ĐIỀU RĂN THỨ BA

Điều răn thứ ba giữ ngày Chúa Nhật thoạt nghe rất đơn giản nhưng thực ra chất chứa một vấn nạn: Tại sao trong Thập giới của Cựu Ước thì “giữ ngày sabbat” trong khi Thập giới của các Kitô hữu thì “giữ ngày Chúa Nhật” ? Kitô giáo có quyền thay đổi Thập giới ?

1. Từ ngày Sabbat đến ngày Chúa Nhật

Điều phải nói trước tiên đó là nếu tin tưởng vào một Đấng nào đó trên cao, thì người ta, nói chung, cảm thấy có bổn phận dành riêng một thời gian cho Đấng ấy. Do thái giáo không đi ra ngoài qui luật bất thành văn ấy.

1.1 Ngày Sabbat trong Cựu Ước

Sách Sáng thế cho thấy ngày Sabbat được nêu lên là để nhớ đến việc Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ. “Thế là trời đất cùng với mọi thành phần đã hoàn tất. Ngày thứ bảy, Thiên Chúa hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Ngài, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi. Thiên Chúa ban phúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày đó, vì ngày đó Ngài đã nghỉ, ngưng làm mọi công việc sáng tạo của Ngài.” (St 2, 1-3). Sách Xuất hành 20, 8-11: “Ngươi hãy nhớ ngày sabbat, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày sabbat kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào, cả ngươi cũng như con trai con gái, tôi tớ nam nữ, gia súc và ngoại kiều ở trong thành của ngươi. Vì trong sáu ngày, Đức Chúa đã dựng nên trời đất, biển khơi và muôn loài trong đó, nhưng Ngài đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy Thiên Chúa chúc phúc cho ngày Sabbat và coi đó là ngày thánh.”

Ngày Sabbat còn giúp dân Chúa nhớ đến biến cố giải phóng Israel khỏi ách nô lệ Ai cập. “Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai cập, và Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã giang cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó. Bởi vậy, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi cử hành ngày Sabbat.” (Đnl 5, 15)

Ngày sabbat cũng còn là dấu chỉ giao ước giữa Thiên Chúa và loài người. “Trong sáu ngày, người ta sẽ làm việc, nhưng ngày thứ bảy là một ngày Sabbat, một ngày nghỉ hoàn toàn, dâng Đức Chúa: kẻ nào làm việc trong ngày Sabbat sẽ bị xử tử. Con cái Israel sẽ giữ ngày Sabbat, nghĩa là nghỉ ngơi trong ngày đó, qua mọi thế hệ: đó là một giao ước vĩnh viển. Đó là một dấu hiệu vĩnh viễn giữa Ta và con cái Israel ; vì trong sáu ngày Đức Chúa đã dựng nên trời đất, nhưng ngày thứ bảy Ngài đã ngưng các việc và nghỉ xả hơi.” (Xh 31, 15-17)

“Ban đầu, ngày Sabbat chỉ được coi là ngày nghỉ. Các bản văn xưa nhất của sách Xuất hành không đề cập đến việc cầu nguyện hay tế lễ. Nhưng chẳng bao lâu sau đó, người ta biến ngày ấy thành một ngày thờ phượng, rồi thêm việc tế lễ (Ds 28, 9t), việc thay bánh tiến (Lv 24, 5-8)), qui tụ dân chúng lại trong một buổi họp thánh thiện (Lv 23, 3. 3)” (trg 208)

Việc giữ ngày sabbat ngày càng trở nên quan trọng, nhất là trong thời kỳ lưu đày ở Babylon. Vì không còn đền thờ, người ta tụ họp trong Hội đường để cầu nguyện để đọc Kinh thánh. Các luật lệ về ngày sabbat cũng phát sinh từ đó và việc tuân giữ đần dần trở nên một gánh nặng thay vì ngày Sabbat vì con người. (xem Mt 12, 1-14)

1.2 Ngày của Chúa trong Tân Ước

Chúa Giêsu và các môn đệ vẫn đến Hội đường vào ngày Sabbat để rao giảng Tin mừng (Lc 4, 16-19…) và chữa bệnh (Lc 4, 31-39…). Thế nhưng Người cũng phản đối một số hình thức giữ ngày Sabbat của những Luật sĩ (Lc 13, 10-16: bổn phận bác ái trổi vượt hơn…)

Khi Chúa Giêsu về trời, các Tông đồ vẫn đến Hội đường trong ngày Sabbat. Công vụ 13, 14-42 ghi lại bài giảng của Phaolo trong Hội đường. Người ta chăm chú nghe và hẹn ngày Sabbat sau tiếp. Thế nhưng chẳng bao lâu thì ngày thứ nhất trong tuần trở nên quan trọng: “Ngày thứ nhất trong tuần, chúng tôi họp nhau để bẻ bánh. Ông Phaolo thảo luận với anh em, và vì hôm sau ra đi, nên ông đã kéo dài cuộc nói chuyện đến mãi nửa đêm.” (Cv 20, 7). Ngày đó không chỉ để bẻ bánh nhưng Thánh Phaolo khuyên nên thực hiện những công việc bác ái: thí dụ như trợ giúp giáo đoàn ở Giêrusalem: “Ngày thứ nhất trong tuần, mỗi người trong anh em hãy để riêng ra những gì thu góp được, chứ đừng đợi khi tôi đến rồi mới quyên.” (1 Cor 16, 2)

Như thế người Kitô hữu sơ khai đã đến Hội đường vào ngày Sabbat và giữ luật không làm việc như những người Do thái ngoan đạo khác. Thế nhưng họ còn tụ họp nhau trong ngày đầu tuần, ngày của Chúa để bẻ bánh và có những sinh hoạt riêng với nhau. Kết quả là thờ phượng Chúa, “bẻ bánh” vào một ngày khác, còn nghỉ làm việc vào một ngày khác.

“Việc cử hành ngày Chúa nhật theo Kitô giáo xuất phát từ niềm xác tín: Chúa Phục sinh đã muốn gặp gỡ tín hữu của Người vào chính ngày ấy. Tất cả các soạn giả Tin mừng đều chú ý tới sự kiện Đức Kitô đã phục sinh từ cõi chết và đã gặp gỡ các môn đệ ‘vào ngày thứ nhất trong tuần’” (Mc 16, 2 ; Mt 28, 1 ; Lc 24, 1 ; Ga 20, 1.19). Một tuần sau, Người hiện ra với họ cũng vào ngày Chúa Nhật (Ga 20, 26). Thánh Luca còn cho biết Thánh Thần cũng ngự xuống 50 ngày sau, vào đúng ngày Chúa Nhật (Cv 2, 1-4)” (trg 209-210)

Ngày Chúa Nhật được xác định là “ngày thứ nhất” nhưng cũng còn là “ngày thứ tám” (cf. Ga 20, 26) vì đó là một ngày nghỉ, chuẩn bị cho việc thờ phượng trong thiên thu. “Theo các Giáo Phụ, ngày thứ nhất trong tuần là dấu chỉ sự canh tân đổi mới, dấu chỉ sự phục sinh. Nhưng vì đó đi liền sau ngày thứ bảy, nên ta cũng có thể gọi đó là ngày thứ 8, dấu chỉ ngày tận thế, ngày viên thành vĩnh viển”. Chính vì có khía cạnh cánh chung nầy, mỗi ngày Chúa Nhật mới mang bầu khí chờ đợi sự cứu độ sau cùng và sự hoàn tất vạn vật.

Nhiều tác giả, nhiều Giáo Phụ trong những thế kỷ đầu đã cố gắng giải thích lý do tại sao người Kitô hữu lại không thực hành ngày Sabbat nữa nhưng được thay thế bằng ngày Chúa Nhật: "Những người sống trong trật tự cũ của vạn vật, đã đi tới một niềm hy vọng mới: họ không giữ ngày sa bát nữa, nhưng họ giữ ngày Chúa Nhật, là ngày mà cuộc đời của chúng ta được chúc phúc bởi Chúa, và bởi sự chết của Người". (Thánh Inhatiô Antiôkia).

