THẬP GIỚI

Nếu tham khảo chương trình dạy tại các Đại Học Công giáo cũng như tại các Chủng viện, chúng ta thấy rằng rất ít khi các nơi này có một chương trình đầy đủ về Thập giới. Người ta thường nhấn mạnh đến một vài điểm trong Thập giới mà thôi, ví dụ về phái tính trong điều răn thứ sáu...

Thế nhưng trong Giáo Hội Công giáo, Thập giới không hề bị coi nhẹ. Trong phần về luân lý của sách Giáo lý Công Giáo (GLCG) bàn về “Đời sống (đức tin) trong Đức Kitô”, Giáo Hội tiếp tục trình bày toàn bộ Thập giới.

1. Thập giới trong Cựu Ước

Trong Cựu Ước, Thập giới còn được gọi là Mười Lời:

Xh 34,28: “Ông Môisen ở lại với Chúa 40 ngày và 40 đêm, không ăn không uống. Và Thiên Chúa viết những lời giao ước, viết 10 điều răn (les dix paroles: TOB) vào bia đá.”

do chính tay Thiên Chúa viết:

Xh 31,18: “Rồi sau khi nói với Môisen trên núi Sinai, Thiên Chúa trao cho ông hai tấm bảng giao ước, bảng bằng đá, do chính ngón tay Thiên Chúa viết” (tạm dịch)

GLCG còn nhấn mạnh:

“Thập giới phải hiểu trong bối cảnh của cuộc Xuất Hành, biến cố giải phóng vĩ đại của Thiên Chúa ở trung tâm của giao ước cũ” (no 2057).

Điều đó có nghĩa là Thập giới phải được đặt trong một bối cảnh lớn hơn, trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

1.1 Hai bản văn

Cũng như những bản văn quan trọng khác của Kinh thánh như: Kinh Lạy Cha, bài giảng trên núi, … chúng ta có hai bản văn ghi lại Thập giới (Mười Điều răn, Mười Lời).




Vài nhận xét:

- Bản văn Xh 20, 2-17 dài nhất tiếp đến sách Đệ nhị luật và sau cùng là 10 điều răn của GH Công Giáo.

- 10 điều răn của GHCG theo sát sách Đnl 5, 6-21 hơn Xh 20, 2-17.

- Cả Xh và Đnl đều khởi đầu như nhau: “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai cập, khỏi cảnh nô lệ”. Thiên Chúa cứu độ.

- GH Công Giáo đổi "giữ ngày Sabbat" (thứ bảy) thành "giữ ngày Chúa nhật" (ngày đầu tuần)

1.2. Cùng một ý nghĩa

Tuy có hai bản văn, nghĩa là người ta có thể tìm thấy sự khác biệt, nhưng người ta có thể tìm thấy sự đồng qui.

1.2.1 Thập giới khởi đi từ Thiên Chúa Cứu độ:

Thập giới là Lời đặc biệt của TC, Lời của Thiên Chúa Cứu độ. Ngay câu đầu tiên đã nhấn mạnh đến điều đó: “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai cập, khỏi cảnh nô lệ.”

1.2.2 Thập giới cho biết thánh ý Chúa:

Thập giới trình bày một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân riêng của Người. Thiên Chúa xưng mình là “Ta” ở ngôi thứ nhất và Ngài nói với dân riêng của Ngài là “Ngươi” ở ngôi thứ hai. Thập giới không chỉ là những luật khô khan nhưng là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa với con người. Thiên Chúa cho biết thánh ý của Ngài: Dân Thiên Chúa cần phải có một đời sống xứng với danh ấy và rồi dân chúng đồng thanh nói: “Chúng tôi xin làm mọi sự Đức Giavê truyền” (Xh 19,8). Như thế, Thập giới được truyền đạt trong tương quan với Giao ước. “Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã thiết lập một giao ước với chúng ta tại núi Khorép” (Đnl 5,2). (n. 2060)

1.2.3 Sự khác nhau của các bản văn làm rõ hơn ý của tác giả

Sự khác nhau giữa hai bản văn cho thấy sự quan tâm của tác giả: Họ không chú tâm đến tầm quan trọng của câu văn nhưng nhấn mạnh đến những khẳng định chủ yếu của nội dung bên trong. Tuy khác nhau về câu văn, độ dài ngắn nhưng cả hai đều phải tuân thủ một thứ tự nào đó. Điều đó có nghĩa họ không tự tiện thêm bớt thay đổi theo ý riêng của họ. Điều đó cũng cho thấy tuy có hai bản văn khác nhau nhưng chỉ có một Thập giới và nhờ hai bản văn khác nhau mà người ta có thể hiểu rõ hơn, sâu hơn về Thập giới.

