
ĐIỀU RĂN THỨ BẢY & MƯỜI
“Ngươi không được trộm cắp” (Xh 20, 15 ; Đnl 5,19).
“Ngươi không được trộm cắp” (Mt 19,18).
Về điều răn thứ bảy, sách GLCG số 2401 cho biết: “Điều răn thứ bảy cấm lấy hoặc giữ tài sản của kẻ khác cách bất công, cấm làm hại của cải họ bất cứ bằng cách nào. Điều răn này dạy phải giữ công bằng và bác ái trong việc quản lý những của cải trần thế và thành quả lao động của con người. Vì công ích, điều răn này đòi phải tôn trọng quyền chung hưởng các của cải trần thế và quyền tư hữu. Người Kitô hữu cố gắng sử dụng mọi của cải trần thế để phụng sự Thiên Chúa và thực thi bác ái huynh đệ.”
Như thế điều răn thứ 7 nhắm đến việc ai có quyền chiếm hữu của cải trần thế. Để có được của cải, trước tiên chúng ta thử tìm hiểu về lao động: lao động để có của cải.
Lao động không phải là hậu quả của tội, như có nhiều người đã suy luận. Trước khi con người sa ngã, "Đức Chúa là Thiên Chúa đã cất nhắc con người, đặt nó vào vườn địa đàng để nó canh tác và bảo vệ vườn ấy" (St 2,15) (tr. 180)
Sáu ngày sáng tạo và một ngày nghỉ ngơi (ngày thứ bảy) là trình tự thời gian được đặt ra trước mắt dân Chúa như một mô hình và một động cơ để họ cũng sống theo nhịp ấy: lao động vào các ngày trong tuần và nghỉ ngơi vào ngày Sabát.
Khi Thiên Chúa ra lệnh: "Ngươi sẽ làm việc và làm mọi sự trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày Sabbat dành cho đức Chúa” (Xh 20,9t), Thiên Chúa muốn con người có bổn phận phải bắt chước Đấng Tạo Hoá bằng cách dành sáu ngày để lao động và con người trở thành kẻ cộng sự với Ngài trong việc thực hiện kế hoạch của Ngài. Ngài ban cho con người quyền hành và cả nghĩa vụ để điều khiền mọi thụ tạo và khuất phục trái đất. "Hãy sinh sôi cho đầy mặt đất và khuất phục nó, hãy thống trị cá biển, chim trời và mọi loài sống trên mặt đất" (St 1,28)
Người Israen trong Cựu ước không coi lao động là một điều hèn kém, làm hạ giá con người. Các rápbi Do thái thậm chí còn tự hào nếu biết được một nghề có thể nuôi sống mình. Ngược lại ngày nghỉ là một đặc ân không phải chỉ dành cho người tự do. Mọi người, kể cả nô lệ, đều có quyền được nghỉ ngơi.
Luật lao động là luật buộc hết mọi người. Ai cũng phải lao động. Cựu ước cũng rất thực tế khi nhìn nhận sự vất vả cực nhọc đi đôi với lao động. Lao động đã bị ảnh hưởng đặc biệt bởi tội lỗi. "Ngươi sẽ kiếm cơm bánh bằng cách đổ mồ hôi sôi nước mắt" (St 3, 19) Lao động cực nhọc, thường là chẳng thu hoạch được gì, chính là một trong những cách cho thấy sự có mặt của tội lỗi. Những cách khác là lao động thất thường, bạo hành, bất công, tham lam. Công nhân bị cướp lương bổng (Gr 22, 13-17), nông dân phải oằn lưng vì sưu cao thuế nặng (Am 5,11), toàn dân bị chính quyền thù địch cưỡng ép lao động khổ sai (Xh 1, 8-14 ; 2 Sm 12, 31) ; cả các vua của họ cũng đối xử với họ như thế (1 Sm 8,10-18 ; 1 V 12, 1-14) ; nô lệ bị buộc phải lao động và bị đòn vọt (Mt 23, 25-28) Để bênh vực công nhân khỏi bị hà hiếp tàn bạo, luật Môsê đã đưa ra những qui chế xã hội. Làm thuê ngày nào thì phải được trả công ngày ấy (Lv 19, 13), không được quyền bóc lột người làm công (Đnl 24,14t). (trg 181-182)
Bản thân Đức Kitô cũng là một người lao động. Ba phần tư cuộc đời của Người là làm thợ mộc (Mc 6,3 ; Mt 13, 55) Thánh Giuse - cha nuôi và thầy dạy của Chúa Giêsu ở xưởng thợ - đã được các Kitô hữu tôn kính cách chí lý là quan thầy của người lao động. Cũng vậy, các môn đệ gần gũi của Chúa Giêsu hầu hết đều xuất thân từ giai cấp lao động Mt 4,18-22 ; Lc 5, 1-11) (tr. 183)
Tuy nhiên, cần tránh “để công ăn việc làm cuốn hút thái quá. "Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải hễ ai được dư giả, thì mạng sống của người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu" (Lc 12,15) Không được để những lo lắng về các nhu cầu của cuộc sống lấn át những bận tâm về đường thiêng liêng, còn quan trọng hơn - đó là sự cởi mở đón nghe Lời Chúa, cũng như Nước Trời và sự công chính của Nước ấy (Mt 6, 25-34 ; Lc 10, 38-42) (tr. 183)
Khi thấy một số Kitô hữu bỏ công ăn việc làm vì nghĩ rằng Chúa sắp quay trở lại, Phaolô đã cực lực phản đối những ai kết luận như thế. "Nếu ai trong anh em không làm việc thì đừng ăn. Vì chúng tôi nghe có người trong anh em sống nhàn rỗi, lại dây mình vào đủ mọi chuyện, không làm gì hết. Nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chúng tôi ra lệnh và khuyên những người ấy hãy yên tâm làm việc và tự kiếm kế sinh nhai" (2 Tx 3,10-12) (tr. 184)
Nhờ trung thành lao động, người Kitô hữu lo liệu được cho kế sinh nhai của mình. Đây cũng là một cách bảo đảm cho họ được độc lập và tự do. Ngoài ra lao động còn tạo điều kiện cho họ thực thi bác ái và phục vụ những người túng thiếu. "Đừng để kẻ cắp trộm cắp nữa, mà hãy cho nó lao động, làm ăn bằng chính đôi tay của mình, để chính nó cũng có khả năng cứu giúp những người túng thiếu " (Ep 3, 28, cf Cv 20, 35) (tr. 184)
Kinh thánh cũng cho ta hy vọng rằng các thành quả lao động của con người sẽ tồn tại trong thế giới mới: “Bởi thế, hỡi anh em yêu quí, hãy kiên vững, đừng dao động, hãy luôn luôn hăng say làm việc của Chúa, vì ý thức rằng trong Đức Chúa, lao động của chúng ta sẽ không trở thành vô ích" (1Cr 15, 58) (tr. 185)
1.1.3 Quan điểm Thần học về lao động
Thánh Tôma đưa ra bốn mục tiêu của lao động: đem lại cho ta kế sinh nhai mỗi ngày, tránh cho ta khỏi ở không, cội nguồn của nhiều tệ đoan, uốn nắn thân xác ưa phản loạn và cho ta có của dư thừa để làm việc bố thí. Các nhà tu đức ngày xưa còn thêm vào số đó: lao động là để đền tội với tinh thần sám hối và hy vọng nhận được các ơn lành của Chúa… Làm việc với ý hướng làm đẹp lòng Chúa và tuân theo thánh ý Người sẽ giúp cho lao động của chúng ta có được giá trị siêu nhiên. (tr. 185)
Ngày nay mục đích trước mắt của lao động đối với đại đa số vẫn là để nuôi sống mình. Con người phải dựa vào của cải vật chất để bảo tồn sự sống của mình. Con người cần cơm ăn, áo mặc và nhà cửa. Lao động sẽ giúp con người tìm được những của cải thiết yếu cho mình, cho gia đình và cho những người được trao cho mình chăm sóc. Lao động cũng giúp con người có điều kiện thực thi bác ái đối với những người không có và đang cần (MV 67)
Muốn đạt được các mục tiêu của lao động một cách hữu hiệu hơn con người phải liên kết với nhau. Sự hợp tác này sẽ để lại những hậu quả xã hội rất lớn. Tuy nhiên, ta khó lòng coi đây là mục tiêu của các sinh hoạt nhân bản, mà đúng hơn đây chi là một phương thế giúp thực hiện tốt hơn các mục tiêu của lao động.
Sau khi thoả mãn các nhu cầu căn bản của đời sống, con người còn hướng về những mục tiêu khác, những mục tiêu cao hơn của lao động. “Không những con người sẽ giúp thay đổi sự vật và xã hội, mà con người còn phát triển chính bản thân mình. Con người sẽ học được nhiều hơn, sẽ tài bồi các vốn liếng của mình, sẽ đi ra khỏi con người mình và vượt lên trên bản thân mình. Hiểu cho đúng, sự phát triển này còn có giá trị hơn mọi của cải bên ngoài mà con người có thể thu góp. Con người có giá trị ở những gì mình là hơn những gì mình có" (MV 35)
Nhờ lao động con người có thể và cần phải “đặt mình phục vụ anh em đồng loại" (MV 57) Khi chia sẻ những hiểu biết và tài năng của mình cho đồng loại, “con người đã đóng góp được rất nhiều vào việc nâng cao gia đình nhân loại" và "tạo cho các điều kiện sống trở nên dễ dàng hơn cho hết mọi người" (tr. 187)
Sự phát triển con người thông qua lao động là sự tham gia của con người vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Sau khi tạo ra thế giới và xếp đặt đâu vào đó, Thiên Chúa giao nó cho con người để con người khuất phục và thống trị. Trung thành thi hành mệnh lệnh này là đã phục vụ kế hoạch của Thiên Chúa Tạo Hóa ngõ hầu "danh Chúa được ngưỡng mộ trên khắp hoàn cầu (MV 34). Lao động sẽ giúp con người “trở thành người đối tác trong việc đưa tạo vật của Thiên Chúa đến chỗ hoàn thành” (MV 67) (tr. 187-188)
Hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa không chấm dứt với 6 ngày tạo dựng khi thế giới được khai sinh. Nhưng nó vẫn được tiếp tục qua biết bao thiên niên kỷ ; có điều bây giờ nó được tiếp tục với sự cộng tác của con người như những kẻ phụ việc cho Chúa. Ngay cả những sinh hoạt thường nhật tầm thường nhất của con người cũng phục vụ mục tiêu tối cao ấy và vẫn rất cần thiết cho mục tiêu ấy. Đồng thời cũng cần nhớ rằng: một cá nhân cần đến tập thể để thi hành nhiệm vụ ; ngược lại, tập thể cũng cần sự phục vụ của mỗi cá nhân. (tr. 189)
Dựa vào ý nghĩa sâu xa này của lao động, ai cũng thấy rõ "sứ điệp của Đức Kitô không hề ngăn cản con người xây dựng thế giới". Trái lại, họ còn bị ràng buộc chặt chẽ hơn với việc này (MV 34). Người Kitô hữu được mời gọi chu toàn các nghĩa vụ trần gian một cách có trách nhiệm và góp phần vào sự tiến bộ của thế giới, cũng như họ đã được mời gọi tôn kính và thờ lạy Thiên Chúa. "Không được tạo đối kháng giữa một bên là các hoạt động nghề nghiệp và xã hội, với một bên là đời sống đạo" (MV 43) Điều đó có nghĩa là khi nào chu toàn nghĩa vụ trần gian hợp với ý Chúa là con người đã phục vụ kế hoạch cứu độ của Ngài. (tr. 190)
Thế nhưng, Hội thánh không bao giờ quên rằng mục tiêu tối hậu không chỉ là những thành quả đời này. Mục tiêu ấy chính là Thiên Chúa. Người là "tiêu điểm của mọi ước vọng trong lịch sử và văn minh, là trung tâm điểm của loài người, là niềm vui của mọi cõi lòng, là câu trả lời cho mọi khát vọng của con người” (MV 45) Ý định của tình yêu Thiên Chúa là tái lập lại mọi sự trong Đức Kitô, cả những sự trên trời lẫn những sự dưới đất" (Ep 1,10). Tái lập lại mọi sự không phải là tiêu diệt mọi sự. Điều này cũng đúng đối với các thành quả của lao động con người. Tái lập như thế chính là hoàn thành mỹ mãn các thành quả ấy. (tr. 191)
1.2 Nghĩa vụ lao động và nghĩa vụ nghề nghiệp
Lao động là con đường bình thường để con người tự bảo tồn mình. Thông thường nhờ lao động con người thoả mãn các nhu cầu vật chất. Bao lâu còn có khả năng lao động con người phải làm việc để có những gì cần thiết cho đời sống của mình. (tr. 191) Đối với một số người có đủ tài sản, không cần phải làm việc để nuôi mình cũng có bổn phận phải làm việc cách này hay cách khác: "mỗi người đều có nghĩa vụ phải trung thành lao động” (MV 67) vì ai cũng được mời gọi phục vụ đồng loại và cộng tác với Thiên Chúa phát triển tạo vật, dĩ nhiên trong mức độ khả năng của mình.
Trong bối cảnh đó, lao động nói đến ở đây không phải là lao động hiểu theo nghĩa hẹp: lao động tay chân. Mà phải hiểu theo nghĩa rộng hơn là bất cứ hoạt động nào nghiêm túc và có mục đích kể cả việc thờ phượng của những người sống đời chiêm niệm. Hiểu theo nghĩa rộng này, lao động là nghĩa vụ của mọi người. Đó là một bổn phận đối với các cộng đoàn góp phần làm nên hạnh phúc của mỗi người. Đó là đòi hỏi của đức ái huynh đệ. Đó là nghĩa vụ đối với Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên con người để cai quản thế giới và đưa thụ tạo đến chỗ hoàn thành. (tr. 191-192)
Lao động đòi hỏi mỗi người phải chọn nghề trong tinh thần trách nhiệm và chuẩn bị cho mình làm nghề ấy một cách có lương tâm.
Muốn chọn nghề một cách có trách nhiệm thì trên hết phải biết nhìn nhận một cách trung thực tài năng và khả năng của mình (tr. 192-193). Ta chỉ được phép chọn nghề nào mà mình có khả năng thoả mãn tương đối các đòi hỏi đi đôi với nghề ấy. Và ta chỉ nên chọn nghề nào mà trong đó mình tin là có thể phụng sự Thiên Chúa, phục vụ mình và đồng loại cách tốt nhất. Dĩ nhiên đôi khi hoàn cảnh sẽ hạn chế sự tự do chọn nghề của ta rất nhiều. Những lúc đó, trách nhiệm của ta là phải chấp nhận những nghề khả thi trong cụ thể, và quyết tâm xả thân cho những nghề ấy bằng tất cả khả năng của mình.
Sau khi đã chọn nghề, ta có bổn phận luân lý là phải chuẩn bị cho nghề ấy một cách có lương tâm. Chuẩn bị một cách chểnh mảng là phạm tội đối với Chúa, đối với mình và tha nhân. Nếu việc hành nghề đòi phải có một số bằng cấp xác nhận khả năng và sự thành thạo của đương sự, thì ta có bổn phận lớn là phải làm sao có được những bằng cấp ấy một cách lương thiện, không gian lận. Ngoài ra, có liêm khiết và có lương tâm, siêng năng và bền chí trong việc chuẩn bị nghề nghiệp đó là những dấu hiệu khá chắc chắn bảo đảm phẩm chất và mức độ đáng tin cậy thật sự của người ấy trong nghề nghiệp tương lai.
Công nhân hay chuyên viên nào cũng có bổn phận phải làm một cách có lương tâm những việc mà mình đã đồng ý làm, và được trả công.
Có nhiều nghề đòi hỏi người làm phải được huấn luyện liên tục và phải cập nhật sự hiểu biết của mình để có khả năng tương xứng với công việc của mình. Điều này đặc biệt đúng đối với các luật sư, linh mục, giáo viên, và với nhiều nghề khác nữa, dù ở những mức độ khác nhau. (tr. 193-194)
Quan hệ làm việc cũng thường đặt ra những bổn phận luân lý liên hệ đến bản thân người làm nhiều hơn, như phải trung thành, biết tôn trọng và kín đáo. Đặc biệt là những người làm công trong nhà. Có khả năng quan tâm đến con người và biết giữ bí mật là những nghĩa vụ đặc biệt của các linh mục, bác sĩ, những nhà tâm lý trị liệu người cố vấn, luật sư và những người làm các nghề tương tự.
Quyền được làm việc phát xuất từ chính quyền lợi và bổn phận của con người trong việc tự bảo tồn mình, trợ cấp cho những người lệ thuộc mình, và phát xuất từ ơn gọi của con người là cộng tác với Thiên Chúa trong kế hoạch sáng tạo.
Mỗi người đều có quyền kiếm sống bằng một công việc nào đó có ý nghĩa, xứng đáng với một con người. Cản trở người khác kiếm được việc làm phù hợp là vi phạm tới đức công bằng xã hội và đức ái. Đúng ra "xã hội phải có nghĩa vụ... giúp các công dân của mình có những cơ hội để tìm được một việc làm thích hợp" (tr.194-195).
Nền kinh tế quốc gia nhiều khi không tạo đủ công ăn việc làm cho mọi người, thì người thất nghiệp không được đòi hỏi những việc làm không cần thiết hay những việc làm mà chính phủ không có tiền để trả. Tuy nhiên, nhà nước có nghĩa vụ và bổn phận phải đưa ra được một chính sách giúp mọi người có công ăn việc làm.
Theo J.Messner, nhà nước được quyền thi hành bổn phận xã hội đối với tài sản của tư nhân để tạo ra các cơ hội làm việc, nếu thấy cần phải làm thế. "Được quyền lao động mà lại không buộc nhà nước phải thi hành các bổn phận xã hội đối với các tài sản tư nhân thì xem ra cũng chẳng ích gì cho những người lao động vô sản. Vì làm thế là đã trao phó họ cho các giai cấp có của tùy lòng hảo tâm mà đối xử. Nhà nước có quyền và có nghĩa vụ phải làm sao cho người ta thi hành bổn phận xã hội đối với các tài sản tư nhân.
Nếu có khả năng, sẵn lòng làm việc và phải dựa vào tiền công kiếm được để nuôi sống mình mà lại không tìm ra việc, thì người ấy có quyền được cộng đồng trợ giúp. Quyền sinh sống cho phép người ấy được quyền có những phương tiện cần thiết để sống. "Đối với những người không thể lao động, nên trợ giúp họ về mặt kinh tế nhưng trong bầu khí tôn trọng nhân phẩm và thông cảm. Ngoài việc ấy ra, không có cách nào khác giúp thỏa mãn các đòi hỏi của đức công bằng và đức công liêm. Không có cách nào khác chấp nhận được đối với nhân phẩm của người ấy”. Khi lâm vào tình cảnh cực kỳ túng thiếu ta được phép ăn cắp để sống. Tuy nhiên phải cẩn thận khi áp dụng điều nầy vì phải xét xem đâu là hoàn cảnh cực kỳ túng thiếu, cũng như phải lưu ý đến việc ăn cắp để sống khác với ăn cắp để ăn chơi, trụy lạc.
Hiện nay, các quốc gia thường tìm cách giải quyết nạn thất nghiệp bằng các quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Lạm dụng sự bảo hiểm này như trong trường hợp của những người không muốn làm việc hay không thể làm việc vì đã bận làm việc khác như những người giúp việc trong các gia đình, là đã phạm tội gian lận và vi phạm đức công bằng xã hội. (tr. 195-196)
Khi đã làm việc đạt yêu cầu, người lao động cần phải được trả lương tương xứng, nghĩa là được trả lương theo phép công bằng. Vì thế chúng ta thử tìm hiểu về vấn đề công bằng.
2. Trả lương theo phép công bằng
Trước tiên cần hiểu về ý niệm công bằng: Công bằng là gì ?
Thường người ta định nghĩa công bằng là: “một nhân đức bắt buộc người ta phải trao trả cho người khác một cách tương xứng điều mà người ta vướng mắc”. Vắn tắt hơn, công bằng là một ý chí bền vững và thường xuyên trao trả cho người khác điều mà người đó có quyền đòi hỏi". Như thế công bằng là một nhân đức liên quan đến người khác.
Công bằng buộc trả cho người khác cái mà ta mắc nợ. Ta có thể mang nợ với người khác theo 2 cách: hoặc mang nợ một cách luân lý, khi tình và lý tự nhiên đòi ta phải trả ; hoặc mang nợ một cách pháp lý, khi pháp luật cưỡng ép ta phải đền trả.
Công bằng buộc phải đền trả cho người khác một cách tương xứng. Người ta phải đền trả người khác không phải tùy theo mức độ nơi ý muốn của mình, nhưng tùy theo mức độ của chính số nợ mà mình mắc phải.
Có nhiều loại công bằng khác nhau. Sách GLCG no 2411 viết “Các hợp đồng phải tuân theo công bằng giao hoán quy định những sự trao đổi giữa các cá nhân và giữa các tổ chức trong sự tôn trọng đúng mức các quyền lợi của nhau. Công bằng giao hoán phải được triệt để tôn trọng, vì nó buộc con người bảo toàn các quyền tư hữu, hoàn trả nợ nần và tuân giữ các nghĩa vụ đã tự do giao kết. Không có công bằng giao hoán thì không thể có một hình thức công bằng nào khác.”
“Cần phân biệt công bằng giao hoán với công bằng pháp lý quy định những bổn phận công bình của ngưòi công dân đối với cộng đồng, và với công bằng phân phối qui định việc cộng đồng phải thực hiện cho người công dân tương xứng với những đóng góp và những nhu cầu của họ.”
Công bằng thường được phân chia làm hai loại chính:
- Công bằng công cộng, liên quan đến việc thi hành mọi nghĩa vụ đối với đoàn thể hoặc xã hội, để bảo tồn công ích.
- Công bằng riêng tư, liên quan đến việc thi hành quyền lợi của một cá nhân. Công bằng riêng tư lại gồm 2 hình thức, là:
+ Công bằng phân phối đòi buộc đoàn thể hay xã hội phải phân chia quyền lợi cho mỗi cá nhân một cách công bằng.
+ Công bằng giao hoán đòi buộc tư nhân nầy trả nợ hay trả quyền lợi mà người ấy mắc với một tư nhân khác và trả một cách tương xứng căn cứ vào chính sự vật.
Đặc tính mỗi loại:
* Công bằng công cộng đòi buộc mỗi phần tử trong xã hội - tùy mỗi thứ loại xã hội, như Tôn giáo, Quốc gia, Tu viện, Hội đoàn - phải chu toàn mọi nghĩa vụ liên quan để bảo tồn và phát huy xã hội.
* Công bằng công cộng thường cũng được gọi là công bằng pháp lý, vì phần nhiều những thể thức thực hiện công bằng đều đã được pháp luật (giáo luật hay dân luật) qui định một cách rõ ràng. Công bằng pháp lý ngày nay lại được phân thành: công bằng lập pháp, hành pháp, tư pháp: để điều khiển công quyền ; công bằng xã hội: để giải quyết những vấn đề tranh chấp dân sự.
* Công bằng phân phối chú trọng trước hết đến việc duy trì sự tương xứng trong vấn đề chia nghĩa vụ và quyền lợi. Thể theo nhân dức công bằng, các cấp chỉ huy không được thiên vị và tư riêng với bất cứ ai trong việc phân chia trách vụ và quyền lợi của đoàn thể hay của quốc gia.
* Công bằng giao hoán căn cứ việc mỗi cá nhân sẵn sàng trao trả cho cá nhân khác tất cả những gì mà họ có quyền đòi. Gọi là giao hoán, vì đức công bình nầy thường căn cứ trên những hình thức khế ước và giao hữu hoặc minh nhiên hoặc mặc nhiên đã được qui định và thừa nhận trong xã hội loài người.
2.3 Quyền được hưởng lương công bằng
Người làm việc được hưởng tiền lương là tiền được qui định theo hợp đồng để trả cho công việc đã làm theo yêu cầu của chủ, theo như hợp đồng lao động đã qui định.
Lương công bằng là vấn đề chính yếu trong các vấn nạn xã hội. Các hợp đồng lao động luôn luôn được quyết định dựa trên “một yếu tố của sự công bằng tự nhiên, một yếu tố còn quan trọng hơn và còn có lâu đời hơn cả sự ưng thuận tự do của hai bên ký hợp đồng. Đó là tiền lương không được thấp dưới mức có thể nuôi sống một công nhân sống tiết kiệm và ngay thẳng” (RN 63) Mức lương nầy cũng bao gồm cả phần của vợ con (RN 65) Thật vậy, luật pháp nên ủng hộ mức thu nhập nào cho phép một công nhân có thể dành dụm và tự do mua sắm được một tài sản làm của riêng mình (tr. 197).
Lương công bằng phải dựa trên những tiêu chuẩn dựa trên công bằng giao hoán và công bằng xã hội.
2.3.1 Các tiêu chuẩn dựa trên công bằng giao hoán
Đức công bằng giao hoán đòi phải có sự tương xứng giữa việc phục vụ một người làm và tiền công người ấy nhận được. Người công nhân phải nhận được tiền công tương ứng với việc người ấy làm và với sức người ấy đã bỏ ra. Chủ không được phép trục lợi cho mình từ công lao vất vả của người làm công. Lợi nhuận chủ kiếm được hoàn toàn lấy từ phần đóng góp của chủ vào việc sản xuất và quá trình kinh tế.
Tuy nhiên, cần lưu ý là không thể tính toán giá trị cụ thể của sự đóng góp mà người công nhân góp vào sản phẩm cách dễ dàng. Sản phẩm của một công trình kinh tế là kết quả của nhiều thứ. Bên cạnh người lao động còn có ban quản trị, người thầu, tiền vốn (được đầu tư với một sự may rủi nào đó) và mặt bằng. Bởi đó, công nhân không thể đòi toàn bộ số lãi ròng của xí nghiệp. Nhưng họ được quyền có phần trong số lãi đó là phần kết quả của lao động của họ. (tr. 198-199)
Đức công bằng giao hoán đòi hỏi: đã lao động ngang nhau thì phải được lãnh lương ngang nhau. Như vậy, phụ nữ không thể được trả lương ít hơn đàn ông chỉ vì là phụ nữ. Mức hoàn thành công việc trong thực tế phải là cơ sở để quyết định mức lương. Mặt khác, làm việc càng hiệu quả càng phải được trả lương cao. Khi đánh giá lao động, phải xét đến các điểm sau đây: sự hiểu biết về công việc và kinh nghiệm thực tiễn, thời gian đã dành để đào tạo công nhân viên, kỹ năng, trách nhiệm được phân chia, sức lực đã bỏ ra,…
Thi hành các điều khoản qui định trong một hợp đồng lao động đã được ký kết công bằng cũng là một đòi hỏi của đức công bằng. Không thi hành các điều khoản đã đồng ý thì phải bồi thường. Việc này cũng áp dụng cho những trường hợp vi phạm các luật ấn định mức lương tối thiểu. Không chịu trả mức lương tối thiểu không những là vi phạm đức công bằng theo luật mà còn là lỗi đức công bằng giao hoán ; và vì thế phải bồi thường. Tuy nhiên, không phải cứ ấn định được mức lương tối thiểu là bảo đảm mức lương ấy luôn là mức lương công bằng trong mọi trường hợp. Nếu chứng minh được mức lương ấy quá thấp vì một lý do nào đó như vì tiền mất giá hay vì việc làm của công nhân là một việc làm chuyên môn, chủ có bổn phận công bằng là phải nâng mức lương ấy lên. (tr. 199)
2.3.2 Các tiêu chuẩn dựa trên công bằng xã hội
Người công nhân có quyền hưởng một mức lương tương xứng để nuôi sống mình và gia đình trong những điều kiện xứng hợp. Mức lương ấy phải đủ để cung cấp lương thực, để thuê hay mua một ngôi nhà tương đối, để bảo đảm cho con cái được giáo dục phù hợp và cho sức khoẻ gia đình được chăm sóc thích đáng.
Vấn đề được đặt ra là không phải mọi công nhân đều có gia đình đông hay ít người như nhau vì một số công nhân chưa có gia đình. Như thế, quyền hưởng lương đủ nuôi gia đình có buộc người ta phải trả cho mọi công nhân một mức lương đủ để nuôi sống một gia đình trung bình không (gọi là lương gia đình tuyệt đối) ? Có nên thích ứng mức lương ấy cho hợp với số người của gia đình (lương gia đình tương dối) ? Trong phạm vi quyền hạn của xí nghiệp, có lẽ nên qui định cùng một mức lương cho cùng một việc làm. Trợ cấp thêm cho các gia đình đông con sẽ là trách nhiệm của cộng đồng, bằng cách giảm thuế hay cho hưởng phụ cấp gia đình.
Ngoài ra lương còn phải đủ để công nhân có thể chăm lo các nhu cầu tinh thần, văn hoá cho phù hợp với mức sống chung của quốc gia. “Tiền công trả cho sự lao động phải làm sao tạo cho đương sự có phương tiện phát triển đời sống vật chất, xã hội, văn hoá và tinh thần của mình một cách xứng đáng, cũng như đời sống ấy của những người lệ thuộc mình" (tr. 200).
Công bằng còn đòi hỏi lương bổng phải cân xứng với những yêu cầu phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia. Thậm chí phải xét đến cả những nhu cầu của toàn thể gia đình nhân loại. Những đòi hỏi này cho ta thấy công bằng trong vấn đề lương bổng sẽ có hai mặt: một đàng công bằng đòi mức thu nhập của người công nhân phải tăng theo đà tiến của quốc gia trong lãnh vực kinh tế ; đàng khác, công bằng bắt ta phải giới hạn đòi hỏi này cho phù hợp với các nhiệm vụ hiện nay và mai sau của quốc gia.
Trên hết, một nền kinh tế quốc gia phải làm sao hướng tới chỗ cung ứng việc làm cho hết mọi người. Chính vì thế, lương bổng không được cao đến mức cản trở quốc gia tích lũy vốn cần thiết để phát triển công nghiệp rộng lớn hơn. Nếu như một xí nghiệp tư nhân hay thậm chí toàn bộ nền kinh tế quốc gia rơi vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, thì đôi khi đức công bằng xã hội đòi ta phải tạm thời cắt giảm lương bổng và bãi bỏ lương gia đình đầy đủ. Trong những trường hợp ấy nếu cứ đòi mức lương gia đình đầy đủ có thể sẽ gây nguy hại cho xí nghiệp hay cho nền kinh tế quốc gia.
Nhiều khi dành những ưu đãi lương bổng cho một số công nhân đặc biệt cũng có thể đi ngược lại công bằng xã hội. Vì điều ấy khiến người tiêu thụ (trong số này có cả các nhóm công nhân khác) phải trả tiền nhiều hơn cho những sản phẩm của các công nhân đã được trả lương cao ấy. Ngay cả khi đứng trước những sản lượng cao của một số ngành kinh tế do các yếu tố như nhờ phương pháp sản xuất được cải tiến, giá nguyên liệu giảm, thị trường xuất khẩu tốt v.v.., ta cũng không nhất thiết đòi phải cho các công nhân hưởng một mức lương cao hơn. Trong trường hợp đó, theo công bằng xã hội người ta nên giảm giá sản phẩm ấy để mọi thành phần kinh tế được hưởng. Đó cũng là cách an toàn và công bằng nhất để những người đã đóng góp vào việc xây dựng nền kinh tế trước đây và nay đang sống dựa vào trợ cấp tuổi già được hưởng sự thịnh vượng của quốc gia.
Cũng phải xét đến sự phát triển quốc gia trong tương lai. Dân số gia tăng đòi phải sản xuất nhiều hơn các mặt hàng tiêu thụ, đòi phải có nhiều trường học nhiều bệnh viện và nhiều công ăn việc làm hơn. Số người già trong một xã hội càng tăng có nghĩa là chính sách xã hội của quốc gia đó càng phải tốn kém nhiều hơn cũng như những chi cho việc quốc phòng (tr. 201-202).
Sau hết cũng phải hạn chế những yêu sách về lương bổng vì quốc gia này không được phép thu lợi từ quốc gia khác bằng cách trả giá quá thấp cho những nguyên liệu thô hay bằng cách tạo ra những quan hệ thương mại không công bằng. Đồng thời các quốc gia giàu có, kể cả công nhân trong các nước ấy có bổn phận rất quan trọng là trợ giúp cho các nước kém phát triển hơn để mọi người trên thế giới có thể hưởng được những lợi ích từ những tiến bộ của con người (tr. 202).
Từ đó đưa tới vấn đề quyền hưởng dùng của cải mình có. Nói một cách tổng quát hơn, quyền tư hữu.
Công đồng Vat. II (G.S. số 71) viết: “Quyền sở hữu và những hình thức khác của quyền tư hữu trên của cải vật chất giúp cho con người biểu lộ nhân vị, tạo cho họ cơ hội làm tròn phận sự của mình trong xã hội cũng như trong lãnh vực kinh tế. Do đó, cần cổ võ mọi cá nhân cũng như mỗi đoàn thể tiến tới một chủ quyền nào đó trên của cải vật chất. Quyền tư hữu cũng như quyền làm chủ của cải bảo đảm cho mỗi người một lãnh vực cần thiết để cá nhân và gia đình được tự trị. Các quyền nầy cũng phải được coi như nằm trong phạm vi quyền tự do của con người. Sau cùng, những quyền nầy còn là một điều kiến tạo nên tự do của người công dân, vì khuyến khích họ đảm trách và thi hành phận vụ của mình. Ngày nay chủ quyền hoặc quyền tư hữu mặc nhiều hình thức khác nhau và sự khác biệt nầy ngày một gia tăng. Tuy nhiên, không kể đến những tài sản của xã hội những quyền lợi và phục dịch mà xã hội dành cho, tất cả những hình thức sở hữu đó làm cho con người được vững tâm hơn”. Trong số 69, công đồng viết: “Mọi người đều có quyền có một phần của cải đầy đủ cho mình và cho gia đình mình”.
Giáo Hội công nhận quyền sở hữu nhưng không khuyến khích đi tới ích kỷ mà cần phải lưu ý đến việc sử dụng của cải ấy để sinh ích cho những người khác.
Làm chủ là có quyền kiểm soát sự vật này hay hay sự vật nọ. Ngoài chủ nhân ra, không có người nào được quyền dùng hay vận dụng sự vật đó. Tuy nhiên có thể có những ngoại lệ đối với quyền này, nếu một luật cao hơn đòi hỏi như thế chẳng hạn vì nhu cầu của công ích. Không chỉ có tài sản vật chất mà cả những tác phẩm tinh thần và trí tuệ như các phát minh, các sản phẩm nghệ thuật, sách báo, v.v... tất cả đều có thể được làm chủ.
Làm chủ theo đúng nghĩa hay làm chủ trọn vẹn là:
- Có quyền tự do vận dụng vật ấy, nghĩa là sử dụng, tiêu thụ, bán đi, tặng biếu hay trối lại ;
- Có quyền hưởng kết quả sinh ra từ sự vật ấy, bất kể kết quả ấy là do tự nhiên hay do công nghiệp hoá ;
- Có quyền ngăn chặn không cho người khác tác động lên sự vật cũng như có quyền lấy lại khi bị cướp đi cách bất hợp pháp. (tr. 221)
Như thế, người ta có thể làm chủ một vật gì bằng hai cách: hoàn toàn có chủ quyền, hay là chủ quyền bất toàn. Chủ quyền hoàn toàn là quyền sử dụng động sản hay bất động sản theo ý mình trong giới hạn luật định bởi vì đối với người vị thành niên, họ không tự do một mình đứng bán tài sản do họ làm chủ. Quyền nầy gồm có: quyền sử dụng, quyền thu lợi.
Chủ quyền bất toàn là khi chỉ có quyền sở hữu mà không có quyền sử dụng hay thu lợi (trường hợp của những vị thành niên và những người thuê mướn), thì gọi là chủ quyền trực tiếp hay hư quyền ; cũng có chủ quyền bất toàn khi người ấy chỉ có quyền sử dụng hay thu lợi mà không có quyền sở hữu, nghĩa là chỉ được sử dụng vật hay được quyền hưởng dùng hoa trái của vật ấy, nhưng không có quyền vận dụng tùy ý hay làm thay đổi bản chất của sự vật ấy, thì gọi là chủ quyền gián tiếp hay quyền hữu dụng.
Người nắm quyền sở hữu có thể là một cá nhân hay một pháp nhân. Pháp nhân có thể là người của tư pháp hay của công pháp. Các pháp nhân tư pháp có thể là các đoàn thể, các tổ chức tư nhân các hội tôn giáo, v.v... Các pháp nhân công pháp là chính quyền địa phương, chính quyền cấp tỉnh hay quốc gia.
Tài sản sở hữu có thể là những sản phẩm tiêu thụ như lương thực hay quần áo ; những động sản như các trang bị nội thất, dụng cụ, thú vật nữ trang ; những bất động sản như nhà cửa, đất đai, nhà máy ; những sản phẩm trí tuệ như bằng sáng chế và tác quyền ; những vật trao đổi với các sở hữu chủ khác như tài khoản ngân hàng, cổ phần trái phiếu, các bảo hiểm và tiền tệ nói chung.
Như thế, người ta có thể sở hữu về những thứ bên ngoài mình như: ruộng, đất, nhà, xe v.v... ; những thứ của mình như: mạng sống, chi thể... ; cũng có thể sở hữu những thứ khác như: danh dự, địa vị...
- Người ta có thể có chủ quyền hoàn toàn về các vật bên ngoài khi người ta thật sự có được các thứ đó cách hợp pháp. Sách GLCG số 2402 dạy: “Từ khởi thủy, Thiên Chúa trao địa cầu và các tài nguyên cho nhân loại chung sức quản lý, để con người chăm sóc, chế ngự chúng bằng lao động và hưởng dùng hoa trái của địa cầu (x. St 1,26-29). Của cải trong trần gian được dành cho toàn thể nhân loại. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn cho cuộc sống con người khỏi nghèo đói và bị bạo lực đe dọa, Thiên Chúa chia trái đất thành nhiều phần. Cho con người quyền sở hữu của cải là chính đáng để bảo đảm tự do và phẩm giá con người, để mỗi người đáp ứng được các nhu cầu căn bản của họ và của những ai họ có trách nhiệm coi sóc. Quyền này cũng phải nói lên tình liên đới tự nhiên giữa người với người.”
- Người ta có thể sở hữu về những thứ bên trong nhưng có thứ con người có chủ quyền hoàn toàn, có thứ chỉ có quyền sử dụng. Có quyền sử dụng đối với mạng sống, chi thể… và có quyền hoàn toàn đối với những gì phát xuất từ con người, như: các hành vi.
- Con người cũng có chủ quyền hoàn toàn về các thứ như danh dự và địa vị… do công khó mình tạo ra và làm gia tăng. Nhưng đối với thứ nầy, chủ quyền có thể bị một thứ quan trọng hơn làm hạn chế.
Sách GLCG 2403 lưu ý: “Quyền tư hữu của cải do mình làm ra hay nhận được một cách chính đáng, không hủy bỏ việc Thiên Chúa đã ban địa cầu cho toàn thể nhân loại ngay từ nguyên thủy. Quyền chung hưởng của cải vẫn ưu tiên, cho dù sự thăng tiến công ích đòi phải tôn trọng tư sản, quyền tư hữu và việc hành sử quyền này.”
2404 “Khi sử dụng của cải, con người phải coi của cải vật chất mà mình sở hữu cách chính đáng không chỉ như của riêng mình, nhưng còn là của chung nữa: nghĩa là của cải đó có thể sinh ích không những cho riêng mình mà còn cho cả người khác nữa” (x. GS 69,1). Người sở hữu một tài sản là người được Thiên Chúa quan phòng trao cho nhiệm vụ quản lý, để làm cho của cải này sinh hoa lợi và thông phần lợi ích cho người khác, trước tiên là cho những người thân của mình.”
2405 “Chủ nhân của những tư liệu sản xuất, vật chất hoặc phi vật chất, như đất đai hoặc cơ xưởng, những kỹ năng hay nghệ thuật, phải biết chăm lo để lợi tức của chúng đem lại ích lợi cho nhiều người hơn. Những người sở hữu các sản phẩm tiêu dùng, phải sử dụng chừng mực, dành phần tốt đẹp hơn cho người khách, người đau ốm, người nghèo khổ.”
2406 “Vì công ích, chính quyền có quyền và bổn phận điều tiết, việc hành sử chính đáng quyền sở hữu (x. GS 71,4).”
Nếu người ta dễ dàng chấp nhận quyền sở hữu một đồ vật thì quyền sở hữu một con người đặt vấn đề. Con người có thể có chủ quyền đối với một con người khác ? Để trả lời thì cần phải phân biệt: nếu chủ quyền trực tiếp thì không, còn quyền gián tiếp (hay là quyền sử dụng) thì có thể có. Lý do là vì mỗi người có quyền sử dụng thân xác của mình, thì có phép di nhượng quyền ấy cho một người khác. Vì thế người ta nhận làm công việc giúp việc cho người khác, nghĩa là chịu sự sai khiến của người khác, cho dù là suốt đời, nhưng không phải là nô lệ vì điều nầy không hợp với luật yêu thương của Chúa.
Sách GLCG no 2414 dạy “Điều răn thứ bảy nghiêm cấm bất cứ hành vi hoặc dịch vụ nào - vì bất cứ một lý do gì, vì ích kỷ hoặc vì ý thức hệ, lợi nhuận hoặc độc tài - dẫn tới việc nô lệ hóa con người, không nhìn nhận nhân phẩm của họ, mua bán hoặc trao đổi họ như hàng hóa. Tội này xúc phạm đến nhân phẩm và những quyền căn bản của con người vì dùng bạo lực biến họ thành một vật dụng hoặc nguồn lợi. Thánh Phaolô đã ra lệnh cho một chủ nhân Kitô hữu phải đối xử với người nô lệ đồng đạo “không như một nô lệ, nhưng như một người anh em rất thân mến...như một con người, trong Đức Chúa” (Plm 16).
3.2 Quyền sở hữu theo Thánh Kinh
Cách đánh giá của cải và sự giàu có trong Cựu ước và Tân ước xem ra khá khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Cựu ước có khuynh hướng coi giàu có là phúc lộc của Chúa. Còn Tân ước thích nói đến sự không chắc và nguy hiểm của tài sản trần gian. Tuy nhiên, hai quan điểm ấy bổ túc cho nhau vì nếu của cải nguy hiểm và nếu sự hoàn thiện của Tin mừng cốt ở chỗ hy sinh của cải thì đó không phải là vì tự bản chất nó vốn xấu nhưng vì nó dễ dàng ngăn cản ta chân thành yêu mến Thiên Chúa.
Cựu ước coi giàu có là một dấu hiệu được Chúa thương. Thiên Chúa cho những kẻ Người yêu thương được giàu có như Ápraham (St 24,34t), Ixaác (St 26,12-14), … (tr. 222)
Nhờ của cải mà ta được độc lập, được sống đầy đủ và hạnh phúc (Cn 10,15 ; 14,20) …Tuy nhiên, dù có được coi là điều tốt, là phúc lộc, của cải vẫn không bao giờ được giới thiệu là điều tốt nhất. Quý hơn của cải còn có sự bình an trong tâm hồn (Cn l5-16t), sự công chính (Tb 12,8 ; Cn 16,8), danh thơm tiếng tốt (Cn 22,1), sức khoẻ (Hc 30,14-16) Ta không thể mua tình yêu bằng của cải (1V 3,11t ; G 28,15-19, Kn 7,8t) Khôn ngoan là kho báu, là viên ngọc quý đáng ta quan tâm hơn mọi sự (Cn 2,1-4 ; 3,15 ; 8,11).
Ngoài ra, cũng đừng quên của cải có những nguy hiểm của nó. Thật khó sống trung thành khi sung túc, vì sống dễ dãi quá thường làm ta khép kín tâm hồn (Đnl 31,20 ; 32,15).
Quyền có của là quyền cơ bản của con người. Cựu ước coi đó là chuyện đương nhiên. Quyền sở hữu của con người sẽ được bảo vệ bởi trật tự luân lý. Vi phạm quyền ấy sẽ bị phạt. (tr. 223)
Đồng thời Cựu ước cũng rất ý thức tới các bổn phận xã hội đặt ra cho của cải. Luật Môsê đã qui định: khi gặt lúa, hái nho hay ôliu, nông dân phải để sót lại cho cô nhi quả phụ, kiều bào và người nghèo thu lượm (Lv 19,9t ; Đnl 24,19-22) Cứ mỗi ba năm, phải nộp tất cả thuế thập phân tính từ các huê lợi của mình cho các thầy Lêvi và cho người nghèo (Đnl 14,28t ; 26,12-15) Cứ mỗi bảy năm gọi là năm Sabát, phải cho ruộng đồng, vườn nho và vườn ôliu nghỉ ; trồng được gì cũng phải trao cho người nghèo (Xh 23,10t). Một đồng bào Do thái bị mua bán làm nô lệ phải được trả tự do sau sáu năm phục vụ (Xh 21,2 ; Đnl 15,12) Cũng thế, năm ấy mọi vay mượn đều được xí xoá (Đnl 15,1t). Cứ mỗi 50 năm ta lại mừng như năm toàn xá. Mọi bất động sản đã từng mất trong thời gian trước và đặc biệt nhà cửa đã phải bán, đều được trả lại cho sở hữu chủ ban đầu hay cho con cháu họ (Lv 25, 8-34 ; Ds 36,4). Bảo vệ người nghèo, đó cũng là mục tiêu của luật cấm cho vay lấy lời nơi đồng bào mình (Xh 22, 25 ; Lv 36t ; Đnl 23,19t), dù có thể lấy lời nơi người ngoại quốc, vì họ cũng cho vay lấy lời (Đnl 23, 20) (tr. 224)
Những luật này, không thể tìm thấy ở nơi nào khác trong các quy định luật pháp của vùng Cận đông, là một cách ngăn ngừa tình trạng thu góp đất đai và tiền bạc quá nhiều cũng như tình trạng tập trung quyền lực quá lớn vào tay một người trong nước, đồng thời bảo vệ những người kém may mắn hơn khỏi rơi vào tình trạng cùng cực của nghèo khó, cũng như bảo vệ sự tự do và an ninh của mỗi một thành phần trong nước". Tuy nhiên, xem ra các luật lệ này - đặc biệt các luật trong lãnh vực chiếm hữu đất đai vẫn chủ yếu chỉ là những dự phóng lý tưởng rất ít khi được thi hành.
Sau cùng, còn có bổn phận tổng quát là bố thí và làm việc bác ái. “Bởi đó ta truyền cho các nguơì, hãy mở rộng tay với anh em ngươi, với người nghèo, người túng thiếu sống trên đất ngươi” (Đnl 15, 11) Bổn phận thi hành các việc tốt đã ăn vào ý thức luân lý của người dân Israen. (tr. 225)
* Tân ước cũng chấp nhận của cải là một định chế tự nhiên. Bận tâm thực sự của Chúa Giêsu không phải là giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội. Người không tìm cách phân chia của cải trên thế giới này cho công bằng hơn. Quan điểm thuần túy tôn giáo của Người chẳng làm gì hơn là tìm cách loại bỏ hoàn toàn thái độ vô tâm đối với người nghèo, sự khai thác bóc lột của người trên, lòng hận thù ghen ghét của người dưới vì CG đã lấy tình yêu làm quy luật tối thượng (tr. 225-226)
Tuy nhiên, còn có những lời nói khác của Chúa Giêsu xem ra phản ánh thái độ của Người là gạt bỏ những của cải trần gian nhiều hơn. Chẳng hạn Người gợi ý rằng người giàu hầu như không thể vào Nước Trời được (Mc 10, 23-27) Người khẳng định không ai vừa có thể phụng sự Chúa vừa phụng sự của cải (Mt 6,24 ss). Người khuyên ta đừng lo thu góp các kho tàng dễ hư nát trên đời này mà phải lo tích lũy những của không hư nát trên trời (Mt 6,19-21). Những lo toan về của cải sẽ làm nghẹt không cho hạt giống Lời Chúa phát triển (Mc 4,19) (26). Nếu vậy, Chúa Giêsu hẳn phải là một người đã rất thiết tha với lý tưởng khó nghèo. Người coi đó như một điều kiện để tận hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa. Nhất là kẻ rao giảng Tin mừng được mời gọi hãy sống một cuộc sống khó nghèo như Thầy mình (Mt 10, 8-10, 19,21, Mc 6,8t).
Dẫu vậy, Chúa Giêsu không lấy đòi hỏi phải sống nghèo làm chương trình xã hội hay làm quy luật cho tất cả những ai đã nghe Tin mừng của Người. Người cũng đã tự cho phép mình đến dự tiệc tại nhà người giàu có (Lc 7, 36 ; 14,1), chấp nhận trú ngụ tại nhà hai chị em khá giả kia tại Bêtania (Lc 10,38-42 ; Ga 11,1t, 12, 1-8), và chấp nhận sự trợ giúp của các phụ nữ giàu có (Lc 8,2t). Chắc chắn Người không loại khỏi Nước Trời những người bạn ấy cũng như những người như Nicôđêmô và Gioxép thành Arimathê. Bởi đó, ta phải kết luận: việc từ bỏ của cải trần gian là một ơn gọi đặc biệt chỉ dành cho những kẻ đã được Người chọn để theo Người sát hơn (tr. 227).
Nếu thế, có của cải tự nó không phải là điều xấu nhưng của cải có thể trở thành ngẫu tượng. Điều làm ta khó chịu không phải là đã có một người giàu và một Ladarô nghèo khó, nhưng là Ladarô đã muốn ăn những vụn bánh trên bàn của ông nhà giàu, mà không được (Lc 16,19-31). Của cải chỉ có giá trị bao lâu con người biết dùng nó để phục vụ Nước Chúa và đồng bào mình. Người giàu có nên biết rằng của cải thì chóng qua ; vì thế họ cần dùng nó để làm các việc tốt. Làm như thế, họ sẽ tích lũy được tài sản cho đời sống vĩnh cửu mai sau (1 Tm 6,17-19). Bất cứ ai có của đều không được giữ của lại để rồi không cứu giúp một người anh em đang túng thiếu, một người như thế làm sao có thể sống trong tình yêu Chúa ? (l Ga 3,17) (tr. 228).
3.3 Nền tảng luân lý của quyền tư hữu
Đạo đức học Kitô giáo luôn luôn xác tín rằng con người được quyền có của riêng. Quyền này đã được Kinh thánh giả thiết và xác nhận. Quyền ấy cũng là điều mà theo nhu cầu của mình là một ngôi vị và là một hữu thể xã hội, phải được hưởng. Các văn kiện xã hội của các Đức Giáo Hoàng đã coi đây là một quyền tự nhiên và là một nhân tố cần thiết để làm nên trật tự xã hội (tr. 228). Vatican II cũng coi quyền tư hữu là một định chế cần thiết, dù vẫn ý thức rằng quyền này có một số giới hạn (MV 71).
Con người có một ước muốn tự nhiên là được sở hữu. Như thế quyền tư hữu được hậu thuẫn bởi một số lý do xuất phát từ bản tính con người và từ các nhu cầu xã hội. Các lý do ấy là:
- Sở hữu là một phương thế cần thiết để thi hành trách nhiệm cá nhân, thực hiện bản thân mình và phát triển một cách sáng tạo. "Được làm chủ và được kiểm soát riêng các của cải vật chất dưới một hình thức nào đó là góp phần cho nhân cách con người được biểu lộ" (MV 71). Người không có của không thể tự do sử dụng của cải vật chất cần thiết cho việc mình làm. Và điều này sẽ ảnh hưởng một cách tai hại tới sáng kiến và óc sáng tạo của con người (tr. 229).
- Tư hữu bảo đảm cho con người có một sự độc lập nào đó và bảo vệ sự tự do của con người. Những người không có của sẽ phải lệ thuộc rất nhiều vào thiện chí của người làm chủ đất đai, của cải. "Có quyền làm chủ riêng hay làm chủ các của cải vật chất dưới một hình thức nào đó sẽ giúp cho mỗi người có được không gian cần thiết để độc lập, và đó cũng là cách nới rộng sự tự do của mỗi người” (MV 71). Ngoài ra, đó cũng là một nguồn đem lại sự an ninh yên ổn. Sở hữu có thể giúp con người có thể tự lo cho các nhu cầu thường nhật của mình. Người ấy sẽ bớt lệ thuộc vào ý muốn thất thường của người khác. (tr. 230)
- Tư hữu sẽ giúp con người lo liệu được cho việc nuôi sống và dạy dỗ những người được giao cho mình. Đặc biệt đối với các bậc cha mẹ, tư hữu là một phương thế quan trọng giúp họ chu toàn nghĩa vụ của mình đối với con cái. Nghĩa vụ này bao gồm cả việc lo cấp dưỡng, bảo đảm sự an toàn cho con cái trong tương lai. “Một qui luật tự nhiên rất linh thiêng là người làm cha phải lo sao cho con cái có đủ mọi nhu cầu đi đôi với cuộc sống, thậm chí thiên nhiên còn thúc giục con người hãy tìm cách cấp dưỡng và trang bị cho con cái... bằng các phương tiện giúp chúng tự bảo vệ mình một cách xứng đáng trước những rủi ro trong cuộc đời đầy dẫy bất trắc. Người cha không thể làm việc này một cách chắn chắn hơn là sở hữu của cải phong phú và để lại cho con cái" (RN 20). Nhờ những sở hữu ấy, con người cũng có khả năng để giúp đỡ bạn bè và hàng xóm túng thiếu. Ngay cả khi có các dịch vụ an sinh xã hội, một mình chúng cũng không thể đủ sức đối phó với mọi hoàn cảnh bi đát. Chúng phải nhờ đến việc bác ái tư nhân, và điều này chỉ có được khi con người làm chủ những của cải riêng của mình (tr. 230-231).
- Tư hữu dùng để bảo vệ hoà bình trong xã hội, tránh được những cuộc cãi vã và tranh giành. Điều này đặc biệt đúng đối với các tài sản tiêu thụ, nhưng cũng đúng đối với các phương tiện sản xuất. Có của chung sớm muộn gì cũng đặt ra câu hỏi ai là kẻ có đủ tư thế để kiểm soát chúng. Đây chính là nguyên nhân rất mong manh sinh ra đủ mọi cuộc tranh chấp. Chỗ nào không phân biệt rạch ròi của anh và của tôi chỗ ấy chỉ sinh ra những bất đồng và xung đột xã hội. Ta có thể tránh được những điểm xấu này bằng cách xác định rõ các lãnh vực chuyên môn, dựa vào luật tư hữu.
- Tư hữu giúp người ta biết sử dụng của cải cách tốt hơn để phục vụ ích lợi của mọi người. "Cá nhân ít quan tâm tới những gì chung cho hết mọi người. Cá nhân xử sự đối với các điều ấy một cách lơ là hơn, miễn cưỡng phải dành công lao, vất vả và sự xả thân của mình cho chúng". Ngược lại, chính vì hy vọng và có khả năng có được của cải riêng mà cá nhân có thêm tinh thần trách nhiệm, siêng năng và tiết kiệm.
Những lý do trên đây đã chứng tỏ tư hữu là một định chế cần thiết. Nhưng chúng cũng cho thấy tư hữu không phải là một mục tiêu tự nó. Có tư hữu là để phục vụ các nhu cầu con người và xã hội… Như thế, tư hữu không phải là quyền tuyệt đối, mà là quyền được chi phối bởi nhu cầu của cá nhân và cộng đồng. Các của cải vật chất Tạo Hoá ban cho ta là để phục vụ mọi người, chứ không chỉ cho riêng một thiểu số chọn lựa. Bởi đó "không ai được phép giữ cho riêng mình sử dụng những gì không cần, những gì người khác thiếu”. Tắt một lời, “theo giáo lý truyền thống của các Giáo phụ và các thần học gia tên tuổi, không bao giờ được thi hành quyền sở hữu tới mức làm thiệt hại công ích". Nếu có xảy ra sự xung đột “giữa các quyền tư riêng đã có với những đòi hỏi ưu tiên của cộng đồng, thì chính quyền có trách nhiệm phải tìm một giải pháp với sự tham gia của các cá nhân và các tập thể xã hội".
Sở hữu của cải vật chất không phải là giá trị tự thân. Chúng được dùng để phục vụ các nhu cầu của con người. Nếu định mệnh cuối cùng của con người là tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa, thì phải quy hướng các sở hữu vật chất về mục tiêu ấy. Bởi đó, mục tiêu của các thụ tạo không phải là được tích trữ cho thành những kho báu lớn hết sức có thể. Làm như thế là đi ngược lại vai trò của chúng, tức là làm phương tiện phục vụ Thiên Chúa và con người. “Thiên Chúa đã đặt trái đất và tất cả những gì chứa đựng trong đó cho mỗi người và mỗi dân tộc sử dụng. Vì ai cũng phải theo đuổi sự công và phải hiệp nhất với nhau trong bác ái, nên cần phân phối cho mỗi người nhiều của cải trên một căn bản nào đó hợp lý. Bất kể hình thức làm chủ sẽ thư thế nào, tùy theo các cơ chế hợp pháp phù hợp với các hoàn cành vừa khác vừa dễ thay đổi, ta luôn luôn phải chú ý đến mục tiêu phổ quát của mọi của cải được làm ra" (MV 69). (tr. 232)
Hệ luận thứ nhất từ nguyên tắc này là mọi của cải đều luôn luôn có một đặc tính xã hội kéo theo những nghĩa vụ xã hội tương ứng. Con người không có quyền vô hạn định trên tài sản của mình.
Nếu xem nhẹ đặc tính xã hội của tài sản, ta sẽ dễ dàng gây cớ cho xã hội bất ổn và xáo trộn nghiêm trọmg. Thật vậy, không thể chấp nhận sự kiện một người không dùng tài sản thặng dư của mình để phục vụ một cộng đồng đang túng thiếu. “Cách riêng tại các vùng kém phát triển, nơi mà phải khẩn cấp sử dụng mọi tài nguyên, ai để cho tài sản của mình không sinh sản hay không cống hiến cho cộng đồng những sự trợ giúp vật chất và tinh thần cần thiết thì đều là người đã làm thiệt hại công ích nặng nề” (MV 65 ; cf 71) Các chính phủ có quyền cưỡng bách người ta sử dụng các tài sản nhàn rỗi một cách có lợi cho xã hội. (tr. 233)
Hệ luận thứ hai là mọi tài sản phải được đặt dưới các đòi hỏi trong kế hoạch sáng tạo của Chúa. Các của cải trần gian đều phục vụ các nhu cầu và sự mạnh khoẻ của thân xác, phục vụ sự tiến bộ và giúp cuộc sống trở nên đáng yêu hơn. Chính mục tiêu này làm cho của cải trở nên có giá trị. Nhưng đó không phải là mục tiêu cuối cùng của chúng. "Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người trước, rồi mọi sự ấy sẽ trở thành của các ngươi" (Mt 6, 33 ; cf Lc 12, 31).
Như thế không được lấy lợi nhuận hay sự thống trị làm mục tiêu cơ bản của việc sản xuất. Cũng không được lấy việc tham lam tích lũy của cải làm mục tiêu cơ bản, như Kinh thánh đã lên án. Mà đúng hơn, mục tiêu ấy phải là sự phục vụ con người, con người toàn diện, gồm có các nhu cầu vật chất, các đòi hỏi của đời sống trí tuệ, luân lý, tinh thần và tôn giáo. Và khi nói đến con người, ta muốn nói đến mọi người và mọi nhóm người, bất kể thuộc chủng tộc nào, ở đâu trên thế giới. Thế nên, phải tiến hành các hoạt động kinh tế theo phương pháp và qui luật của chúng, nhưng trong giới hạn của luân lý, để chương trình của Thiên Chúa về con người có thể được thực hiện” (MV 64) (tr. 234-235)
Trước khi công bố, tác giả hay nhà sáng chế hoàn toàn có quyền sở hữu đối với tác phẩm hoặc sản phẩm, bởi vì mọi người có quyền lợi hiểu theo nghĩa hẹp đối với các sản phẩm của tài trí mình, vì không gì thuộc riêng cho mình cho bằng tài trí mình. Bởi đó, tác giả một quyển sách có quyền cấm không ai được in ra tác phẩm của mình khi chưa có phép mình: ai lỗi thì bị trừng phạt và phải bồi thường cho tác giả những thiệt hại... Các bài giảng huấn của giáo sư cũng ở trong trường hợp nầy.
Tuy nhiên, sau khi công bố hay xuất bản, thì có người cho rằng tác giả vẫn còn quyền sở hữu hoàn toàn, vì để có thể làm lợi cho tác giả, thì tự nhiên cần xuất bản. Tuy nhiên, lý do công ích đòi buộc là pháp luật phải ban quyền tác giả hoặc đặc quyền sáng chế trong một thời gian bao lâu đó. Trong thời gian ấy, tác giả đích thực có độc quyền và không ai được vi phạm quyền sở hữu hoàn toàn của người ấy. Cũng lý luận như vậy về danh dự tác giả kèm theo tác phẩm. Vì thế nếu ai trích dẫn mà không nói xuất xứ, để người khác lầm tưởng là của mình, thì không ngay thẳng và không thành thật.
Nói chung, pháp luật bảo hộ quyền tác giả hay nhà sáng chế, nhà phát minh. Vì thế, sau khi công bố hay xuất bản, còn giữ độc quyền với một ít điều kiện. Đây là quyền mang tính quốc tế vì thế quyền tác giả ở một nước nầy cũng có hiệu lực ở nước khác. Những đạo luật về quyền tác giả là luật buộc trong lương tâm, ít là sau khi có án tòa. Và theo ý kiến của nhiều người, cũng có thể nói luật nầy buộc trong lương tâm trước khi có lệnh của tòa án để bảo vệ quyền lợi của tác giả.
3.4.2 Quyền sở hữu của con cái
Con cái nói ở đây là những đứa con chính thức hoặc đã được luật pháp công nhận, còn sống dưới quyền cha mẹ. Con cái có thể có chủ quyền trực tiếp đối với các thứ của cải mà chúng có được cách chính đáng như: thừa kế, được tặng, khế ước làm công v.v... Con cái có khả năng làm chủ cũng như ai khác. Do đó, cha mẹ nào sang đoạt tài sản mà người ta cho con mình, có lỗi phép công bình.
Về phần con cái, đối với món tiền tự con cái làm ra thì có quyền giữ lấy, nhưng không được quên thù lao cơm áo cha mẹ ; còn nếu nhân danh người cha mà làm ra tiền, thì tiền ấy thuộc về người cha.
Quyền quản trị tài sản của con cái thì thuộc quyền cha mẹ, hay người Giám hộ, trừ trường hợp đặc biệt thì đã có dự trù cách khác.
Quyền hưởng thụ tài sản con cái thì hoặc thuộc quyền người cha mgười mẹ hoặc thuộc quyền của chính đứa con, tùy theo dân luật ấn định. Nếu dân luật không qui định quyền hưởng thụ của người cha, thì người cha có quyền đòi những khoản chi về cơm ăn, áo mặc, nhà ở. Trong vấn đề nầy dân luật phải được giữ theo lương tâm vì rút ra từ luật tự nhiên.
3.4.3 Quyền sở hữu của vợ chồng
Theo nguyên tắc, tài sản của đôi vợ chồng là tài sản chung của cả hai vợ chồng, chồng hay vợ có thể quản trị tài sản chung đó. Nếu người nào phung phí tài sản chung đó và người phối ngẩu không bằng lòng, thì người ấy lỗi phép công bình và bắt buộc phải đền. Nếu người vợ sợ chồng khó đền trả thì người vợ có thể dùng biện pháp bù trừ bí mật để lo cho mình và con cái. Nói chung mọi hành vi đụng chạm đến tài sản chung, thí dụ: mua bán, cầm cố, v.v.. đều phải có sự ưng thuận của cả hai.
Vợ có quyền lấy của chung để lo cho mình và con cái được sống xứng đáng với địa vị của mình. Nếu chồng khó tính hay keo kiệt thì vợ có thể tự quyền lo liệu việc ấy. Nếu vợ thấy trước, trong trường hợp chồng qua đời, mình sẽ bị bỏ rơi theo phong tục hay theo dân luật, thì vợ có phép cất giấu tài sản để đề phòng cho mình về sau.
Nếu ông chồng là người ăn chơi phung phí, người vợ có thể lấy của chung để lo việc gia đình, vì nghĩ rằng chồng phung phí tài sản như vậy là làm thiệt hại phần tài sản của vợ.
Vợ có phép lấy của chồng để mua sắm cho mình hay để giải trí vừa phải với chị em, mà không cần hỏi xin chồng ; nhưng đừng tiêu xài quá đáng (nhất là cờ bạc v.v..), có hại cho chồng con.
3.4.4 Quyền sở hữu của giáo sĩ
Công đồng Vat. II dạy: “Còn những của cải mình được nhân dịp thi hành chức vụ nào trong Giáo hội, thì đừng kể có luật riêng ấn định thể khác, Linh Mục cũng như Giám Mục, trước hết phải dùng vào việc cấp dưỡng xứng đáng cho mình và để chu toàn chức vụ của mình, phần còn dư các ngài hãy dùng vào lợi ích của Giáo hội hay công cuộc bác ái. Bởi vậy các ngài không được coi Giáo hội như một mối lợi, cũng không được dùng bổng lộc bởi đó mà ra để làm giàu cho mình hay gia đình.” (P.O. số 17)
3.3 Một số phương cách để sở hữu
Phương cách tốt nhất để có quyền sở hữu là lao động. "Lao động của con người, được phô diễn ra trong việc sản xuất và trao đổi hàng hoá, cũng như khi thực hiện các dịch vụ kinh tế, là yếu tố cao quý hơn mọi yếu tố khác trong đời sống kinh tế. Vì những yếu tố khác chỉ có bản chất là những dụng cụ thôi" (MV 67)
Ý thức tự nhiên của mỗi người đòi sự công bằng mách cho người ấy biết con người có quyền đối với các kết quả lao động của mình… Thật là đi ngược với đức công bằng khi lừa gạt một người không cho họ hưởng những gì mà sức lao động của họ đã làm ra. "Đức công bằng có cho phép người nào làm chủ và hưởng dụng cái người khác đã vất vả làm ra không ? Hiệu quả thì đi theo nguyên nhân đã làm ra nó ; cũng vậy thật là công bằng khi để cho thành quả lao động thuộc về tay những người đã thực hiện sự lao động ấy” (RN 16) (tr. 235-236)
Dĩ nhiên, tùy theo sản phẩm ấy là kết quả của lao động và của sự đóng góp từ nhiều phía, như các công nhân, ban quản trị và những người cung cấp máy móc như thế nào, mà ta phải phân chia cân xứng hoa lợi cho các bên.
Nhà khoa học, nghệ sĩ hay tác giả một cuốn sách đều có quyền đối với sản phẩm của mình, đều có đủ tư cách đối với các thành quả vật chất phát xuất từ sản phẩm ấy. Các quốc gia hiện nay, có thể nói là tất cả các quốc gia hiện nay, đều bảo vệ quyền này thông qua các luật lệ về bằng sáng chế và tác quyền. Vi phạm các quyền này là cơ sở khiến ta có bổn phận phải bồi thường, cũng tương tự như vi phạm các quyền sở hữu khác.
Cải thiện trên một nguyên liệu hay trên đất đai thường được gọi là đóng góp công nghệ, chẳng hạn các bức tranh khắc trên gỗ, thêu trên vải, nhà xây trên đất đai. Tuy nhiên, tất cả cũng đều xuất phát từ lao động của con người. Vì thế đóng góp công nghệ cũng tạo cho ta quyền sở hữu như lao động vậy.
Những lời lãi sinh ra do sự tăng trưởng của vật, như hoa quả trên cây, súc vật đẻ con, cỏ gặt, thường được coi là những sự đóng góp của thiên nhiên. Tuy nhiên, vì trước hết phải trồng cây, phải nuôi gia súc, phải canh tác đất đai, nên có thể coi những lời lãi ấy một cách chí lý cũng là kết quả lao động của con người.
Tiền bạc tăng lên do có lời, xem ra đó cũng là một hình thức đóng góp không dính dáng gì với lao động. Tuy nhiên, tiền tiết kiệm chắc chắn là kết quả của công sức con người. Cách này hay cách khác nó phải được dùng để sinh lợi và giúp ích cho sở hữu chủ. Vì đây cũng chính là mục đích của lao động. Bởi đó, tiền lời ở mức hợp lý (khoảng gấp 10 lần tiền lời của ngân hàng) thu được từ tiền cho vay cũng là kết quả lao động của con người, tương tự như hoa quả mọc trên cây mà con người đã bỏ công trồng tỉa (tr. 237).
Chiếm hữu là chính thức giành lấy một vật không thuộc về ai cả, với mục đích biến nó thành của mình. Hành vi chiếm dụng phải là một hành vi có chủ ý và thể hiện ra một cách vật lý. Vật bị chiếm dụng phải ở một mức vừa thôi, để có thể sử dụng được ngay hay chỉ phải chờ trong một tương lai rất gần. Chiếm hữu một vật với số lượng quá lớn - như đất đai chẳng hạn - đến nỗi không thể sử dụng được hay không thể khai thác một cách hữu hiệu được, sẽ không cho ta lý do hiệu lực để đòi tư cách sở hữu chủ. Tích lũy đất đai và các tài nguyên khác một cách vô giới hạn, chỉ với một mục đích là chứng tỏ khả năng kiểm soát và thế lực của mình, sẽ là một sự vi phạm tới quyền tự nhiên của hết mọi người, tức là được chia phần trong các của cải thế gian này như Tạo Hoá đã ban cho (tr. 238).
Đàng khác, cũng không đúng khi chối bỏ quyền của mỗi người trên miếng đất của mình vì hầu hết các phẩm chất có giá trị mà một miếng đất đã canh tác có được đều là do lao động. Lao động quả đã thay dổi chính bản chất của đất đai. Bao lâu con người sử dụng và phát triển một miếng đất cho có ý nghĩa và đầu tư công sức của mình vào đó thì con người cũng có quyền làm chủ miếng đất ấy (tr. 238-239).
Trường hợp chiếm hữu những của tình cờ nhặt được như: của báu, của bỏ đi, của đánh rơi.
- Về những của báu được tìm thấy: Một báu vật đã bị bỏ từ lâu, tới mức không thể tìm ra ai là chủ nhân của nó, theo luật tự nhiên có thể trở thành vật sở hữu của người tìm ra nó. Tuy nhiên, đôi khi dân luật quy định phải chia vật tìm thấy ấy với chủ nhân của nơi mình tìm được báu vật hay với chính phủ. Có khi dân luật cũng xác định quyền của nhà nước là làm sở hữu chủ các báu vật văn hoá và lịch sử nào có tầm quan trọng ở cấp quốc gia. Những luật này ràng buộc ta tận trong lương tâm, miễn là chúng không phải là những luật bất công rõ ràng.
- Vật bỏ đi: Vật bị chủ nhân bỏ đi sẽ thuộc về kẻ muốn làm chủ nó trước tiên, như những vật bị quăng trong đống rác. Hoa quả và mùa màng thường được coi là bỏ đi khi chúng còn sót lại ngoài đồng sau mùa thu hoạch, như cam quýt, hạt dẻ, lúa...
- Vật bị mất: Vật bị mất vẫn còn thuộc về sở hữu chủ nguyên thủy của nó, bao lâu còn hy vọng tìm ra sở hữu chủ ấy.
Người tìm được có bổn phận phải nỗ lực một cách hợp lý để tìm ra sở hữu chủ. Tùy theo giá trị của vật được tìm thấy và hoàn cảnh chung quanh việc ấy, ta sẽ quyết định: theo đức ái mình có bị buộc phải giữ gìn vật ấy không và phải tìm ra sở hữu chủ của vật ấy tới mức nào. Không có bổn phận nào bắt ta phải đi tìm sở hữu chủ nếu vật ấy chẳng có giá trị bao nhiêu và có thể suy đoán nó cũng chẳng quý báu lắm đối với sở hữu chủ của nó. Người tìm ra vật bị mất có quyền được bồi thường về những phiền phức và những phí tổn đã phải chịu. Nếu có cố gắng tìm ra sở hữu chủ mà không thành công, thì đương sự có thể dùng vật ấy như của mình. Cần phải tôn trọng thời hiệu theo dân luật hay khoảng thời gian cần thiết trước khi được phép sử dụng đồ vật.
Theo luật thiết định, các vật tìm thấy ở nhà máy hay công ty, tại văn phòng, cửa tiệm, nhà ga, các trung tâm dịch vụ công cộng, v.v... phải được giao nộp cho nhà chức trách tại một địa điểm đã định như tại văn phòng lưu trữ tài sản bị lạc, nơi đó sở hữu chủ sẽ đến khai báo và lấy lại vật đã mất (tr. 239-240).
Trường hợp chiếm hữu những thú hoang bằng săn bắt. Gọi là “săn bắt ” là khi nào bắt được hoặc giết được một con vật vốn sống tự do trong thiên nhiên. Con vật có thể hiểu là thú rừng, các loài sống dưới nước và trên trời. Thú vật gọi là thú rừng, quen sống tự do trong thiên nhiên ; có thứ gọi là gia súc, như gà, heo, ngựa... quen sống với người ta.
Đối với các thú rừng thì ai bắt được trước hết thì thuộc về người đó, vì không có ai làm chủ nó. Ai gây thương tích hay đánh bẫy được đến nỗi thường tình nó không thoát khỏi được tay người đó, thì coi người đó đã chiếm thủ nó. Tuy nhiên nếu nó thoát được, thì ai bắt được sau đó sẽ làm chủ.
Tuy nhiên ngày nay, hoàn cảnh tại nhiều nước đã thay đổi: nói chung, người ta không còn được phép coi các thú vật hoang dã là loài vô chủ nữa. Ai săn bắn phải là người có quyền săn bắn nhờ đã đóng phí tổn cho phép săn bắn. Phải coi những cuộc săn bắn không có giấy phép hay săn trộm là những hành vi xâm phạm tới đức công bằng giao hoán.
Nhà nước có quyền đưa ra những qui định về việc săn bắn, câu cá hay được săn bằng súng gì, để bảo vệ sinh thái. Nhiều tác giả coi luật ấy không buộc ngặt nếu săn lậu chút đỉnh. Họ cho rằng đó là luật “phạt”. Tuy nhiên đối với luật cấm giết hại cá con, trứng chim hay chim con, thú con v.v… thì có thể là coi đây là luật buộc theo lương tâm để trong tương lai còn có thể tiếp tục khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đó.
Trường hợp các gia súc thì khác. Các gia súc, dù có đi lạc, luôn luôn thuộc về chủ. Cho nên không được giữ lại hoặc giết. Một thú rừng đã được nuôi dạy hay đã được thuần hóa, dù có bay hay chạy tứ tung thỏa thích, vẫn thuộc quyền sở hữu của chủ nhân chúng, nếu bình thường chúng vẫn quay về với nơi do chủ nhân chúng kiểm soát. Tuy nhiên, thú vật hoang đã được thuần hóa nay lại cao chạy xa bay thì không xếp vào loại này và được phép săn bắt. Các luật lệ thiết định của quốc gia thường có đưa ra thêm một số điều khoản liên quan đến vấn đề này. Các luật ấy buộc ta trong lương tâm bao lâu chúng còn hợp tình hợp lý. Nếu gia súc làm hại vườn rau hay ăn lúa, ăn trái... của một người thì người ấy có thể giết nó mà không lỗi công bình, bởi vì mỗi người có quyền bảo vệ mình khỏi bị thiệt hại. Tuy nhiên điều đó chỉ được làm khi không có cách khác để tránh bị thiệt hại, đồng thời phải tương xứng với thiệt hại mình phải chịu.
* Trường hợp chiếm hữu do phát sinh từ những thứ mình sở hữu. Có những thứ do tự nhiên như trái do cây: người sở hữu cây sở hữu trái ; người nào làm chủ con vật mẹ thì cũng làm chủ con vật con… Có những thứ do con người tạo thêm ra thì phần kém giá trị hơn phải nhường sở hữu chủ cho phần có giá trị hơn. Thí dụ A lấy vật liệu của mình cất nhà trên phần đất của B thì chủ quyền nhà không thuộc quyền A, nhưng B phải đền tiền vật liệu. Đó là trường hợp A ngay tình. Còn nếu A gian ý thì phải dời đi mà không được đền bù chút nào. Thực tế thường không xảy ra như vậy.
Trường hợp lấy vải hay gỗ về may áo hay đóng bàn ghế thì nếu vì ngay tình thì thợ may hay thợ mộc đó có thể sở hữu nhưng phải trả tiền vật liệu cho chủ của nó (như đã mua). Nếu vật liệu có giá trị nhiều hơn đồ chế tạo, thì người chủ vật liệu có thể chiếm lấy đồ ấy và trả cho người kia tiền công. Nếu người chế tạo có gian ý, và công khó làm tăng giá trị vật liệu lên gấp bội, Tòa có thể bắt anh ta hoàn trả vật ấy cho chủ vật liệu. Nếu các vật đó có giá trị bằng nhau, thì chia phần giá trị cho mỗi bên. Nếu giá trị của các vật đó có giá khác nhau, thì chủ vật liệu nào đáng giá hơn, có thể chiếm chủ quyền, nhưng phải trả cho bên kia giá trị phần của họ.
3.5.3 Chiếm dụng khi hết sức cần thiết
Theo luân lý xưa nay, khi quá túng thiếu, người ta được phép lấy vừa đủ cho mình để làm dịu bớt nhu cầu của mình. "Nếu lâm cảnh túng thiếu cùng cực, người ấy có quyền lấy nơi tài sản của người khác những gì cần thiết cho mình" (MV 69) Phía người túng thiếu thì có quyền này, còn phía người chủ giàu thì có bổn phận cứu trợ người lâm cảnh cùng quẫn từ những của thặng dư nhà mình hay có bổn phận để cho người ta lấy đi những thứ cần thiết. Theo Tôma Aquinô và Đức Leô XIII đây không những là một bổn phận của đức ái mà còn là một nghĩa vụ của đức công bằng.
Túng thiếu gọi là cùng cực khi đương sự có nguy cơ chắc chắn hay hầu chắc sẽ thiệt mạng, mất sức khoẻ, tự do và các giá trị quan trọng khác, nhưng lại không thể tự cứu lấy mình. Ta cũng áp dụng quyền này để làm dịu nhu cầu của một người thứ ba. Bởi vì hầu hết tài sản cần và bị lấy cắp trong những lúc túng thiếu cùng cực là lương thực, nên người ta còn gọi hình thức chiếm đoạt này là ăn cắp lương thực. Nhưng nói thế không phải là bảo rằng chỉ có lương thực mới được phép lấy khi lâm cảnh túng thiếu cùng cực. Cả y phục, dầu đốt và những vật dụng căn bản khác cũng có thể được lấy với cùng lý do vừa kể.
Ăn cắp lương thực trở thành một việc làm hợp pháp là vì trong cơn túng quẫn quyền sở hữu chung của mọi người được ưu tiên hơn việc phân phối tài sản qua quyền tư hữu, một quyền cũng rất cần thiết trong điều kiện bình thường. Sự sống, sức khoẻ, tự do, và những giá trị khác tương tự đều đáng quý hơn những tài sản vật chất không cần cho sự sống con người. Bởi thế, khi có sự xung đột, các của cải vật chất là những giá trị thấp hơn phải nhường bước cho những giá trị cao hơn.
Muốn được phép ăn cắp lương thực phải có những điều kiện sau đây:
1. Nhu cầu ăn uống phải là nhu cầu tối đa chứ không chỉ là nhu cầu lớn. Nếu là nhu cầu cấp bách thì cũng đã đủ. Một gia đình vẫn còn cái để ăn trong ba ngày, nhưng thỉnh thoảng họ vẫn có cơ hội để kiếm được ; khi không có hy vọng tìm được nguồn cung cấp nào khác, họ mới được phép ăn cắp thức ăn. Nếu mới chỉ có nhu cầu lớn thôi thì chưa đủ cho phép ta làm việc ấy. Tuy nhiên, Jone cho rằng “một người nghèo được phép lấy những vật ít giá trị nếu nhờ đó có thể làm dịu bớt nhu cầu lớn của mình và nếu ước chừng có xin cũng chẳng được gì”.
2. Không có con đường nào khác để có được cái cần thiết, như xin hay ăn xin chẳng hạn.
3. Người bị lắy cắp không ở trong tình trạng cần thiết như ta. Phải làm sao để của cải chỉ bị lấy từ những người không bị thiệt hại nặng do việc mất của ấy, như những người có nhiều của thặng dư chẳng hạn.
4. Không được phép lấy nhiều hơn mức cần phải có để làm nhẹ bớt nhu cầu.
5. Nếu được, ta phải lấy của theo kiểu như vay mượn, nghĩa là khi hết nhu cầu rồi thì sẵn sàng hoàn trả. Tuy nhiên nếu vào lúc lấy mà không có hy vọng gì trả lại, thì không buộc phải trả lại sau này, dù bất ngờ người này có được phương tiện sinh sống.
Người ta đang tranh luận xem một người lâm cảnh túng thiếu cùng cực có được phép lấy một số tiền rất lớn hay một động sản đáng giá không. Vì không ai bị buộc phải cứu mạng mình bằng những phương thế đặc biệt, nên xem ra cũng không ai có quyền lấy những của cải có giá trị đặc biệt. Bởi đó, ta không được ăn cắp một số tiền lớn để trả cho một cuộc điều trị y học tốn kém hầu cứu mạng mình. Nhưng nếu có hy vọng hợp lý rằng sau này mình sẽ trả lại của ăn cắp ấy, thì ta được phép làm. Chẳng hạn được phép lấy xe hơi của người hàng xóm để trốn khỏi một cuộc mưu sát, vì hy vọng rằng sẽ trả lại xe ấy sau này (tr. 283-285).
Một người trong tình trạng túng cực, lấy của người khác, nếu về sau khá giả hơn có buộc người ấy hoàn lại vật đó không ? Nếu lúc tai qua nạn khỏi và vật ấy còn hiện diện, thì buộc phải trả lại cho chủ vì sử dụng không có nghĩa là có quyền sở hữu. Còn nếu người ấy đã tiêu xài rồi, hay người ấy vẫn còn nghèo tuy không nghèo như trước, thì không buộc trả ; nhưng nếu kinh tế người ấy khá hơn nhiều thì vẫn phải trả.
Bù trừ kín đáo là lén lút lấy những gì người ta nợ mình. Thường thường việc này không hợp pháp, vì cứ quen làm thế sẽ gây ra xáo trộn chung, đe dọa tới công ích do đó có nguy cơ lạm dụng, đặt người nợ mình vào tình trạng thua lỗ nếu như phải trả tới hai lần, v.v... Nếu nợ mà không trả, giải pháp thông thường là khiếu nại tới pháp luật, vì chức năng của pháp luật là bảo vệ công dân trước những bất công và tội ác. Tuy nhiên, có những tình huống cá nhân không thể chạy tới lề luật vì gặp những khó khăn lớn, hay vì có thể phải chịu nhiều bất công hơn, như có nguy cơ bị trả thù nặng nề hay khả năng toà án bị mua chuộc. Nếu quả như vậy, thì được phép bù trừ cách kín đáo với những điều kiện sau đây:
1. Phải có quyền hạn chắc chắn và xác thực đối với vật hay điều có liên hệ ở đây. Nếu quyền hạn ấy còn ở trong vòng hồ nghi hay chỉ là quyền hạn xét theo đức ái, chứ không theo đức công bằng, thì không có gì bảo đảm cho ta được quyền bù trừ kín đáo. Quyền hạn có một cách xác thực là khi không được trả đúng lương đã quy định, bị chiết khấu một cách bất công, bắt làm thêm việc mà không trả thêm, hay khi vì nhu cầu hoặc vì sợ mà phải ký hợp đồng với một mức lương bất công rõ ràng. Cũng vậy, khi bị buộc bán dưới giá thì được phép bù trừ bằng cách cân bớt đi.
Quyền hạn ấy kể là không có khi gia nhân chỉ được chủ hứa cho một món quà để tỏ lòng biết ơn ; hay khi đã tình nguyện làm một việc không buộc phải làm theo thoả thuận ; hoặc tự ý làm việc nhiều hơn theo hợp đồng. Quyền hạn ấy cũng kể là không có khi không có nhu cầu phải giúp đỡ, nhưng chủ đã mướn một người chỉ vì thương hại, hay nếu mức lương tuy thấp nhưng đã được đền bù bằng những khoản tiền biếu, cho ăn ngon, v.v..
2. Không thể nào lấy lại sự công bình bằng cách khác mà không gây phiền toái nặng nề. Nếu không có việc này mà vẫn làm việc bù trừ kín đáo thì đó không phải là phạm tội đối với đức công bằng giao hoán và vì thế không có nghĩa vụ phải hoàn trả lại, nhưng là đã phạm đến đức công bằng theo luật.
3. Không được vì làm việc bù trừ kín đáo mà gây thiệt hại cho người khác, như cho người khác bị nghi ngờ trộm cắp. Tuy nhiên, vì đức ái không buộc ta nếu vì thế mà phải chịu phiền phức lớn, nên đôi khi được phép để xảy ra tai hại ấy. Cũng thế, không được làm thiệt hại cho người nợ mình, như lấy một thứ mà người ấy cần để làm ăn sinh sống. Cũng vì lý do đó, ta không được phép làm việc bù trừ kín đáo khi người mắc nợ ta đã lâm cảnh cơ hàn và không cách nào trả nợ được, nếu như về sau kẻ mắc nợ ấy trả được thì ai đã làm việc bù trừ kín đáo sẽ phải hoàn trả lại vật ấy cách nào đó. (tr. 285-287)
Bù trừ cách kín đáo không phải làm mất phép công bình. Ngược lại, khi nào hội đủ những điều kiện cần có, thì việc bù trừ cách kín đáo là điều đúng phép công bình. Bởi vì chủ nợ chỉ lấy lại cái mà người kia theo phép công bình phải trả cho họ, cho nên không thể nói con nợ bị thiệt hại. Vì thế, khi bù trừ rồi, chủ nợ phải nói cách nào để người kia khỏi phải trả một lần nữa. Nếu con nợ vô tình trả lần thứ hai, thì chủ nợ phải hoàn lại. Thường thường nên bù trừ vật cùng một loại với cái mà người kia nợ, thí dụ: mắc nợ tiền thì lấy tiền,v.v... Nếu không thể làm như vậy được, thì mới nên lấy thứ khác để bù trừ.
Nói chung, trong thực hành linh mục giải tội nên thận trọng khi cho phép bù trừ cách kín đáo vì lòng tham thường làm cho sự thật bị bóp méo.
Hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai người hay nhiều hơn nữa nhằm thiết lập hay thay đổi một quan hệ về quyền lợi nào đó. Hợp đồng là một phương thế vô cùng quan trọng để có được quyền sở hữu. Hợp đồng còn được dùng để chuyển nhượng hay thay đổi các quyền hạn khác nhau như quyền giám hộ, quyền hội viên của các hội, quyền nắm giữ các chức vụ, v.v… (tr. 241-242)
Hợp đồng có những yếu tố sau đây:
Đó là thứ mà hai bên nhắm vào để ký kết. Đối tượng ấy có các đặc tính sau:
1. Phải là một điều khả thi. Một khế ước hôn nhân sẽ vô hiệu lực nếu một trong hai bên không có khả năng thực hiện hành vi vợ chồng vì bất lực. Nếu sau khi ký hợp đồng mà sự việc trở nên vô phương thực hiện, thì hai bên không còn bổn phận tuân giữ hợp đồng nữa. Hợp đồng bán một con ngựa không còn hiệu lực nữa nếu con ngựa ấy chết trước khi thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, ai do lỗi mình làm cho hợp đồng trở thành bất khả thi thì có bổn phận phải sửa chữa lại thiệt hại đã gây ra cho phía bên kia. (tr. 243)
2. Phải là một điều thuộc quyền người ký hợp đồng một cách hợp pháp. Không ai có thể bán hay cho thuê những gì không phải của mình. Luật Giáo hội cấm và vô hiệu hoá những hợp đồng mại thánh, nghĩa là bán các chức vụ trong Giáo hội để lấy tiền hay được những sự đền bù tương tự.
3. Phải là điều tốt về mặt luân lý. Không ai được phép buộc mình làm điều xấu bao giờ. Vì thế, nếu một người buộc mình theo hợp đồng trả tiền cho một việc phi luân (như hợp đồng để gian dâm với gái mãi dâm) thì trước khi thực hiện hợp đồng, hợp đồng ấy đã mất hiệu lực. Nếu đã nhận tiền trước cho một việc như thế, đương sự phải trả tiền lại. Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều người, sau khi đã thực hiện hợp đồng phi luân, bên đã nhận có bổn phận phải chu toàn phận vụ của mình, miễn là khi làm thế người ấy không phải phạm thêm tội nào. Cũng vậy, được phép giữ những món tiền trả cho những việc làm phi luân đã thực hiện xong. “Lập luận thường được đưa ra ở đây là dù một hợp đồng để làm điều phi luân là vô giá trị và không có hiệu lực, nhưng trong chính khi làm việc ấy đã có một hợp đồng khác nảy sinh, đó là "hòn đá ném đi, hòn chì ném lại". (tr. 244)
Nếu trong khi thực hiện hợp đồng mà làm hại tới một người thứ ba (như khi cướp bóc hay ám sát), ta phải trả tiền đã nhận được, để bồi thường cho các nạn nhân. Tặng quà để hối lộ không ảnh hưởng gì tới một hợp đồng đã có hiệu lực. Nhưng ai cho hay nhận sẽ mắc tội nặng.
4. Phải là một điều có thể quy ra tiền được nếu như một trong hai bên ký hợp đồng muốn trả bằng tiền.
Có những hợp đồng hay giao kèo không được luật pháp công nhận, nhưng đôi khi lại ràng buộc hai bên theo lương tâm. Chẳng hạn những hợp đồng đánh cược không được dân luật công nhận nhưng buộc phải thực thi theo lương tâm. Vì thế, phải trả tiền đánh cược theo đúng những điều khoản hai bên đã đồng ý.
3.5.5.2. Khả năng của các bên hợp đồng
Theo luật tự nhiên, ai sử dụng được trí khôn, đủ sức hiểu những gì mình đang làm, đều được phép ký hợp đồng. Thường thường dân luật qui định cụ thể những ai có khả năng và không có khả năng ký hợp đồng. Những người bị điên, những người nghiện rượu mãn tính và những người ăn tiêu phung phí thường không được ký hợp đồng (tr. 245).
3.5.5.3 Sự ưng thuận trong hợp đồng
Muốn sự ưng thuận trong hợp đồng có hiệu lực, phải có bốn đặc tính sau đây:
1. Phải có sự ưng thuận trong lòng. Nếu không có ý ký kết hợp đồng thật sự, thì sự ưng thuận ấy không có giá trị. Thần học luân lý dạy rằng bên ký hợp đồng nào cố tình kềm hãm không ưng thuận trong lòng thì hoặc phải thi hành những gì mình đã hứa khi ký hợp đồng hoặc phải bồi thường hết những tai hại đã gây ra cho phía bên kia. Nếu ý hướng của ta là ký hợp đồng thật sự, nhưng không muốn thi hành bổn phận kèm sau đó thì hợp đồng vẫn hiệu lực (tr. 246).
2. Phải là sự ưng thuận hỗ tương. Cả hai bên đều phải cùng đồng ý về cùng một việc. Tuy nhiên, không buộc hai bên phải cùng có mặt hay phải ký kết bằng việc đích thân và trực tiếp trao đổi với nhau. Để tránh những sự kiện tụng tranh chấp, luật thiết định thường ấn định trong một thời gian nào đó bên này phải nhận được sự ưng thuận của bên kia. Sau khoảng thời gian đó, lời đề nghị coi như không còn nữa.
3. Phải là sự ưng thuận được bày tỏ ra ngoài. Người ta phải bày tỏ một cách nào thấy được sự đồng ý của mình đối với đề nghị nằm trong bản hợp đồng.
Để tránh những khó khăn, luật thiết định thường quy định những công thức rõ ràng. Các hợp đồng thuộc loại này được gọi là các hợp đồng trang trọng, ngược với các hợp đồng không trang trọng vì không theo những thủ tục đã quy định ấy. Khi nào các thủ tục đã quy định không được đưa vào hợp đồng thì gọi đó là hợp đồng không trang trọng. Những hợp đồng không trang trọng có thể không được thừa nhận tại các toà án và có thể bị một phán quyết của toà án vô hiệu hoá. Tuy nhiên, theo một ý kiến rất có nền tảng, những hợp đồng không trang trọng ấy vẫn ràng buộc ta trong lương tâm (trừ khế ước hôn nhân) cho đến khi toà án công bố nó vô hiệu. Cũng nên lưu ý là dù có một số hợp đồng không thể được luật tuyên bố là có hiệu lực, nhưng chúng vẫn có thể ràng buộc ta trong lương tâm (tr. 247).
4. Phải là sự ưng thuận tự do và có suy nghĩ đầy đủ. Như vậy, hiểu sai, sợ sệt và bị áp lực có thể làm giảm hiệu lực của một hợp đồng.
Một hợp đồng bị coi là vô hiệu khi bên này thì coi là tặng biếu, bên kia thì coi là mua bán ; hoặc bên này muốn mua vải đen để may một bộ đồ đặc biệt, nhưng vải họ nhận được lại là màu xanh. Nếu sai lầm ấy chỉ có tính cách phụ thuộc, thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Tuy nhiên, những hợp đồng như thế ngày nay đã được hủy bỏ, nhất là khi chúng được ký kết do lừa đảo.
Sự sợ hãi nghiêm trọng gây ra cho một người một cách bất chính để ép người ấy đồng ý với một hợp đồng nào đó, sẽ cho người ấy quyền hủy bỏ hợp đồng, dù ngay từ đầu hợp đồng ấy vẫn có hiệu lực. (tr. 247)
Luật thiết định còn tuyên bố những hợp đồng được ký kết do sự hãi quá lớn và không chính đáng sẽ không có hiệu lực hay ít ra có thể hủy bỏ được. Theo giáo luật, các hợp đồng sau đây sẽ trở thành vô hiệu lực nếu được ký kết dưới áp lực của sự sợ hãi quá lớn và không chính đáng: khế ước hôn nhân, vào năm tập, tuyên khấn trong đời tu, bầu chọn trong hàng ngũ giáo sĩ, từ chức và hưởng bổng lộc.
3.5.5.4 Các bổn phận nảy sinh từ các hợp đồng
Một hợp đồng ràng buộc ta theo đức công bằng, và ràng buộc nặng hay nhẹ là tùy vào bản chất của sự việc được ký kết. Bổn phận bồi thường những thiệt hại do việc phá vỡ hợp đồng gây ra cũng vậy. (tr. 248)
Hợp đồng phải được thực hiện theo ý của các bên được ký kết và theo cách giải thích của thói quen cũng như hoàn cảnh. Nếu đối tượng của hợp đồng bị tiêu hủy do lỗi luân lý của một trong các bên, thì bên ấy phải chịu trách nhiệm thiệt hại đã gây ra.
Ai trì hoãn thực hiện hợp đồng một cách không chính đáng và bởi đó gây thiệt hại cho bên kia thì phải sửa chữa thiệt hại ấy. Nếu trong hợp đồng có một điều khoản ấn định thời gian để thực hiện, bằng không sẽ bị phạt tiền, thì bên nào không giữ đúng thời hạn có bổn phận phải nộp tiền phạt.
Thật ra, cần phải có tinh thần Kitô giáo đối với những sự đột xuất và tình trạng thiếu khả năng một cách không chính đáng của một bên nào đó trong việc thực thi các điều khoản đã quy định.
Mua bán là một hợp đồng qua đó người bán chuyển quyền sở hữu một vật sang cho người mua để lấy tiền, còn gọi là theo một giá trị nào đó.
Nguyên tắc luân lý căn bản hướng dẫn mọi hành vi thương mại là: hợp đồng mua bán phải là một sự phục vụ đích thực và góp phần vào sự an sinh chung. Đạo đức phục vụ phải là động cơ hành động của những người tham gia trong lãnh vực này. Hợp đồng mua bán cần phải có:
- Giá cả công bằng. Vấn đề quan trọng nhất của các hợp đồng mua bán là vấn đề giá cả công bằng. Đức công bằng đòi phải có sự đồng đều căn bản giữa cái cho và cái nhận. Tuy nhiên, không được coi giá cả công bằng là một số tiền đã được ấn định chính xác, có thể tính toán theo toán học. Nhưng đó là số thành của giá sản xuất (kể cả phí tổn tồn trử và chuyên chở), chi phí quảng cáo, huê hồng cho người buôn bán, thuế và tầm mức hữu ích của sản phẩm đối với người mua. Cũng phải xét đến mối tương quan giữa giá cả của sản phẩm với các giá cả khác, với toàn bộ giá cả trong một vùng hay trong một nước (tr. 251).
Bán trên giá cao nhất hay ép giá hạ xuống dưới mức thấp nhất thường thường là một tội phạm đến đức công bằng và buộc phải hoàn trả. Một trường hợp ngoại lệ đối với luật này là bán đấu giá, đã được luật pháp và phong tục cho phép. Mặc cả nhằm mục đích để tiến tới một giá được hai bên chấp nhận không phải là một việc bất công.
Cũng có lý thuyết cho rằng giá cả công bằng là giá mà ta nhận được không cần phải đánh lừa hay gian dối. Điều này có thể đúng cho những thời kỳ tương đối thịnh vượng ; nhưng trong những thời kỳ khủng hoảng như suy thoái kinh tế, những lúc chiến tranh và hậu chiến và những khi suy sụp kinh tế, nguyên tắc đó có thể đưa tới tình trạng khai thác tàn nhẫn và bất công đối với những người túng thiếu. Không thể gọi là công bằng khi bán một vật cao hơn giá trị của nó hay mua rẻ hơn giá trị của nó, chỉ vì một trong hai bên lâm vào tình thế sa sút. Chúng ta không được phép làm ăn trên những nhu cầu của người khác. Luật này áp dụng đặc biệt hơn cả cho các lương thực căn bản và các nhu cầu khác của đời sống.
Lợi dụng tình hình thị trường chốc lát để mua hay bán có lời hơn là một việc làm được phép trong một giới hạn nào đó. Một người mang rau quả ra một thị trấn bên cạnh để bán có lời hơn nhờ giá cao hơn do sự khan hiếm nhất thời tại nơi ấy không vi phạm đức công bằng giao hoán.
Để ngăn chặn những sự lạm dụng, nhà nước có quyền và nghĩa vụ ấn định những giá cả hợp pháp và công bằng. Tuy nhiên, trên nguyên tắc đây chỉ là những biện pháp đột xuất khi không thể dùng các phương thế khác để tạo lập giá cả công bằng. Giá cả ấn định cách cứng nhắc thường đẻ ra nạn chợ đen, sinh ra tệ đoan cho vay nặng lãi như kinh nghiệm đã cho thấy. Giá hợp pháp là giá buộc ta trong lương tâm, bao lâu chưa chứng minh đó là giá bất công rõ ràng hay bao lâu giá ấy chưa bị đại đa số bỏ. Nếu giá hợp pháp được ấn định vì lợi ích của người bán, ta sẽ phạm tội đối với đức công bằng khi bán giá rẻ hơn, khiến cho các đồng nghiệp bị thua thiệt.
Nếu không có giá cả ngoài thị trường (thường là giá phổ biến) hay giá cả hợp pháp thì phải để cho kẻ mua người bán thoả thuận với nhau cách tự do, không khiến cho bên nào bị lừa gạt hay gian lận, hay phải nhờ đến sự đánh giá của người chuyên môn. Các tác phẩm như nghệ thuật, các vật lạ, vật cổ, sách quý, v.v... có một giá trị riêng đối với những người quen thuộc với các mặt hàng ấy, cho phép có những chênh lệch rất lớn. Nhưng cả trong lãnh vực này ta cũng không được phép khai thác sự không biết của người bán hay người mua.
- Mặt hàng: Sai lầm về bản chất hay đặc tính căn bản của mặt hàng sẽ làm hợp đồng mua bán trở nên vô giá trị. Có sai lầm đó là khi người mua và người bán tưởng rằng vật ấy chỉ là loại đồ trang sức giả, đang khi đó là đá quý thật sự, hay ngược lại. Hoặc khi người mua muốn mua hàng có phẩm chất chính hiệu, thuần khiết (như rượu thật) mà lại nhận hàng thứ cấp hay đã giả mạo (như rượu làm từ nước cam), dù giá cá có hạ (tr. 252-253).
Nếu người mua lẫn người bán đều không biết giá trị thật của đồ vật và cả hai đều không biết giá cả như thế có xứng với giá trị thật của vật không, thì hợp đồng vẫn hiệu lực vì trong trường hợp này cả hai đã đồng ý về giá trị của một hợp đồng bấp bênh, may rủi rồi. Nếu không biết giá trị của hàng hoá vì sai lầm chung của công luận, phản ánh qua giá cả phổ biến thì hợp đồng vẫn có hiệu lực và vẫn công bằng. Chẳng hạn một người mua bán các tác phẩm nghệ thuật mua rẻ một bức tranh mà theo công luận không có giá trị cao, nhưng bản thân người ấy nhìn ra đó là kiệt tác.
Sai lầm về một đặc tính phụ của mặt hàng không làm cho hợp đồng mua bán trở nên mất giá trị, nhưng đôi khi nó làm cho hợp đồng có thể bị hủy bỏ. Nếu người mua không hỏi về những khuyết điểm phụ, thì không buộc phải cho biết, miễn là giá cả vẫn công bằng và không hề có sự lừa gạt ở đây. Tuy nhiên, nếu người mua hỏi về những khuyết điểm ấy thì phải cho biết, trừ khi đó chỉ là sự hỏi thăm chung chung và đồ vật vẫn phục vụ người mua cách tốt đẹp. Nếu người bán không cho biết những khuyết điểm của mặt hàng, dù người mua có hỏi thăm, thì hợp đồng vẫn hiệu lực, nhưng nó có thể bị hủy bỏ nếu nắm chắc được một khi biết những khuyết điểm ấy chắc chắn người mua sẽ không lấy hàng. Còn nếu nắm chắc được người ấy vẫn mua dù biết, thì chỉ cần hạ giá xuống trong mức công bằng.
Di chúc hay chúc thư là một lời tuyên bố về cách sử dụng tài sản của mình sau khi chết. Có thể coi đó là môt hình thức hợp đồng cho không. Người lập chúc thư chuyển quyền của mình đối với tài sản của mình cho những kẻ thừa kế. Để việc chuyển nhượng này có hiệu quả, nó phải được người thừa hưởng chấp nhận. Cũng như muốn cho các hợp đồng nói chung được hiệu lực, người lập chúc thư phải có khả năng sử dụng trí khôn và đã đủ tuổi. Theo luật của một số quốc gia, ngay cả những người 18 tuổi hay thậm chí trẻ hơn nữa cũng đã có khả năng làm di chúc. Những chúc thư được làm do áp lực hay do sợ hãi thái quá cách không chính đáng đều vô hiệu. Những điều kiện kèm với chúc thư mà vô luân, bất hợp pháp, bất khả thi đều không có giá trị (tr. 253-254).
Thường nhà nước cũng có quyền và nghĩa vụ để giám sát quyền thừa kế cũng như ấn định các chi tiết của quyền ấy một cách rõ ràng hơn. Dù vẫn phải bảo vệ quyền của người lập di chúc là tự do sử dụng của cải mình có, nhưng đồng thời cũng phải liệu sao bảo đảm cho vợ con người ấy cũng có phần mình trong số tài sản ấy. Để ngăn chặn sự lừa gạt và bảo đảm sự bình an trong cộng đồng, nhà nước có quyền đưa ra những quy định để một di chúc có giá trị pháp lý. Đánh thuế trên tài sản không phải là không chính đáng, miễn là vẫn nằm trong giới hạn của việc ấy.
Thủ tục pháp lý là những điều mà dân luật đòi để một di chúc có giá trị trước mặt pháp luật. Nói chung, một di chúc được viết ra sẽ có hiệu lực, nếu được ký nhận bởi người lập di chúc và hai nhân chứng, với ngày tháng và nơi ký lập hẳn hoi. Nếu người trối không biết viết thì phải làm dấu. Đôi khi dân luật cũng cho phép người đại diện ký thay cho người trối theo những chỉ thị rõ ràng của người trối và trước mặt người này. Nhưng không phải vì thế mà những chúc thư bất hợp lệ về hình thức không có hiệu lực theo lương tâm. Cả trong những trường hợp này ta vẫn phải tôn trọng những ý muốn của người trối và vẫn phải thực hiện chúc thư của người ấy, miễn là chúc thư ấy hợp lý và bảo đảm được tính trung thực của di chúc. Nhưng dù các di chúc không đúng quy định, thường bị phi bác ở toà, ta vẫn phải chấp hành quyết định của tư pháp, vì sự bình an và ổn định chung (tr. 255-256).
Điều 1299 khoản 2 trong giáo luật yêu cầu các người thừa kế phải thực hiện những di chúc phục vụ các mục tiêu đạo đức, dù di chúc không được soạn thảo đúng quy cách. Tuy nhiên, các người thừa kế luôn luôn được phép đòi phần mà theo luật mình có quyền hưởng, kể cả những di chúc phục vụ những mục tiêu đạo đức. Những đạo luật của dân luật nào vô hiệu hoá các di chúc phục vụ các mục tiêu đạo đức đều là những đạo luật bất công.
Luật tự nhiên buộc người lập di chúc phải để một phần tài sản của mình lo cho người họ hàng gần nhất, đặc biệt là vợ con, là những người cần được giúp đỡ. Người ấy cũng có bổn phận lớn là giúp đỡ cha mẹ, anh chị em nếu họ đang túng thiếu nghiêm trọng ; thậm chí việc này còn ưu tiên hơn cả những việc đạo đức. Phải tránh mọi hình thức thiên vị. Không được kỳ thị đứa con này đứa con nọ trừ khi có lý do nghiêm trọng. Không buộc để lại mọi sự cho con cái hay những người họ hàng gần khác, nếu họ đã được chu cấp đầy đủ. Thật là đáng khen, nếu người trối cũng nhớ tới những người nghèo và những mục tiêu tốt đẹp khác trong di chúc của mình.
Không buộc phải làm di chúc, nếu dân luật đã có quy định về việc phân chia tài sản, khi người chết không để lại di chúc. Tuy nhiên, nếu thấy không có di chúc sẽ sinh ra nhiều cuộc cãi vã gay gắt, thì buộc phải làm di chúc. Hoặc khi công trạng của con cái rất khác nhau, đến nỗi nếu cứ chia đều theo luật thì sẽ gây ra bất công. Hoặc khi tình cảnh nghèo nàn của đứa con này đòi phải được chia nhiều hơn. Hoặc khi có nợ phải trả hay còn bổn phận phải bồi thường, mà luật pháp không đứng ra lo trang trải (tr. 256-257).
Thông thường, ta không có bổn phận luân lý cũng như nghĩa vụ pháp lý phải nhận di sản. Nhưng nếu đã nhận thì phải có nghĩa vụ giải quyết các nợ nần và các nghĩa vụ khác của người trối, nếu có, và phải trao trả tất cả các vật còn lại càng sớm càng tốt. Để tránh cho người thừa kế khỏi phải thi hành các nghĩa vụ vượt quá mức tài sản thừa kế, người thừa kế có thể chỉ chấp nhận di sản với điều kiện phải lập bảng kê khai hợp pháp và họ không có bổn phận phải trả các nợ nần và nghĩa vụ hơn mức giá trị của di sản.
Thừa kế không có di chúc là khi chủ tài sản không để lại di chúc lúc qua đời hay khi chủ nhân có tài sản mà trong chúc thư không quy định cách sử dụng. Trong những trường hợp đó, di chúc của người quá cố sẽ được bổ sung bằng các điều khoản của luật pháp, gồm có những luật truyền lại nếu tài sản là vật và những luật phân phối nếu tài sản là người. Các luật truyền lại và các luật phân phối thường giống nhau, nhưng không luôn luôn như nhau. Thông thường, trước tiên là phải trả các món nợ. Trong những trường hợp ngoại lệ, người ta cũng có thể thu hồi di chúc lại do ảnh hưởng của luật, cụ thể như khi hoàn cảnh của người trối đã hoàn toàn thay đổi do kết hôn hay sinh con đẻ cái.
Con cái của người quá cố, nếu có, thường được thừa kế bằng nhau sau khi đã trừ phần hồi môn. Nếu một trong những người con ấy đã chết thì con cháu của người ấy sẽ lấy phần của bố mẹ. Con cái sinh ra sau khi người quá cố qua đời cũng được phần như thể chúng đã sinh ra khi người ấy còn sống. Anh em và chị em cùng cha khác mẹ cũng được thừa kế như con cái chung của cha mẹ. Con cái sinh ra sau khi lập di chúc hay sau khi người trối qua đời, nếu không được trù liệu trong di chúc, thường cũng được hưởng như người thừa kế. Những con còn sống mà di chúc không dự phòng vì vô tình bỏ sót cũng được hưởng. Ở hầu hết mọi quốc gia, vợ chồng là người thừa kế của nhau. Kế đó mới đến cha mẹ, anh chị em ; thứ tự ưu tiên này mỗi nơi mỗi khác. Khi không có ai trong số những người sau hay người trước còn sống, luật quy định quyền thừa kế là của người nào họ hàng gần nhất, những người có liên hệ máu mủ gần nhất. Khi không có ai đủ tư cách thừa kế theo luật thì tài sản sẽ được trao cho nhà nước (tr. 257-258).
Thời hiệu là một danh nghĩa được luật thiết định đưa ra để với một số điều kiện và trong một thời hạn do luật ấn định ta có được quyền sở hữu, hay yêu sách của người khác về một vật hay một việc làm không còn giá trị nữa. Đó là cách để có quyền lợi hay hết còn nghĩa vụ sau một thời gian theo luật định.
Có 2 thứ thời hiệu: Thời hiệu thủ đắc và thời hiệu giải thoát.
Thời hiệu thủ đắc như trường hợp một nông dân làm việc vất vả trên một mảnh đất đã nhiều năm. Người ấy tin chắc rằng mảnh đất này mình đã thừa kế của cha mình một cách hợp lệ. Suốt những năm ấy chẳng thấy ai phản đối quyền của ông đối với mảnh đất ấy. Nhưng sau một thời gian lâu sau khi cha ông chết, một người hàng xóm đòi miếng đất dựa vào một lý do mà người ấy vừa tìm thấy trong văn khố của gia đình. Nếu người nông dân kia đã sở hữu mảnh đất ấy một cách bình yên suốt trong thời gian luật định thí dụ là 20 năm chẳng hạn, ông sẽ được coi là chủ nhân hợp pháp của mảnh đất ấy, dù người hàng xóm khiếu nại hay khiếu kiện ra tòa án. Mảnh đất ấy đã được bác nông dân kia tậu được nhờ thời hiệu (tr. 258-259).
Thời hiệu giải thoát là được giải thoát khỏi một sự yêu cầu của người khác để làm một việc hay để bồi thường hoặc được giải thoát khỏi nghĩa vụ phải chịu đựng một hành vi của người khác. Chẳng hạn những yêu cầu trả nợ, quyền khởi tố một hành vi sai trái, quyền trên tuyến đường hay đối với nguồn nước đã không sử dụng đến, sẽ mất hiệu lực sau một thời gian.
Thời hiệu là một điều hợp lý vì nhu cầu công ích ; nhờ có thời hiệu mà các vụ kiện cáo được giảm bớt và đơn giản hoá. "Rõ ràng là trong xã hội sẽ có rối loạn nến người chủ nào cũng có thể khiếu nại để phản bác một danh nghĩa hợp pháp kể cả sau một thời gian dài phía bên kia đã sở hữu danh nghĩa ấy một cách yên ổn và thành tín, hoặc bỗng dưng yêu cầu trả nợ hoặc thi hành các nghĩa vụ mà mọi người đã quên từ lâu, khiến cho sự việc trở thành một việc tố tụng dai dẳng, bắt nhà nước phải quan tâm đến”.
Làm sao bảo quản được các chứng cớ trong một thời gian dài, sự kiện ấy làm rối ren thêm các quyết định có liên quan đến các vụ việc trong vòng tranh cãi đã lùi xa trong quá khứ, khiến cho việc tố tụng trở nên tốn thời gian. Người ta cũng giả thiết rằng những yêu sách cũ kỹ ấy thường là những yêu sách không chính đáng, bởi vì các yêu sách chính đáng thường hay được thoả mãn ngay. Sau cùng, chính sự an sinh xã hội đòi hỏi ta phải tránh những gì không chắc chắn về danh nghĩa và về những yêu sách. Vì những lý do vừa kể có thể nói một cách chí lý rằng chính luật tự nhiên hậu thuẫn và yêu cầu phải có luật thời hiệu.
Muốn có thời hiệu hợp pháp và thành sự, vật hay yêu sách ấy phải là những đối tượng có khả năng thời hiệu, đương sự phải thành tín và có một thời gian nhất định. Thời hiệu thủ đắc còn đòi hỏi phải có một danh nghĩa và đang thực sự sở hữu hay đang thực sự hưởng dùng vật ấy (tr. 259-260).
- Vật hoặc yêu sách phải là những đối tượng có khả năng bị chi phối bởi thời hiệu. Công trường, đường sá, giếng công cộng... không thể chuyển sang cho tư nhân sở hữu do luật thời hiệu, nếu xưa nay người ta vẫn không ngừng sử dụng chúng. Theo giáo luật, bổng lễ không thể bị chi phối bởi luật thời hiệu. Điều này đúng cho người có bổn phận phải nộp bổng lễ lẫn người có bổn phận phải thi hành thánh lễ do bổng lễ đã nhận (GL 199, số 5)
- Thành tín nghĩa là tin chắc vật hay quyền mình đang nắm giữ là vật hay quyền đã nắm giữ một cách chính đáng. Làm chủ số nữ trang mà mình biết rõ là đồ ăn cắp, tức là đã sở hữu trong sự ngụy tín. Đối với luật thời hiệu giải thoát, cần phải phân biệt thành tín theo nghĩa tích cực và thành tín theo nghĩa tiêu cực. Thành tín theo nghĩa tích cực là khi tin chắc rằng mình đã trả nợ xong. Thành tín theo nghĩa tiêu cực là không cản ngăn người khác thi hành quyền của họ, chẳng hạn không cản họ đi băng qua đất đai của mình.
Thường thường, chỉ cần có sự thành tín theo nghĩa tiêu cực là đủ để áp dụng luật thời hiệu giải thoát. Nhưng đối với việc trả các món nợ và các nghĩa vụ không chỉ có giá trị về mặt luật pháp mà còn có giá trị về mặt luân lý, nhiều tác giả đòi phải có sự thành tín tích cực nữa. “Thực tế mà nói, ta có thể theo ý kiến ôn hoà hơn, ngoại trừ những trường hợp trong đó chủ nợ đã nhắc nhở hay vì một lý do nào đó chủ nợ cố tình không nhắc con nợ về bổn phận của người ấy. Trong những trường hợp ấy đức công bằng hay đức công liêm cấm con nợ nại đến luật thời hiệu giải phóng" (tr. 260-261).
Không có vấn đề thời hiệu, nếu một người tin chắc rằng vật mình đang sở hữu là của người khác. Dân luật không bao giờ nhìn nhận có một danh nghĩa theo lương tâm khi đương sự đã ngụy tín ; nếu không, dân luật sẽ chỉ gây trở ngại cho những hành vi hợp pháp. Dĩ nhiên, luật lệ phải dừng lại với những bằng chứng bên ngoài, chứ không đủ tư cách để phê phán ở toà trong. Nếu có nghi ngờ, người ta phải tìm cách liệu cho có sự chắc chắn. Còn nếu không thể tìm được sự chắc chắn, người sở hữu hay người bị khiếu nại sẽ được coi như người đã thành tín.
- Thời hạn nhất định: nhất định bao lâu là tùy theo các loại quyền lợi và yêu sách, cũng như tùy theo các loại luật. Trước kia, thời hạn sở hữu cần thiết để có một danh nghĩa theo luật thời hiệu là từ xa xưa hay “từ khi người ta còn nhớ là không có gì đi ngược lại điều đó”. Hiện nay, thời hạn ấy theo luật định là 20 năm đối với các loại bất động sản như đất đai, và đối với các quyền hưởng dụng lối đi, nước và ánh sáng. Còn đối với các động sản (nữ trang, các thiết bị, sự vật) và đối với luật thời hiệu giải thoát trong hầu hết mọi trường hợp, thời gian cần có sẽ ngắn hơn. Vấn đề thời hạn nầy, nói chung cần phải tham khảo dân luật.
Giáo luật đòi phải qua 100 năm đối với các bất động sản quý giá và các quyền lợi của Toà thánh ; 30 năm đối với những gì có liên quan đến các pháp nhân khác trong Giáo hội như giáo phận hay giáo xứ (GL no 1270) Đối với các động sản thông thường đã trở thành tài sản của Giáo hội có thể giữ thời hạn như dân luật đã quy định (GL no 197)
- Cần phải có một danh nghĩa đàng hoàng hay được cho là đàng hoàng. Chẳng hạn phải có lý do tốt đủ để dựa vào đó đương sự xác tín rằng vật ấy là của mình. Các danh nghĩa ấy có thể là đã trả tiền (dù vật ấy chưa được chuyển sang vì là vật ăn cắp) hay tin chắc tài sản ấy là của thừa kế hoặc của biếu tặng.
- Đang sở hữu thực sự vật ấy hay đang thực sự thi hành quyền ấy. Đây phải là một việc chắc chắn, liên tục, diễn ra trong bình an và công khai. Kiện tụng, chống đối, dàn xếp, biện hộ cho việc sử dụng của mình, tất cả đều đi ngược lại việc sở hữu trong bình an. Ai sở hữu một vật nhân danh mình thì sẽ đắc thủ vật ấy cũng cho bản thân mình dựa theo luật thời hiệu. Còn ai sở hữu một vật nhân danh người khác thì sẽ đắc thủ vật ấy cho người đó, như vệ sĩ đối với kẻ được mình bảo vệ.
4. Những lỗi phạm đến điều răn thứ bảy
Về những lỗi phạm đến điều răn thứ bảy, sách GLCG viết: “Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp, nghĩa là cấm chiếm đoạt tài sản tha nhân bất chấp ý muốn chính đáng của sở hữu chủ. Nếu có thể đoán trước được sự ưng thuận của chủ hoặc sự khước từ của họ nghịch với lẽ phải và với quyền chung hưởng của cải trần thế thì việc chiếm hữu tài sản không còn là tội ăn cắp. Như thế, trong trường hợp khẩn cấp và rõ ràng, và không còn cách nào để đáp ứng cho các nhu cầu cấp thời và thiết yếu (thức ăn, chỗ ở, áo quần...), thì được quyền sử dụng tài sản tha nhân (x. GS 69,1).
GLCG no 2409: Mọi hình thức chiếm đoạt và cầm giữ cách bất công tài sản tha nhân, dù không nghịch với dân luật, vẫn nghịch với điều răn thứ bảy, như cố tình không trả của đã mượn, giữ lại của rơi, buôn gian bán lận (x. Đnl 25,13-16), trả lương thiếu công bằng (x. Đnl 24,14-15, Gcb 5,4), lợi dụng sự không biết và khó khăn của tha nhân để tăng giá (x. Am 8,4-6).
Về phương diện luân lý, những việc sau đây bất hợp pháp: đầu cơ, làm biến động giá cả cách giả tạo với mục đích trục lợi cho mình nhưng làm thiệt hại cho tha nhân ; hối lộ, làm sai lệch phán đoán của những người có bổn phận quyết định theo luật pháp ; chiếm đoạt và sử dụng tài sản tập thể làm của riêng ; làm ăn thiếu trách nhiệm, lậu thuế, giả mạo các chi phiếu và hóa đơn, chi tiêu quá mức, lãng phí. Cố ý gây thiệt hại tài sản tư nhân hoặc công cộng là nghịch với luật luân lý và phải bồi thường.” (GLCG no 2408-2409)
Như thế người ta vi phạm điều răn thứ 7 vì làm thiệt hại hay không giữ đúng công bằng với một người nào đó. Vi phạm cách mô thức: khi có ý và tự do. Vi phạm cách chất thể: khi vô ý. Vi phạm nặng khi làm cho người ta bị thiệt hại nặng. Vi phạm nhẹ khi làm cho người ta bị thiệt hại nhẹ.
Nói chung vi phạm quyền lợi kẻ khác thường là lỗi nặng, vì lỗi đức bác ái. Đức Ái dạy cần phải làm điều lành cho kẻ khác, vậy mà vi phạm quyền lợi của kẻ khác thì luôn luôn làm hại kẻ khác, vì thế thường là lỗi nặng. Chỉ khi nào điều vi phạm là nhẹ, nghĩa là thiệt hại không đáng kể mới là tội nhẹ. Nặng hay nhẹ là tùy theo sự suy đoán chung của mọi người. Nếu thiệt hại ấy gây đau khổ nhiều, hoặc làm cho người ta tức giận nhiều thì kể là nặng.
Vì thế, nếu phía bên kia chấp thuận sự vi phạm đó đúng theo luật thì cũng không có tội bất công ở đây, như một đứa trẻ ăn cắp cam quýt trong vườn nhà bên cạnh, chủ nhìn thấy từ cửa sổ nhà mình nhưng chỉ mỉm cười. Tuy nhiên, chiếm đoạt hay xâm phạm tài sản của người khác là bất công, nếu phía bên kia không được phép khước từ quyền ấy theo luật. Chẳng hạn một người bảo trợ không được phép đoạt lấy tài sản của một trẻ mồ côi, dù đã được trẻ này chấp thuận (tr. 270).
Vì không ai giàu có như nhau nên cũng một hành vi xâm phạm, nhưng sẽ nhẹ hay nặng là tùy theo nó làm hại đến người giàu hay người nghèo. Những tay lừa đảo và trộm cắp thường phân biệt như thế, để chỉ chọn những người khá giả làm nạn nhân của mình. Hiểu như thế thì sự đo lường tầm mức nghiêm trọng của một hành vi xâm phạm tài sản của người khác thật là tương đối. Nhưng tầm mức ấy cũng được đánh giá dựa vào sự thiệt hại gây ra cho xã hội, như cho nền hoà bình, sự an sinh và ổn định của xã hội.
Tuy nhiên, nếu cá nhân lẫn xã hội đều không bị thiệt hại nặng thì không có tội nặng phạm đến đức công bằng, dù có thể vi phạm nặng đến đức bác ái. Như một người tỏ ra rất đau buồn vì bị mất một kỷ vật rất quý giá đối với mình, dù trong thực tế vật ấy rất ít có giá trị kinh tế (tr. 272).
4.1 Làm thiệt hại một cách bất công
Theo nghĩa hẹp, làm thiệt hại một cách bất công là xâm phạm tài sản của người khác một cách không chính đáng nhưng cũng chẳng lợi lộc được gì. Thiệt hại gây ra có thể là phá hoại hay làm hư hỏng một vật của người khác hoặc cản trở một cách bất chính không cho người khác nhận được một huê lợi vật chất nào đó.
Phải phân biệt thiệt hại gây ra do tai nạn bất ngờ hay do quên sót, do chểnh mảng hay do nghịch ngợm hay do thù ghét. Nếu do tai nạn hay do quên sót không phải do lỗi của cá nhân thì người ấy không đáng bị quy trách về mặt luân lý và bởi đó không phải là tội, tuy vậy vẫn có bổn phận phải bồi thường.
Nếu thiệt hại gây ra do chểnh mảng, thì chỉ mắc tội nặng khi sự chểnh mảng ấy là nghiêm trọng và sự thiệt hại gây ra là đáng kể. Thiệt hại gây ra do nghịch ngợm hay thù ghét sẽ là tội nặng hay nhẹ, tùy theo tầm mức thiệt hại đã gây ra. Nhưng nếu thiệt hại gây ra chỉ để bộc lộ sự ghen ghét thuần túy thì ngay thiệt hại nhẹ thôi cũng có thể làm thành tội nặng, không phải đối với đức công bằng nhưng đối với đức ái (tr. 272).
Nếu vô ý làm một việc gây thiệt hại cho người khác thì ngay khi ý thức được điều đó mà không ngăn chận hậu quả xấu do việc ấy gây ra, sẽ phạm tội bất công. Đó là trường hợp của một người vì bất cẩn quăng một que diêm đang cháy, từ đó đe dọa gây ra đám cháy lớn, hoặc một dược sĩ vì quên sót đã đưa cho khách hàng một thứ thuốc không đúng, có hại. Trong những trường hợp ấy cần phải tìm hết cách ngăn chận hậu quả xấu đã phát sinh. Ta được miễn cho khỏi bồi thường, nếu bản thân mình bị thiệt hại còn nặng hơn khi ngăn chận hậu quả xấu ấy.
Ngăn cản không cho người khác nhận được một điều gì đó là đã phạm tội bất công, khi người kia có quyền đối với vật ấy hay khi ta sử dụng những phương pháp bất chính để ngăn chận người ấy không cho nhận một vật mà theo luật người ấy có thể được. Trường hợp thứ nhất là trường hợp một người dụ dỗ cha mẹ kia từ chối không để lại tài sản cho con mình dù nó có quyền hưởng. Hoặc trường hợp không trao giải thuởng cho người đáng được theo luật của cuộc tranh tài. Còn trường hợp thứ hai là trường hợp ta dùng sức mạnh đe dọa, nhục mạ, dèm pha, lừa gạt, nói dối, thúc ép và những cách tương tự ngăn chận không cho một người nhận cái mà theo luật người ấy có quyền có. Chẳng hạn ta phạm tội gây thiệt hại bất chính khi nhục mạ để ngăn không cho người khác nhận một sự bố thí hay một vị thế nào đó ; hoặc dùng thủ đoạn lừa bịp để làm cho một di chúc bất hợp pháp trở nên có hiệu lực.
Tuy nhiên, kể như chưa có sự thiệt hại bất chính nào gây ra khi ngăn cản người khác nhận của bố thí hay vật trối chỉ bằng cách xin với chủ nhân. Cũng không có thiệt hại nào gây ra nếu ngăn một người nhận một vật không hợp pháp, dù phải dùng các biện pháp bất chính. Chẳng hạn một người vợ không mắc tội bất công khi ngăn không cho chồng tặng bạn bè những món quà không thích đáng kể cả bằng cách đánh lừa chồng (tr. 273-274).
Lường gạt là chiếm đoạt cách bất công tài sản của người khác dưới chiêu bài là vì quyền lợi, thường thường thông qua một hình thức hợp đồng nào đó. Khách quan mà xét, lường gạt xấu xa không kém gì trộm cắp. Còn xét theo chủ quan, người ta thường không nhận thức sắc bén lắm sự độc địa của việc lường gạt và vì thế không tẩy chay việc này mạnh mẽ như đối với việc trộm cắp. Ngoài ra, lường gạt thường xảy ra đối với những số tiền nhỏ hơn khi trộm cắp và vì thế cũng nhẹ tội hơn. Tuy vậy, trên nguyên tắc phạm tội lường gạt cũng buộc ta phải bồi thường như khi trộm cắp vậy.
Kinh thánh phản đối việc lường gạt dưới hình thức cân dối đo gian. "Ngươi không được giữ trong túi ngươi hai quả cân, một lớn một nhỏ. Ngươi không được giữ trong nhà ngươi hai thước đo một lớn, một nhỏ. Ngươi phải có một quả cân công bằng và nguyên vẹn... Vì bất cứ ai làm thế, bất cứ ai cư xử bất lương, đều làm nhục Đức Chúa, Thiên Chúa của mình” (Đnl 25,13-16 ; cf Lv 19,35t ; Cn 11,1).
Lường gạt có thể mặc nhiều hình thức. Người ta phạm tội lường gạt khi tính cao hơn hay thấp hơn giá công bằng đối với những của cải hay việc làm mình nhận được, dù bên ngoài có vẻ như đã trao trả một cách công bằng. Người ta cũng phạm tội lường gạt khi đánh lừa người khác về số lượng hay phẩm chất thật của những hàng hoá trao đổi hoặc mua bán, như bằng cách giảm trọng lượng, đo kém đi hay lấy bớt số lượng, hoặc thay những hàng hoá có phẩm chất như đã hứa bằng những hàng hoá kém phẩm chất hay giả mạo. Dán những nhãn hiệu hay quảng cáo một cách lừa bịp hoặc cố tình giấu những khuyết điểm của hàng hoá cũng là một cách lường gạt.
Những hình thức lường gạt khác là cạnh tranh không công bằng, hối lộ, tham ô, giả mạo (như giả mạo tiền bạc), trốn các thứ thuế công bằng. Một cách lường gạt hiện nay được dùng là bòn rút tiền bảo hiểm bằng cách đệ trình sai những con số và dữ kiện được yêu cầu. Phá sản cũng là một cơ hội đặc biệt để lường gạt. Thỉnh thoảng, người ta cố tình bày ra để tránh trả nợ. Cho dù tự nó là không có tội nhưng việc phá sản thường có kèm theo một số hành vi bất công như giấu diếm tài sản, chuyển tài sản cho bà con, đối xử ưu đãi cho một số con nợ, v.v... Trong trường hợp phá sản, nếu đã giữ lại tài sản mà mình mắc nợ khách hàng cách bất chính thì ta có bổn phận phải bồi thường, dù trước mặt dân luật mình có thể không còn bổn phận nào nữa khi đã phá sản (tr. 274-275).
4.3 Cho vay nặng lãi và đầu cơ trục lợi
Trong vấn đề nầy có 2 điều cần lưu ý: vốn và lãi. Theo cách thông thường, cho vay bao giờ cũng có tiền lãi, không nhiều thì ít. Còn nếu cho vay không lấy lãi, thì hiểu là cho mượn, chúng ta không bàn ở đây.
Ý kiến chung của các nhà thần học vào các thời kỳ đầu GH là lấy bất cứ phần lãi nào từ tiền hay hàng tiêu thụ cho vay đều là bất chính và đều là cho vay nặng lãi. Lý do là vì tiền bạc và các hàng tiêu thụ chỉ dành để tiêu thụ, chứ không sinh ra tiền lãi, để ta có thể lấy đó làm cơ sở mà đòi một khoản tiền hay một lượng hàng hoá nào khi người ta trả chúng lại cho mình. Chỉ được phép lấy lãi dựa trên những tư cách ngoại tại, như để bồi thường lại cho những chi phí giao dịch hay khi mất cơ hội mua hàng với giá hời. Lý thuyết này, ta có thể thấy phản ảnh trong một số quyết định của cấp Huấn quyền tối cao trong Giáo hội, lên án mọi hình thức lấy lãi trên đồng vốn. Tuy nhiên, Giáo hội coi là hợp lý khi nhận tiền bồi thường cho việc làm thêm và những chi phí đi kèm theo việc cho vay ấy, như bồi thường cho việc làm và những phí tổn khi mở cửa hàng cầm đồ.
Chắc chắn, giáo huấn này đã chịu ảnh hưởng của một số bản văn Kinh thánh phản đối việc cho vay lấy lãi. Cựu ước không ngừng cấm người Israen lấy tiền của anh em mình (Xh 22, 25 ; Lv 25, 36t ; (Đnl 23, 19), dù được phép thu lời của người ngoại kiều (Đnl 23, 20) Đức Kitô còn khuyên ta cho vay mà đừng cầu mong được trả lại (Lc 6, 34t). Tuy nhiên, trong dụ ngôn những nén bạc, Người lại trách người đầy tớ không chịu đem nén bạc của mình kinh doanh, mà đem chôn đi và trả lại cho chủ, không sinh lợi thêm gì. "Hỡi đầy tớ xấu xa và lười biếng... lẽ ra anh phải đầu tư tiền của tôi vào nhà băng, để khi tôi trở về tôi nhận cả vốn lẫn lời chứ" (Mt 25, 26t) Nếu vậy, xem ra Chúa Giêsu cũng tán thành thói quen đầu tư tiền bạc có lãi. Các sử liệu cho biết vào thời Chúa Giêsu đã có những nhà băng và các dịch vụ ngân hàng.
Tuy nhiên, khi tiến trình công nghiệp hoá bắt đầu, các cơ hội đầu tư gia tăng, tiền bạc đảm nhận vai trò của một yếu tố sản xuất nhiều hơn bao giờ hết. Vì thế, ngày nay, các nhà thần học nhận thức rõ rằng tiền bạc có sức sản xuất và sinh lợi, bởi đó lấy một phần lãi vừa phải trên số tiền cho vay là điều chính đáng. "Trao tiền cho người khác sử dụng vào các việc làm ăn có lời chính là một dịch vụ kinh tế và vì thế nó đáng được trả giá như bất cứ dịch vụ nào... Nếu vậy, liền lời hay giá cả trả trên tiền bạc cũng được ấn định như khi ta định giá cho bất cứ dịch vụ nào khác. Giá cả bất công hay cho vay nặng lãi chính là định giá cao quá". Như thế, cho vay nặng lãi là lấy phần lời cao hơn giá trị của số tiền vay.
Nếu người cho vay không đòi hơn giá trị của số tiền cho vay mà chỉ đòi một cách lạnh lùng bằng cách bắt con nợ phải giữ đúng sát chữ của hợp đồng khiến con nợ bị thiệt hại thì đó không phải là phạm tội cho vay nặng lãi, mà chỉ là có tội đối với đức bác ái, và có thể phạm tội nặng đối với nhân đức này (tr. 276-277).
Cho vay hàng hoá tiêu thụ cũng gần như cho vay tiền, vì các hàng hoá này luôn luôn có thể chuyển thành tiền. Bởi đó nếu vay mượn hàng tiêu thụ với một số lượng lớn như vay gạo, lúa, vải..., ta được quyền đòi một phần lời tương đối, đặc biệt khi chúng được vay để kinh doanh. Nhưng nếu chỉ vì nhu cầu sinh sống hàng ngày mà phải vay các hàng hoá ấy, đức ái Kitô giáo yêu cầu ta không được lấy lời. Ta có thể áp dụng vào chỗ này lời của Chúa Giêsu: "Hãy làm việc thiện và cho vay, nhưng đừng mong nhận lại" (Lc 6,35) Lời dạy này cũng áp dụng vào việc cho một người hay một gia đình túng quẫn mượn tiền để mua những lương thực và đồ vật cần thiết cho cuộc sống mỗi ngày.
Tóm lại, ngày nay luôn luôn được phép cho vay lấy lãi, miễn là không quá đáng, và nói chung cần phải theo dân luật qui định vì lãi mà Nhà Nước cho phép kể là nhẹ và khi ăn lời nhẹ, thì không kể là lỗi đức bác ái. Lãi nhẹ ở đây thường hiểu theo mức Nhà Nước ấn định. Còn khi Nhà Nước không định, thì nên theo mức lãi do tiền phát sinh ra, hay là theo thói quen chỗ ấy. Lãi quá đáng thì phải trả lại. Tuy nhiên, ở đây cần lưu ý đến đức ái, vì khi người nghèo cần tiền để uống thuốc, thì nên cho mượn không ăn lời, mặc dù Nhà Nước cho phép ăn lời.
Khi con nợ không trả lãi cho chủ nợ, thì chủ nợ được phép nhập lãi vô vốn, nhưng cần phải có những sự kiện nầy: vì không trả nợ mà chủ nợ bị thiệt hại hay là đã có thỏa thuận với nhau trước rồi, hay là Tòa cho phép tính như vậy khi chủ nợ kiện ra Tòa. Trường hợp anh A vay tiền của anh X (hay của ngân hàng với mức lời thấp) và rồi đem cho người khác vay lại để kiếm chênh lệch thì cũng có thể được phép, nếu mức lời khi cho vay lại không cao hơn mức luật định hay chỉ cao hơn đôi chút.
Những kẻ đầu cơ trục lợi là những người khai thác sự khốn khổ của người khác như vì khan hiếm hàng hoá, bằng cách đòi giá cắt cổ cho các đồ dùng, lương thực trong các thời kỳ đói kém. Vì là phương tiện để làm giàu cho cá nhân bằng cách khai thác sự khốn khổ của người khác, nên đầu cơ và cho vay nặng lãi quá là những tội lỗi công bằng và liêm sĩ (tr. 276-278).
Trộm cắp là kín đáo chiếm đoạt những cái thuộc về người khác, ngược với ý muốn hợp tình hợp lý của người ấy. Nếu tước đoạt cách công khai và bằng vũ lực, thì đó chính là tội trộm cướp.
Trộm cắp là chiếm đoạt những cái thuộc về người khác. Cũng là một cách chiếm đoạt khi ta không trả nợ, vi phạm bằng sáng chế và bản quyền, giữ lại cách bất hợp pháp các tài sản bị mất ; những trường hợp này được coi tương đương như trộm cắp. Một ngoại lệ cho luật này là khi có nhu cầu ngăn chận một tội ác, người ta phải lấy đi một vật của người khác, như súng chẳng hạn ; trong trường hợp này thậm chí việc cướp lấy đồ vật của người khác còn là một bổn phận bó buộc.
Ngoài ra, gọi là trộm cắp khi vật bị lấy ngược với ý muốn hợp lý của chủ nhân. Thế nên, không phải là trộm cắp khi một đầy tớ đáng tín cẩn kín đáo bố thí cho người nghèo, giả thiết rằng chủ của mình không phản đối điều ấy. Ngoài ra, cũng không phải là trộm cắp khi lấy một vật vì giả thiết rằng chủ sẽ ưng thuận cho lấy đi vật ấy, bởi theo đức công bằng hay theo hiếu nghĩa ông có bổn phận phải giao trả nó. Bởi đó, không phải là ăn cắp khi lấy cái cần thiết cho mình đang ở trong tình cảnh ngặt nghèo hay để bồi thường lại cho mình cách kín đáo.
Kinh thánh luôn luôn xác nhận trộm cắp là một tội. Trộm cắp nằm trong số các sự vi phạm căn bản đã được Thập giới nêu ra ở điều răn thứ bảy: “Ngươi không được trộm cắp” (Xh 20,15 ; Đnl 5,19) Điều răn thứ 10 còn cấm ước muốn nhà cửa, ruộng vườn, trâu bò, lừa ngựa của người khác hay bất cứ cái gì của người khác (Xr 20,17 ; (Đnl 5,21) Đức Kitô tái các nhận lệnh cấm này (Mt 19,18 ; Mc 7,20) Và thánh Phaolô kể trộm cắp vào số các tội loại ta ra khỏi Nước Trời (1Cr 6,10).
Trộm cắp là làm một điều bất công vì trộm cắp là xâm phạm tới quyền tư hữu của của người khác. Cả khi lấy của người khác mà không có lỗi luân lý, việc ấy vẫn gây hại cho sự bình an ổn định và tiến bộ của xã hội. Ngay cả những nước đề cao công hữu, cũng rất nhạy cảm đối với các việc trộm cắp và trừng phạt rất nghiêm khắc (tr. 278-279). Cần lưu ý là nếu trộm cắp chỉ làm thiệt hại tài sản thì trong tội ăn cướp, chẳng những làm thiệt hại tài sản người khác, nhưng còn vi phạm đến nhân vị của người bị cướp nữa.
Vấn đề là ăn cắp bao nhiêu mới có tội nặng ? Vì rõ ràng là không phải việc trộm cắp nào cũng tội nặng như nhau. Ăn cắp vặt không đe dọa công ích như ăn cướp ngân hàng. Bởi đó, cần ấn định một tiêu chuẩn để dựa vào đó mà phán xét khi nào trộm cắp là gây bất công nặng, khi nào là không (tr. 278-279).
Các nhà thần học luân lý đưa ra hai tiêu chuẩn: tiêu chuẩn tương đối và tiêu chuẩn tuyệt đối:
- Tiêu chuẩn tương đối để đánh giá một việc trộm cắp là nặng dựa vào lương công nhật của một người phải làm ăn để sinh sống hay dựa vào tổng số tiền cần để nuôi sống một người và gia đình người ấy trong một ngày. Nói là để nuôi sống trong một ngày là không những bao gồm các phí tổn ăn uống mà cả chi phí cho các nhu cầu căn bản khác như ăn mặc, nhà cửa. Dĩ nhiên, số tiền này sẽ thay đổi tùy theo mức lương và địa vị xã hội của đương sự, và tùy theo mức thu nhập ở mỗi nước.
- Tiêu chuẩn tuyệt đối sẽ ấn định một định mức luôn luôn bị coi là vi phạm nặng đối với sự công bằng, bất kể cá nhân hay tổ chức ấy giàu nghèo tới mức nào. Để xác định mức tiền này, một số nhà thần học thử đưa ra một số chuẩn mực. Theo họ, một việc trộm cắp nặng tuyệt đối là một việc có trị giá tương đương với tiền công một tuần của một người có mức thu nhập trung bình, trong những hoàn cảnh bình thường, không bao gồm những xa xỉ và tiện nghi đặc biệt.
Từ những suy nghĩ trên đây ta thấy rõ ta không thể ấn định chất thể nặng nhẹ của việc trộm cắp một cách chính xác kiểu toán học, mà chỉ ấn định một cách suýt soát phỏng chừng thôi. Có những việc trộm cắp gây thiệt hại nghiêm trọng cho cá nhân và cũng có những việc trộm cắp làm hại nặng tới sự an ninh của xã hội. Đó là những lỗi luân lý nặng. Nhà thần học luân lý không thể tránh né một nhu cầu là đặt ra tiêu chí để dựa vào đó mà xét các hành vi trộm cắp một cách khách quan.
Cũng cần lưu ý là đôi khi của bị ăn cắp tuy không đáng giá bao nhiêu, nhưng người chủ lại bị thiệt hại đáng kể vì không làm việc được chẳng hạn, thì kể là có tội nặng. Nặng không vì giá vật mất, mà vì sự thiệt hại bất công mà người chủ phải chịu. Ngoài ra, nếu người ăn trộm tiên đoán người chủ vì tức giận sẽ làm những điều xấu xa như nói lộng ngôn phạm thượng, hoặc chửi tục, thì kẻ trộm cũng gánh thêm tội làm cớ cho người ta vấp phạm.
Vì thế, khi anh thu ngân lấy tiền thu được của khách hàng của xí nghiệp mình để xài, với ý định là mượn tạm cho đến đầu tháng khi lãnh lương sẽ trả lại thì cũng làm một việc lỗi phép công bình vì nếu chủ biết, chắc chắn chủ sẽ không bằng lòng chút nào.
Khi đi qua vườn cây, nếu hái ít trái ăn qua đường, thì theo luật tự nhiên tưởng là không mắc tội gì hết. Tuy nhiên cũng phải thận trọng vì nếu mỗi người chỉ một trái mà thôi thì vườn cây của người ấy không còn gì để bán nữa. Nếu người ấy sinh sống nhờ vào thửa vườn thì việc hái trái đó chắc chắn không phải tội nhẹ. Đó cũng là trường hợp ăn cắp vặt.
Thường ăn cắp vặt không phải tội nặng nhưng nó trở nên nặng do 3 lý do:
- Người ấy có ý ăn cắp như vậy nhiều lần cho tới số lớn,
- Khi có nhiều người cộng tác rủ nhau ăn cắp số lớn, nhưng bàn với nhau mỗi người chỉ lấy một ít (khi góp lại thì thành ra số lớn). Như vậy mỗi người đều mắc tội nặng, vì nếu không có sự cộng tác của mình thì sự thiệt hại to kia không thể có được.
- Khi góp lại các lần đã ăn cắp vặt thành số to. Sự góp lại đó tính theo cách thể chất, hoặc tính theo cách luân lý. Thể chất khi của ăn cắp còn nguyên vẹn, hay ăn cắp của nhiều người nhưng lấy của mỗi người chút đỉnh. Luân lý như khi đã sử dụng các của ăn cắp rồi, nhưng giữa những lần ăn cắp cách nhau không lâu: trung bình là một (1) tháng ; cũng có thể là mười lăm (15) ngày.
Các vụ ăn cắp vặt mà hữu ý lấy nhiều hay là có nhiều người đồng lõa, để thành nặng tội, thì cũng chỉ cần một số lượng như các trường hợp trộm cắp khác đã đề cập trước đây (mỗi lần thì tính theo lương công nhật ; còn nhiều lần thì tính theo lương một tuần cho dù mỗi lần chỉ lấy dưới trị giá lương hằng ngày). Vấn đề là khi nhiều người chỉ bị lấy trộm đồ lặt vặt, nghĩa là mỗi người chỉ bị thiệt hại nhẹ, tại sao tên trộm lại mang tội nặng ? Câu trả lời là vì điều răn cấm ăn cắp không những cấm ngặt làm thiệt hại nặng, mà còn cấm không được làm giàu do tiền bạc của kẻ khác. Đàng khác, nếu không ngăn cấm những vụ ăn cắp vặt như thế, thì đời sống cộng đoàn không thể được ổn định, trật tự xã hội không được bảo đảm. Cũng cần lưu ý là điều răn cấm ăn cắp không chỉ nhắm đến việc làm lợi cho mình cách bất chính, nhưng còn nhắm đến việc cấm làm thiệt hại cho tha nhân. Vì thế, nếu người ấy bị ăn cắp không nhiều, chủ không bị thiệt hại đáng kể, thì tên ăn trộm không buộc ngặt phải đền bù cho chủ nhân ; nếu có buộc, chỉ buộc chỉ buộc nhẹ thôi và nếu có lý do chính đáng thì tên trộm cũng được miễn bồi thường nữa.
Trường hợp tên trộm đã lấy đủ số lượng để thành tội nặng rồi, sau đó lấy thêm một ít đồ khác nữa mà trước kia nó không định lấy thì lần thứ hai nầy, có thể không mắc tội nặng. Bởi vì lấy thêm chút đỉnh gây thiệt hại không đáng gì, nó chỉ gia tăng đôi chút tội nặng của lần thứ nhất mà thôi.
Trường hợp có nhiều tên trộm ăn cắp đồ của ông chủ, nhưng không mưu tính với nhau trước, nhưng khổ chủ lại bị thiệt hại nặng thì mỗi tên trộm có mắc tội nặng không ? Câu trả lời là hầu như không mắc tội nặng về công bình, mặc dù họ biết rõ khổ chủ bị thiệt hại nặng. Bởi vì riêng cá nhân mỗi tên trộm chỉ làm thiệt hại nhẹ và tên nầy không là nguyên nhân cho tên kia. Trái lại họ có lỗi nặng về đức bác ái.
Trường hợp thợ may ‘ăn vải’, thợ mộc ‘ăn gỗ’ chút đỉnh mỗi khi gia công may áo, hay gia công đóng tủ bàn cho người khác thì xem ra có tội nặng và buộc phải bồi thường, nếu những khúc vải hay gỗ ấy đáng giá và chủ nhân có ý lấy lại. Còn nếu những miếng vải vụn hay gỗ vụn đó kể như là đồ mà chủ coi là đồ bỏ, thì không có lỗi gì hết và không phải bồi thường.
Đề cập đến tội ăn cắp của người trong gia đình vì đôi lúc người ta không thấy rõ sự bất công khi làm thiệt hại cho người nhà và vì người nhà bị người nhà ăn cắp có vẻ không buồn giận cho bằng bị người ngoài ăn cắp. Vì thế nếu là những sự trộm cắp giữa những người trong gia đình (vợ con) thì phải là một số tiền lớn thì mới tạo thành một việc trộm cắp có chất thể nặng. Trong trường hợp đó phải tương đương hai lần số tiền đã ấn định theo mức tiêu chuẩn tương đối mới gọi là một việc trộm cắp có chất thể nặng. Còn nếu là sự trộm cắp do vợ làm thì số tiền ấy còn phải cao hơn nữa. Nói chung, không cần phải buộc vợ con bồi thường, vì người ta giả định rằng cha mẹ thường không muốn những người thân của mình phải bồi thường.
4.4.2.1 Con cái lấy của cha mẹ
Con cái có lỗi nặng nếu lấy một số tiền lớn và chắc chắn cha mẹ không bằng lòng. Cũng có lỗi nặng khi dùng số tiền mà cha mẹ cho để sử dụng vào một mục tiêu định rõ như mua sách vở, bút giấy hoặc đóng học phí, để ăn chơi, làm cho cha mẹ phải đóng lần thứ hai. Dù vậy, không buộc con cái trả lại số tiền đó, khi nó đã ăn tiêu hết rồi và thiết tưởng cha mẹ cũng không muốn bắt buộc con mình phải trả lại.
Thường thường con cái không mấy khi bằng lòng về số tiền cha mẹ cho để ăn quà, giải trí, cho nên thường lén lút ăn cắp thêm. Vì vậy, cần lưu ý: con cái không có lỗi khi ăn cắp vặt tiền của cha mẹ, nếu cha mẹ không cung cấp đủ những thứ cần cho việc ăn mặc, chi xài theo như các bạn bè bình thường, vì con cái có quyền được cha mẹ cấp dưỡng. Nhất là mỗi khi xin bị rầy la.
Tuy nhiên, ở đây có một số giới hạn. Một đứa con ăn cắp tiền mà cha mẹ đã vất vả kiếm được, cũng là số tiền cần để lo cho việc học hành của những đứa con khác, có thể bị buộc phải bồi thường.
Trong việc nầy, cha giải tội cần sáng suốt để cân nhắc các hoàn cảnh: cha mẹ giàu hay nghèo ? đứa con có tiêu xài hoang phí ? khi xin, cha mẹ có cho cách dễ dàng không ? tiền cha mẹ cho, nó làm gì ? đứa con có vất vả nhiều với cha mẹ không ? chúng làm ăn riêng ? Nói chung không nên quá cứng rắn, cũng như đừng quá rộng. Nếu hồ nghi thì cha giải tội phải phỏng đoán rằng cha mẹ làm đúng.
4.4.2.2 Cha mẹ lấy của con cái vợ chồng lấy của nhau
Thường cha mẹ có lỗi nặng nếu lấy những thứ thuộc quyền sở hữu của con mình để đi đánh bạc v.v... Cũng vậy, cha mẹ cũng có lỗi nặng đối với con cái, nếu cha mẹ làm thiệt hại nặng đến quyền lợi chính đáng của đứa con: thí dụ dùng của cải của mình đi đánh bài… Con cái là người thừa kế tài sản của cha mẹ, cha mẹ không có phép hoang phí vô ích. Cũng vậy người chồng (hay vợ) có lỗi nặng nếu hoang phí của riêng của vợ (hay chồng) và nhất là khi vợ (hay chồng) không bằng lòng ; hoặc hoang phí của chung hay là gian dối để lấy của chung lo việc riêng của mình hoặc để phụ cấp con riêng. Trừ trường hợp chồng (hay vợ) được phép vợ (hay chồng) làm như vậy. Để đền bù thiệt hại cho gia đình thì vợ, chồng hay con cái phải lấy của riêng mình, nếu có ; bằng không thì phải cố gắng sống tiết kiệm. Nếu con cái không có của riêng, thì khi chia gia tài, người con ấy phải lấy trong phần thừa kế của nó mà hoàn về tài sản chung, nhất là khi đứa con ấy hoang phí thái quá và người cha, người mẹ không tha thứ.
4.4.2.3 Người giúp việc ăn cắp
Thường thường người giúp việc hay lén lút ăn uống và lâu ngày có thể góp lại thành số lượng lớn ; nhưng không bao giờ điều ấy trở thành tội nặng. Bởi vì có lẽ chủ không bằng lòng cách ăn vụng như vậy nhưng không tiếc xót nhiều quá khi mất những thứ ấy. Tuy nhiên, có tội nặng, nếu người giúp việc lấy đem ra bán ra ngoài và lấy một số lượng quá nhiều, hay là lấy đồ quí giá, đồ hiếm có. Tội ăn cắp ở đây cũng giống như các trường hợp khác, tùy số lượng họ đã lấy để xét đoán có tội nặng hay nhẹ. Để đền bù thì người giúp việc cần phải siêng năng hơn trước trong việc bổn phận mình, nếu không thể trả được vì số tiền quá to đối với người ấy.
Tuy nhiên cũng nên nhắc lại: có khi người chủ không cho người giúp việc lương đủ sống, hay đủ ăn đủ mặc xứng với công việc hay xứng với thói quen nơi ấy, và nếu người giúp việc đã nhiều lần yêu cầu tăng lương mà chủ vẫn làm ngơ: trong các trường hợp đó, người giúp việc có thể bù trừ kín đáo.
4.5 Sử dụng tài sản cách không đúng
Điều răn thứ bảy còn mời gọi sử dụng đúng đắn của cải vật chất. Sách GLCG no 2407 viết: “Trong lãnh vực kinh tế, việc tôn trọng nhân phẩm đòi chúng ta phải sống tiết độ, biết tiết chế lòng ham muốn của cải trần gian ; sống công bằng, biết tôn trọng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của tha nhân ; và sống liên đới, theo “quy luật vàng” và theo lòng hào phóng của Chúa. “Người vốn giàu sang phú quý đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9).
Người ta có thể sử dụng không đúng của cải vật chất khi chơi cờ bạc. “Các trò đỏ đen (cờ bạc v.v...) hoặc cá cược, tự chúng không nghịch với phép công bằng, nhưng về phương diện luân lý, không thể chấp nhận được khi chúng cướp đi những cái cần thiết để nuôi sống bản thân và người khác. Cờ bạc biến kẻ ham mê thành nô lệ. Cờ gian bạc lận là một lỗi nặng, trừ khi gây thiệt hại rất nhẹ đến độ người bị thiệt thấy việc đó không đáng kể.” (GLCG no 2413)
Người ta cũng có thể sử dụng không đúng tài nguyên thiên nhiên. GLCG no 2415 viết: “Điều răn thứ bảy dạy phải tôn trọng sự toàn vẹn của vạn vật. Thiên Chúa đã ban thú vật, thực vật và những vật vô tri, nhằm phục vụ lợi ích chung của nhân loại trong quá khứ, hiện nay và tương lai (x. St 1,28-31). Khi sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng chất, thực vật và động vật trong vũ trụ, con người phải tôn trọng các đòi hỏi của luân lý: Đấng Sáng Tạo đã ban cho con người quyền bá chủ trên các vật vô tri và những sinh vật khác, nhưng không phải quyền tuyệt đối, vì phải để ý đến ảnh hưởng trên đời sống của tha nhân, kể cả những thế hệ tương lai ; quyền này đòi chúng ta phải trân trọng sự toàn vẹn của vạn vật.
Người ta có thể có thái độ không đúng đối với thú vật khi quá thương yêu hay quá độc ác với thú vật. “Thú vật là những thụ tạo của Thiên Chúa và được Người ân cần chăm sóc (Mt 6,2). Chúng hiện hữu để ca tụng và tôn vinh Người (x. Đn 3, 57 -58). Do đó, con người phải biết thương chúng. Các thánh như Phanxicô Átxidi hoặc Philipphê Nêri đều đối xử dịu hiền với thú vật.
Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Người và trao phó quyền quản lý các thú vật (x. St 2,19-20 ; 9,1-4). Do đó con người được phép ăn thịt thú vật và lấy da làm y phục, có thể thuần hóa chúng để trợ lực con người trong lao động và giải trí. Những thí nghiệm y học và khoa học trên thú vật có thể chấp nhận được về phương diện luân lý, miễn là ở trong những giới hạn hợp lý và góp phần vào việc chữa bệnh hoặc cứu lấy mạng sống con người.
Hành hạ hay giết hại thú vật cách vô ích là điều trái với phẩm giá con người. Cũng thế, chi phí những số tiền quá đáng cho thú vật, lẽ ra phải ưu tiên làm giảm bớt sự khốn cùng của con người, thì cũng là một việc bất xứng. Người ta có thể thương thú vật, nhưng không được dành cho chúng tình yêu, chỉ xứng với con người. (GLCG no 2416-2418)
Người ta có thể sử dụng của cải không đúng khi hà tiện và phung phí. Hà tiện là ước ao thái quá các của cải vật chất dưới hình thức là được sở hữu chúng. Ngay từ xưa, hà tiện đã được xếp vào số bảy mối tội đầu. Yêu quý của cải một cách vô chừng mực là một trong các tội kéo theo nhiều tội khác hơn cả. Hà tiện và tham lam đi đôi với nhau.
Sự hà tiện đáng tội ở chỗ nó khiến người ta không sử dụng của cái thế gian này đúng mục tiêu của nó. Người ta không dùng của cải làm phương tiện để phục vụ lợi ích của con người và kế hoạch của Thiên Chúa. Chúng đã bị lạm dụng làm những mục tiêu tự thân. Những tình cảm như được an ninh, hạnh phúc và thoả mãn thường đi đôi với của cải, đã được ta nâng lên hàng tuyệt đối.
Người hà tiện là người không sẵn lòng phân phát cho người thiếu, kể cả khi nạn nhân đang lâm cảnh túng thiếu nghiêm trọng và cùng cực. Họ cứ lo tích góp của cải, nhưng không sử dụng nó một cách có lợi cho xã hội. Đương sự cũng thường bị sa ngã trước những cám dỗ gia tăng của cải bằng những phương tiện vô luân và bất công. Bởi đó, tham lam là nguồn sinh ra mọi xáo trộn trong xã hội. Cách đánh giá quen thuộc của các thủ bản truyền thống cho rằng hà tiện chỉ là một tội nhẹ, xem ra còn quá nhẹ (tr. 269).
Phung phí là sử dụng tài sản một cách vô trách nhiệm, nhưng theo hướng ngược lại. Đó là không đánh giá của cải vật chất cách nghiêm túc đủ và tiêu dùng chúng một cách quá mức. Phung phí, biểu lộ đặc biệt qua sự xa hoa thái quá, là một sự xúc phạm tới các giai cấp nghèo. Sử dụng tiền bạc một cách phi xã hội như thế hẳn sẽ làm thương tổn và sẽ khiêu khích các giai cấp ấy. Một hành vi ít có tính xúc phạm hơn là hào phóng, tức là phân phát của cải vật chất cho người khác một cách hoang phí. Tuy nhiên, cách xử sự này cũng vi phạm trách nhiệm của một người đối với tài sản của mình. Bởi chưng, Thiên Chúa muốn con người phải quản trị tài sản như một người quản lý, có nhiệm vụ tường trình về chúng trước mặt Chúa (tr. 270).
Chữ "bồi thường” hay được dùng theo nghĩa rộng là sửa chữa lại những quyền lợi của người khác bị ta vi phạm. Thế nên, chữ này không những áp dụng cho việc khôi phục các quyền sở hữu đã vi phạm, mà cả cho việc sửa chữa lại những thương tích đã gây ra do việc cưỡng hiếp, ngoại tình, bôi nhọ và làm nhục. Tuy nhiên, trong các trường hợp này, hầu như không thể nào khôi phục lại các giá trị đã mất. Ta chỉ có thể làm một việc bồi thường hay chuộc lỗi cách nào đó. Một số tác giả đã dành chữ "bồi thường" để chỉ việc khôi phục lại những quyền sở hữu đã bị vi phạm. Nếu vậy, bồi thường là một việc làm, trong đó những của cải mà một người bị mất vì bị người khác xâm phạm tới quyền sở hữu hay quyền hưởng lợi của mình, nay được trả lại cho khổ chủ. Khổ chủ ở đây có thể là một cá nhân hay một pháp nhân, như một tập đoàn hay nhà nước. Trong khuôn khổ điều răn thứ bảy, chúng ta chỉ tìm hiểu việc bồi thường cho những hành vi xâm phạm quyền sở hữu (tr. 287).
Như thế, bồi thường có nghĩa là trả nợ, hoặc trả lại một vật của người khác. Theo nghĩa rộng đôi khi nói: trả lại đồ mình đã mượn hoặc đồ người ta gửi mình giữ. Còn theo nghĩa hẹp bồi thường có nghĩa là sửa chữa sự thiệt hại mình đã làm cho anh em. Sự bồi thường còn khác với việc trả tiền trong khi mua bán, vì người mua thanh toán món nợ mà nó thiếu do phép “tiền trao cháo múc”, chớ không phải theo sự thiệt hại mà nó gây ra.
Bồi thường cho những quyền sở hữu bị vi phạm chắc hẳn là một đòi hỏi của luật tự nhiên. Mỗi người phải nhận được cái thuộc về mình, đó là một trong những nguyên tắc sơ đẳng của luật tự nhiên. Người ta có thể sống chung với nhau trong hoà bình, cũng như xã hội có thể tiến bộ được là nhờ tuân giữ nguyên tắc ấy. Quyền tư hữu chỉ có thật, khi sở hữu chủ phải có quyền đòi hỏi điều ấy từ những người đã tước đoạt, cầm giữ hay làm thiệt hại quyền ấy cách bất hợp pháp, và khi kẻ vi phạm phải có bổn phận tương ứng là khôi phục lại quyền ấy (tr. 288).
Kinh thánh nhấn mạnh rất rõ tới nghĩa vụ bồi thường. Những khoản luật ghi ở Xh 22,1-15 đã quy định phải bồi thường đầy đủ cho những thiệt hại đã gây ra cách bất chính, và bồi thường gấp hai, gấp bốn hay gấp năm lần những gì đã trộm cắp và bội tín. Phải trả vật ăn cắp lại cho sở hữu chủ, dù tự mình đã không lấy mà chỉ nhận được do ai đó làm quà hay ai đó trả công cho mình (Tb 2,11-13). Kẻ làm ác muốn quay về với Chúa trước tiên phải lập lại lời thề và trả lại những gì đã cướp bóc. Nếu không, “kẻ ấy chắc chắn phải chết.” (Ed 33, 14t) Người thu thuế hối cải là Dakêu đã hứa với Chúa Giêsu là sẽ bồi thường gấp bốn những gì mình đã kiếm được do lường gạt kẻ khác (Lc 19,8).
Một khi đã lỗi phép công bình giao hoán, thì theo luật tự nhiên, phải bồi thường. Vì thế, nếu bây giờ không thể bồi thường được, thì phải dốc lòng bồi thường khi có thể được. Tội sẽ không được tha, nếu không trả lại vật đã lấy của kẻ khác, khi có thể. Ngoài ra, lý trí con người cũng dạy như vậy, vì công bình nhắm về thế quân bình, nghĩa là mỗi người phải được sự gì mình làm chủ. Sau vụ trộm, hay sau khi bị thiệt hại, thế quân bình bị mất đi nên cần phải được bồi thường để lập lại thế quân bình đó. Vì thế, người nào không đền bù, không hoàn trả, thì lỗi phép công bình, vì họ tiếp tục tình trạng làm mất quân bình mà chính họ tạo ra cách bất công cho người khác.
Ở đây cũng cần lưu ý là cần phải bồi thường vì đã lỗi đức công bình, trong khi lỗi những thứ khác, như bác ái, đạo đức, không buộc bồi thường. Ai vi phạm các nhân đức ấy thì cũng có “nợ”, nhưng có thể nói đó là nợ “tinh thần”, vì người vi phạm không cướp đoạt vật gì của ai, mà chỉ bỏ qua hay thiếu sót, không làm đúng lúc, theo luật định, điều mà họ phải làm. Cho nên, khi thời gian đã qua rồi, nếu không còn luật buộc nữa, thì người ấy không bị ràng buộc điều gì nữa. Nếu luật buộc còn thì người ấy chỉ làm trọn luật ấy thôi thì cũng đã đủ.
Nghĩa vụ bồi thường nặng hay nhẹ là tùy giá trị của tài sản đã bị cầm giữ cách bất chính hay tùy theo thiệt hại đã gây ra là nặng hay nhẹ. Cho dù trong khi ăn cắp, đương sự tưởng rằng vật ấy ít giá trị, người ấy vẫn phải bồi thường nếu rốt cuộc biết được vật ấy có giá trị rất lớn.
Nếu bổn phận bồi thường dựa vào luật tự nhiên và bổn phận bồi thường dựa theo luật thiết định không giống nhau, thì phải theo nguyên tắc này: nếu bổn phận căn cứ vào luật tự nhiên mà bao quát rộng rãi hơn thì đây chính là bổn phận ràng buộc ta trong lương tâm. Còn nếu những đòi hỏi của luật thiết định đi xa hơn những gì luật tự nhiên đòi hỏi thì chỉ buộc thi hành sau khi toà án quyết định. Tuy nhiên, như B. Haering nhận xét, ta không được phép thúc ép toà xử các vụ ấy nếu thấy mức bồi thường theo luật thiết định sẽ gây ra rất nhiều khó khăn không đáng cho một bị can nghèo nàn.
Ta luôn luôn phải lấy tinh thần bác ái Kitô giáo điều hoà những đòi hỏi của sự công bằng nghiêm nhặt. "Vì cũng như trong mọi lãnh vực của cuộc sống ta phải đưa đức công liêm vào để làm cân bằng những đòi hỏi nghiêm nhặt của sự công bằng giao hoán. Việc bồi thường có thể gây ra khốn khó nhiều cho một số cá nhân, đôi khi quá lớn so với lỗi người ấy đã phạm. Mặt khác, sự thiệt hại đôi khi không đáng kể gì đối với phía bị hại. Trong những trường hợp ấy, phía có tội phải tỏ rõ thiện chí, nhưng vì hoàn cảnh có thể không nên buộc người ấy phải mang lấy toàn bộ gánh nặng bồi thường thiệt hại do mình gây ra” (tr. 288-289).
Khi không thể trả lại cùng một vật mà nó đã lấy hay đã làm hỏng mất, thí dụ, trường hợp sát nhân, gây thương tích trầm trọng, vu khống,… có buộc thủ phạm lấy tiền mà bồi thường không ? Vấn đề nầy hơi phức tạp vì phép công bình buộc bồi thường sòng phẳng. Vậy mà dù đã có bao nhiêu tiền đi nữa, cũng không tương đương với sinh mạng con người, cụt tay... và vì không tương xứng, nên không thể nói được là bồi thường. Tuy nhiên hối nhân có thể trả cho nạn nhân ít nhiều tiền, thì mới hợp tình hợp lý. Trong trường hợp nầy, nạn nhân có quyền thưa phạm nhân ra tòa, có quyền đòi bồi thường, để cho công bình được ổn thỏa và Tòa án dân sự có thể buộc thủ phạm phải bồi thường bằng hiện kim, cũng như có thể tống giam phạm nhân.
Luật buộc bồi thường buộc phải có hành vi tích cực là bồi thường, đồng thời cũng kèm theo luật tiêu cực, là không được cầm giữ thứ gì của kẻ khác. Vì thế, ai càng giữ lâu vật gì của kẻ khác, càng kéo dài tội lỗi và có khi gia tăng tội trạng, nếu vì đó mà khổ chủ bị thiệt hại nhiều hơn hoặc có sự khó chịu nhiều hơn.
Luật bồi thường do 2 nguyên nhân sau nầy: một là vì cầm giữ trái phép của kẻ khác. Trái phép cách mô thức hay chất thể. Mô thức có tội và gian ý. Chất thể thì phạm nhân không mắc tội chi hết vì do vô tình. Hai là gây thiệt hại bất công: hoặc có ý gây thiệt hại tài sản của kẻ khác, hoặc ngăn cản không cho kẻ khác nhận được cái mà người ấy làm chủ. Nếu vi phạm cách chất thể, thì lấy bao nhiêu chỉ phải trả bấy nhiêu. Nếu vi phạm cách mô thể, thì gây thiệt hại bao nhiêu, phải bồi thường bấy nhiêu.
5.1 Bồi thường vì đã chiếm hữu bất chính
Nghĩa vụ bồi thường nầy dựa trên ba nguyên tắc sau đây: Trước hết, phải trả lại cho sở hữu chủ những của cải đã lấy hay đã cầm giữ cách bất chính. Thứ hai, chỉ có sở hữu chủ được quyền hưởng những hoa trái do của cải ấy mang lại. Cuối cùng, nếu vật ấy hư hỏng, thì bình thường chỉ có chủ nhân là người chịu thiệt.
- Trường hợp làm chủ với sự ngụy tín là trường hợp những người giữ của người khác một cách bất chính và biết rõ. Đây là trường hợp của những người trộm cắp, của những người mua hay nhận các vật lấy cắp dù vẫn biết chúng đã được chiếm hữu cách xấu xa ; hay là trường hợp của người mắc nợ mà không trả nợ, của người nhặt được vật của người khác mà không trả cho chủ của nó dù có thể làm được, và của tất cả những ai lường gạt để lấy của người khác.
Người sở hữu một cách ngụy tín không những phải trả lại những vật đã lấy gian cùng với những lợi lộc sinh ra một cách tự nhiên từ những vật ấy. Người ấy còn phải bồi thường cho bất cứ tình trạng giảm sút giá trị nào của vật ấy và trên nguyên tắc phải sửa chữa mọi thiệt hại đi theo mà mình đã dự kiến ít là một cách mơ hồ. Còn những kết quả do sức lao động của mình làm ra thì được phép giữ lại. Đương sự cũng đuợc phép trừ đi những phí tổn cần thiết và hữu ích thật sự mà mình đã phải chịu.
Nếu còn giữ vật ấy thì phải trả lại càng sớm càng tốt. Nếu làm như thế có thể tiết lộ tông tích trộm cắp của mình thì có thế giao trả một vật tương đương. Nếu cũng không thể làm như thế thì có thể chờ cho tới khi có cơ hội thuận lợi. Nếu đã cho đi hay đã bán vật ấy, lại không thể chuộc lại từ người đã nhận hay đã mua, hoặc nếu đã tiêu dùng hay đã làm hỏng hoàn toàn vật ấy thì phải trả một số tiền tương đương với vật ấy cho chủ.
Nếu đã mua vật ấy một cách ngụy tín từ một người trộm cắp hay từ một người trung gian, thì có thể bán lại vật ấy cho những người vừa kể để lấy lại tiền. Bằng không, phải trả nó cho chủ nhân hợp pháp của nó.
Nếu vật hư hỏng là do cầm giữ bất chính, đương sự phải bồi thường thiệt hại ấy cho chủ nhân. Nhưng nếu dù có nằm trong tay chủ, vật ấy cũng bị hư hỏng như do lụt lội chung hay do một khuyết điểm tự bản thân vật ấy thì người ấy không bó buộc phải bồi thường. Luật này vẫn đúng dù vật ấy sẽ có thể hư hỏng khi ở trong tay chủ vì một lý do nào khác. Tuy nhiên, người sở hữu vật cách bất chính có thể bị buộc phải bồi thường tới một mức nào đó, nếu chủ nhân của nó bị thua thiệt chính trong khi ta cầm giữ vật ấy.
Nếu không tìm ra được chủ nhân hợp pháp của vật ấy, như vật bị lấy cắp trên xe hay trên tàu, thì người sở hữu bất chính không được quyền giữ vật ấy. Đương sự phải bồi thường cho người nghèo theo nguyên tắc sau đây: Không ai được phép làm giàu cho mình dựa trên sở hữu của người khác. Tuy nhiên, đương sự được phép trì hoãn việc bồi thường này bao lâu mình còn nghèo túng.
- Làm chủ với sự thành tín là vì không biết và không do lỗi mình đã giữ tài sản của người khác. Chẳng hạn, một người đã mua hay đã nhận tài sản của một người bán lại hay của một người tặng cho, mà vẫn tưởng rằng đó là tài sản của những người ấy, đang khi đó là những của ăn cắp. Tuy đương sự thành tín, nhưng vẫn không phải là chủ nhân hợp pháp của vật ấy.
Người sở hữu một cách thành tín phải trả lại tài sản của người khác ngay khi biết được đây không phải là vật sở hữu hợp pháp. Nếu không có lý do hợp lý mà trì hoãn trả lại thì phải bồi thường những thiệt hại mà chủ nhân nó phải chịu trong thời gian ấy.
Phải trả lại chính sự vật và những lợi lộc phát sinh từ đó trong tình trạng của chúng đúng vào thời điểm phát hiện ra chủ nhân hợp pháp của chúng. Người sở hữu một cách thành tín không cần phải bồi thường bất cứ sự xuống cấp nào của vật kể cả khi nó xuống cấp là do người ấy bất cẩn. Mặt khác, đương sự cũng không được phép giữ lại một phần cho mình nếu trong quá trình cất giữ vật ấy, vật được tăng giá trị. Tuy nhiên, những lợi lộc phát sinh từ sự khéo léo và chăm chỉ của đương sự thì được quyền giữ lại hay nếu các lợi lộc ấy có cũng là do kết quả tự nhiên của vật đó thì được phép giữ lại phần tương xứng với công sức của mình. Cũng thế, được phép khấu trừ những phí tổn trong việc bảo quản hay cải thiện vật ấy.
Nếu chỉ sau khi tiêu dùng hết hay đã làm hỏng vật mới khám phá ra chủ nhân, thì không buộc bồi thường. Nếu đã bán đi thì chủ nhân phải đòi lại nơi người mua. Tuy nhiên, nếu người sở hữu cách thành tín đã nhận vật ấy như quà biếu hay như một vật vừa mua vừa cho thì đương sự có bổn phận trả lại cho chủ nhân một cái gì đó tương đương, vì nhờ đó mà mình đã trở nên giàu có do không phải dùng đến tài sản của mình hay do vận dụng được vật ấy cách nào đó. Nếu trong trường hợp này vật đã được bán và chủ nhân có thể lấy lại từ người mua, thì người sở hữu cách thành tín vẫn phải trả cho chủ nhân phần giá trị mà nhờ đó mình được giàu lên, ít ra khi chủ nhân yêu cầu.
Phải luôn luôn trả lại cho chủ nhân hợp pháp ngay khi người ấy đòi. Nếu họ không đòi, như vì không biết ai đang giữ, thì người sở hữu cách thành tín có thể trả lại cho người trộm mà mình đã mua để lấy lại tiền, nếu không còn cách nào khác để lấy lại số tiền đó. Nếu không thể tìm ra người đã trộm cắp thì phải trả cho chủ nhân hợp pháp của nó dù vì thế có thể bị lỗ.
Nếu sau khi điều tra thoả đáng mà không tìm ra được chủ nhân hợp pháp, thì người sở hữu cách thành tín được phép giữ vật đó làm của mình và áp dụng luật thời hiệu. Thời hạn đòi buộc này sẽ tùy vào luật thiết định của mỗi nước.
- Làm chủ một cách bán tín bán nghi là trường hợp của những người có những lý do tốt nhưng không đủ thuyết phục rằng mình đang sở hữu tài sản của người khác một cách sai trái.
Người làm chủ một cách nghi ngờ có bổn phận phải điều tra về chủ nhân đích thật của vật một cách tương xứng với giá trị của vật ấy. Nếu đã cố gắng nhưng không có kết quả đương sự sẽ là người sở hữu cách thành tín. Đương sự được phép giữ tài sản ấy làm của mình.
Nếu bê trễ không chịu điều tra nghiêm túc, đương sự sẽ là người sở hữu cách ngụy tín. Nếu sau khi bê trễ như vậy, đương sự đã chữa lỗi bằng cách tìm kiếm chủ nhân của tài sản mà không được, thì đương sự chỉ mắc tội đã bê trễ nhưng được phép giữ vật ấy vì không có ai khác có quyền rõ ràng trên vật ấy (tr. 289-294).
5.2 Bồi thường cho những lần trốn thuế
Trước đây, nhiều tác giả cho rằng luật thuế chỉ là luật hình sự. Thế nên, các công nhân không bị ràng buộc tận trong lương tâm phải nộp thuế, nghĩa là chỉ buộc phải tuân thủ các hình phạt được đặt ra cho những ai trốn thuế mà bị phát hiện. Tuy nhiên, ngày nay lý thuyết này hầu như đã bị bãi bỏ hẳn. Nộp các khoản thuế công bằng là một bổn phận trong lương tâm ; vi phạm nghĩa vụ ấy là lỗi phạm đến đức công bằng. Nếu quả như vậy thì sẽ phải đặt vấn đề bồi thường những sự trốn thuế.
Trên nguyên tắc, phải bồi thường việc trốn thuế cho nhà nước, nếu điều này có thể làm được mà không sợ gây ra những khó khăn lớn không tương xứng. Nếu có khó khăn nghiêm trọng, thì có thể bồi thường dưới hình thức là hiến tặng cho những mục đích từ thiện hay cho những dự án có ích cho xã hội. Chẳng hạn, nếu sợ bị phạt do việc trốn thuế của mình được lộ ra khi nộp tiền bồi thường cho sở lợi tức trong nước, ta có thể chọn cách bồi thường gián tiếp như vừa kể. Sở dĩ thế là vì những quà hiến tặng như thế cũng đóng góp cho công ích (tr. 294-296).
5.3 Bồi thường do thiệt hại bất công
Làm thiệt hại một cách bất công là gây ra thiệt hại đối với tài sản của một người khác nhưng cũng không thu được lợi ích vật chất cho người gây ra thiệt hại. Chẳng hạn như đốt nhà hay gây ra thiệt hại vì vụng về trong nghề nghiệp. Muốn đặt ra bổn phận bồi thường thì phải có ba điều kiện sau đây.
- Hành động của người ấy là một việc làm bất công, nghĩa là có vi phạm thực sự đến quyền lợi của kẻ khác. Đó là sự thiệt hại thật sự bất công một cách khách quan. Một sự thiệt hại không phải là bất công khi do tự vệ chính đáng chẳng hạn. Nhưng là bất công khi dùng các phương tiện bất chính để cản trở người khác nhận những cái mà người ấy có quyền hưởng như một gia tài chẳng hạn.
- Hành động ấy là một tội thực sự theo lương tâm, bởi vì để bắt bồi thường theo lương tâm thì lương tâm người ấy phải “thấy” mình mắc tội thực sự khi nào đương sự hữu ý muốn trực tiếp hoặc gián tiếp sự thiệt hại đó. Thí dụ, thường phải bồi thường khi đàn vật của người nầy gây thiệt hại tài sản của người khác. Tuy nhiên, nếu sự thiệt hại do không chú ý xảy ra cho một khách hàng, cho dù mình đã sử dụng những biện pháp thông thường và đã tận dụng tài năng của mình, thì không có bổn phận phải bồi thường. Những ai gây thiệt hại khi đang ở trong tình trạng bị kích thích thì phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại đã gây ra, trong mức độ mình đã có thể đoán trước, thí dụ tài xế gây ra tai nạn do say rượu.
Cần lưu ý là trước mặt luật pháp, mọi công dân phải chịu trách nhiệm về những lỗi chỉ có giá trị về mặt tư pháp, nhưng những thiệt hại gây ra do không chú ý thì không do lỗi của chủ thể. Mọi công dân đều được giả định là đã biết luật ; vả lại chính quyền cũng không thể nào chắc chắn luôn luôn hành vi phạm luật này là do lỗi chủ quan hay không do lỗi chủ quan. Như thế, người mắc lỗi trước mặt tư pháp cũng có bổn phận phải đền bù các thiệt hại sau khi toà đã phán xử.
- Hành vi phải là nguyên nhân thật sự đưa tới thiệt hại, chứ không chỉ là cơ hội cho sự thiệt hại ấy xảy ra.
Vì thế, người ta không cần bồi thường các thiệt hại gây ra do cơn gió vô tình mang tàn lửa của đống rác nhà nầy vào làm cháy nhà một người khác. Tuy nhiên, nếu thấy gió đổi hướng và thấy có thể gây nguy hiểm cho người hàng xóm thì buộc phải dập tắt ngay. Bằng không, ta có thể phải chịu trách nhiệm về một cơn hoả hoạn. Cũng vậy, ta không bị buộc phải bồi thường khi chỉ ảnh hưởng tới người khác do gương xấu của mình, khiến người thứ ba phải chịu thiệt hại. Cũng không có bổn phận phải bồi thường khi người này phạm pháp nhưng một người vô tội bị phạt do lầm lẫn. Tuy nhiên, nếu cố ý gây nghi ngờ cho người vô tội, thì phải bồi thường và nếu cần, phải ra trình diện để cứu người vô tội.
Vì thế khi anh A ăn cắp đồ của anh B, người ta lại lầm tưởng anh C ăn cắp nên tống ngục, anh A. có phải đền gì cho anh C không ? Nói chung thì không, bởi vì hành động tội lỗi của anh A. không hữu ý gây thiệt hại cho anh C mà gây cách ngẫu nhiên, do sự lầm lạc của nhà chức trách. Nói cách khác, hành động tội lỗi của anh A. không phải là nguyên nhân hữu hiệu gây nên thiệt hại cho anh C. Nguyên nhân hữu hiệu là sự lầm lẫn của nhà chức trách.
Bổn phận bồi thường những thiệt hại đã cố tình gây ra sẽ là bổn phận lớn nếu thiệt hại ấy là nặng, và sẽ là bổn phận nhỏ nếu thiệt hại ấy là nhẹ. Điều này vẫn đúng khi một người, do phán đoán sai, cho rằng mình chỉ mới phạm tội nhẹ dù đã gây thiệt hại nặng. Bổn phận phải bồi thường những thiệt hại nặng vẫn là bổn phận lớn.
Những thiệt hại, bất kể nặng hay nhẹ được gây ra do không chú ý hay không suy xét đủ thì không buộc phải bồi thường, dù người gây ra cũng có lỗi nhẹ. Đây là ý kiến được nhiều người chấp nhận. Bởi lẽ một hành vi nhân linh không trọn vẹn không thể là cơ sở cho ta quy kết thành một bổn phận nặng. Một bổn phận rõ ràng là nhẹ cũng không thể đặt ra một gánh nặng lớn. Như vậy, nếu trong những trường hợp này sự thiệt hại nặng mà cũng không cần được bồi thường thì huống nữa là những thiệt hại nhẹ. Tuy nhiên, cả trong trường hợp thứ hai này nếu tòa quyết định thế, ta vẫn phải chịu trách nhiệm về một lỗi chỉ có trước mặt pháp luật (tr. 297-299).
Người ta có thể nêu lên 9 cách đồng lõa: Người sai khiến ; Kẻ bàn mưu ; Người đồng tình ; Người khen nịnh ; Kẻ chấp chứa ; Người dự phần ; Không lên tiếng ; Không can thiệp ; Không tố cáo. Sáu cách đồng lõa đầu là cộng tác cách tích cực còn 3 cách sau chỉ là cộng tác cách tiêu cực.
Cộng tác vào việc gây thiệt hại bất công có thể là những sự đồng lõa tích cực như giúp đỡ thật sự hay ủng hộ về mặt tinh thần hoặc là sự đồng lõa tiêu cực, như không ngăn chận bất công khi có thể làm và cần phải làm. Để có thể đưa ra bổn phận bồi thường ở đây, cần có những điều kiện như trong trường hợp gây ra thiệt hại cách bất công (hành vi phải bất công, có tội xét về mặt chủ thể và là nguyên nhân thật sự đưa tới những thiệt hại ấy).
Nói chung, người ta thường áp dụng những nguyên tắc sau đây: người đã cộng tác tích cực thì buộc phải sửa chữa những thiệt hại đã gây ra một cách cụ thể có ý thức, cho dù thiệt hại ấy cũng có thể xảy ra nếu không có sự giúp đỡ của mình ; còn người đã cộng tác tiêu cực thì buộc phải sửa chữa những thiệt hại mà mình có thể hay đáng lẽ phải ngăn chận.
Trong trường hợp cộng tác tích cực, kẻ đáng tội nhất chính là người ra lệnh, buộc người ta phải làm một việc bất công. Đó là người trước tiên có bổn phận phải sửa chữa tất cả những thiệt hại đã gây ra, nhân danh mình. Yêu sách, hứa hẹn và đe dọa đều là những hành vi khiến ta phải có bổn phận ấy. Nếu áp lực trên người thi hành sự bất công bằng võ lực, bằng sự sợ hãi, lừa gạt hay lạm quyền thì đương sự cũng phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà người thừa hành có thể phải chịu.
Người thi hành sự bất công là kẻ thứ hai có bổn phận phải sửa chữa những thiệt hại đã gây ra, trừ khi người ấy được miễn quy trách vì đã bị áp lực bằng võ lực và bằng sự sợ hãi. Nếu người thi hành gây ra thiệt hại lớn hơn mức yêu cầu, hoặc do ác ý hay do không biết mà vì lỗi mình, thì theo luật công bằng hiểu theo nghĩa chặt người ra lệnh không buộc phải sửa chữa những thiệt hại phụ trội ấy. Nếu lệnh bị thu hồi trước khi thiệt hại bị gây ra và lệnh ấy đã được thông báo cho người thi hành, thì chỉ có người thi hành bồi thường thiệt hại nếu cứ tiếp tục hành động.
Một người cố vấn, dùng ý kiến của mình lôi kéo người khác gây ra thiệt hại hay chỉ cho người ấy cách gây thiệt hại, phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đã gây ra, tùy theo mức độ ý kiến người ấy là nguyên nhân thực sự đưa tới sự xấu xa ấy như thế nào. Người ấy có bổn phận phải bồi thường, trừ khi kịp rút lại lời khuyên của mình. Tuy nhiên, sẽ không có nghĩa vụ bồi thường, nếu người được khuyên bảo đã quyết tâm hành động cách bất công, dù có lời khuyên ấy hay không. Các cha giải tội, các luật sư, các thầy thuốc, v.v... đã đưa ra những ý kiến sai vì không biết nhưng do lỗi của mình thì theo luật công bằng phải có bổn phận rút lại những ý kiến ấy ; bằng không thì phải bồi thường những thiệt hại gây ra do lời khuyên ấy. Nếu ý kiến đã được rút lại mà người được cố vấn vẫn cứ quyết tâm gây thiệt hại, thì người cố vấn theo đức công bằng có bổn phận phải cảnh cáo người ấy, miễn là người này còn chịu ảnh hưởng của những lời người ấy đóng góp. Tuy nhiên, nếu người được cố vấn vẫn tiến hành công việc chỉ vì ác tâm của mình, thì ta chỉ bị buộc cảnh cáo trước với người ấy vì đức ái thôi.
Như thế nếu tên A đã định đi ăn trộm, tên B nhảy vô ăn có, thúc đẩy thêm, thì tên B không phải đền, bởi vì sự cộng tác của B chỉ là dư thừa. Ngược lại, nếu B bày mưu để đạt tới mục tiêu cách chính xác hơn, chắc chắn thành công hơn, thì B phải đền, vì B là đồng nguyên nhân hữu hiệu. Cũng phải nói như vậy về người nào thúc đẩy mạnh tên trộm đang còn do dự, làm nó trở nên cương quyết hơn. Trường hợp A đã dốc quyết giết B ; anh C chỉ bàn: nên giết B bằng độc dược thay vì bằng súng đạn, hay dao găm. Trường hợp nầy phải nói đúng hơn là “không đền”, miễn là chắc chắn A sẽ không đổi ý định. Bởi vì lời bàn của C không ảnh hưởng đến sự mưu sát, mà chỉ ảnh hưởng đến cách giết người. Cho nên không phải là nguyên nhân của cái chết của anh B.
Về việc rút lời thì trước khi sự thiệt hại xảy đến, người cố vấn, do công bình, phải rút lời. Mỗi người không được để cho hành vi của mình có thể làm hại người anh em mình. Sau khi rút lại lời bàn và thực sự lời bàn ấy không còn chi phối ai nữa, thì người cố vấn cũng hết nghĩa vụ đền bù. Nếu người cố vấn chỉ bàn thoáng qua mà thôi thì một lời nói cho thấy ý muốn rút lời lại thiết tưởng đã đủ. Nếu người cố vấn đã bàn sâu rộng với nhiều cân nhắc lợi hại, thì thiết tưởng sự rút lời lại cách đơn sơ chưa đủ, nghĩa là chưa được coi là rút lời. Tuy vậy, nếu người cố vấn có cố gắng đưa ra những lý do siêu nhiên, thí dụ nói về việc rỗi linh hồn, thiên đàng hỏa ngục, v.v.. để khuyên bảo người được cố vấn bỏ ý định đen tối, thì cũng kể là có rút lời lại. Nếu người cố vấn không chận được người được cố vấn, thì phép công bình buộc phải báo tin cho nạn nhân biết mà đề phòng.
Tán thành. ca ngợi, nịnh hót, chế giễu, đó có thể là những cách hữu hiệu để cộng tác vào sự bất công và là nguyên cớ tạo ra bổn phận phải bồi thường, như dùng các cách này để thuyết phục người làm điều xấu không thi hành bổn phận bồi thường. Sự tán thành của bậc cha mẹ hay của bề trên có thể là nguyên nhân hữu hiệu đưa tới những thiệt hại mà con cái hay bề dưới của họ sẽ gây ra, nhất là khi con cái hay bề dưới này không hiểu biết. Những ai tán thành với điều xấu thì có bổn phận là người thứ hai phải sửa chữa những thiệt hại đã gây ra, một cách cân xứng với tầm ảnh hưởng của những lời tán thành ấy.
Ai cho người xấu trú ẩn, tiếp nhận và giấu diếm những hàng hóa bất chính đều phải chịu trách nhiệm cùng với người xấu ấy. Đương sự có bổn phận phải bồi thường thay mặt cho nhân vật chính tùy theo mức mình đã cộng tác hữu hiệu tới đâu trong sự bất công ấy. Tuy nhiên, che chở một người bạn chỉ vì tình bạn thì không hẳn là cộng tác vào sự bất công. Cũng vậy, nếu cho một tên trộm trú ẩn chỉ để tránh cho mình bị thiệt hại nặng nề.
Khi chứa giấu kẻ gian hay đồ gian, hoặc bênh vực kẻ gian, đương sự có ý bao che cho kẻ xấu thêm lộng hành hay làm cho nó thêm cố chấp trong sự xấu. Vì người bao che có ảnh hưởng cách hữu hiệu trong việc lỗi phép công bình nên đương sự phải đền. Những người chứa chấp mà phải chịu trách nhiệm thường là: người buôn lậu và các kẻ đầu cơ tích trữ chuyên môn ; những chủ nhà trọ chứa con cái bỏ nhà cha mẹ, để tự do rượu chè cờ bạc ; những người quyền thế bao che kẻ bề dưới đi ăn cắp, ăn cướp hoặc hối lộ và những luật sư biện hộ những vụ bất công cách rõ ràng.
Ai đóng góp tích cực vào một hành vi bất công thì buộc phải sửa chữa lại thiệt hại mà mình đã là nguyên nhân hữu hiệu và đáng trách đưa tới chỗ đó. Nếu đã nhận một phần của cải một cách bất chính thì phải hoàn trả lại. Nếu là người cộng tác vào những thiệt hại bất công thì phải sửa chữa những thiệt hại đã gây ra. Buộc phải sửa chữa toàn bộ thiệt hại một cách bình đẳng như những người cộng tác khác, nếu sự cộng tác của mình trước đây là sự cộng tác rất cần để gây ra thiệt hại. Chỉ buộc phải sửa chữa phần thiệt hại mình đã đích thân gây ra, nếu sự cộng tác của mình không cần thiết để gây ra sự thiệt hại. Nếu chỉ cộng tác một cách chất thể vì những lý do chính đáng thì thường không buộc phải bồi thường.
Cộng tác tiêu cực là thiếu sót một cách đáng trách trong việc ngăn chận những thiệt hại bất công gây ra cho người lân cận của mình. Các nhà thần học luân lý thường cho rằng những ai theo lẽ công bằng có bổn phận phải ngăn chận sự thiệt hại gây ra cho người khác, do chức vụ, địa vị hay giao kèo của mình, mà lại không làm dù đã có thể làm mà không phải chịu một sự phiền phức nào quá lớn thì có bổn phận phải bồi thường. Chẳng hạn những người bảo vệ, người chăm sóc, người thu thuế và nhân viên hải quan phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại gây ra do sự bất cẩn và lơ là của mình đối với nghĩa vụ (trừ khi đó là một sự việc không đáng kể hay là người nghèo) và phải bồi thường.
Tuy nhiên, trong thực tế hình như việc này không được nhấn mạnh lắm. Chẳng hạn một người bảo vệ đã lơ là trong việc trông coi cửa hàng nữ trang, khiến cho trộm đột nhập vào cướp của, khó có khả năng bồi thường các thiệt hại, dù vẫn bị phạt dưới một hình thức nào đó: lý do là vì sự thiệt hại ấy không hề do người ấy gây ra nhưng do một người khác. Nguyên việc bất cẩn hay thiếu tích cực của người ấy không đủ để gây ra các thiệt hại này.
Còn đối với các tài xế lái xe khi say rượu, gây ra những thiệt hại cho người khác. Họ thật sự là nguyên nhân của thiệt hại ấy và có bổn phận phải bồi thường. Đối với các chủ nhân các thú vật đã không canh giữ chúng cách cẩn thận cũng thế. Vì chúng là tài sản và trực tiếp do họ điều khiển, nên họ có bổn phận phải sửa chữa lại những thiệt hại mà các thú vật của họ đã gây ra khi họ không kiểm soát chúng. Đàng khác trong việc cộng tác tiêu cực, không có nguyên nhân nào ta đã gây ra có thể đưa tới thiệt hại như một người chỉ lơ là, kể cả khi lơ là một cách đáng tội, không ngăn chận một nguyên nhân gây hại, nhưng nguyên nhân này là do một người khác gây ra. Nghĩa vụ bồi thường trong trường hợp này xem ra không rõ lắm và bởi đó thường không bị thúc bách quyết liệt. Mọi tác giả đều nhất trí cho rằng ai chỉ bị ràng buộc do đức ái phải ngăn chận những thiệt hại do bất công gây ra, thì không bị ràng buộc do đức công bằng phải sửa chữa lại những mất mát của người khác, dù vô tâm hay bất cẩn ở đây đều là tội, đôi khi là tội nặng nữa. Chẳng hạn một người không phải là bảo vệ của một nhà nọ, chỉ vì đức ái mà có bổn phận phải bấm nút báo động hỏa hoạn khi thấy lửa. Cũng thế, một cha giải tội không bị buộc phải bồi thường nếu quên nhắc nhở hối nhân về nghĩa vụ bồi thường của họ, trừ khi im lặng ở đây có nghĩa là đã có ý kiến một cách mặc nhiên rồi (tr. 300-303).
Trước hết phải phân biệt “của” có chủ chắc chắn và “của” không biết ai làm chủ. Khi không biết ai làm chủ, người thủ đắc của ấy phải lo tìm cho ra: lo tìm nhiều hay ít tùy vật ấy giá đáng nhiều hay ít. Khi tìm ra được chủ thì trên nguyên tắc, người nào chịu thiệt hại vật chất cách bất công thì phải được bồi thường. Nếu người ấy đã chết, thì phải bồi thường cho những người thừa kế của người ấy.
Điều này cũng áp dụng cho trường hợp người bị thiệt hại là một pháp nhân, như một công ty cổ phần, một công ty bảo hiểm hay nhà nước. Tuy nhiên, khi phải bồi thường cho nhà nước hay cho những xí nghiệp quốc doanh hoặc cho những tổ chức rộng lớn khác, người ta hay làm bằng cách dâng cúng cho người nghèo, cho các cơ quan từ thiện hay cho những sự việc có tầm cỡ xã hội khác. Ở nơi nào nhà nước không trợ giúp các trường Kitô giáo, cũng có thể bồi thường bằng cách đóng góp cho các trường ấy. Sở dĩ thế là vì bổn phận trợ giúp các việc từ thiện và xã hội là bổn phận của nhà nước. Những xí nghiệp kinh tế khổng lồ cũng có thể bồi thường bằng cách đứng ra bảo trợ các dự án vừa kể.
B. Haering cũng có lý khi nói rằng "cũng có thể làm việc bồi thường bằng cách đóng góp cho người nghèo, nếu người được bồi thường ấy là một người giàu có nhưng lại cư xử với người nghèo rất thiếu tinh thần công bằng xã hội và bác ái". Cũng vậy, ta có thể chu toàn bổn phận bồi thường bằng cách trả một số tiền tương đương cho chủ nợ của người được ta bồi thường, nếu chủ nợ này không thể nhận được tiền thanh toán cách nào khác.
Nếu không biết ai phải được ta bồi thường hay nếu không thể (về mặt luân lý) làm việc bồi thường cho người bị hại, chẳng hạn như sẽ kéo theo những khó khăn không đáng phải chịu hay sẽ đưa tới những phí tổn to lớn một cách không cân xứng, thì người sở hữu một cách thành tín được phép giữ vật ấy, còn người sở hữu một cách ngụy tín có nhiệm vụ phải bồi thường cho người nghèo. Nếu trong trường hợp thứ hai này chủ nợ của người được ta bồi thường mãi về sau mới xuất hiện thì con nợ chắn hẳn được miễn khỏi mọi thứ bổn phận khác vì đã chu toàn bổn phận của mình cách tốt nhất rồi.
Mỗi khi có thể hay nên bồi thường bằng cách trả cho người nghèo, nếu bản thân người có nhiệm vụ bồi thường cũng nghèo thì người ấy được phép giữ lại số của ấy bao lâu còn nghèo. Khi phải bồi thường cho phía bị thiệt hại mà lại bồi thường cho người nghèo thì kể như chưa chu toàn nghĩa vụ. Tuy nhiên, đối với những người này, người ta thường để cho họ yên với lòng thành tín của mình.
Nếu người có bổn phận bồi thường lỡ chết mà chưa chu toàn bổn phận thì những người thừa kế sẽ phải làm việc ấy. Tuy nhiên, họ không bị buộc phải trả hơn mức mà họ có trong di sản (tr. 304-305).
Một vài trường hợp:
Nếu đã ân cần tìm chủ mà không gặp, tên ăn trộm đã bố thí cho tất cả những ai mà theo phép công bình phải đền. Bỗng nhiên, người chủ xuất hiện đòi trả “nợ”, vậy “con nợ” có phải trả số tiền ấy một lần nữa cho chủ không ? Nếu thực sự tên trộm đã hết sức tìm mà không gặp và cũng không hy vọng gặp chủ, thì không phải đền trả gì nữa. Tuy nhiên Dân Luật thường có định “thời hiệu” cho việc nầy. Nhưng nếu tên trộm ấy vì không tìm nên không gặp được chủ và nếu nó cứ mang của đi bố thí, thì nó chưa làm xong nghĩa vụ phải làm, là đền cho người bị thiệt hại, vì thế nó phải đền một lần khác nữa.
Nếu mình làm hư đồ gì của người khác, mà không rõ đồ ấy là của ai, có phải đền không ? và đền cho ai ? Có lẽ không buộc đền hay bố thí cho kẻ nghèo, vì với vật hư hại đó mình không có lợi chút nào hết. Việc bảo đảm của chung thiên hạ cũng không bắt buộc mình làm như thế. Tuy nhiên, Cha giải tội nên khuyên người ấy bố thí xứng với phần thiệt hại.
Nếu hối nhân nhờ cha giải tội trả giùm cho người mình mắc nợ, nhưng cha không tìm ra người ấy hay là người ấy không chịu nhận, khi đó cha không được giữ lại cho cha, mà phải bố thí cho kẻ nghèo.
Nói chung cách nào cũng được, miễn là vật ấy đến tận tay người chủ. Vì như thế là đạt được mục đích của việc bồi thường và kể là giữ trọn phép công bình.
Vì thế việc bồi thường cách kín đáo hay công khai, hoặc chính mình hay là nhờ người khác thay thế thì không thành vấn đề. Tuy nhiên, nếu tội kín, thì nên đền cách kín, để tránh mất danh tiếng hay để tránh những sự phiền phức lôi thôi cách nầy cách khác đối với tên trộm. Còn đối với tội đã trống, nghĩa là ai ai đều biết, thì do đức bác ái, chớ không phải đức công bình buộc phải bồi thường cách công khai, để cất đi gương xấu, hoặc để minh oan cho người bị hàm oan.
Trường hợp tên trộm, dù là đền cách kín, cũng không thể nào làm được, thì tên ấy hãy nhờ người trung gian đáng tin cậy, thí dụ: cha giải tội, làm thay. Trong việc nhận làm trung gian, Linh mục hãy cẩn thận giữ tiếng tốt cho hối nhân và nhất là giữ ấn Tòa Giải tội. Vì vậy thông thường khuyên Linh mục đừng dễ dàng làm trung gian, khi không cần.
Người ta có thể bồi thường bằng cách ''đài thọ, tặng biếu'' miễn là chủ nhận được đủ vật đã mất hoặc bị ăn cắp. Nhiều khi phải dùng cách này, để khỏi bị tai tiếng. Ai làm thiệt hại cho nhà nước thì bồi thường bằng cách nộp vô công khố. Còn nếu không, thì có thể làm phúc bố thí hay dâng cúng vào việc xã hội, như các cơ quan từ thiện, nhà săn sóc trẻ em, trại dưỡng lão hoặc các tư thục nghèo…
Một số trường hợp được miễn bồi thường:
- Người chủ tự ý tha và có đủ khả năng để tha. Trường hợp phỏng đoán chủ nợ tha, theo ý chung, cũng được miễn trả nợ, miễn là không nghi ngờ gì ý của chủ, như trường hợp nợ giữa cha và con, chủ với tớ, v.v...
- Con nợ đã đền bù công khai rồi. Thí dụ: tôi đã vay anh 100 đồng trước đây, bây giờ anh mua đồ của tôi đáng giá 100 đồng, thế là huề nợ khi tôi không lấy tiền.
- Khi đã hết thời hiệu luật định.
- Trường hợp tuyên bố phá sản, toàn bộ sở hữu của phía con nợ phải được xử lý theo những quy định của luật thiết định. Những quy định này buộc ta phải chấp hành tự trong lương tâm bao lâu chúng không đi ngược lại luật tự nhiên. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc có buộc trả nợ đầy đủ không khi đã giàu có trở lại. Ý kiến chung của các nhà thần học trước kia và nhiều tác giả hiện nay là người ấy có bổn phận lương tâm phải trả lại đầy đủ số nợ khi đã giàu có trở lại. Nhưng một số tác giả lại có cái nhìn nhẹ nhàng hơn: trong trường hợp phá sản với lòng thành tín (bona fide) thì không buộc trả thêm một khoản gì nữa sau khi vụ việc đã được giải quyết theo luật pháp. Cho dù việc chấm dứt mọi đòi hỏi thêm trước mặt luật pháp không hẳn phải áp dụng cho cả tòa trong, nhưng nợ nần nào cũng được giao kèo với điều kiện mặc nhiên là chúng sẽ không còn hiệu lực nữa khi một bên bị phá sản một cách thành tín. Đó chính là lập luận của những người theo ý kiến thứ hai. Ai tham gia vào thương mại cũng đều hiểu những rủi ro gắn liền với những vấn đề ấy và phải chấp nhận khả năng không may ấy. Còn bị phá sản một cách ngụy tín không miễn cho ta khỏi bổn phận bồi thường, vì tình trạng không thể trả nợ ở đây là ngụy tạo, không thật (tr. 306-307).
Hoãn bồi thường có thể hiểu theo thể lý và luân lý. Thể lý, như khi hoàn cảnh quá khó khăn, không có gì để trả. Luân lý, khi việc trả hay đền phải làm cho đương sự sa sút quá đáng với bậc sống, hay là người ấy phải nhiều thiệt hại trong đời sống, tiếng tốt... Vì thế việc bồi thường có thể được hoãn một thời gian trong những trường hợp sau:
- Khi đền bù thì làm cho mình và gia đình trở nên quá khó khăn, túng thiếu.
- Nếu vì bồi thường mà mất địa vị xã hội mà mình đã kiếm được cách chính đáng.
- Nếu vì việc đền bù mà đương sự phải bán tất cả đồ đạc cần thiết để hành nghề.
- Nếu vì việc đền bù mà đương sự phải tù ngục, chết, mất danh dự,...
- Nếu vì việc đền bù mà kẻ khác nhờ đó lại phạm tội... (thí dụ: trả súng lại cho chủ, chủ sẽ đi giết người...)
Nếu chủ nợ cũng như con nợ đều cùng đồng cảnh ngộ khó khăn thì cần phải phân biệt: nếu chủ nợ đang ở trong hoàn cảnh khó khăn, còn con nợ chưa gặp hoàn cảnh ấy ; con nợ chỉ rơi vào hoàn cảnh khó khăn ấy khi trả nợ xong, thì phải bồi thường vì trong hoàn cảnh giống nhau, quyền người chủ nợ phải hơn. Còn nếu cả hai đều đồng cảnh ngộ hiện thời, thì nhiều tác giả cho phép con nợ giãn ra việc trả nợ ; bởi vì nếu con nợ trả, thì nó sẽ rơi vào tình trạng khốn đốn hơn chủ nợ một cách quá đáng với lỗi nó.
5.9 Bồi thường trong vài trường hợp đặc biệt
- Bồi thường trong trường hợp gây chết người
Trước hết cần xác định có 2 loại thiệt hại: thiệt hại nơi chính con người và thiệt hại về vật chất. Thiệt hại về vật chất lại chia ra làm 2 loại: thiệt hại có trước khi nạn nhân chết và sau khi chết. Trước khi chết, có khi người nhà phải lo thuốc men cho nạn nhân, còn chính nạn nhân phải nghỉ việc. Sau khi nạn nhân qua đời, người nhà lo việc ma chay, không còn cấp dưỡng...
Vì thế, kẻ giết người hay những người thừa kế kẻ giết người phải đền tất cả những thiệt hại về vật chất gây nên bởi tội ác ấy gây ra và chính nó cũng đã tiên liệu, ít là cách chung chung. Lý do là vì tên sát nhân là nguyên nhân các thứ thiệt hại đó. Còn thiệt hại về cá nhân, có lẽ không phải đền, vì không gì có giá trị sánh được với mạng sống con người. Những thiệt hại xảy ra trước khi chết, thì phải đền cho chính người ấy. Nếu người ấy chết rồi, thì đền cho người thừa kế. Bởi vì quyền lợi của kẻ chết được chuyển dịch cho người thừa kế. Những thiệt hại xảy ra sau cái chết, thì phải đền cho vợ con hay cha mẹ người chết. Bởi vì họ và người chết làm thành một pháp nhân, một gia đình. Nạn nhân bị thiệt hại là chính họ bị thiệt hại.
Trường hợp nạn nhân còn có thể sống mấy năm nữa, thì cần phải xét xem đương sự có hay đã có bao nhiêu tuổi, sức khỏe dồi dào hay yếu ớt để đền bù thỏa đáng. Trường hợp nầy, có lẽ phương thế đền bù hay hơn hết là điều đình với các người bà con của nạn nhân. Nếu tội giết người là công khai, thì tòa án sẽ xét xử và quyết định tiền bồi thường. Thường không phải đền theo lương tâm, nếu nạn nhân không bị thiệt hại gì, nếu nạn nhân là người có nhiều tiền của hay là người mắc bệnh quanh năm suốt tháng, không có nghề nghiệp nào hết, mọi sinh hoạt trong gia đình tùy thuộc vào người khác... Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến dân luật, hay phán quyết của tòa án (tòa ngoài) trong trường hợp nầy.
Trường hợp nạn nhân quen giúp đỡ cho một người nào đó, nay vì cái chết của nạn nhân mà họ không được giúp đỡ nữa, thì nói chung, tội nhân không phải đền các thứ thiệt hại đó, trừ khi lúc giết người, tội nhân có chủ tâm gây các sự thiệt hại ấy. Bởi vì các sự thiệt hại đó là trường hợp ngẩu nhiên do cái chết của người kia.
Trường hợp nạn nhân, trước khi chết, tha cho kẻ sát nhân, thì, nói chung, người sát nhân khỏi đền bù bởi vì không làm thiệt hại cho các người thừa kế. Nhưng, nếu người chết là gia trưởng, thì ông lại lỗi đạo làm cha, gây thiệt hại cho vợ, cho con cháu. Đàng khác, cũng phải hiểu rằng: tha lỗi giết người là một chuyện, còn tha đền bù là một chuyện khác ; có thể ông tha lỗi, chớ không tha đền bù.
Trường hợp án mạng xảy ra đang lúc tự vệ, thì tội nhân khỏi đền vì kẻ xâm phạm bất công biết mình có nguy cơ bị giết. Tuy nhiên, nếu kẻ tự vệ cố ý làm quá đáng, thì phải nhận trách nhiệm đền. Không ai có phép tự động giết người khác, trừ khi thật cần thiết để tự bảo vệ mà thôi. Thiết tưởng, trường hợp gây thương tích cho kẻ khác cũng phải áp dụng như vậy.
- Bồi thường trong trường hợp tà dâm
Những thiệt hại do tội tà dâm thường là: thiệt hại về thân xác, mất trinh tiết, không thể lấy gì bù lại được ; thiệt hại về danh thơm tiếng tốt, vì bị hiếp dâm mà người ấy khó lấy chồng, nếu mọi người đều biết ; trường hợp có con, còn phải nuôi dưỡng đứa con, và tương lai của đứa con “hoang” ấy.
Nếu tội tà dâm còn kín, thì nói chung, anh chàng không phải đền cho nàng sau khi đã phạm tội với cô ta, bởi vì không gây thiệt hại nào trong thực tế. Tuy nhiên nếu tội đã lộ ra thì cần phải suy xét thêm. Nếu người con gái tự do ưng thuận, thì không buộc chàng đền vì “kẻ biết và muốn thì không nói được là bị thiệt hại”. Nhưng nếu anh chàng đi khoe khoang tội của nó, thì anh ta phải đền bù tất cả sự thiệt hại xảy ra cho người con gái và cho cha mẹ của nàng nữa. Nếu người con gái không ưng thuận (như bị cưỡng hiếp, bị đe dọa) thì chàng phải đền cho nàng và cho cha mẹ nàng tất cả sự thiệt hại, để nàng được lập gia đình với người khác cách đàng hoàng. Nếu anh ta không đền được bằng cách nào khác, thì anh ta có thể cưới nàng, nếu nàng cũng ưng thuận và nếu không thấy có nguy cơ đổ vỡ sau nầy.
Nếu tội phạm còn kín và không có con, sau đó có một người khác đi tuyên truyền tội xấu đó, thì lúc bấy giờ chính người đi nói xấu phải đền trước tiên, vì chính người nầy là nguyên nhân của sự thiệt hại. Nếu người nầy không đền, thì anh chàng phạm tội kia phải đền.
Trường hợp vì tà dâm mà mang thai thì nếu lúc trước, cô đã ưng thuận phạm tội với chàng, thì theo nhiên luật cả hai liên đới chịu các phí tổn giáo dục đứa con, cho đến lúc đứa con tự túc được. Cả hai phải nhìn nhận đúng với pháp luật, bào thai hay đứa con đã sinh ra rồi là con mình, đừng để đứa trẻ ấy bị mang tiếng là con vô thừa nhận và không được thừa kế. Điều nầy không bắt buộc nếu có điều ngăn trở quan trọng (thí dụ thiếu giấy chứng nhận hôn nhân, v.v...)
Nếu cô gái bị hãm hiếp, thì chàng ta phải gánh chịu các phí tổn giáo dục dưỡng nuôi. Nếu anh chàng bỏ rơi, thì cô nàng vì tình mẫu tử phải gánh vác, nhưng có thể làm đơn tố cáo tên ấy, để nhờ pháp luật bắt buộc tên ấy phải đền bù. Nếu bằng lòng, cô có thể lấy chàng ta để hợp thức hóa đứa con.
Nếu vì những lời đường mật hay năn nỉ dai dẳng mà chàng “ép" được nàng bằng lòng giao du với mình thì anh chàng không phải đền bởi vì kiểu ấy không làm cô mất hẳn tự do, nếu cô thực sự không muốn, thì cô có cách xua đuổi ngay chàng. Cũng phải nói như vậy, nếu chàng có tặng quà để 'lôi kéo' cô. Tuy nhiên người ta trừ những trường hợp như: có năn nỉ mà cũng có ngăn đe ; chàng cứ đeo đuổi nàng cách sổ sàng và vì đó nàng nghĩ, để chấm dứt sự săn đón bất lợi như vậy, thôi mình đành chịu một lần cho rồi...: trường hợp nầy tương đương với sự áp bức luân lý ; chàng không buông tha nàng cho đến khi nào nàng ưng thuận, vì vậy để cho chàng được thỏa mãn một lần cho xong chuyện, kẻo công chúng bắt gặp “solus cum sola” thì thanh danh mình còn ra gì nữa. Trong các trường hợp vừa kể, chàng phải đền một phần nào, chớ không được trốn hết trách nhiệm.
Trường hợp người nào vì hứa hôn mới phạm tội được với người con gái, thì cứ phép công bằng, dù có thể đền bằng cách khác cũng phải cưới nàng làm vợ, dù chàng giả đò hứa... Trừ trường hợp người con gái có thể đoán được và nhận thấy người con trai đểu giả hay là nếu kết bạn với nhau thì sinh ra hậu quả xấu hay là mất tiếng tốt hoặc là người con gái đã không muốn lấy chàng ta hoặc người con gái đã mang nhiều tai tiếng (“hư”) trước đó rồi. Tuy nhiên, nếu người con gái bị hãm hiếp, thì không được ép buộc cô ta lấy anh hiếp mình.
6. Lời mời gọi của Đức Kitô: yêu thương người nghèo
Trong phần cuối của điều răn thứ bảy, sách Giáo Lý Công Giáo đặc biệt nhấn mạnh đến việc yêu thương người nghèo: nghèo tài sản, văn hóa, tôn giáo.
2443 Thiên Chúa chúc phúc cho ai giúp đỡ người nghèo và kết án ai lãnh đạm với họ. “Ai xin thì hãy cho ; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5,42) “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8). Chúa Giêsu Kitô nhận ra kẻ được Người tuyển chọn (x. Mt 25,31-36) qua việc họ đã làm cho người nghèo. Dấu chỉ sự hiện diện của Đức Kitô là “kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5) (x. Lc 4,18).
2444 “Hội Thánh vẫn luôn yêu thương người nghèo... Đây là truyền thống ngàn đời của Hội Thánh” (x. CA 57). Hội Thánh đã múc nguồn cảm hứng cho tình yêu này từ Tin Mừng của Bát Phúc (x. Lc 6, 20-22), từ chính sự nghèo khó của Chúa Giêsu (x. Mt 8, 20) và từ lòng thương xót của Người đối với kẻ nghèo (x. Mc 12, 41-44). Tình yêu đối với người nghèo phải trở thành một trong những động lực thúc đẩy tín hữu hoạt động và “làm ăn, để có gì chia sẻ với người túng thiếu” (Eph 4,28). Điều này không phải chỉ giới hạn ở sự nghèo khó về vật chất nhưng còn hướng tới nhiều hình thức nghèo đói văn hóa và tôn giáo (x. CA 57).
2445 Tình yêu đối với kẻ nghèo không thể đi đôi với lòng ham muốn giàu sang quá độ cũng như sử dụng của cải quá ích kỷ:
“Giờ đây, hỡi những kẻ giàu có, các ngươi hãy than van rên rỉ về những tai họa sắp đổ xuống trên đầu các ngươi. Tài sản của các ngươi đã hư nát, quần áo của các ngươi đã bị mối ăn. Vàng bạc của các ngươi đã bị rỉ sét ; và chính rỉ sét ấy là bằng chứng buộc tội các ngươi ; nó sẽ thiêu hủy xác thịt các ngươi như lửa. Các ngươi đã lo tích trữ trong những ngày sau hết này. Các ngươi đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của các ngươi. Kìa, tiền lương ấy đang kêu lên oán trách các ngươi, và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai Chúa Tể càn khôn. Trên cõi đời này, các ngươi đã sống xa hoa, đã buông theo khoái lạc, lòng các ngươi đã được no đầy thỏa mãn trong ngày sát hại. Các người đã kết án, đã giết hại người công chính, và họ đã chẳng cưỡng lại các người” (Gcb 5,1-6).
2446 Thánh Gio-an Kim Khẩu nhắc lại trách nhiệm này với những lời khẩn thiết: “Không cho kẻ nghèo được chia sẻ của cải thuộc về họ là ăn cắp và cướp lấy mạng sống của họ. Của cải chúng ta đang nắm giữ, không phải là của chúng ta, nhưng là của họ” (Laz 1,6). “Phải thỏa mãn những đòi hỏi công bình trước đã, kẻo những tặng phẩm đem cho, tưởng là vì bác ái, mà thật ra là vì đức công bằng phải đền trả” (x. AA 8).
“Khi tặng những thứ cần thiết cho người nghèo, chúng ta không làm vì lòng quảng đại cá nhân, nhưng là hoàn trả cho họ những gì thuộc về họ. Qua đó, chúng ta chu toàn một trách nhiệm công bằng hơn là thực hiện một hành vi bác ái” (T. Ghêgôriô Cả, 3,21).
2447 Các việc từ thiện là những hành vi bác ái, qua đó chúng ta giúp đỡ tha nhân những gì cần thiết cho thể xác và tinh thần (x. Is 58, 6-7 ; Dt 13, 3). Dạy dỗ, khuyên nhủ, an ủi, khích lệ, cũng như tha thứ, nhẫn nhục, chịu đựng là những hành vi bác ái về mặt tinh thần. Công việc từ thiện về mặt vật chất phải kể: cho kẻ đói ăn, cho kẻ vô gia cư tạm trú, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng bệnh nhân và kẻ tù đày, chôn xác kẻ chết (x. Mt 25, 31-46). Trong các hành vi đó, bố thí (x. Tb 4, 5-11 ; Kn 17, 22) là một trong những chứng cứ chính yếu của tình bác ái huynh đệ ; đó cũng là hành động đẹp lòng Thiên Chúa (Mt 6,2-4):
“Ai có hai áo, thì chia cho người không có ; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy” (Lc 3,11). “Tốt hơn, hãy bố thí những gì các ngươi có, rồi thì mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các ngươi” (Lc 11,41). “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?” (Gcb 2, 15-16 ; 1 Ga 3, 17).
2448 Sự khốn cùng của con người xuất hiện dưới nhiều hình thức: thiếu thốn vật chất, bất công và đàn áp, bệnh hoạn thể xác và tâm thần, cuối cùng là cái chết. Sự khốn cùng này là dấu chỉ cho thấy con người sau nguyên tội yếu đuối từ bẩm sinh và cần đến ơn cứu độ. Vì thế, Đức Kitô đã chạnh lòng thương xót và mang lấy thân phận khốn cùng của con người và tự đồng hóa với “người bé nhỏ trong các anh em”. Ngay từ đầu, Hội Thánh ưu ái đặc biệt những người cùng khổ để nâng đỡ, bảo vệ và giải phóng họ, mặc dù vẫn có nhiều phần tử đã không làm như vậy. Hội Thánh đã thực hiện điều này qua vô số công cuộc từ thiện mà thời nào và ở đâu cũng không thể thiếu”.
2449 Sách Đệ Nhị Luật khuyến cáo: “Người nghèo không bao giờ vắng bóng trên đất nước. Vì thế, ta truyền cho ngươi: phải mở rộng bàn tay cho người anh em nghèo đói, cùng khổ đang sống trên đất nước của ngươi” (Đnl 15,11). Đáp lại lời khuyến cáo này Cựu Ước đã có những luật như: năm toàn xá, cấm lấy lãi và xiết nợ, nộp thuế thập phân, trả lương công nhật, quyền được mót ở ruộng lúa và vườn nho. Chúa Giêsu cũng tuyên bố: “Người nghèo thì anh em luôn có bên cạnh ; còn Thầy, anh em không có luôn mãi đâu” (Ga 12,8). Và như vậy, Chúa Giêsu không giảm nhẹ lời các ngôn sứ xưa kia: “Chúng dùng tiền để mua người cô thân, mua kẻ nghèo bằng giá một đôi dép” (Am 8,6), nhưng mời gọi chúng ta nhận ra Người trong những kẻ nghèo đói là anh em của Người (Mt 25,40).
Khi thánh Rôsa thành Lima bị mẹ trách vì đã đem những kẻ nghèo, những bệnh nhân vào nhà, thánh nữ trả lời: “Khi chúng ta phục vụ người nghèo và người bệnh là chúng ta phục vụ chính Đức Giêsu. Chúng ta không được lơ là trong việc giúp đỡ tha nhân, vì chúng ta phục vụ Chúa Giêsu trong anh em” (Vita).
[Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau]