Còn thánh Justino thì nhắc đến ngày mặt trời: “Vào ngày được gọi là ‘ngày của mặt trời’, mọi người từ khắp nơi trong thành phố lẫn thôn quê tụ tập nhau lại và tham dự bữa ăn Thánh Thể … (Chúa Nhật) chính là ngày họ họp nhau lại vì đó cũng là ngày thứ nhất Thiên Chúa sáng tạo thế giới và là ngày Chúa Giêsu Kitô – Chúa Cứu thế – phục sinh từ cõi chết” (tr. 211)

2. Giữ ngày Chúa Nhật

Thường việc giữ ngày Chúa Nhật được tóm gọn trong hai điều: tham dự Thánh lễ và kiêng việc xác. Thế nhưng nếu chỉ như thế thì là vấn đề của giáo luật hay là kỷ luật của Giáo Hội. Giữ ngày Chúa Nhật như thế không hẳn là một hành vi thờ phượng Thiên Chúa và cũng không hẳn đã giúp cho mình nên thánh hơn, có khi còn ngược lại vì thấy đó là gánh nặng, nhàm chán. Vậy thì giữ như thế nào ?

2.1 Thánh lễ ngày Chúa Nhật

Nếu giữ ngày sabbat thuộc điều răn của Chúa thì đi lễ ngày Chúa Nhật và những ngày lễ buộc là một trong những điều răn của Hội Thánh. Sách Giáo lý Công giáo viết: “Điều răn thứ nhất (vào các Chúa nhật và các ngày lễ buộc, các tín hữu buộc phải tham dự thánh lễ và không làm những công việc nô dịch) đòi các tín hữu thánh hóa ngày mừng Chúa Phục sinh, cũng như những lễ phụng vụ chính để tôn kính các mầu nhiệm của Chúa, của Đức Trinh nữ Maria Diễm phúc, của các thánh, trước hết bằng việc tham dự cử hành Bí tích Thánh Thể, là Bí tích qui tụ cộng đoàn, và tránh tất cả những công việc tự bản chất ngăn trở việc thánh hóa những ngày ấy” (no 2042)

Tuy do Giáo Hội ban hành nhưng điều răn thứ nhất của Hội Thánh được xem như luật của Thiên Chúa vì “một trong những biểu hiện trọn vẹn nhất của tôn giáo, ngoài việc cầu nguyện, là là tế lễ. Đối với người Công giáo và nhiều Kitô hữu khác, tế lễ đúng nghĩa nhất là tế lễ trong thánh lễ… Khi dâng lễ vật tinh tuyền ấy (= Đức Kitô), họ cũng dâng chính bản thân mình, biến lễ tế ấy thành một biểu hiện của chính việc họ tự hiến mình cho Thiên Chúa… Thánh lễ còn là nguồn ân sủng và sự thánh hóa cho những ai tham dự. Trong bữa tiệc Hiệp thông Thánh Thể ấy, các Kitô hữu được chung phần Mình và Máu Đức Kitô… Thánh lễ còn là phương thế tuyệt vời để ta tuyên xưng đức tin chung của mình vào Đức Kitô, để ta nuôi dưỡng và đào sâu đức tin ấy… Bí tích Thánh Thể còn động viên các tín hữu hiệp nhất với nhau trong đức ái và thực hành trong đời sống những gì họ tuyên xưng trong đức tin” (tr. 215) “Ngược lại với cách cử hành Chúa Nhật quá nặng tính cá nhân trước đây, hiện nay ta cần phải nhấn mạnh khía cạnh cộng đoàn của ngày ấy. Không phải cá nhân riêng rẽ, nhưng là cộng đoàn xét như một đoàn thể xã hội phải dâng lời ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa trong ngày đó… Sự đều đặn mỗi tuần của các buổi họp chung ấy cũng rất quan trọng, vì chỉ bằng cách đó tinh thần của Đức Kitô mới được nuôi sống mãi trong cộng đoàn và trở thành chất men làm biến đổi thế giới.” (tr. 219).

“Luật thiết định về việc tham dự thánh lễ ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc là luật cần thiết, trước hết là để định ra được một thời gian và một ngày cho cộng đoàn tụ họp lại thờ phượng Thiên Chúa chung với nhau và cử hành các mầu nhiệm đức tin. Thứ đến, đó là một cách bảo vệ người tín hữu trước khả năng bê trễ và nguội lạnh trong đời sống tâm linh, cũng như nâng đỡ họ trong việc chăm lo đời sống tôn giáo của mình. Tham dự thánh lễ vì đó là điều luật buộc không phải là vô ích và vô giá trị, nếu người ta chấp nhận sự bó buộc ấy là điều chính đáng và bổ ích.” (tr. 220)

Vì thế luật tham dự thánh lễ ngày Chúa Nhật và những ngày lễ buộc không chỉ buộc trong hình thức nhưng còn buộc nặng trong lương tâm. Tuy nhiên có phải cứ bỏ lễ ngày Chúa Nhật và những ngày lễ buộc thì luôn mắc tội nặng ?

“Các công nghị ngày xưa đã có biện pháp kỷ luật đối với các tín hữu bỏ 3 lễ Chúa Nhật liên tiếp. Ta có nên dùng đó làm hướng đi để đưa ra một sự phân biệt kỹ lưỡng hơn khi xét tới mức độ ràng buộc của bổn phận dự lễ ngày Chúa Nhật ? Thường xuyên bỏ lễ Chúa Nhật phải được coi là có tội nặng, nhưng không phải lần nào bỏ lễ cũng đều bị kết tội như thế. Khi xác định dự lễ Chúa Nhật là một bổn phận tự bản chất có sức ràng buộc nặng, ta đã được phép giải thích như vừa kể. Tự bản chất đó là một bổn phận nghiêm trọng, nhưng cũng phải chấp nhận sự việc có thể nhẹ hơn, như thỉnh thoảng bỏ lễ là tội nhẹ. Ngược lại, sự việc có thể trở nên nặng khi số lần bỏ lễ nhiều hơn số lần tham dự.” (tr. 222)

Khi nói tới tham dự thánh lễ trọn vẹn thì phải nói tới tham dự trọn vẹn cả hai phần Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể. Thánh lễ đó có thể được cử hành vào chiều ngày hôm trước theo qui định của ĐGM địa phương. Tham dự thánh lễ trọn vẹn cũng có nghĩa là tham dự bằng cả thân xác lẫn tâm hồn với cộng đoàn. Vì thế thánh lễ truyền hình không phải là lối tham dự trọn vẹn nhưng chỉ dành cho người vì lý do sức khoẻ không thể đến với cộng đoàn. Đừng nên để cho những người ấy cảm thấy mình bị loại ra khỏi cộng đoàn. Nếu có thể được, nên tổ chức những thánh lễ riêng cho họ, nhắc cho họ nhớ cộng đoàn giáo xứ… vẫn luôn cầu nguyện cho họ.

Luật về việc tham dự thánh lễ ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc là luật cần thiết, buộc nặng. Tuy nhiên cũng có luật trừ nghĩa là có những trường hợp không đi dự lễ mà không mắc tội nặng: “người bệnh và người đang dưỡng bệnh, mà nếu đi dự lễ có thể gây thiệt hại ; người ở xa nhà thờ (đi bộ mất một giờ nếu là người khoẻ, đi bộ mất ít hơn nếu là người già và người yếu) ; người quá nghèo không có y phục tươm tất hay không thể trả phí tổn đi lại ; người bị ngăn trở do nghĩa vụ nghề nghiệp hoặc nghĩa vụ của bậc sống, do nghĩa vụ phải cấp cứu hay do các công tác bác ái khẩn cấp ; con cái, vợ hay người làm thuê có thể bị thất sủng nặng nề với cha mẹ, chồng hay với chủ nếu đi dự lễ. Ta được phép thỉnh thoảng bỏ lễ để tham gia một cuộc giải trí cần thiết hay đi du lịch, nếu không có cơ hội khác (chẳng hạn 6 tuần mới được một lần) hoặc nếu đó là cơ hội duy nhất để được ra ngoài. Cũng có thể được miễn khỏi đi lễ nếu có thể vì đó mà bị nhục mạ, như một phụ nữ không kết hôn mà có mang. Không kể những sự miễn chuẩn theo phong tục địa phương… Tuy nhiên các phong tục ấy phải hợp lý hợp tình. Không nên áp dụng các phong tục ấy khi chưa có lý do chính đáng. Các GM (hay Đấng Bản quyền địa phương) và các cha xứ (cf GL no 1245) có thể ban phép chuẩn cho khỏi giữ các ngày lễ.” (tr. 225)

