ĐIỀU RĂN THỨ TƯ

Điều răn thứ tư mở đầu bảng hai của Thập giới ghi lại những điều răn về con người. Sách GLCG viết “Điều răn nầy được trình bày dưới hình thức tích cực, ấn định những bổn phận phải chu toàn, và chuẩn bị cho những điều răn tiếp theo, đòi buộc con người phải tôn trọng sự sống, hôn nhân, của cải trần thế và lời nói. Đấy là một trong những nền tảng của học thuyết xã hội của Hội Thánh.”

“Điều răn thứ tư nói đến bổn phận con cái đối với cha mẹ, vì đây là tương quan phổ quát nhất. Điều răn nầy còn rộng mở tới bổn phận của học trò đối với thầy, thợ với chủ, kẻ thuộc cấp đối với người chỉ huy, công dân đối với tổ quốc và với tất cả những người điều hành cai trị nước” (GLCG no 2198-2199)

Như thế điều răn thứ tư không chỉ nói về sự thảo kính cha mẹ theo nghĩa chặt nhưng còn nói tới sự quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng với nhau, giữa chủ tớ, giữa thầy và trò, giữa những người có trách nhiệm trong xã hội với các người thuộc quyền. Tóm lại điều răn thứ tư dạy về các quan hệ trong xã hội. Các quan hệ đó cũng tương tự những quan hệ mà chữ hiếu của văn hóa Á Đông, đặc biệt của Việt Nam nói tới:

- Quan hệ với cha mẹ

Làm trai nết đủ trăm đường

Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay

Công cha đức mẹ cao dày.

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ

Nuôi con khó nhọc đến giờ

Trưởng thành con phải biết thờ hai thân.

Thức khuya dậy sớm cho cần.

Quạt nồng ấm lạnh giữ phần đạo con

- Cán bộ quan hệ với dân: “Trung với nước, hiếu với dân”

1. Quan hệ trong gia đình

Gia đình là một hiện tượng xã hội cổ xưa và phổ biến. Đối với người Công giáo “Gia đình là tế bào căn bản của đời sống xã hội, là xã hội tự nhiên, nơi đó, người nam và người nữ được mời gọi tận hiến cho nhau trong tình yêu và trong việc thông truyền sự sống.” (GLCG no 2207) Cách nầy hay cách khác xã hội nói chung nhận biết mẫu đó.

 “Mục đích và nhiệm vụ của gia đình là giáo dục con cái và chăm lo các nhu cầu thường nhật của các thành viên trong gia đình. Ta có thể phân biệt ba chức năng căn bản của gia đình. Gia đình là cộng đoàn kinh tế đầu tiên, là đơn vị giáo dục đầu tiên và là cộng đoàn tinh thần đầu tiên.” (tr. 120) Gia đình cũng là ngôi nhà tinh thần trong đó các thành phần có thể chia sẻ niềm vui nỗi buồn, chia sẻ các quan điểm khác nhau về các giá trị… Gia đình là đền thờ tại gia vì nơi đó người ta đọc kinh chung, cùng nhau diễn tả niềm tin qua các sinh hoạt hằng ngày. Gia đình cũng là nơi truyền đạt các giá trị văn hóa văn minh của một dân tộc.

Thực tế ngày nay cho thấy gia đình đang gặp nhiều khó khăn. Mẫu gia đình mà Giáo Hội đưa ra bị đặt câu hỏi. Giảm đám cưới, gia tăng ly thân ly dị, giảm sinh trong gia đình có cưới, tăng sinh ngoài hôn nhân, tăng gia đình độc thân và gia đình tái hôn… Nếu gia đình là tế bào của Giáo Hội và là tế bào căn bản của xã hội thì phải chăng Giáo Hội và xã hội bị lung lay ? Củng cố gia đình là trách nhiệm lớn của mục tử nhưng củng cố như thế nào ?

1.1 Các nghĩa vụ giữa vợ chồng

Trước Công đồng Vat II, Giáo lý Công giáo nhấn mạnh rằng mục đích thứ nhất của hôn nhân là sinh sản con cái. Mục đích thứ hai và phụ thuộc là ‘việc vợ chồng’ nhằm để xoa dịu những đòi hỏi tính dục. Tuy nhiên sách giáo lý không coi thường tình yêu vợ chồng bởi vì dù sao thì cả hai mục đích trên chỉ có thể được thực hiện trong bầu khí yêu thương.

Công đồng Vat. II cho biết: “Đời sống và tình yêu sâu xa của vợ chồng đã được tạo hóa thiết lập với những luật đặc biệt ; với những ưng thuận không thể rút lui của hai người. Việc hai người trao đổi giữa nhau đã được luật Chúa và pháp luật bảo đảm. Vì quyền lợi của đôi vợ chồng, của con cái, mối tình thiêng liêng nầy không còn thuộc quyền tự do của nhân loại. Bởi vì Thiên Chúa đã thiết lập gia đình có những giá trị và cứu cánh khác nhau: tầm quan trọng của nó thật là vô cùng thiết yếu cho sự tồn tại của nhân loại, cho sự phát triển và vận mạng đời đời của mỗi phần tử gia đình, cho phẩm giá, cho sự trường tồn, an bình, thịnh vượng đối với gia đình và toàn thể xã hội. Tự bản tính của nó thì hôn nhân và tình yêu vợ chồng phải được hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái vì đó là chóp đỉnh cao đẹp của hôn nhân. Do tác động phối hợp hôn nhân vợ chồng “không còn là hai, nhưng đã nên một xương thịt” (Mt 19, 6) qua sự thân mật phối hợp và các sinh hoạt, họ tương thân tương trợ nhau, họ ý thức về sự hiệp nhất đó và ngày càng đi sâu vào sự hiệp nhất đó. Sự phối hợp thân mật, sự trao thân giữa vợ chồng cũng như hạnh phúc của con cái, đòi hỏi họ phải trung thành toàn vẹn và vĩnh viển phối hợp.”

Như thế đời sống hôn nhân không chỉ có mục đích trước tiên là sinh con cái nhưng còn có những mục đích khác như giáo dục con cái, tương trợ lẫn nhau qua việc chăm sóc nâng đỡ nhau cũng như qua việc vợ chồng.

1.1.1 Sinh sản và giáo dục con cái

Như chúng ta đã thấy qua Vat. II, một trong những mục đích cơ bản của hôn nhân là việc sinh sản con cái. Hôn nhân là để hai bên yêu nhau và tự hiến cho nhau, nhờ đó sinh sản con cái vì chính tình yêu vợ chồng đưa tới ‘việc vợ chồng’ và chính ‘việc vợ chồng’ nầy hướng tới việc sinh sản con cái. Lập khế ước hôn nhân nhưng từ chối sinh sản con cái thì khế ước đó không thành. Tình trạng vô sinh của vợ chồng chỉ là một trong những trục trặc của hôn nhân.

Bổn phận truyền sinh và giáo dục con cái phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng. Khi thi hành sứ mệnh ấy, vợ chồng biết rằng mình đã cộng tác với chương trình của Thiên Chúa và diễn đạt tình yêu của Thiên Chúa. Sách Sáng thế ghi lại một lệnh truyền của Chúa: “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều cho đầy mặt đất” (St 1, 28). Lời đó cho thấy khả năng sinh sản là lời chúc phúc của Thiên Chúa, đó không phải trước tiên là tai họa. Theo niềm tin Kitô giáo, lời chúc phúc dành cho đời sống vợ chồng cho thấy con cái là ân huệ của Thiên Chúa. Sinh sản trong đời sống gia đình nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa.

Vấn đề của ngày hôm nay là “mặt đất đã đầy” chưa ? Mặt đất ở đây chắc chắn không thể hiểu theo nghĩa diện tích trái đất nhưng là khả năng của gia đình, khả năng sinh và nuôi dưỡng con cái, khả năng chăm sóc và giáo dục con cái. Giáo Hội không bao giờ khuyến khích sinh sản tự do nhưng khuyến khích sinh sản trong tinh thần trách nhiệm. Tùy theo điều kiện thể xác, kinh tế tâm lý và xã hội mà vợ chồng quyết định có con hay không có con nữa.

1.1.2 Nâng đỡ lẫn nhau

Nâng đỡ lẫn nhau cũng là mục đích quan trọng của hôn nhân. Vợ chồng với những khả năng, tính tình… khác nhau có thể bổ sung cho nhau, giúp nhau vượt qua những khó khăn nhất là những khó khăn tâm sinh lý. Cuộc đời con người không chỉ gồm những ngày vui nhưng cũng còn có những ngày buồn, ngày đen tối. Gia đình là nơi mà mọi thành viên có thể tìm thấy một sự an ủi khi âu lo, một sự chia sẻ khi phải vác nặng và nhất là một tình yêu chân thực.