Có tác giả cho rằng bản văn của Đệ nhị luật gần với nguyên bản hơn và bản văn của sách Xuất hành thì có sau như một kiểu cập nhật hóa, giải thích rõ hơn những gì đã nói trong Thập giới và sau đó là trong Đệ nhị Luật.

Cho dù vẫn thường được gọi là Mười điều răn nhưng các bản văn không nói rõ con số, chính vì thế mà người ta gặp khó khăn khi xác định con số, nghĩa là có những cách đánh số khác nhau nơi những Giáo Hội khác nhau.

2. Thập giới trong Tân Ước

Người Kitô hữu là người theo Đức Kitô, nhận Đức Kitô làm Thầy. Vấn đề đặt ra là giá trị của 10 điều răn trong thời Tân Ước.

2.1 Thập giới với Đức Kitô

Trong Tin Mừng thánh Matthêu 19, 16-19, khi người thanh niên giàu có hỏi CG: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều tốt nào để được hưởng sự sống đời đời” CG lập tức nói đến việc tuân giữ các giới răn và rồi Người liệt kê: “Ngươi không được giết người, không được ngoại tình, ngươi không được trộm cắp, ngươi không được làm chứng gian, ngươi phải thảo kính cha mẹ.” Và rồi cũng lại chính Người tóm tắt các điều răn trên bằng câu: “Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình”.

Thái độ của Đức Kitô như thế là đã rõ, chính vì thế sách GLCG cho rằng người môn đệ khi “Muốn đi theo Đức Giêsu, phải tuân giữ các giới răn. Luật cũ không bị bãi bỏ, nhưng chúng ta được mời gọi tìm thấy sự viên mãn của lề luật nơi con người của Thầy mình, Đấng chu toàn tuyệt hảo lề luật” (GLCG n. 2053).

2.2 Đức Kitô, Đấng kiện toàn lề luật

Tuy Chúa Giêsu không bãi bỏ luật Môisen, nhưng Người cũng không áp dụng hoàn toàn như cũ. Điều đó được chứng minh khi chúng ta so sánh Thập Giới và Bài giảng trên núi bởi vì nếu Thập Giới là luật nổi bật nhất trong CƯ thì trong Tân Ước bài giảng trên núi của Chúa Giêsu được coi như Hiến chương Nước Trời, đặc biệt là bài giảng trên núi của Thánh Mt.

Thánh Mt đã tập họp lại những lời giảng dạy ở những nơi khác nhau của Đức Kitô trong một bài giảng. Ngài cố gắng làm cho bài giảng này được nối kết với nhau một cách mạch lạc và cho thấy sự liên hệ giữa hai lề luật: Luật cũ và luật mới. Như Môisen, Đức Kitô giải phóng và hướng dẫn Dân Chúa. Người ban cho dân lề luật, ký kết với dân một giao ước, giao ước tự do.

Thập giới
Bài giảng trên núi
Lời khẳng định về việc Thiên Chúa ban cho dân tự do (Đnl 5,6)
Loan báo ân huệ và lời hứa hạnh phúc (Mt 5, 3-12).
Cần phải hiểu đúng lề luật. Nếu Đức Kitô còn tiếp tục luật Môisen thì đó chính là để hoàn thành lề luật chứ không phải để thay thế hay hủy bỏ luật cũ (Mt 5, 17-20)

3 đề tài:
* Tương quan với Thiên Chúa (Đnl 5,7-15)
* Tương quan với những người khác (Đnl 5, 16-21).
* Những lời khích lệ của Thiên Chúa ở Đnl 5 và 6: giữ các giới răn để được sống hạnh phúc và trở nên công chính (Đnl 6,24-25).
3 đề tài:
* Tương quan giữa người môn đệ với Thiên Chúa (Mt 6,1-34).
* Những Tương quan với người khác (Mt 7,1-12) với cao điểm là luật vàng (Mt 7, 12).
* Lời khích lệ những người theo Chúa để họ bước theo con đường mà Thiên Chúa đã chỉ cho để được sống hạnh phúc (Mt 7, 14)