2.2 Nghỉ làm việc ngày Chúa Nhật

Như chúng ta đã biết thuở đầu các Kitô hữu không làm việc ngày Sabbat nhưng tham dự thánh lễ ngày Chúa Nhật. Từ năm 321 khi hoàng đế Constantinô chọn ngày Chúa Nhật làm ngày thờ phượng và nghỉ ngơi chung cho toàn đế quốc Roma thì người Kitô hữu sống trọn vẹn ngày Chúa Nhật: thánh hóa bằng việc đi lễ và nghỉ ngơi để có thời gian thánh hóa ngày ấy. Thế nhưng việc nào bị cấm thì xem ra vẫn còn phức tạp. Chắc chắn người Kitô hữu không giữ như những người Do thái nhưng giữ như thế nào ?

Năm 593, công nghị tại Orléans cấm các việc đồng áng trong ngày Chúa Nhật “vì như thế họ sẽ dễ dàng đến nhà thờ và cầu nguyện hơn”. Martin người Braga cho rằng cần tránh những “việc nô dịch” nhưng không nói rõ công việc nào. Từ thế kỷ 7 việc nghỉ ngơi ngày Chúa Nhật trở nên một bổn phận ràng buộc các Kitô hữu. Tuy nhiên nghỉ ngơi ngày Chúa Nhật là một “khái niệm tương đối được giải thích khác nhau tùy địa phương và thời đại. Theo ý của thánh Tôma Aquinô, ta không được hiểu luật cấm làm việc ngày Chúa Nhật một cách nghiêm ngặt như luật ngày Sabbat của đạo Do thái. Chính vì thế Hội Thánh có thể ban phép dễ dàng hơn cho các Kitô hữu được thi hành một số việc bị cấm.” (tr. 226-227)

Nếu Giáo Hội chú trọng đến việc nghỉ ngày Chúa Nhật thì xã hội chú trọng đến việc tổ chức những ngày nghỉ trong tuần. Xét về phương diện tự nhiên thì không ai có thể phủ nhận giá trị của những ngày nghỉ ấy: để bồi dưỡng cơ thể sau những ngày làm việc mệt nhọc. Tuy nhiên để sinh hoạt trong xã hội không bị gián đoạn thì không thể tất cả mọi người cùng nghỉ một ngày nhất định. Nếu những người nầy đi giải trí thì có những người khác phục vụ việc giải trí. Họ nghỉ ngơi vào một ngày khác thứ hai chẳng hạn. Đồng thời ngày nay nhiều nước đã nghỉ hai ngày (thí dụ thứ bảy và Chúa Nhật hay thứ năm + Chúa Nhật) và nhiều người có thói quen nghỉ week-end tại vùng quê. Tất cả những điều đó gây ảnh hưởng đến nếp sống đạo của người Kitô hữu.

Giáo Hội thì luôn nhấn mạnh đến việc nghỉ ngày Chúa Nhật. Công Đồng Vat. II viết: “Ngày của Chúa là ngày lễ độc đáo (primordial). Vì thế, cần giới thiệu và dạy dỗ cho giáo dân biết cách làm sao để ngày ấy trở thành một ngày tươi vui và nghỉ ngơi (cessation du travail) ” (Phụng vụ 106) Ngừng làm việc là để cho ta có thời giờ để làm việc thờ phượng trong thánh lễ và sống tinh thần thờ phượng suốt cả ngày. Ngừng làm việc như thế giúp cho mọi người khỏi cảnh làm việc như nô lệ (nô dịch). Như thế nghỉ ngày Chúa Nhật là phương tiện để thánh hóa ngày Chúa Nhật vì nghỉ làm việc không phải để lao đầu vào những cuộc ăn chơi bất kể đến sức khoẻ nhưng để dùng thời gian ấy mà vươn lên tới Thiên Chúa.