Người vợ, người chồng không yêu ai khác, không quí trọng ai khác hơn người bạn đời của mình. Thánh Phaolo viết: “Các người làm chồng, hãy yêu thương vợ mình như Đức Kitô yêu thương Hội Thánh… Chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình” (Ep 5, 25.28) và ngài cũng viết: “Như vậy, họ (các cụ bà) sẽ dạy cho người vợ trẻ biết yêu chồng, thương con, biết sống chừng mực, trong sạch, chăm lo việc nhà, phục tùng chồng, để lời Thiên Chúa khỏi bị người ta xúc phạm.” (Tt 2,6). Vì yêu mà hai vợ chồng nhất trí với nhau, đồng tâm hiệp lực với nhau. Thiếu điều nầy thì không thể chu toàn các bổn phận cũng như không thể vác nổi gánh nặng trong đời sống vợ chồng.

Để được tất cả những điều trên vợ chồng cần vượt qua những khó khăn. Thường thường “vợ chồng khó lòng đồng tâm nhất trí trọn vẹn ngay từ khi lấy nhau. Những khác biệt về giáo dục, sở thích, phản ứng và thái độ sẽ tạo ra những xích mích va chạm. Cần phải biết đánh giá và đối phó với những khó khăn ấy như một phần của đời sống hôn nhân. Vợ chồng phải chịu khó rèn luyện bản thân mình, vượt qua những căng thẳng bằng cách chỉ vẻ dạy dỗ nhau, nhất là dạy dỗ chính mình, bằng cách mỗi ngày một sống thông cảm và yêu thương nhiều hơn. Cần ghi nhận rằng những bổn phận đối với gia đình tương lai như thế có thể bắt dầu ngay cả trước khi lấy nhau. Vợ chồng tương lai phải có các nhân đức gia đình chủ yếu ngay từ khi còn ở tại gia đình cha mẹ ruột của mình, như tính chăm chỉ tiết kiệm, suy tính, tôn trọng người khác, sẵn sàng hy sinh, quan tâm đến gia đình.” (tr. 124)

Như thế tác giả đã chú ý đến thời kỳ tiền hôn nhân, khi hai người có trách nhiệm tìm hiểu xem người bạn đời tương lai có cơ may hòa hợp với nhau trong tính tình, trong cách ăn thói ở, có sẵn sàng chia sẻ những khó khăn. Trong thời kỳ nầy, họ có thể tìm hiểu những sở thích và những ưu khuyết điểm của nhau và cũng có thể giúp nhau vượt qua những khuyết điểm, những tính hư, nết xấu nghĩa là hai người cố gắng có cái nhìn trung thực về người bạn đời tương lai. Hy vọng đó là tiền đề cho một đời sống vợ chồng hòa hợp và nhất là một đời sống vợ chồng theo kiểu mẫu Công giáo.

1.1.3 Bất khả phân ly

Không ai có thể phủ nhận là ngày nay số cặp vợ chồng tan rã ngày càng gia tăng. Nguyên nhân có thể là do ngoại tình, do tình trạng hiếm muộn, do sự phóng túng tính dục, do công việc vợ chồng phải xa nhau, cũng có thể là do đời sống kéo dài hơn người ta không thể chịu nổi cảnh gia đình xào xáo kéo dài. Tuy nhiên rất nhiều cặp vợ chồng ly dị cho biết: sau khi kết hôn lần thứ hai, họ thấy khả năng cứu vãn hôn nhân thứ nhất là hoàn toàn có thể nhưng họ đã không biết lợi dụng.

Phúc âm thánh Mt 19, 9 ghi lại: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp (porneia), ai rẫy vợ là đưa vợ tới chỗ ngoại tình ; và ai cưới người đàn bà bị rẫy cũng phạm tội ngoại tình”. Dựa vào câu trên, một số Giáo Hội (Tin lành và Chính thống) chấp nhận ly dị vì cho rằng đây là trường hợp ngoại trừ đối với việc cấm đoán ly dị. Trường hợp ngoại trừ đó là gian dâm và ngoại tình. Tuy nhiên cũng có cách giải thích khác: trường hợp ngoại trừ ở đây không phải là ngoại tình nhưng là hôn nhân bất hợp pháp, hôn nhân giữa những người trong dòng họ như Lv 18 đã ghi lại. Có lẽ Mt muốn đưa về Công vụ 15, 29 cũng dùng từ porneia: các tín hữu gốc dân ngoại phải tránh kết hôn với những người họ hàng (luật Do thái cấm nhưng luật dân ngoại cho phép). Những hôn nhân như vậy bất hợp pháp.

