùng. Từ đó, luật luân lý bao gồm cả những đòi hỏi bó buộc lẫn những lời khuyên, những nhắc nhở và những phép được ban cho, những luật chung cho cộng đoàn, lẫn những luật riêng cho cá nhân, những quy tắc có giá trị thường hằng như bổn phận phải tôn trọng các hợp đồng lẫn những lệnh có giá trị nhất thời như cấm các buổi họp công cộng trong thời kỳ có nạn dịch.
Luật luân lý đích thật nào cũng phải là luật tốt và thánh thiện, nó phải đưa hoạt động của con người góp phần vào việc thực hiện mục tiêu cuối cùng của lịch sử nhân loại và vũ trụ, cũng như tránh cho con người làm cản trở việc thực hiện mục tiêu ấy. Theo nghĩa hẹp hơn, luật luân lý là một chỉ thị có tính bền vững, tổng quát và bó buộc, hướng hoạt động của con người về với mục tiêu tối hậu. Chỉ khi hiểu theo nghĩa này, luật luân lý mới là đối tượng của khoa thần học luân lý chuyên biệt.
Thần học luân lý không chỉ quan tâm đến những điều bó buộc, mà còn lưu ý đến những điều được khuyên bảo, những điều có ích và những điều được phép. Tuy nhiên, các quy luật bó buộc chiếm một số rất lớn trong các chỉ thị luân lý và thông thường chỉ những quy luật ấy mới được gọi là luật.
1.2 Phân loại luật luân lý
Nếu xét như những chuẩn mực luân lý khách quan thì luật luân lý được chia thành luật tự nhiên, luật mặc khải trong Cựu Ước và Tân Ước, và luật do con người làm ra.
2. THIÊN LUẬT
2.1 Trong Cựu Ước
Khi Cựu Ước nói đến luật, hay khi Tân Ước nhắc đến luật của giao ước cũ, người ta luôn luôn hình dung đó là toàn bộ sưu tập các luật lệ gọi chung là Tôra. Tôra được chứa đựng trong năm cuốn sách đầu tiên của Cựu Ước - gọi là Ngũ Thư - mà theo các truyền thống Thánh Kinh xa xưa, tác giả của chúng là chính Môsê. Nếu so sánh luật của Israel với các sách luật của các dân vùng Cận Ðông ngày xưa ta sẽ thấy có nhiều chỗ giống nhau về nội dung và cả cách phát biểu. Tuy vậy, cũng có nhiều điểm khác nhau rất quan trọng: luật Israen có những nét đặc thù riêng của mình như chúng ta đã nói đến ở phần trên.
Vì quá tôn trọng Tôra, người Do Thái có khuynh hướng tiếp tục tuân giữ các luật trong đó bao lâu còn có thể. Từ đó này sinh chủ nghĩa vụ luật cứng nhắc, đề cao mặt chữ của lề luật, dù đã thấy có xung đột giữa luật ấy và những đòi hỏi của công bình, thương xót và tình yêu. Ðây chính là tình hình trong thời Ðức Giêsu.
2.2 Luật luân lý trong Tân Ước
2.2.1. Luật cũ và Tân Ước
Tân Ước rất xác tín rằng luật Cựu Ước là do Thiên Chúa thiết lập. Tuy nhiên, Tân Ước cũng cương quyết cho rằng giao ước cũ chỉ là một sự chuẩn bị cho Ðức Kitô và vì thế có tính cách giai đoạn. Nhiệm vụ cao quí nhất của vô số các điều khoản liên quan đến lễ nghi là biểu thị trước mầu nhiệm của Ðức Kitô, đánh thức nỗi khát mong Ðấng Mêsia và gây ý thức về tội cũng như về nhu cầu được hưởng sự cứu độ do Ðức Kitô mang tới.
Như vậy, trong chế độ luân lý Tân Ước, chúng ta không còn bị ràng buộc bởi luật cũ nữa. Tuy vậy, nói thế không có nghĩa là (điều này đã được giải thích ở vài chỗ khác) là mọi điều ghi trong Cựu Ước đều hết hiệu lực. Công Đồng Trentô đã mạnh mẽ phi bác lý thuyết cho rằng mười điều răn của Cựu Ước không có giá trị đối với các Kitô hữu (DS 1569). Pháp chế của Cựu Ước đã cấp thêm cho các điều răn ấy một tư cách nữa để ràng buộc con người. Tư cách này có thể bây giờ không còn giá trị nữa, nhưng tư cách kia - hay bản tính con người - vẫn còn giá trị. Tân Ước cũng lặp lại những nghĩa vụ luân lý tự nhiên ấy (x. Mt 19, 16-19 ; Rm 13, 8t).
Như thế, đối với các Kitô hữu, Cựu Ước không còn là một cơ sở có thế giá độc lập nữa, nhưng nó đã bị thẩm quyền của Ðức Kitô làm cho trở nên tương đối và đã bị thẩm quyền ấy vượt qua.
2.2.2. Bản chất và đặc tính của luật mới
Trước tình hình một số Thệ phản phủ nhận luật luân lý trong Tân Ước, Công Đồng Trentô đã phải đưa ra hai định tín: một là xác định rằng trong tin mừng không phải chỉ có yêu cầu tin mà còn yêu cầu nhiều điều khác nữa (DS 1569) ; hai là khẳng định rằng Ðức Kitô Cứu Thế cũng là một nhà lập luật (DS 1571).
Luật mới trước hết là luật của nội tâm Tân Ước nhấn mạnh tới trách nhiệm nội tâm của con người trước mặt Thiên Chúa và Thánh Thần. Phaolô đã nhận ra một điểm khác biệt vô cùng nổi bật thậm chí một sự đối nghịch giữa luật cũ và luật mới ở chỗ này: Luật Môsê là luật thành văn, nằm bên ngoài ta, còn luật của Ðức Kitô là luật của Thần Khí. Vậy mà "luật thành văn thì đưa tới chỗ chết, còn thần khí làm cho sống" (2 Cr 3, 6). Chính nhờ "luật của Thần khí sự sống nơi Ðức Giêsu Kitô" (Rm 8, 2), các Kitô hữu không những biết mà còn thi hành được "các đòi hỏi chính đáng của lề luật" (Rm 8, 4).
Tuy nhiên, đối với con người còn sống trong tội nguyên tổ thì cả lề luật phù hợp với bản chất sâu xa của họ cũng bị coi như một điều gì đó nghịch thường và thậm chí vẫn chỉ là một luật nằm bên ngoài. Chính vì thế, Tân Ước không ngừng cảnh giác các Kitô hữu phải lánh xa tội và "các việc làm của xác thịt", đồng thời phải "bước đi nhờ Thánh Thần", sinh những kết quả là đức độ, tốt lành và thánh thiện.
Trước những nguy hiểm xuất phát từ bản tính tội lỗi và cũ kỹ của con người, người ta thấy cần phải lập danh sách các nết xấu để những ai muốn vào Nước Trời biết mà tránh (1 Cr 6, 9t ; Gl 5, 19-21 ; Cl 3, 5-10). Quy định các chuẩn mực luân lý là để bảo vệ ta khỏi "con người xác thịt" ngay từ bên trong. Tuy nhiên, các chuẩn mực ấy còn có một mục tiêu tích cực nữa. Chúng là nguồn hỗ trợ ta sống bình an và giúp ta định hướng được cho quá trình hoàn thiện của mình.
Do đó, dù cơ bản là luật nội tâm, nhưng luật mới cũng là luật được phát biểu, được ghi ra thành văn. Theo quan điểm của Phaolô, cộng đoàn Kitô hữu được mời gọi hãy phát biểu ra thành văn các đòi hỏi của luật Thánh Thần và mỗi tín hữu được yêu cầu phải tùng phục thẩm quyền của cộng đoàn.
2.2.3. Các giới luật và điều răn cụ thể
Trong Tin mừng, Ðức Kitô chỉ đưa ra hai điều luật có tính cách thiết định: có liên quan đến hai bí tích căn bản nhất của Hội thánh. Ðó là rửa tội cho mọi dân tộc nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa (Mt 28, 19) và cử hành bữa ăn của Chúa để nhớ đến Người (Lc 22, 19 ; cf. 1 Cr 1, 24-26). Ðó là những thí dụ điễn hình nhất về các giới luật trong thần luật thiết định.
Các điều luật thiết định trong các tác phẩm khác của Tân Ước đều có liên quan đến kỷ luật của Hội thánh và có thể thay đổi. Công Đồng các Tông đồ tại Giêrusalem quyết định rằng các Kitô hữu không còn bị ràng buộc bởi luật Môsê nữa và người ngoại giáo trở lại đạo chỉ buộc kiêng những gì bị chết ngạt và kiêng những sự ô uế đồi trụy (Cv 15, 29). Tuy nhiên, ngay trong thư thứ nhất gởi Hội thánh Côrintô, Phaolô đã cho biết cứ khách quan mà xét thì không có gì sai trái khi ăn các thứ đã cúng các thần (1 Cr 8). Ngoài ra các luật cấm ăn huyết và ăn những thứ chết ngạt chẳng bao lâu sau đã trở thành lỗi thời. Chỉ có luật buộc xa tránh sự ô uế đồi trụy là vẫn còn hiệu lực vì đây cũng là một đòi hỏi của luật tự nhiên.
2.2.4. Luật luân lý tự nhiên trong Tân Ước
Theo Giáo huấn của Ðức Kitô
Chính Ðức Kitô, khi đưa ra giáo huấn của mình, cũng nại đến trật tự vũ trụ có sẵn, coi đó như một chỉ dẫn cho biết luật của Chúa. Một thí dụ đáng chú ý là quy định của Ðức Giêsu về luật ly dị. Còn từ khởi thủy của công trình sáng tạo. Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam có nữ, "và cả hai sẽ trở thành một. Vì thế, điều gì Thiên Chúa đã nối kết lại với nhau, con người không được phân rẽ ra" (Mc 10, 5-9). Có nghĩa là chính bản tính của con người, theo như Thiên Chúa tạo dựng, là chỉ dẫn - nếu được hiểu đúng - cho biết luật nhất phu nhất phụ có giá trị vĩnh viễn.
Mệnh lệnh yêu thương thù địch cũng được hậu thuẫn bởi một lập luận dựa vào trật tự sáng tạo. Ta phải yêu thương kẻ thù của mình, vì Cha trên trời "đã cho mặt trời mọc trên kẻ xấu lẫn người tốt, và cho mưa rơi xuống trên người công chính lẫn người bất chính" (Mt 5, 45). Xét cho cùng, đây là lập luận dựa vào luật tự nhiên để hậu thuẫn nghĩa vụ của ta đối với kẻ thù. Cũng vậy, bài giảng của Ðức Kitô về cuộc chung thẩm cũng giả thiết ai cũng biết lành biết dữ và chính vì thế mà mọi người đều bị xét xử (Mt 25, 31-46 , cf. Lc 12, 57 ; Ga 5, 29). Ðể đưa ra một quy tắc chung cho biết đâu là điều tốt, Ðức Kitô giới thiệu "luật vàng" mà ai cũng chấp nhận: "Ðiều gì các ngươi muốn người ta làm cho mình thì hãy làm cho người ta" (Mt 7, 12).
Theo Giáo huấn của Tông đồ Phaolô
Ðối với Phaolô, luật tự nhiên là một lãnh vực hiển nhiên mà không ai thắc mắc, nghi ngờ. Trong ba chương đầu của thư Rôma, Phaolô ưu tư về tình trạng luân lý của con người trên thế giới và nhu cầu được cứu độ của toàn thể nhân loại. Một nhu cầu như thế chỉ có thật khi con người nhận biết tội và lỗi. Nhưng muốn nói đến tội và lỗi thì phải giả thiết là con người đã biết Thiên Chúa và những đòi hỏi luân lý.
Bản văn cổ điển của Phaolô nói tới sự hiểu biết tự nhiên của con người về luật luân lý là bản văn nằm ở chương 2 của thư Rôma. "Khi các dân ngoại không có luật mà làm những gì luật đòi buộc một cách tự nhiên, thì họ đã là luật cho chính họ, dù không có luật. Họ đã chứng tỏ rằng những gì luật đòi buộc đã được ghi trong tâm hồn họ" (Rm 2, 14t). Nếu nhìn tới mạch văn rộng hơn của chương này, ta sẽ thấy tất cả mọi người - bất luận là Do Thái hay Kitô hữu - đều phải lệ thuộc chung một trật tự luân lý đều phải chịu xét xử chung theo chuẩn mực đó (cc. 1-12). Bởi vậy rõ ràng là theo Phaolô, việc phân biệt tốt xấu đã có trong bản tính của sự vật, không phải chỉ đối với dân ngoại mà cả đối với người Do Thái giáo và Kitô giáo. Luật Môsê không đặt ra điều tốt điều xấu, mà đúng hơn dạy người ta những gì vốn đã tốt và vốn đã xấu, trước cả khi chúng được luật nêu lên như thế. Chính vì lý do đó, Phaolô dám nói: các việc làm tốt của người ngoại giáo dầu là sự chu toàn các đòi hỏi của luật Môsê. "Họ đã làm những gì luật đòi hỏi" (Rm 2, 14).
2.3. Nét khác biệt của Ðạo đức Kitô giáo
Người ta tự hỏi đâu là nét phân biệt của đạo đức học Kitô giáo? Luân lý Kitô giáo có khác với luân lý của những người ngoài Kitô giáo không? Nếu có, thì sự khác biệt ấy nằm ở chỗ nào? Vấn đề này đã được bàn cãi sôi nổi trong những năm gần đây và đã được giải đáp bằng nhiều cách khác nhau:
- Quan điểm truyền thống thường quả quyết là luân lý Kitô giáo mang một nội dung rất đặc biệt. Dù hầu hết các luật luân lý của luân lý Kitô giáo có thể khám phá được nhờ lý trí và vì thế, mọi người có thể tiếp xúc, nhưng vẫn có một số giá trị và chuẩn mực đạo đức riêng của Kitô giáo. Những thái độ mới ấy sẽ là sống các nhân đức đối thần (tin, cậy, mến). yêu thương thù địch, sống khiêm tốn, hy sinh và đón nhận đau khổ bằng cách hiệp thông với thập giá. Trong lãnh vực thờ phượng, các bí tích nói riêng đã đặt ra những nghĩa vụ mà chỉ các Kitô hữu phải thi hành.
- Ngược lại, quan điểm mới đây lại cho rằng đạo đức học Kitô giáo không có nội dung gì riêng. Xem ra quan điểm này được chấp nhận nhiều hơn đối với các tác giả hiện nay: tất cả mọi giới răn luân lý của luật mới cũng là giới răn của luật luân lý tự nhiên. Ðức Kitô không lấy một điều răn luân lý nào hơn thuộc loại thiết định để thêm vào luật luân lý tự nhiên. Ðiều nầy cũng đúng đối với giới răn yêu thương. Yêu mến Thiên Chúa và yêu thương đồng loại vì Chúa cũng là một nghĩa vụ bắt buộc của luật tự nhiên.
Lập luận của nhóm thứ hai này dựa trên việc nghiên cứu các sự kiện. Kinh nghiệm lẫn lịch sử không cho ta một bằng chứng rõ rệt nào về một nội dung đặc biệt của riêng đạo đức học Kitô giáo. Vì tất cả các luật luân lý của Cựu Ước và Tân Ước đều có thể tìm thấy nơi các nền văn hóa và các tôn giáo khác. Như lòng yêu thương đối với kẻ thù, đức khiêm nhường, tinh thần hy sinh hay kiên nhẫn trong đau khổ. Hay như đức tin, cậy và mến, dù ở ngoài Kitô giáo nội dung của đức tin ít rỏ rệt hơn hẳn.
Ðàng khác, Huấn quyền Giáo Hội Công Giáo lên tiếng với thế giới vì dựa vào xác tín rằng những giải đáp Huấn quyền đưa ra cho các vấn đề luân lý đều có thể lĩnh hội và có giá trị cho hết mọi người có thiện chí. Ðiều này đặc biệt đúng đối với học thuyết kinh tế xã hội chứa đựng trong các văn kiện xã hội của Hội thánh kể từ thời đức Lêô XIII. Hiến chế mục vụ về Hội thánh trong thế giới ngày nay của Công Đồng Vatican II, một văn kiện liên hệ đến toàn bộ các lãnh vực của đời sống luân lý, được mạnh dạn gởi tới không chỉ cho con cái Hội Thánh và cho những người kêu cầu danh Ðức Kitô, mà còn cho toàn thể nhân loại (MV 2). Lý do biện minh cho quan điểm này là sự xác tín rằng thông điệp của Hội thánh đáp ứng những khát vọng thầm kín nhất của tâm hồn con người, vì Hội thánh bênh vực phẩm giá của ơn gọi làm người (MV 21). Mọi người đều có chung một ơn gọi tối hậu. "là ơn gọi duy nhất và thần thánh" (MV 22 ; xt. 24 ; 29). Nếu Ðức Kitô cho biết giới răn yêu thương là luật căn bản để con người được hoàn thiện, thì Người cũng "bảo đảm rằng con đường yêu thương đó luôn mở ra cho hết mọi người" (MV 38)
Thực ra, đạo đức học Kitô giáo phù hợp với nền luân lý nhân bản, vừa trung thực vừa độc đáo, đồng thời cũng là đạo đức thần chuẩn, là hình thức đạo đức mà Kinh Thánh ưa dùng. Kitô giáo không lập ra một nền đạo đức khác và mới, nhưng Kitô giáo cụ thể hóa, làm sáng tỏ, và trên hết, tập trung những xác tín luân lý sâu xa nhất của ta vào một con người đặc biệt là Ðức Giêsu Kitô. Nhờ mặc khải, con người đã tìm ra được những chân lý luân lý một cách dễ dàng và chắc chắn hơn (cf. MK 6).
Cựu Ước đã nhận ra rằng các mệnh lệnh luân lý đều xây dựng dựa trên thẩm quyền của Thiên Chúa. Ðạo đức học Tân Ước lấy Ðức Giêsu Kitô và giáo lý của Người làm chuẩn mực. Lời Người nói và cách Người sống đã cho ta thấy sự thật về con người và định mệnh của con người. Các Kitô hữu được mời gọi lấy lối sống của Ðức Kitô làm của mình và thực hiện lối sống ấy ngay trong cuộc đời mình.
2.4 Vấn đề tự trị trong luân lý Thần Chuẩn
Lý trí cũng có thể nhận ra các chuẩn mực luân lý của đạo đức học Kitô giáo. Những chuẩn mực ấy phải được hợp pháp hóa trước tòa án lý trí thì mới có sức bó buộc được. Từ đó, người ta có thể rút ra kết luận rằng mọi hình thức đạo đức học muốn có hiệu lực đều phải tự trị. Ðạo đức học Kitô giáo cũng phải nhắm tới sự tự trị ấy. Tuy nhiên, thuật ngữ được chọn để diễn tả ý kiến đó xem ra không chỉnh lắm vì có thể đưa tới những ngộ nhận.
Người ta thường hiểu sự tự trị của luân lý là con người được độc lập khỏi mọi chỉ thị luân lý ở bên ngoài, kể cả luật và ý muốn của Thiên Chúa. Một người tự trị là người có khả năng tự sáng tạo ra luật luân lý cho mình, chỉ chịu trách nhiệm trước bản thân và các giá trị của mình. Ðây không phải là và không bao giờ có thể là giáo huấn của thần học Kitô giáo. Con người rõ ràng không phải là một hữu thể độc lập trong sự hiện hữu. Con người không tự tạo ra mình. Một ai đó đã đặt sẵn cơ cấu hữu thể cho con người.
Con người không phải là kẻ sáng tạo ra các chuẩn mực luân lý một cách độc lập, cũng như đã không phải là kẻ tạo ra sự hiện hữu cho mình. Con người phải tuân phục cơ cấu mà trong đó con người được tạo ra và phải tuân phục cứu cánh mà vì đó con người đã được dựng nên. Các nguyên tắc luân lý là những điều con người phải chấp nhận hơn là tạo ra, vì đó là những yêu sách của thực tế và của định mệnh con người. Nguồn cội của trật tự luân lý không phải là con người, mà là một óc thông minh và khôn ngoan tối cao, đã làm ra mọi sự và đã ấn định cho con người nhiệm vụ và mục tiêu. Thực tại tối cao này có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau và đó là thực tại cao hơn hết.
Ðối với các Kitô hữu hay đối với những người tin có một Thượng đế siêu việt, một nền luân lý tự trị, độc lập khỏi Thượng đế hoàn toàn vô nghĩa. Cần lưu ý rằng lý trí không phải là con đường duy nhất đưa con người tới thực tại vì còn có sự trực giác và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần ; cũng còn có những linh cảm không từ lý trí mà từ tâm hồn con người. Phương pháp để có được những linh cảm ấy không phải là suy tư lý luận, mà là chiêm ngắm. Nếu hiểu đức tin là sự chiêm ngắm tức thời và cởi mở cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, thì có thể nói muốn hiểu biết các đòi hỏi luân lý cần có đức tin. Chắc chắn đức tin này được thể hiện ở mức cao nhất trong mặc khải Thánh Kinh, nhưng đức tin không giới hạn ở đó mà là khả năng của mọi tâm hồn kính sợ Chúa.
3. LUẬT TỰ NHIÊN
Luật tự nhiên cũng như chính cái ý tưởng này đã có lâu đời trong triết học, từ khi những người Hy lạp đầu tiên suy tư triết học. Dù có lúc biến mất, có lúc được trình bày và định nghĩa khác, có lúc bị chỉ trích và rẻ rúng, những ý niệm về luật luân lý tự nhiên không bao giờ bị tiêu diệt. Từ ngữ luật tự nhiên ám chỉ những cái nhìn luân lý mà con người có thể phát hiện được dựa vào lý trí của mình. Tự nhiên, có nghĩa là:
- không siêu nhiên, không được thông tri bằng con đường siêu nhiên;
- không thiết định hay không phải là kết luận suy ra từ một mệnh lệnh của thẩm quyền lập pháp, như trong luật thiết định của con người hay của Thiên Chúa ;
- được tìm thấy nơi bản tính con người hay được suy diễn từ bản tính con người.
Lý thuyết về luật tự nhiên có tầm quan trọng rất cơ bản vì hai lý do sau đây. Trước hết, đó là nền tảng cho một trật tự luân lý có tính phổ quát
Thứ đến, luật tự nhiên là biện pháp duy nhất thích đáng để chống lại sự độc đoán của những quyền lực chính trị và lập pháp.
3.1 Quan niệm về luật tự nhiên
3.1.1 Quan niệm cổ truyền
Theo thần học luân lý cổ truyền, luật luân lý tự nhiên là luật hướng dẫn hành vi con người, rút ra từ chính bản tính con người, nhằm gíúp con người đạt tới mục tiêu tối hậu tự nhiên của họ, được lý trí tự nhiên nhận biết.
Ðịnh nghĩa trên có một khó khăn: đâu là khái niệm chính xác về bản tính trong lý thuyết về luật tự nhiên. Bản tính con người - nguồn gốc của trật tự luân lý ở đây là gì? Thực ra, bản tính nói tới trong định nghĩa về luật tự nhiên là toàn bộ bản tính con người. Tuy nhiên, bản tính này tự nó không bao giờ đủ để làm nguồn gốc của trật tự luân lý, mà phải luôn luôn kết hợp với đòi hỏi của những mục tiêu tối hậu. Do đó, thật sai lầm khi nói tự bản tính con người đã đủ làm cơ sở cho các chuẩn mực luân lý. Ngược lại, chỉ đúng khi hiểu bản tính theo nghĩa rộng, bao hàm luôn mục tiêu tối hậu của tạo vật.
3.1.2 Lý luận thần học về luật tự nhiên
Theo thần học luân lý Công Giáo, có một nền đạo đức của luật tự nhiên, suy diễn tự bản tính chưa được ân sủng nâng lên, có tính bó buộc đối với hết mọi người một cách như nhau. Thêm vào những luật luân lý tổng quát ấy còn có những đòi hỏi khác chỉ ràng buộc người Kitô hữu và rút ra từ cuộc sống siêu nhiên của họ. Phía sau quan niệm này là lý thuyết của Công Giáo về bản tính và ân sủng ; theo đó, bản tính được coi là điều kiện sống cơ bản của con người, còn ân sủng được thêm vào, ít nhiều mang tính chất phụ thuộc. Khuyết điểm của lý thuyết này là đã coi sự sống ân sủng, tuy có giá trị cao hơn hẳn sự sống tự nhiên, nhưng lại ở vị thế phụ thuộc. Ngoài ra, giả thiết có một bản tính tự nhiên nằm ngoài ân sủng, và xét một cách cơ bản lại tốt nữa, là một giả thiết sai lạc. Cũng sai luôn khi cho rằng luật suy diễn từ bản tính này tốt một cách cơ bản, có thể được chấp nhận làm chuẩn mực cho đời sống Kitô hữu một cách không dè dặt.
Thực ra, Lời Chúa đến với con người không chỉ qua sự mặc khải của Kinh Thánh trong lịch sử, mà qua sự mặc khải của Thánh Thần đối với mỗi người. Hiệu quả ơn cứu chuộc của Ðức Kitô không chỉ giới hạn với những người đã được rửa tội. Ơn sủng của Ðức Kitô hoạt động khắp nơi, dù không phải nơi nào ta cũng biết. Như vậy những đối lập giữa tự nhiên và ân sủng, giữa thế giới ngoại giáo còn trong tình trạng tự nhiên hư hỏng với thế giới Kitô giáo đã bước sang tình trạng ân sủng, đã được hòa giải nơi quan niệm về tính phổ quát của Ðức Kitô. Sự thật là sau khi Ðức Kitô cứu chuộc, không còn một bản tính hoàn toàn thiếu vắng ân sủng nữa. Ơn sủng của Ngài đang hoạt động mọi nơi mọi lúc, cả nơi những người ngoại giáo. Và kết quả là không có hai nền luân lý ; luân lý của tình trạng tự nhiên và luân lý của tình trạng ân sủng, mà chỉ có một luân lý duy nhất cho loài người dưới ảnh hưởng và sự thống trị của Ðức Kitô, cũng như dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, dưới tác động ân sủng của Người.
Hiến chế về Giáo hội trong thế giới ngày nay giải thích rằng Ðức Kitô đã khôi phục cho con cháu Ađam hình ảnh của Thiên Chúa đã bị bóp méo kể từ tội nguyên tổ: "Trong Ðức Kitô, Thiên Chúa đã hòa giải chúng ta với Người và giữa chúng ta với nhau. Người đã cứu ta khỏi nô lệ ma quỉ và tội lỗi để mỗi người chúng ta có thể nói như Phaolô: Con Thiên Chúa đã yêu tôi và đã hiến mạng vì tôi" (MV 22). Công Đồng nói tiếp: "Tất cả những điều ấy đúng không những với người Kitô hữu, mà với hết mọi người thiện chí. Trong tâm hồn họ, ân sủng đang hoạt động thế nào ta không thấy được. Vì Ðức Kitô đã chết cho hết mọi người và vì ơn gọi cuối cùng của mọi người chỉ là một và là ơn gọi thần thánh, nên chúng ta tin rằng Chúa Thánh Thần đang cống hiến cho mọi người khả năng kết hợp với mầu nhiệm Vượt qua, theo cách nào chỉ có Chúa biết" (MV 22 , cf. 29 ; NK 1). Như thế, luật tự nhiên là quy luật hướng dẫn hành vi con người, xuất phát từ toàn bộ đầy đủ bản tính con người, được quy hướng về mục tiêu cuối cùng của bản tính ấy và được nhận biết nhờ lý trí, không cần đến mặc khải thiết định của Kitô giáo.
Bản tính con người phải được hiểu theo một nghĩa khá rộng. Ðó là toàn bộ đầy đủ hữu thể con người với những đặc điểm chung của loài người và riêng của cá nhân, cũng như là bản tính của tất cả những hữu thể mà hoạt động của ta phải đụng chạm tới. Bản tính con người bao hàm cả những sự thay đổi của bản tính do tác động của sự nghiệp Ðức Kitô cứu chuộc loài người ; những sự thay đổi ấy không chỉ diễn ra nơi những người đã được rửa tội mà nơi tất cả mọi người, đồng thời bao hàm cả việc mọi người đều được chia sẻ ơn sủng ấy. Mục tiêu tối hậu không còn chỉ là mục tiêu tự nhiên. Ðó chính là định mệnh cuối cùng và cụ thể của con người và y như nhau đối với mọi người. Ðồng thời đó là một định mệnh mang tính thần linh.
Sau cùng, trung gian giúp chúng ta nhận biết luật tự nhiên vẫn là lý trí. Tuy nhiên, mọi sự nhận biết bằng lý trí của con người cụ thể đều chịu ảnh hưởng và được hướng dẫn bởi ơn sủng và Chúa Thánh Thần, dù theo một cách hoàn toàn kín đáo đối với những người ngoài Kitô giáo. Như vậy, trung gian giúp ta nhận biết luật tự nhiên sẽ là lý trí không dựa vào mặc khải Kitô giáo, dù luôn luôn chịu ảnh hưởng của ân sủng.
3.2 Những đặc tính của luật tự nhiên
3.2.1 Tính phổ quát
Ðặc tính trước tiên của luật tự nhiên là phổ quát nghĩa là không ai được miễn nghĩa vụ chu toàn bổn phận này. Không ai nằm trên những chỉ dẫn cho biết đường thực hiện bổn phận ấy. Không ai nằm ngoài sự phân biệt tốt và xấu. Ngay cả những người tạm thời hay vĩnh viễn không sử dụng được lý trí cũng không được miễn nghĩa vụ này.
Ở đây, cần phải phân biệt luật tự nhiên xét như một thực tại khách quan và sự hiểu biết của con người về thực tại ấy. Thực tại khách quan của luật tự nhiên có tính phổ quát như các luật thể lý hay sinh lý tự nhiên của con người. Ðó là những sự thật có sẳn và vẫn hiện hữu dù con người không biết. Tuy nhiên, sự hiểu biết luật tự nhiên nơi từng người không mang tính phổ quát. Con người không có sự hiểu biết đầy đủ ngay từ đầu, mà phải làm tăng trưởng sự hiểu biết ấy, cũng như đã làm phát triển các sự hiểu biết khác.
Nguyên tắc phổ quát nhất của luật tự nhiên là "phải làm lành, lánh dữ". Lý trí coi con đường xử sự này là hiển nhiên. Nhưng điều gì là tốt, xứng đáng cho con người ao ước? Một cách căn bản và tổng quát là các nguyên tắc sau đây:
- Bảo tồn và phát huy sự sống thể xác của mình.
- Bảo tồn và phát huy việc sống chung trong xã hội.
- Phải thi hành các nhiệm vụ của bậc sống (đặc biệt là bổn phận làm cha mẹ).
- Phải tùng phục các quyền bính hợp pháp (đặc biệt là của cha mẹ).
- Ðiều gì không muốn người khác làm cho mình thì đừng làm cho người khác ("luật vàng").
- Trả lại cho mỗi người cái của họ.
- Phải tôn trọng các giao kèo.
Người ta cũng đưa vào đây nguyên tắc phải trả cho Thiên Chúa danh dự xứng đáng. Nhưng qua hiện tượng vô thần hiện nay, ta thấy rằng trong thực tế không phải ai cũng có ý niệm này hay ý thức nghĩa vụ của mình.
Còn các chuẩn mực luân lý khác đều được coi nguyên tắc đệ nhị. Những nguyên tắc này có thể bị lu mờ và bóp méo do không biết hay sai lầm, thậm chí có khi sai lầm xảy ra nơi cả một dân tộc hay một nền văn hóa. Người ta lại chia các nguyên tắc này thành những kết luận gần và xa của luật tự nhiên. Các kết luận gần thì được đón nhận rộng rãi hơn và được đồng ý nhiều hơn. Các giới răn trong bảng thứ hai của Thập giới và giới răn thờ phượng Thiên Chúa thuộc vào loại này.
Hội thánh Công Giáo, đặc biệt trong thế kỷ qua, thường dựa trên những lập luận rút ra từ luật tự nhiên để đưa ra các phát biểu và quyết định của mình về các vấn đề luân lý. Và vì luật tự nhiên vốn có tính phổ quát, nên người ta cũng ngầm hiểu các quyết định ấy là chuẩn mực khách quan và chính hiệu hướng dẫn đời sống luân lý của mọi người. Ðang khi đó, những người ngoài Công Giáo lại hay có ý kiến khác hẳn về các vấn đề luân lý này. Bởi đó, họ phủ nhận Huấn quyền của Hội thánh Công Giáo vì cho rằng huấn quyền đã dám coi các quyết định luân lý của mình là những chuẩn mực có giá trị phổ quát. Cần lưu ý là các nguyên tắc xa của luật tự nhiên không phải lúc nào cũng xuất hiện rõ ràng cả trong giáo huấn luân lý của Hội thánh Công Giáo. Trái lại, Hội thánh Công Giáo thường phải mất thời gian nghiên cứu khá dài mới tìm ra được kết luận đúng đắn nhất.
3.2.2 Tính bất di bất dịch và năng động
Ðặc tính thư hai của luật tự nhiên là bất di bất dịch và năng động. con người ngày nay ý thức rằng mọi sự đều đang tiến triển, có thể bị thay đổi và bị lịch sử chi phối. Công Đồng Vatican II cũng nhận thức điều này và đã cố gắng ghi nhớ điều ấy. "Nhân loại đang đi từ quan niệm khá tĩnh về thực tại sang quan niệm năng động và có sự tiến hóa nhiều hơn" (MV 5). Tuy nhiên, Công Đồng cũng khẳng định rằng "bên dưới tất cả những thay đổi đó, có nhiều thực tại không hề thay đổi" (MV 10). Thường hằng và có tính lịch sử là hai đặc điểm của bản tính con người và thế giới.
Luật luân lý tự nhiên bất di bất dịch có nghĩa là vừa khi con người có lý trí xuất hiện là ngay từ trong bản tính của nó đã xuất hiện một số chuẩn mực cơ bản liên quan đến điều tốt điều xấu, và những chuẩn mực này sẽ tồn tại mãi bao lâu còn bản tính con người. Tuy nhiên, bản thân con người và những điều kiện sống của con người cũng thay đổi. Những thay đổi ấy quả thật đã gây nên những đổi thay trong các chuẩn mực của luật tự nhiên, vốn khách quan và có thật. Vì con người và điều kiện sống của con người thay đổi, nên từ những nguyên tắc cơ bản, trước sau như một kia ta cũng phải rút ra những kết luận khác nhau để áp dụng. Ðây chính là tính lịch sử và di dịch của luật tự nhiên. Vì thế, nếu có nhà luân lý nào nói tới những thay đổi về bản tính con người, thì chỉ cần nghiên cứu kỹ ta sẽ thấy chẳng qua họ đang nói tới những thay đổi do văn minh, văn hóa và những điều tương tự gây ra.
Như vậy, luật tự nhiên không hề là một thực tại tĩnh mà là một thực tại năng động. Cứ nhìn sự tiến hóa từ một nền đạo đức dựa trên nhũng cấm kỵ sang những nguyên tắc trong bản Hiến chương Ðại Tây dương và những nguyên tắc về nhân quyền, ta đủ thấy luật tự nhiên có tính năng động mạnh như thế nào. Tuy nhiên, sự năng động này luôn luôn có liên hệ với trật tự hiện hữu mà từ đó ta rút ra các luật tự nhiên, và bởi thế chỗ nào bản tính con người còn như cũ, chỗ ấy các đòi hỏi của luật tự nhiên cũng vẫn vậy.
3.2.3 Tính bất khả miễn trừ
Ðặc tính thứ ba là không thể miễn trừ. Không thể miễn trừ hay ít ra không thể có sự miễn trừ từ phía quyền bính con người. Vì bản tính con người và mục tiêu tối hậu không do con người tạo dựng và lập ra, nhưng do một quyền năng ở trên con người, nên luật tự nhiên cũng hiện diện không cần biết con người có đồng ý hay không.
Nguồn cội của trật tự luật tự nhiên chính là Thượng Ðế. Luật tự nhiên chính là ý muốn của Người. Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là Thiên Chúa không thể cho phép một sự miễn chuẩn nào đối với luật tự nhiên trong các trường hợp đặc biệt thí dụ việc Chúa đòi Apraham hiến tế con mình có thể được coi là một sự miễn chuẩn luật tự nhiên. Dĩ nhiên, muốn có sự miễn chuẩn theo lối đó, luôn luôn phải có một sự mặc khải rõ ràng của Thiên Chúa. Nếu miễn chuẩn thi hành luật tự nhiên theo sát nghĩa là diều không thể được, thì những ngoại lệ đối với luật ấy theo nghĩa rộng vẫn là điều có thể hiểu được và quả thật đã xảy ra. Ðây là vấn đề "thể ý pháp" (epikeia) trong luật tự nhiên.
Ở đây, cần phân biệt trật tự khách quan của luật tự nhiên với việc phát biểu luật ấy thành ngôn ngữ nhân loại. Trật tự khách quan của luật tự nhiên chính là cơ cấu của con người vì thế không cho phép ta miễn chuẩn. Tuy nhiên, phát biểu luật ấy ra là việc của con người. Nó chịu những thiếu sót của con người vì thế, để bù lại những bất toàn này, thỉnh thoảng ta có thể vận dụng đến "thể ý pháp".
3.3 Nền tảng của luật tự nhiên
Kinh nghiệm phổ biến của con người cho thấy có luật tự nhiên. "Ở sâu trong lương tâm mình, con người khám phá thấy có một luật không do mình đặt ra, nhưng bắt mình phải tuân phục... Trong tâm hồn con người đã có một luật do Thiên Chúa khắc ghi" và dựa vào đó, con người sẽ bị xét xử (MV 16 ; cf. TD 3).
Công Đồng Vatican II đã viện đến lương tâm như một lời chứng hết sức phổ quát để xác tín rằng có luật tự nhiên và luật ấy có sức ràng buộc. Công Đồng nhắc nhở mọi người rằng "luật tự nhiên với những nguyên tắc phổ quát của nó luôn luôn có sức ràng buộc. Những nguyên tắc ấy càng được bày tỏ mạnh hơn qua chính lương tâm của con người"' (MV 79). Mọi người phải tôn trọng "những giới hạn do luật tự nhiên ấn định", bất kể là chính quyền hay là mỗi cá nhân (MV 74). Hội thánh được mời gọi rao giảng không những Tin mừng của Ðức Kitô mà cả "những nguyên tắc của trật tự luân lý xuất phát từ chính bản tính con người" (TD 14), tức là luật tự nhiên" (MV 89). Ðây vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của Hội thánh, vì luật luân lý tự nhiên cũng là một trật tự do chính Chúa muốn.
Có hai lý do xác nhận sự hiện diện của luật tự nhiên: thứ nhất, ý định đời đời của Thiên Chúa và thứ hai, suy từ định đề "hành vi đi theo bản tính".
3.3.1 Do ý định đời đời của Thiên Chúa
Luật tự nhiên được định nghĩa là quy luật hướng dẫn hành vi và sinh hoạt của con người tới cùng đích tối hậu. Tự đời đời, Thiên Chúa đã biết mục tiêu chung của thế giới và mục tiêu riêng cho mỗi thụ tạo. Bằng những mệnh lệnh, Thiên Chúa quy định mọi sự sẽ được tạo dựng phải có những khả năng để chúng có thể góp phần vào kế hoạch của Thiên Chúa. Như vậy, kế hoạch và ý định đời đời của Thiên Chúa, còn gọi là luật vĩnh cửu, bao gồm hết mọi hoạt động của thụ tạo và mọi quy luật của các hoạt động ấy. Vì thế, mọi luật tự nhiên cũng như mọi luật luân lý đều xuất phát từ kế hoạch và ý định đời đời của Thiên Chúa. Mục tiêu của kế hoạch ấy là tôn vinh Thiên Chúa và nhìn nhận chủ quyền phổ quát của Người, cũng như cứu độ con người.
Ðiều đó cũng dễ hiểu, vì nếu Thiên Chúa là Ðấng khôn ngoan vô cùng thì Ngài không thể hành động mà không có kế hoạch. Bởi vậy, chuẩn mực hướng dẫn con người hoạt động là kế hoạch và ý muốn của Thiên Chúa. Hoạt động của con người cần phải được phối hợp nhịp nhàng với ích lợi thật sự của nhân loại, giúp con người theo đuổi ơn gọi toàn diện của mình và chu toàn ơn gọi ấy, (MV 35 ; cf. TD 3).
Ðằng khác, nhìn vào vũ trụ và bản tính con người, ta quan sát thấy có sự vận hành của các quy luật khá ổn định, tạo ra và bảo đảm cho có những liên hệ rất ý nghĩa giữa các hữu thể, và có một sự sắp xếp rất khôn ngoan cho toàn thế giới. Trí khôn con người càng đi sâu vào các bí mật của thiên nhiên càng khám phá thấy những kỳ công của một trật tự vô cùng khôn ngoan và của sự tương tác tuyệt vời trong thế giới. Chính vì phải đạt cho được một mục tiêu mà tất cả những hành động nào không dẫn tới mục tiêu hay cản trở nó đều bị coi là đáng loại bỏ và phải bị loại bỏ. Bởi vậy, nếu thế giới đã được tạo dựng theo một kế hoạch nào đó hầu phục vụ cho một mục tiêu, thì hẳn phải có một quy luật cho hết mọi tạo vật, và dĩ nhiên cho cả con người nữa. Con người tìm ra và tuân hành luật ấy một cách tự do và có trách nhiệm.
3.3.2 Hành động đi theo bản tính
Ðịnh đề "hành động đi theo bản tính" (agere sequitur esse) là một trong những nguyên tắc hữu thể học, không thể đi xa hơn nữa mà chỉ giải thích được để cho thấy sự hiển nhiên của chúng. Ðịnh đề này có nghĩa là so với sự hiện hữu thì hành động có sau, không những về thời gian mà cả về lôgic. Ðịnh đề này còn có ý nghĩa khác. Ðó là phẩm chất của một hành động là do phẩm chất của chính hữu thể là nguyên nhân của hành động: một sự vật sẽ hành động theo bản tính của nó.
Ðối với những hữu thể không có lý trí, sự xác định trên đây sẽ mang tính chất cưỡng bách. Bản tính trở thành một chuẩn mực bắt buộc. Ðối với con người thì không như thế. Con người không hoàn toàn bị ràng buộc chặt với chuẩn mực của hữu thể một cách tất yếu. Khi thực hiện những hành vi theo ý muốn tự do của mình, con người có thể tự do hành động phù hợp với chuẩn mực mình đã nhận ra hay cố tình làm ngơ. Tuy nhiên, khi con người bỏ qua những quy luật hữu thể thì phải gánh chịu những hậu quả tiêu cực của nó.
3.3.3 Nghĩa vụ và cứu cánh
Thuật ngữ "theo nghĩa vụ" (deontological) và "theo cứu cánh" (teleological) được nối kết và đặt đối chọi với nhau lần đầu tiên là vào năm 1930, do C. D. Broad.
Các chủ trương luân lý theo nghĩa vụ cho rằng có một số hành vi luôn luôn đúng hay sai về mặt đạo đức, bất kể chúng đưa tới hậu quả nào, đó là tự sát, phá thai, ngoại tình, cưỡng hiếp, chối bỏ đức tin, tiết lộ bí mật tòa giải tội, v.v… Ngày nay, những điều cấm tuyệt đối ấy thường được gọi là những "điều tự bản chất là xấu trong luân lý".
Còn các thuyết luân lý cứu cánh (do tiếng Hy lạp: "telos" = mục tiêu, hướng đi) chủ trương rằng một hành vi đúng hay sai chỉ là do, hay xét cho cùng là do, các hậu quả tốt hay xấu của hành vi đó. Mọi lý do khác đều là phụ so với tiêu chuẩn này. Bao lâu các hậu quả tốt có nhiều hơn các hậu quả xấu thì bấy lâu hành vi còn đúng về mặt đạo đức. Bởi vậy, việc tự sát của một điệp viên là đúng về mặt luân lý, nếu đây là cách duy nhất để bảo vệ các bí mật quan trọng của quốc gia.
Tuy phân biệt nhưng luân lý theo nghĩa vụ và luân lý theo cứu cánh đều pha trộn, có khi nhấn mạnh tới nghĩa vụ nhiều hơn, có khi đề cao cứu cánh hơn. Luân lý theo nghĩa vụ chủ yếu dựa vào lập luận rút ra từ trật tự hiện hữu (ít là trong thần học luân lý Công Giáo) và luân lý cứu cánh học dựa trên lập luận liên quan đến mục tiêu tối hậu của con người và vũ trụ.
Lập luận chính yếu bênh vực các chuẩn mực luân lý theo nghĩa vụ là mọi hữu thể đều có những phẩm chất và khả năng riêng, giúp chúng thực hiện các nhiệm vụ của mình và giúp chúng bảo tồn sự hiện hữu của mình. Ngoài ra, khi nghiên cứu bản chất của các hữu thể và nhất là của con người, người ta thấy được những quyền hạn mà các hữu thể được phép đòi hỏi, và dĩ nhiên ta cũng sẽ thấy những nghĩa vụ mà các hữu thể phải làm. Chẳng hạn phụ nữ có quyền như nam giới vì cả hai đều có cùng một bản tính, cùng một phẩm giá. Những người dị dạng và thiểu năng cũng có quyền sống như bất cứ người nào khác, vì cả hai bên đều có chung một bản tính.
Phân tích các cứu cánh và mục tiêu của sự vật, người ta có thể kết luận rằng những nhu cầu và mục tiêu nằm bên trong sự vật. Coi thường những nhu cầu và mục tiêu nội tại ấy sẽ đưa đến những hậu quả tai hại. Ðồng hồ được chế tạo là để chỉ thời giờ. Chỉ cần tìm hiểu bản chất của nó là đủ thấy không thể dùng đồng hồ làm búa nếu không muốn nó bị phá hủy. Mũi không phải là để nuốt các thức ăn cứng.
Tuy nhiên, phải chăng con người không bao giờ được phép sử dụng sự vật ngược với bản chất của nó cho dù nó có thể bị phá hủy?
Thực ra, nếu chỉ dựa vào quy luật và quy chế vận hành của tự nhiên, ta không thể rút ra kết luận ngay cho biết điều này đúng về mặt luân lý hay không. Chẳng hạn, cho dù biết đồng hồ sẽ bị phá hủy khi dùng nó như một cái búa, người ta vẫn có thể làm như thế nếu nhờ đó mà đục được một cái lỗ trên thuyền cấp cứu và cứu được các hành khách. Như vậy, để bảo vệ một điều tốt, có giá trị lớn hơn người ta có thể sử dụng vật ấy ngược với bản chất của nó. Tuy vậy, đó cũng chỉ là một ngoại lệ, và vì thế cần phải có một lý do rất đặc biệt mới cho phép ta làm như vậy.
Lập luận ủng hộ thuyết luân lý cứu cánh thường được dựa trên nguyên tắc: đứng trước hai điều xấu, ta phải chọn điều xấu ít hơn, hay đứng trước hai điều tốt, ta phải chọn điều tốt lớn hơn. Như trước nguy cơ thiệt một mạng hay hai mạng người vô tội, ta phải chọn con đường chỉ gây thiệt mạng một người.
Vấn đề quyết định là phải dựa vào tiêu chuẩn nào để cân nhắc các giá trị khác nhau. Tiêu chuẩn cuối cùng để phê phán các hậu quả tốt và xấu của hành vi này hay hành vi kia chính là giá trị được một người hay một hệ thống coi là cao nhất. Ðối với thần học Kitô giáo, giá trị tối cao ấy chính là xây dựng vinh quang và chủ quyền cứu độ của Thiên Chúa, cũng như thực hiện kế hoạch sáng tạo của Người đối với thế giới này. Tuy nhiên, con người chỉ có được sự hiểu biết tương đối về ý định và kế hoạch đời đời của Thiên Chúa. Vì thế, áp dụng tiêu chuẩn này không đơn giản.
Những suy nghĩ trên đây đưa tới kết luận là có thể có những chuẩn mực mang tính tuyệt đối như luân lý truyền thống vẫn bênh vực. Nhưng những chuẩn mực đó chỉ có thể có là nhờ dựa trên căn bản là cứu cánh hay mục tiêu, và ở đây có sự phù hợp với thần học hiện nay.
Tóm lại, không thể phê phán tính luân lý của một hành vi nếu không nghiên cứu cẩn thận bản chất của sự vật, nghĩa là không suy xét thích đáng những yếu tố liên quan đến bản thể (những yếu tố của luân lý nghĩa vụ). Càng không thể phê phán tính luân lý của một hành vi nếu không nhìn tới những yêu cầu của mục tiêu tối hậu, nghĩa là không suy xét thích đáng tới cứu cánh của luật luân lý. Như vậy, lập luận dựa vào bản thể (nghĩa vụ) và lập luận dựa vào cứu cánh sẽ bổ sung cho nhau. Chúng không triệt tiêu nhau, mà bổ túc cho nhau.
4. LUẬT VÀ HOÀN CẢNH
4.1 Thách đố do luân lý hoàn cảnh nêu ra
Ngày nay, người ta thường nhấn mạnh đến tính độc đáo riêng biệt của mỗi người và của mỗi hoàn cảnh tới mức coi các luật chung có sức ràng buộc hết mọi người là điều không thể nào có được. Ðiều đó đến từ chủ nghĩa hiện sinh, vì chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh tới vai trò của hoàn cảnh độc đáo và cụ thể trong quá trình trưởng thành và thực hiện nhân cách. Nhờ tự do, con người hình thành nên hữu thể của mình và nhờ đó biến mình thành một ngôi vị độc đáo, tự lập. Thể hiện bản ngả đích thật một cách tự do và sáng tạo là một việc làm không thể đi đôi với những chuẩn mực có sức ràng buộc phổ quát, vì những chuẩn mực này sẽ cản trở không cho ta trở thành mình đích thật. Mọi nhà luân lý hiện sinh đều phi bác giá trị tuyệt đối của các qui luật khách quan, vì theo họ chính chủ thể có sức sáng tạo, nguồn gốc của mọi hành vi tự do, sẽ quyết định đâu là điều tốt đâu là điều xấu.
Một số nhà thần học cho rằng con người không được ban cho một luật luân lý nào ngoài luật yêu thương. Tiêu chuẩn cuối cùng để cư xử không phải là dựa trên một luật luân lý nào, mà chính là tình yêu vị tha của ta khi quyết định. Tình yêu ấy phải được thể hiện với tất cả trách nhiệm của cá nhân. Các quyết định của ta không bao giờ được chế biến trước do các chuẩn mực luân lý cố định, nhưng phải luôn luôn được thực hiện một cách mới mẻ trong mỗi hoàn cảnh cụ thể. Loại luân lý hoàn cảnh này có thể được gọi là "chủ nghĩa hoàn cảnh chỉ dựa trên tình yêu", là quan điểm mới mẻ nhất, đang được ưa chuộng hơn hết.
Phải nhìn nhận rằng các nhà thần học trên đây thường không có ý phủ nhận tất cả mọi giá trị khách quan của các quy luật luân lý. Vì thế, điểm tranh luận không phải là cho rằng các luật luân lý không có giá trị gì hết, mà đúng hơn là cho rằng mọi luật luân lý đều có luật trừ, bất kể đó là luật có liên quan đến vấn đề tự sát, phá thai, luyến ái trước hôn nhân, ngoại tình, giết hại mạng sống vô tội, v.v...
4.2 Khuyết điểm của luân lý hoàn cảnh
Luân lý hoàn cảnh, dưới mọi hình thức, luôn dựa trên những sự soi sáng từ con người nội tâm của ta ; nhờ những soi sáng ấy mà ta có được sự hướng dẫn luân lý cần thiết và biết được những nghĩa vụ luân lý phải thi hành. Tuy nhiên, kinh nghiệm lâu đời cho thấy hy vọng sẽ được soi sáng đều đặn từ trong tâm linh là một hy vọng thiếu cơ sở và chỉ là một sự đánh lừa mình. Con người không tìm thấy được nơi mình một sự chỉ dẫn rõ ràng, không chút hàm hồ và dị nghĩa. Càng bỏ qua những chuẩn mực đã được các khoa đạo đức và thần học đưa ra, con người càng dễ rơi vào sai lầm và làm mồi cho xu hướng ích kỷ của mình.
4.3 Những giá trị luân lý hoàn cảnh
Thực ra, luân lý hoàn cảnh có chứa đựng một số phê bình có giá trị đối với giáo huấn luân lý cổ truyền:
Trước hết, người ta hoàn toàn sai lầm khi cho rằng các thủ bản luân lý đã giới thiệu hết tất cả các nghĩa vụ luân lý và các Kitô hữu nào chu toàn các quy luật ấy là đã chu toàn nhiệm vụ. Các thủ bản luân lý chỉ có thể cung cấp cho ta một cái khung các nghĩa vụ, rút ra từ bản tính chung của con người, với giả thiết rằng bản tính ấy ở người nào cũng đều giống nhau.
Tuy nhiên, vì văn hóa và văn minh luôn phát triển, nên thỉnh thoảng con người lại phải đối diện với những vấn đề mà các thủ bản luân lý không phải lúc nào cũng có sẵn câu trả lời. Trong những trường hợp đó người ta phải đi tìm câu trả lời dựa trên chính khả năng của mình, và chịu trách nhiệm cá nhân trước mặt Chúa về những câu trả lời đó (cf. MV 43).
Thứ hai, luân lý hoàn cảnh là một phản ứng chống lại một cách giải thích luân lý quá hình thức và quá pháp lý, đã từng khiến người ta áp dụng sát chữ lề luật một cách mù quáng, thay vì đi theo tinh thần của lề luật.
Thứ ba, luân lý bao giờ cũng có một yếu tố của hoàn cảnh. Các nguyên tắc luân lý không thể được áp dụng một cách máy móc vào những hoàn cảnh tuy tương tự nhưng không hoàn toàn y như nhau. Cần phải tìm hiểu kỹ các hoàn cảnh trước khi rút ra kết luận luân lý.
Thứ tư, một hành vi luân lý không nên được thúc đẩy bằng tinh thần vụ luật có phần nào nô lệ, mà phải được thúc đẩy bằng lòng yêu mến sâu xa muốn thực hiện các giá trị nhân bản và tôn giáo đích thật.
Bởi vậy, trong thần học luân lý của Hội thánh Công Giáo hiện nay, người ta nhấn mạnh đến trách nhiệm của cá nhân trong việc đi tìm các nghĩa vụ luân lý cụ thể cho mình và áp dụng các chuẩn mực luân lý vào trong các hoàn cảnh cụ thể, nhiều hơn so với trước kia.
5. NHÂN LUẬT
Khi nói tới nhân luật, người ta muốn đề cập tới trật tự pháp lý của một xã hội, xã hội ấy có thể là quốc gia hay là Hội thánh (hoặc những đoàn thể tôn giáo tương tự), trật tự ấy được quy định bởi những lề luật do con người đặt ra để phục vụ công ích. Luật này không nhất thiết phải được ghi chép thành văn vì có thể đó chỉ là những truyền thống và phong tục hợp pháp, bất thành văn, như thường thấy nơi các xã hội sơ khai.
5.1 Ý niệm và sự cần thiết
5.1.1 Những đặc điểm
Theo định nghĩa cổ điển của Tôma Aquinô, luật là một quy định của lý trí nhằm phục vụ công ích, do người có trách nhiệm với cộng đoàn ban hành. Ðó là một chỉ thị mang tính bó buộc, tổng quát và bền vững nhằm phục vụ công ích, do những vị có trách nhiệm đối với một xã hội ban hành.
Ðặc điểm của nhân luật:
- Nhân luật có sức cưỡng bách. Lý do là vì cần phải có sự cưỡng bách để thúc đẩy các thành phần trong xã hội (có khuynh hướng muốn sống không có lề luật) phải tuân phục.
- Nhân luật chỉ dụng chạm tới sự ứng xử bên ngoài. Tâm trạng bên trong, một điều rất quan trọng trong hành vi luân lý, nằm ngoài phạm vi của nhân luật. Trật tự xã hội sẽ được bảo đảm khi cách ứng xử bên ngoài của các thành viên xã hội ấy phù hợp với các nguyên tắc pháp lý.
- Nhân luật chỉ giới hạn trong những tập thể riêng biệt. Nhân luật chỉ ràng buộc các thành viên của một quốc gia hay một đoàn thể tôn giáo như Hội thánh chẳng hạn.
- Nhân luật bị điều kiện hóa bởi lịch sử nhiều hơn so với luật tự nhiên. Khi xã hội và văn minh của xã hội thay đổi, nhân luật cũng thay đổi theo. Những người có trách nhiệm với cộng đồng có nhiệm vụ phải thích nghi luật ấy luôn và càng ngày càng làm hoàn bị hơn cho hợp với đòi hỏi của những điều kiện sống luôn thay đổi và với những yêu cầu của một nền công lý ngày càng cao hơn.
- Nhân luật có sức ràng buộc giả định, nhưng vẫn chấp nhận có những luật trừ, những sự miễn chuẩn khác với luật tự nhiên. Nếu một luật được nhận rõ là hoàn toàn bất công và có hại, luật ấy sẽ không còn sức bó buộc, ít là không con bó buộc như một quy luật. Ngoài ra trong nhiều trường hợp, giới thẩm quyền được phép ban hành một số luật trừ hay miễn chuẩn thi hành luật, như tha bổng một kẻ phạm pháp chẳng hạn. Trong trường hợp nhân luật thiếu sót, cá nhân được quyền sử dụng thể ý pháp.
5.1.2 Tân Ước đối với nhân luật
Ðức Giêsu để lại một thí dụ nói lên sự tùng phục dân luật và các luật phụng tự của dân tôc mình. Khi được hỏi về việc nộp thuế thân (Mc 12, 13-17), nghĩa là có đúng luật hay không khi nộp thuế cho hoàng đế Rôma, Ðức Giêsu đã trả lời: "Hãy trả cho hoàng đế những gì của hoàng đế và trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa". Quyết định rõ ràng của Ðức Giêsu là phải nộp thuế, miễn là sự tùng phục ấy không xung đột với những quyền lợi của Thiên Chúa. Nhưng Ðức Giêsu cũng minh định rằng nói cho cùng quốc gia vẫn phải tùng phục ý muốn của Thiên Chúa và dựa vào quyền bính Thiên Chúa.
Hội thánh sơ khai cũng có thái độ đối với chính quyền tương tự như Ðức Kitô. Dù có phần dè dặt đối với giới chức Do Thái và càng ngày càng tỏ ra độc lập với họ, Hội thánh sơ khai vẫn tỏ ra trung thành đối với đế quốc Rôma và các cơ quan của đế quốc ấy. Dù kinh nghiệm của thánh Phaolô đối với chính quyền Rôma không phải lúc nào cũng toại nguyện, ta vẫn không thấy trong các tác phẩm của ngài có một lời nào tỏ dấu chống lại đế quốc. Ngược lại, có một đoạn văn rất nổi tiếng ở Rm 13, 1-7, đòi buộc các Kitô hữu phải vâng phục chính quyền trong tận lương tâm của mình: "Mỗi người phải tùng phục chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự do Thiên Chúa đặt ra". Chính quyền chính là người đầy tớ Chúa dùng để thực hiện công ích.