Vậy thì những việc nào buộc phải ngừng ? Câu trả lời không phải dễ “Thông thường, người ta quen hiểu đó là các việc tay chân có tính cách nặng nề như làm hầm mỏ, đồng ruộng, đánh cá (thuộc khu vực lao động thứ nhất), công nghiệp, xây dựng và thủ công (thuộc khu vực lao động thứ hai). Thế nhưng có người lý luận rất đúng rằng giới hạn việc nô dịch vào các việc lao động chân tay như thế là chưa đủ. Chính vì thế, sau đó người ta đưa ra vấn đề lương bổng làm tiêu chuẩn. Các việc nô dịch là các việc mà người ta có thể qui thành lương nhất định, theo giờ hay theo ngày. (Nếu vậy, sẽ gồm cả khu vực lao động thứ ba, tức là các dịch vụ). Tất cả những việc nầy đều đi ngược với tinh thần nghỉ ngơi của ngày Chúa Nhật, dù chúng được làm không lương đi nữa, mà chỉ vì ích lợi riêng của người làm, chỉ vì nhu cầu tiêu thụ hay vì một mục tiêu đạo đức nào đó” (tr. 230) (only for one’s own utility and consumption or for some pious purpose)

“Chính lý do nội tại của luật nghỉ ngơi ngày Chúa Nhật cũng cấm tất cả các việc làm chuyên môn và cả các sinh hoạt thể thao, giải trí nào ngăn cản ta thực hiện mục tiêu của ngày Chúa Nhật” (tr. 230)

“Nói chung các nhà thần học luân lý cho rằng luật nghỉ ngơi ngày Chúa Nhật là luật buộc nặng, nghĩa là nếu coi thường luật ấy là phạm tội nặng. Nhưng luật cũng chấp nhận sự việc có thể nhẹ hơn như khi làm việc chỉ gây trở ngại ít cho người khác hay chỉ chiếm một thời gian ngắn, v.v… Mặt khác sự vi phạm sẽ càng nặng khi việc càng kéo dài, xáo trộn gây ra cho người khác càng lớn, số người bị liên lụy càng đông (như trong việc xây dựng chẳng hạn).”

Thông thường, làm các việc bị cấm trong ngày Chúa Nhật chừng hai ba giờ là phạm tội nặng. Tuy nhiên cũng cần phân biệt thêm về việc nầy. Đánh giá như thế có thể chấp nhận được, nếu là những việc gây ồn ào, xáo trộn, đặc biệt khi làm việc gần khu vực thờ phượng. Nhưng việc làm tay chân hai giờ hay thậm chí nửa ngày xem ra không gây cản trở lệnh Chúa sâu xa tới mức đáng bị coi là tội nặng. Đành rằng làm việc như thế là đi ngược lại luật nghỉ ngơi ngày Chúa Nhật. Nhưng vi phạm một đôi lần đáng được coi là tội nhẹ thì đúng hơn. Còn người có thói quen làm các việc bị cấm trong ngày Chúa Nhật suốt mấy giờ đồng hồ, hẳn sẽ mắc tội cố tình coi thường các quyền lợi của Thiên Chúa và của cộng đoàn tín hữu, và bởi đó đã phạm tội nặng.

Tuy nhiên luân lý xưa cũng như nay cho biết có những công việc có thể làm ngày Chúa Nhật mà không mắc tội. “Tất cả mọi công việc nội trợ cần thiết đều được phép làm trong ngày Chúa Nhật, như nấu nướng và các việc cần làm ở chuồng trại. Giặt giũ, khâu vá, thêu may không thể làm vào ngày cuối tuần cũng đều được phép. Nếu không gây xìcăngđan, người nông dân đã đi làm xa suốt tuần có thể chăm sóc vườn nhà trong ngày Chúa Nhật.” (tr. 231)

“Cũng được miễn thi hành luật nghỉ ngơi nầy khi có nhu cầu cấp bách và có nguy cơ thiệt hại hoặc mất mát nặng nề cho mình hoặc cho hàng xóm. Người nghèo không thể nuôi thân và nuôi gia đình nếu không làm việc ngày Chúa Nhật thì được miễn luật… Nông dân được phép thu hoạch mùa màng…. vào ngày Chúa Nhật, nếu có bão tố đe dọa, hoặc được phép khai nước trong khi hạn hán. Cũng thế, đối với những việc cần phải làm khi gặp hỏa hoạn, lụt lội, động đất, v.v…”