Từ những nhận xét đó chúng ta thấy rằng Mt lấy lại cấu trúc của luật Môisen (Thập giới) và từ đó người ta có thể kết luận rằng Đức Kitô trong nhãn quan của Mt không đưa ra một luật mới nhưng một cách giải thích mới về lề luật. Cũng vậy các mối phúc hướng chúng tới một sự hiểu biết mới về mình, về Thiên Chúa và về người khác dựa trên nền tảng lời hứa của Thiên Chúa. Từ đó chúng ta có thể hiểu được tại sao Đức Kitô nói Người đến để hoàn thành lề luật.

Thí dụ luật cấm giết người. Đó là luật nói chung cho mọi xã hội (= Thập giới ; = luật tự nhiên). Tất cả những ai vi phạm đều phải bị trừng trị. Tuy nhiên luật cấm này nhiều khi không hiệu quả vì người ta có thể sử dụng quyền hành để đàn áp, bóc lột người khác trong xã hội. Vì thế cần có một luật khác hoàn hảo hơn: luật tôn trọng người khác, nhận biết chính con người của người khác, luật hoà giải và người môn đệ của Chúa phải làm chứng về những điều ấy.

Ý nghĩa của lề luật Thiên Chúa là không phải đóng khung con người trong những hành động của họ nhưng là kêu gọi tinh thần trách nhiệm của một con người tự do và có khả năng yêu. Luật Thiên Chúa là cách diễn tả niềm hy vọng của Thiên Chúa nơi con người. Nếu luật ra lệnh yêu “Ngươi hãy yêu tha nhân” (Mt 5,43) điều đó có nghĩa là Thiên Chúa muốn những người con Chúa phải bắt chước chính Chúa, Người Cha nhân từ, là Đấng đã cho mặt trời mọc lên chiếu soi cả người lành lẫn kẻ dữ. Vì thế mỗi khi đến gần những người đang cần đến thì chúng ta đến gần hình ảnh Đức Kitô.

Thánh Mt nhắc cho chúng ta nhớ rằng mỗi khi chúng ta bị cám dỗ quên đi luật lệ để tán dương tin mừng mà thôi thì bản văn của thánh nhân nhắc chúng ta nhớ đến nguy cơ của một thứ “ân sủng rẻ tiền” không cần phải cố gắng. Đàng khác, mỗi khi chúng ta quên đi lời hứa của Tin Mừng để bám vào một thứ luân lý chỉ dựa trên luật lệ, nghiêm ngặt, không niềm vui, bản văn của Mt làm chúng ta nhớ rằng niềm hạnh phúc đến từ lòng ao ước yêu và được yêu, nghĩa là nhận biết và tiếp đón người khác như tiếp chính bản thân mình.

Thập giới trong Giáo Hội

Sách Giáo lý Công Giáo cho thấy tầm quan trọng của Thập giới trong Giáo Hội (no 2064-2066). Đồng thời cũng cho thấy sự phân chia các điều răn khác nhau nơi các Giáo hội khác nhau. Chúng ta có bảng sau:

* Nhận xét:

Khi đối thoại với người khác thì cần phải nói rõ nội dung của điều răn nếu không thì lẫn lộn cả.

Thập giới được liên kết với luật tự nhiên nghĩa là lý trí con người có thể nhận biết được (Giáo lý Công Giáo no 2070) nhưng đồng thời cũng cần đến mạc khải Thiên Chúa để có thể nhận biết được đầy đủ và chắc chắn.

Thập giới không phải là những giới răn riêng lẻ biệt lập nhưng là một khối thống nhất. Vi phạm một điều là đụng chạm đến tính toàn vẹn của cả tội nhân và như thế Thập giới mang tính đòi buộc cao đối với người muốn thực sự là môn đệ của Chúa.

Chính vì thế con người cần ân sủng, cần sự trợ giúp của Thiên Chúa để có thể chu toàn các lề luật Thiên Chúa.

[Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau]