
ĐIỀU RĂN THỨ HAI
Điều răn thứ hai dạy: “Ngươi không được kêu tên Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi mà làm điều bất xứng” (Xh 20,7 ; Đnl 5,11)
1. Tôn kính Danh Chúa, tôn kính Thiên Chúa
Nơi dân Israel, tôn kính danh Giavê cũng chính là tôn kính Giavê chính vì thế điều răn 2 cấm sử dụng danh Chúa cách bất xứng bởi vì bất kính với Danh Chúa cũng chính là bất kính với Thiên Chúa. Trong Tân Ước, danh Chúa Giêsu cũng được kể ngang hàng với Thiên Chúa nên cũng nghiêm cấm làm những điều bất xứng đối với danh Người.
Ngược lại người Kitô hữu cần phải sống tích cực hơn: “Họ phải ghi nhớ Danh Thánh ấy trong kính cẩn tôn thờ và yêu mến (Dcr 2, 17). Chỉ được kêu cầu Danh Thánh để chúc tụng, ca ngợi và tôn vinh Thiên Chúa mà thôi.” (GLCG no 2143)
Sách GLCG còn thêm: “Người tín hữu phải làm chứng cho Danh Thiên Chúa, bằng cách can đảm tuyên xưng đức tin. Việc rao giảng và huấn giáo phải thực hiện trong tinh thần thờ phượng và tôn kính đối với Thánh Danh Đức Giêsu, Chúa chúng ta.” (GLCG no 2145)
2. Tội xúc phạm đến danh Chúa
Phạm đến Danh Chúa khi sử dụng tên Thiên Chúa (Cha, Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần) một cách bất xứng. Cũng phạm đến điều răn thứ hai khi xúc phạm đến Đức Maria và các thánh.
2.1 Phàm tục hóa Danh Chúa
Phàm tục hóa Danh Chúa khi sử dụng tên Chúa một cách thiếu sự kính cẩn phải có như khi nóng giận, khi thiếu suy nghĩ, khi nói “Lạy Chúa tôi” mà thực chất không lạy gì hết. Phàm tục bởi vì tuy không xúc phạm đến Danh Chúa, nhưng không tôn trọng đúng mức, không đặt Danh Chúa ở một vị trí xứng đáng nơi lời nói của mình.
Phàm tục hóa Danh Chúa cũng có thể là nói về Thiên Chúa, về các mầu nhiệm Thiên Chúa cách thuần túy khoa học mà không chú tâm đến tính siêu việt của Thiên Chúa. Phàm tục hóa thường chỉ là lỗi nhẹ.
2.2 Lộng ngôn
“Lộng ngôn là xúc phạm đến Thiên Chúa trong lòng hay ngoài miệng bằng những lời hận thù, than trách, thách thức ; là nói xấu Thiên Chúa, bất kính trong lời nói, và lạm dụng Danh Thánh Thiên Chúa… Luật cấm nói lộng ngôn, cũng cấm nói phạm đến Hội Thánh Chúa Kitô, các thánh và những sự thánh. Người ta cũng phạm tội lộng ngôn khi lạm dụng Danh Thiên Chúa để che đậy những hành vi tội ác, để bắt các dân tộc làm nô lệ, để tra tấn hoặc giết người. Lạm dụng danh Thiên Chúa để phạm tội ác là gây cớ cho người ta ghét đạo” (GLCG no 2148)
Như thế lộng ngôn có thể là phủ nhận sự tốt lành của Thiên Chúa. Hành vi này có thể trực tiếp nhắm đến Chúa như “nguyền rủa Chúa đã bất công hay tàn nhẫn, hoặc giơ nắm đấm lên trời, nhổ nước bọt vào hình ảnh hay thánh giá của Người hoặc đạp lên đó” (tr. 253), cũng có thể là gián tiếp như khi “miệt thị người thánh, vật thánh” (tr. 253) Lộng ngôn thường là tội nặng vì “nghịch lại với bổn phận tôn trọng Thiên Chúa và Danh Thánh Người” (GLCG no 2148).
Tuy nhiên, “chế nhạo những hình thức đạo đức có khuyết điểm không phải là nhạo báng, dù có thể nó cũng mang tính gây hấn và công kích một cách nào đó.” (tr. 253) Thiết tưởng ngay cả trong trường hợp này cũng cần hành động một cách thận trọng và nhất là giữ được tinh thần bác ái.
2.3 Lời thề
“Thề là lấy Chúa làm chứng cho điều mình xác quyết, là kêu cầu Thiên Chúa chân thật để bảo đảm mình nói thật” (GLCG no 2150) “Lời thề chân thật và chính đáng cho thấy lời nói con người phù hợp với chân lý của Thiên Chúa. Thề gian là kêu cầu Thiên Chúa làm chứng cho một lời nói dối.” (GLCG no 2151)
Người ta có thể nại đến Thiên Chúa một cách rõ ràng để xác nhận một điều gì đó là thật, là đã xảy ra hay sẽ xảy ra. (Thề có Chúa làm chứng tôi không ăn cắp tiền của người nào đó ; lấy Danh Chúa mà thề trước mặt mọi người là sẽ chỉ nói hay chỉ khai báo sự thật mà thôi). Tuy nhiên nói chung cần phải cẩn trọng khi thề vì muốn thề cần phải có 3 điều kiện:
+ Thề đúng sự thật hay thực sự muốn làm điều thề.
+ Chỉ thề khi cần, không thề bừa bãi.
+ Thề điều có phép làm (cha giải tội không thể thề khai tội người đã xưng với mình)
Khi đã thề thì cần phải giữ. Khi thề giữ bí mật, nếu không giữ thì tội ấy nặng nhẹ tùy theo tầm quan trọng của bí mật ấy. Tuy vậy cũng có trường hợp không phải giữ lời thề hứa khi người khác chưa chấp nhận điều mình hứa với họ.
Sách GLCG no 2152 cũng nói tới tính nghiêm trọng của việc bỏ một lời thề nhân danh Thiên Chúa: bội thề. Bội thề là khi “thề hứa một điều gì, nhưng không có ý giữ hay không giữ lời thề. Người bội thề thiếu lòng tôn kính nghiêm trọng đối với Thiên Chúa, họ làm một việc xấu là phạm đến danh Thiên Chúa.”
Và rồi sách này kết luận (no 2153): “Trong bài giảng trên núi: Chúa Giêsu đã nói đến điều răn thứ hai: “Anh em nghe luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề nhưng hãy giữ trọn lời thề với Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, đừng thề chi cả… Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’ ; ‘không’ thì phải nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ma quỉ” (Mt 5,33-34.37). Như thế Chúa Giêsu dạy rằng, mọi lời thề luôn qui chiếu về Thiên Chúa, và trong mọi lời nói của ta, phải tôn trọng sự hiện diện cũng như sự chân thật của Thiên Chúa. Cẩn trọng khi kêu cầu danh Thiên Chúa, là cách chúng ta tỏ lòng tôn kính sự hiện diện của Người: lời chân thật tôn vinh sự hiện diện của Chúa, lời nói dối xúc phạm đến Người.”
Dù Chúa Giêsu bảo: “Đừng thề chi cả” nhưng truyền thống Công giáo vẫn chấp nhận lời thề theo gương thánh Phaolo: “Phần tôi, có Thiên Chúa chứng giám, tôi xin lấy mạng sống mà thề rằng…” (2 Cr 1,23) Tuy nhiên, vì liên hệ đến vinh quang Thiên Chúa, nên phải rất thận trọng khi thề. Đàng khác, người Kitô hữu không được làm bất cứ điều gì khác có thể làm tổn thương danh của mình vì rất thường, làm tổn thương danh của mình cũng làm tổn thương danh của mọi Kitô hữu và đưa tới việc làm tổn thương Danh Chúa.
[Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau]