5.1.3 Sự cần thiết của nhân luật
Các chuẩn mực xã hội bền vững rất cần để bảo vệ cho đời sống chung được ổn định. Những chuẩn mực ấy sẽ giúp phối hợp các sinh hoạt của một số đông người. Dù luật luân lý tự nhiên cũng đã vạch cho con người thấy những nghĩa vụ xã hội, nhưng một luật ấy thôi không đủ để bảo đảm cho đời sống xã hội, nhất là cho đời sống của các xã hội lớn, được ổn định, trật tự. Trật tự này chỉ có thể bảo đảm được nhờ nhân luật. Vì những lý do sau đây:
- Luật tự nhiên thường không hiển nhiên và rõ ràng trong các đòi hỏi cá biệt cho mỗi người. Nhân luật sẽ giúp làm sáng tỏ các thắc mắc ấy. Nhân luật cho thấy rõ các đòi hỏi của luật tự nhiên, kể cả những kết luận xa của luật ấy, cho hết mọi người.
- Cần có nhân luật để xác định những chuẩn mực cụ thể hướng dẫn họ, nhất là khi có thể thi hành luật luân lý tự nhiên bằng nhiều cách khác nhau. Thường thường để thi hành một nghĩa vụ, có thể có vài cách. Nhưng vì trật tự chung, phải chọn một cách và buộc mọi người phải thi hành, như đối với các luật giao thông, thời hiệu hay các quyền tư hữu, các quy định về việc phụng tự công cộng...
- Sau cùng, nhân luật cần có để cưỡng bức con người tuân phục các đòi hỏi của trật tự luân lý, các đòi hỏi quan trọng đối với ích chung. Những biện pháp chế tài đi liền với nhân luật là phương thế cần thiết để giáo dục con người vốn yếu đuối, cũng như để bảo vệ con người trước sự tai ác của người khác.
5.2 Ðối tượng và tính công bằng
Ðối tượng của nhân luật nói chung là sự ấm no hạnh phúc chung. Nhân luật có nhiệm vụ bảo vệ và phát huy sự ấm no hạnh phúc chung:
-bằng cách xác định các quyền lợi và nghĩa vụ của các phần tử trong xã hội, và bằng cách bảo đảm cho có sự tự do cần thiết để mỗi người thi hành trách nhiệm của mình, dựa trên những mục tiêu hiện sinh của con người,
- bằng cách bảo vệ an ninh và trật tự trong xã hội cũng như tạo lập được sự an ninh bên ngoài đất nước,
- bằng cách tạo điều kiện thuận lợi để có sự tiến bộ về xã hội và kinh tế, cũng như để có được cuộc sống văn hóa, đạo đức và tôn giáo.
Tuy nhiên, tất cả những mục tiêu trần thế này đều phải phục vụ vinh quang và kế hoạch của Thiên Chúa. Bởi vậy, nhân luật không bao giờ được gây cản trở cho việc thực hiện mục tiêu ấy mà trái lại phải góp phần vào việc ấy.
Ðối tượng luật pháp có thể là những sự vật hay những công việc mà con người thực hiện. "Sự vật" có thể là những đồ vật vật chất như máy móc hoặc có thể là những sự vật phi vật chất như các phát minh, sáng kiến. Tuy nhiên, không bao giờ được phép biến con người thành một đối tượng luật pháp theo kiểu các sự vật, như người nô lệ đã phải chịu trong các lề luật xưa. Chỉ có thể lấy các việc làm của con người làm đối tượng luật pháp.
Mỗi một bộ luật phải kể ra các điều kiện cần thỏa mãn để luật có giá trị ràng buộc đối với các chủ thể. Truyền thống thường nêu ra 4 điều kiện: đối tượng luật pháp phải là điều được phép làm xét theo luân lý ; phải là điều công bằng, khả thi và hữu ích.
Ðể một khoản luật được coi là công bằng thì:
- Luật chỉ có thể truyền dạy những điều được phép về mặt luân lý và không bao giờ truyền dạy những điều tội lỗi. Thế nhưng, vì một vài lý do luật có thể khoan nhượng một số tệ đoan trong xã hội, như các niềm tin tôn giáo sai lạc, các điều dị đoan, các đảng phái theo một ý thức hệ độc tài, mại dâm và những điều tương tự.
- Luật phải nằm trong phạm vi quyền tài thẩm của người làm luật, chứ không vượt ra ngoài quyền hạn của người ấy.
- Luật phải tôn trọng các đòi hỏi của sự công bằng phân phối: Luật phải phân chia các trách nhiệm và đặc ân cho đồng đều và tùy theo khả năng của các thành viên.
- Luật không được hạn chế các quyền lợi khi không có nhu cầu thật sự đối với sự ấm no hạnh phúc chung.
- Luật phải có tính khả thi, về mặt vật lý lẫn luân lý. Tuy nhiên, nếu chỉ có một khía cạnh trong luật đó là bất khả thi, thì phải thi hành phần có thể làm được, khi biết rằng có thi hành như vậy thì mới hy vọng đạt được mục tiêu của luật.
- Luật phải hữu ích hay có lợi cho công ích.
Trên nguyên tắc, các luật bất công không có quyền ràng buộc. Tuy nhiên, các thành viên trong xã nội có thể vẫn tuân phục các luật bất công, bao lâu các luật ấy không cho thấy một điều xấu rõ ràng về mặt luân lý. Còn khi hồ nghi không biết luật này đã hội đủ điều kiện cần thiết để trở nên công bằng và có hiệu lực hay chưa, luật vẫn có hiệu lực và có quyền đòi buộc.
5.3 Sức ràng buộc
5.3.1 Bản chất và nền tảng
Các điều luật công bằng có sức ràng buộc tận trong lương tâm vì tự thân chúng, chúng cần cho công ích. Nhân luật bắt nguồn từ chính bản tính con người và mục tiêu tối hậu của con người nên nhân luật có sức ràng buộc là do luật tự nhiên, và xét cho cùng là do ý muốn của Thiên Chúa, nên một luật đúng là luật thì không thể xung khắc với luật tự nhiên. Nếu một luật đã được ban hành lại không thể phục vụ các mục tiêu hiện sinh của con người thì luật ấy xung khắc với bản chất luân lý của luật nói chung. Luật ấy sẽ không có cơ sở pháp lý thật và cũng không dẫn đến một bổn phận phải tùng phục nào.
5.3.2 Mức độ ràng buộc
Luật nào công bằng cũng đều ràng buộc con người trong lương tâm. Các luật của con người có sức ràng buộc luân lý nhiều hay ít là tùy theo chúng quan trọng nhiều hay ít đối với công ích. Ðiều đó cũng đúng đối với hiến pháp của các dòng tu. Các vi phạm hiến pháp có thể trở thành tội nhẹ nếu chúng xuất phát từ các động cơ tội lỗi như thiếu yêu thương, lười biếng, háo danh, nhất là nếu chúng gây gương xấu hay tạo dịp phạm pháp do sự coi thường lề luật
5.3.4 Ràng buộc như thế nào?
Mỗi thành viên có nghĩa vụ luân lý là phải dùng các phương tiện vừa đủ để hiểu biết luật. Một người lái xe phải biết luật giao thông. Một linh mục phải biết những quy định quan trọng của giáo luật và phụng vụ. Các thành viên còn có bổn phận phải sử dụng các phương thế thông thường nhưng lại là những phương thế tuyệt đối cần thiết để thi hành luật. Như xe ô tô phải có đèn, có kèn. Linh mục phải có sách nguyện và luôn mang theo mình. Cũng vậy, các thành viên phải tìm cách gỡ bỏ hay ngăn chận trước các trở ngại có thể khiến cho mình hầu như không thể thi hành luật, nếu khi làm việc này ta không gặp nhiều phiền phức lắm. Một người Công Giáo sẽ không đi chơi xa vào buổi sáng Chúa nhật.
5.4 Người làm luật và người thi hành luật
5.4.1 Người làm luật
Luật có thể được ban hành bởi những người có thẩm quyền hợp pháp trong một xã hội và được ban hành trong phạm vi quyền tài thẩm của họ. Các người làm luật chỉ có thẩm quyền đối với những điều góp phần thực hiện mục tiêu của cộng đoàn mà họ đang điều khiển. Luật thiết định có hiệu lực là do dựa vào luật tự nhiên. Tuy nhiên luật thiết định không phải là bản sao chép của luật tự nhiên vì người làm luật có được sự tự do mang tính sáng tạo của mình.
Các phong tục hay những thông lệ được hợp pháp hóa cũng có thể trở thành luật. Một tập quán có thể trở thành một luật bó buộc nhưng cũng có thể bị thẩm quyền chuyên môn công khai phi bác. Tuy nhiên, một phong tục tập quán sẽ không bị vô hiệu hóa do việc ban hành một luật chung nếu trong luật không có nêu ra rõ ràng sự đối nghịch ấy (cf. GL 5). Ngược lại, phải ưu tiên cho những sự giải thích theo phong tục tập quán hơn những lời giải thích chỉ dựa trên ngữ pháp hay ngữ văn của luật. Phong tục tập quán có hiệu năng đến nỗi chúng có thể giới hạn hay mở rộng ý nghĩa của một điều luật.
5.4.2 Người thi hành luật
Người thi hành luật là những người thuộc về một cộng đồng theo một danh nghĩa nào đó (do sinh ra hay do nhập quốc tịch, nếu là cộng đồng dân sự, do rửa tội, nếu là Hội thánh) và là những người mà lề luật muốn chi phối. Luật có thể được gởi tới mọi thành viên trong cộng đồng hay chỉ cho một tập thể trong cộng đồng đó, như bác sĩ, luật sư, giáo sĩ, công đoàn. v.v... Luật bãi hiệu và luật bãi năng sẽ có hiệu lực đối với một thành viên trong cộng đồng. Còn các luật khác chỉ ràng buộc những người thường xuyên sử dụng được trí khôn. Trên nguyên tắc, các ngoại kiều thường trú ở nước ngoài phải tuân giữ các luật của nơi mình đang sống.
5.5 Ðiều kiện để luật có hiệu lực và việc tuân giữ luật
5.5.1 Ðiều kiện để luật có hiệu lực
Ðể một luật có hiệu lực thì:
- Luật pháp phải được ban hành cách xứng hợp. Luật phải được công khai hóa cho mọi người biết vì người ta chỉ chịu trách nhiệm tuân giữ những lề luật nào đã biết. Luật có thể bắt đầu có hiệu lực ngay khi được công bố hay vào một thời điểm nào đó do nhà làm luật ấn định. Tuy nhiên luật mang tính bất hồi tố, trừ một số trường hợp. Ðặc biệt các luật hình sự mới không thể đem áp dụng cho những hành vi trong quá khứ. Nếu không, ta sẽ vi phạm một nguyên tắc được mọi quốc gia văn minh tôn trọng: không thể phạt khi chưa có luật (nulla poena sine lege). Ðồng thời, do chính bản tính của mình, luật hướng đến tương lai.
- Luật phải mạch lạc, không mâu thuẫn.
- Luật phải mang tính vững bền. Ðiều này ngụ ý rằng luật không được thay đổi luôn. Bằng không, nhiều công dân sẽ bị mất phương hướng. Bảo đảm cho luật được liên tục còn có nghĩa là đôi khi người ra luật dự kiến những thay đổi để kiện toàn luật dựa trên luật tự nhiên.
- Sau cùng, muốn có sự hiệu lực cần phải có sự phù hợp giữa hoạt động chính thức của giới thẩm quyền với luật đã được công bố. Có một sự liên quan nào đó giữa chính quyền và công dân trong việc giữ luật.
5.5.2 Giữ luật
Khi tuân giữ lề luật cần một số điều kiện sau đây:
Ðối với các luật tiêu cực hay luật cấm, chỉ cần không làm hành vi bị cấm, dù một cách miễn cưỡng, là đủ. Tuy vậy, ai có ý coi thường các điều luật có thể thi hành, là đã phạm tội trong tư tưởng.
Ðối với các luật tích cực hay các luật đòi hỏi phải làm một hành vi nào đó, cũng chỉ cần thực hiện điều đòi hỏi là đủ, nếu luật không buộc điều gì khác. Tuy nhiên, đôi khi có những luật đòi phải đích thân người nào đó thi hành hay đôi khi còn phải được thi hành một cách ý thức và tự do.
Người ta cũng lưu ý rằng khi giữ luật không đòi hỏi đương sự phải có ý chu toàn bổn phận ngay trong khi làm việc được yêu cầu. Khi thi hành luật, không cần phải ý thức mình đang thực hiện mục tiêu của luật ấy. Còn đối với các nghĩa vụ tôn giáo của người Công Giáo, luật cũng không đòi phải ở trong tình trạng ơn thánh, trừ khi điều này nằm ngay trong chính bản chất của nghĩa vụ ấy.
Ðôi khi người ta phải thi hành một vài điều luật cùng một lúc thì người ta có thể làm cùng một hành vi nhưng có thể chu toàn vài bổn phận, miễn là loại việc và động cơ hành động đều như nhau. Có thể thi hành một số luật cùng một lúc, miễn là các hành vi được thực hiện đồng thời ấy không loại trừ nhau và miễn là nhà làm luật đã không cấm thi hành vài luật cùng một lúc.
Khi thi hành luật thì phải giữ đúng thời hạn do luật qui định. Người ta không thể giữ luật trước thời hạn luật pháp quy định cũng không thể thi hành luật sau thời hạn quy định. Nếu người làm luật đã có ý dạy rằng hết thời hạn thì cũng chấm dứt luôn bổn phận hay quyền lợi đối với hành vi đó. Tuy nhiên, cần phải thi hành luật cả sau khi đã qua thời hạn, khi thời hạn ấy được đưa ra chỉ là để thúc giục ta thi hành.
5.5.3 Thể ý pháp (epikeia)
Epikeia hay epikia là một cách giải thích luật của con người không theo mặt chữ nhưng theo tinh thần của luật cho những trường hợp cực hiếm đã không được luật thiết định cứu xét đầy đủ. Thánh Tôma coi "épikeia" là một nhân đức, kết quả của đức khôn ngoan và đức công liêm. Bởi đó, nếu luật quy định một mức lương tối thiểu quá thấp, hay do tình trạng lạm phát mà trở nên quá thấp, thì với tinh thần epikeia người chủ sẽ quyết định trả nhiều hơn văn bản luật quy định, nếu không bằng cách tăng lương thì ít ra bằng cách cho hưởng những lợi tức khác. Như thế, epikeia không phải là trốn tránh lề luật nhưng là tinh thần biết tự do khỏi mặt chữ của lề luật.
Các thủ bản quen cắt nghĩa rằng epikeia là một sự giải thích luật theo tâm ý của người làm luật hơn là theo ý nghĩa thấy được của luật. Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng ngay cả người làm luật nhiều khi cũng hiểu luật rất chật hẹp và vì thế người ta được quyền nghĩ tới những ngoại lệ chính đáng nhà chính người làm luật chưa chắc đã đồng ý.
Bản thân Ðức Kitô cũng đã thực hành và giảng dạy nhân đức epikeia. Người khẳng định ngày Sabát được lập ra là vì con người (Mc 2, 27) và vì thế các luật lệ của ngày Sabát phải nhường bước cho những nhu cầu của con người, kể cả khi làm như thế có thể đi ngược lại mặt chữ của lề luật.
Lý do nội tại biện minh cho epikeia là: Trước hết, nhà làm luật không thể nào tiên liệu hết mọi hoàn cảnh có thể xảy ra cho cá nhân và ngay cả khi tiên liệu hết được, ông cũng không thể nào diễn tả hết trong lời lẽ của một khoản luật tổng quát. Thứ đến, luật không thể nào theo kịp những sự phát triển của một cuộc sống và những đổi thay trong xã hội. Vì được biên soạn cho những điều kiện trong quá khứ, nên luật không phải khi nào cũng có thể quán xuyến hết những nhu cầu của hiện tại. Dĩ nhiên, epikeia chỉ là một ngoại lệ. Muốn sử dụng nó, cần nhớ những điều kiện và lưu ý sau đây:
- Epikeia chỉ được áp dụng cho luật thiết định nghĩa là không thể áp dụng nó khi cơ quan luật pháp chỉ trình bày các luật tự nhiên.
- Những khó khăn và bất lợi do việc tuân giữ luật gây ra phải lớn hơn và nhiều hơn hẳn so với những lợi ích hy vọng đạt được khi thi hành luật ấy. Người ta phải cân nhắc giữa một bên là ích lợi của luật đối với công ích, những hậu quả tiêu cực do việc bỏ qua luật ấy, và một bên là những khó khăn cũng như những thiệt hại do việc giữ luật ấy gây ra.
- Cần phải tham khảo những người khác, nhất là khi gặp những ngoại lệ có tầm quan trọng đặc biệt.
- Khi gặp những trường hợp hồ nghi, cần phải tham khảo các bề trên, trừ khi có quá nhiều khó khăn để gặp được các vị ấy. Nhưng thuờng thường ta vẫn có bổn phận thông báo với bề trên về những gì mình sắp làm.
- Không thể áp dụng epikeia cho những luật làm cho hành vi trở nên vô hiệu (luật bãi hiệu) hay những luật làm cho một người mất khả năng làm một số việc theo pháp lý (luật bãi năng). Công ích đòi buộc rằng muốn làm những việc ấy cần phải có sự chắc chắn về hiệu lực của chúng.
6. HẾT RÀNG BUỘC VÀ CHẤM DỨT LUẬT
6.1 Hết ràng buộc
Luật trở nên hết ràng buộc do không thể thi hành luật, do được miễn chuẩn và do đặc ân.
- Một người được miễn thi hành luật khi người ấy không còn là chủ thể phải thi hành luật ấy nữa. Ðiều này có thể xảy ra khi tuổi tác, nghề nghiệp hay địa vị thay đổi.
- Một người được miễn thi hành luật khi người ấy không biết luật ấy mà không do lỗi của mình (vô tri không do mình). Theo giáo luật, không hay biết cũng là nguyên do cho phép ta khỏi bị phạt, nhưng đó không hề là nguyên do cho phép ta miễn chịu những hậu quả của các luật bãi hiệu hay các luật bãi năng (G1 15 ; l323 , số 01). Không có khả năng thể lý sẽ miễn cho một người khỏi phải giữ luật. Như một người bị bắn trọng thương không thể ra tòa được. Không có khả năng luân lý, nghĩa là giữ luật sẽ gây ra nhiều khó khăn lớn cho đương sự, cũng miễn cho một người khỏi giữ các luật thiết định của con người. Chỉ thiếu khả năng một phần có thể miễn cho ta hoàn toàn khỏi giữ luật, nếu luật ấy không thể phân chia được. Chẳng hạn nếu đã khấn đi hành hương nhưng về sau thấy mình không thể đi tới địa điểm ấy được thì ta không cần phải đi hành hương nữa. Còn nếu bổn phận ấy có thể chia ra được thì phải giữ phần bổn phận có thể thi hành.
- Miễn chuẩn là được một thẩm quyền hợp pháp tha cho khỏi giữ luật trong một trường hợp đặc biệt.
- Ðặc ân và quyền hạn cho phép một người hay một nhóm người hưởng một ơn mà theo luật họ không được. Nếu miễn chuẩn thường thường chỉ tha cho một người khỏi thi hành luật trong một thời gian thì đặc ân thường là quyền hạn đặc biệt có giá trị lâu dài.
6.2 Chấm dứt luật
- Xét theo ngoại tại, một luật có thể chấm dứt thông qua một quyết định của nhà làm luật hay do những phong tục tập quán đi ngược lại. Một luật mới sẽ bãi bỏ luật có trước, nếu nó nói ra điều đó một cách minh bạch, hoặc nếu nó trực tiếp dạy ngược lại luật cũ, hoặc nếu nó xử lý toàn bộ vấn đề của luật cũ ấy một cách hoàn toàn mới.
- Xét theo nội tại, một luật có thể mất hiệu lực vì mục tiêu của luật ấy không còn nữa. Nếu mục tiêu của luật không còn nữa cho hết mọi người và trong toàn bộ nội dung thì chính luật ấy cũng sẽ chấm dứt hoàn toàn.
(Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau)