“Cũng được phép làm các dịch vụ cần thiết cho công ích và an sinh xã hội, như chuyên chở công cộng, phục vụ ở các trạm xăng, chuyên chở công cộng,… bệnh viện… Thợ máy được phép sửa chữa xe cộ để đi lại cho các việc cần thiết hay để các chuyến đi đã khởi hành được tiếp tục, hoặc được phép chuẩn bị đồ nghề và sửa chữa các máy móc cần dùng trong ngày thứ hai. Công nhân được phép làm các việc và các dịch vụ cần thiết để ngăn chặn thiệt hại cho xí nghiệp.” (tr. 232)

Có thể có những trường hợp ta không thể không làm việc liên tục được. Nhưng ngay cả lúc đó, ta vẫn có thể dừng việc, ít là trong khoảng thời gian quan trọng nhất của ngày Chúa Nhật, chừng 16, 12 hay 8 giờ đồng hồ.

Tục lệ địa phương có thể cho phép ta khỏi giữ luật nghỉ ngày Chúa Nhật. Đặc biệt đối với những người buôn bán ngoài chợ và tại các buổi chợ phiên, những người buôn bán công cộng. Các cửa tiệm ở phố thường mở vào sáng Chúa Nhật cho những người từ thôn quê lên tỉnh đi nhà thờ có cơ hội mua sắm.

“Các Giám mục (hay Đấng Bản quyền địa phương) và các linh mục quản xứ được quyền miễn chuẩn cho con chiên của mình khỏi giữ luật nghỉ việc ngày Chúa Nhật, cũng như đối với luật dự lễ vậy.” (tr. 233)

Tác giả Karl H. Peschke cũng đề cập đến vấn đề ăn chay và kiêng thịt: “Những ngày sám hối đền tội buộc phải giữ như một bổn phận trong toàn thể Hội Thánh và ngày thứ tư lễ Tro hay ngày đầu tiên của Mùa Chay, tùy theo các nghi thức. Giữ các ngày nầy là một bổn phận ràng buộc nặng. Phải kiêng thịt vào các ngày thứ Sáu. Còn vào thứ tư lễ Tro hay ngày đầu tiên của Mùa Chay, tùy theo các nghi thức, và vào ngày thứ sáu Tuần thánh, buộc phải ăn chay lẫn kiêng thịt. Hội đồng giám mục mỗi nước có quyền dời các ngày sám hối đền tội, nếu có lý do chính đáng…”

“Tuân giữ một cách cơ bản các qui định vừa kể là một bổn phận nghiêm trọng. Nói cách khác, bỏ hoàn toàn hay gần như hoàn toàn những ngày sám hối đền tội ấy mà không có lý do đều là phạm tội nặng. Còn thỉnh thoảng, trong từng trường hợp cá biệt, có bỏ qua việc ấy thì chỉ là tội nhẹ ; thậm chí có khi đó chỉ là khuyết điểm.” (tr. 236)

Về luật ăn chay thì chỉ được phép ăn một bữa trọn vẹn trong ngày, ban sáng và ban tối ăn ít hơn. Luật nầy buộc những người đã 18 tuổi trọn và chưa tới 60 tuổi. Tuy nhiên có thể miễn vì lý do sức khoẻ hay lao động nặng hay vì hoàn cảnh quá nghèo.

Về luật kiêng thịt thì tuy cấm ăn thịt các loài hữu nhũ và thảo cầm nhưng có thể dùng nước thịt, có thể ăn trứng, các thức ăn làm với sữa, với mỡ động vật ; cũng có thể ăn cá, các thức biển những loài vừa sống trên bờ vừa dưới nước (lưỡng cư) và những loài bò sát. Ở Miền Nam thời xưa có một bài thơ kể ra những con chim có thể ăn trong ngày kiêng thịt. Ăn chay thì phải kiêng thịt nhưng có thể kiêng thịt mà không ăn chay. Luật kiêng thịt áp dụng cho mọi người từ 14 tuổi trọn đến mãn đời. Tuy nhiên cũng miễn trừ cho những người cần phải ăn thịt hoặc không thể có một thức ăn nào khác. Cha xứ có thể ban phép miễn thi hành luật ăn chay và kiêng thịt hay thay bằng hình thức khác khả thi hơn.