Huấn quyền của Giáo Hội Công giáo vẫn luôn công bố tính bất khả phân ly của hôn nhân. Bộ Giáo Luật cũng cho thấy Bí tích Hôn phối khi đã thành sự trọn vẹn bởi ‘việc vợ chồng’ thì không thể tháo cởi được (ngoại trừ cái chết). (GL no 1141) Tuy nhiên nếu Bí tích Hôn phối chưa hoàn hợp thì vẫn có thể tháo cởi được (GL no 1142). Hôn nhân thành sự giữa những người chưa chịu phép Rửa tội thì vẫn có thể tháo cởi nhờ đặc ân Phaolo (GL no 1143). Đồng thời chúng ta cũng nên chú ý đến những trường hợp tòa án hôn phối của Giáo Hội tuyên bố một hôn phối nào đó không thành sự.

Các tội đối với những người ở bậc sống kết hôn gồm có: “ghen tuông vụn vặt sẽ hổ trợ cho nghi ngờ không có cơ sở đối với lòng chung thủy của bạn mình và phá vở những tình bạn ngoài vòng gia đình ; phung phí các tài sản chung hay dùng vào các việc riêng một cách thiên vị đến nổi bỏ quên quyền lợi của bạn mình ; cai trị gia đình một cách độc tài do chồng hay vợ ; vắng nhà lâu ngày mà không có lý do chính đáng ; phạm đến sự chung thủy vợ chồng” (tr. 125)

1.1.4 Một số tài liệu GH liên quan đến gia đình

1.1.4.1 Tài liệu 1 trích từ Gia đình, hôn nhân và những phối hợp thực tại của Hội đồng Giáo Hoàng Đặc trách gia đình ra ngày 26.07.2000.

NHỮNG PHỐI HỢP THỰC TẠI (UNIONS DE FAIT)

Phương diện xã hội của những 'phối hợp thực tại'

2. Cụm từ "những phối hợp thực tại" bao gồm nguyên một loạt nhiều thực tại nhân bản hỗn tạp mà yếu tố chung là những hình thức sống chung (thuộc loại phái tính) không phải hôn nhân. Những phối hợp thực tại có đặc tính do sự kiện này là chúng không biết, hoãn lại, hay có khi loại trừ sự cam kết vợ chồng. Từ đó phát sinh nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Trong hôn nhân, qua khế ước tình yêu vợ chồng, tất cả mọi trách nhiệm phát sinh từ sự ràng buộc đã cam kết, được đảm nhiệm cách công khai.

Từ việc công khai nhận lãnh các trách nhiệm, phát sinh một lợi ích không những cho chính các đôi vợ chồng và cho con cái trong sự lớn mạnh về tình cảm và hình thành của chúng, nhưng cũng cho các thành phần khác của gia đình. Do đó, gia đình dựa trên hôn nhân, là một ích lợi cơ bản và quí giá cho toàn thể xã hội mà cơ cấu vững chắc nhất được xây dựng trên những giá trị phát triển trong các quan hệ gia đình và được bảo đảm bởi hôn nhân vững bền. Lợi ích sinh ra bởi hôn nhân là lợi ích nền tảng đối với Giáo Hội, nên Giáo Hội công nhận gia đình như là "Giáo Hội tại gia". Tất cả những điều đó bị thiệt hại do việc từ bỏ thể chế hôn nhân, ẩn trong những sự phối hợp thực tại.

3. Một số người có thể muốn sử dụng hay có thể sử dụng tính dục theo một đường lối khác với đường lối Chúa đã ghi trong bản tính nhân loại và trong cùng đích đặc biệt nhân bản của các tác động của họ. Điều này đi ngược với ngôn ngữ liên vị của tình yêu và làm nguy hại đến, qua một sự rối loạn khách quan, sự đối thoại đích thực của sự sống mà Đấng sáng tạo và cứu chuộc nhân loại muốn có. Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo rất được dư luận công chúng biết, và không cần phải lặp lại ở đây. Chính chiều kích xã hội của vấn đề đòi hỏi phải suy nghĩ nhiều hơn và cho phép chỉ rõ, cách riêng cho những ai có trách nhiệm công cộng, sự không thích hợp nâng cao những hoàn cảnh riêng tư này lên hàng quan trọng công cộng. Lấy lẽ điều hoà một khung cảnh chung sống có tính xã hội và pháp lý, người ta cố gắng biện hộ việc thừa nhận như thể chế những kết hợp sự kiện. Làm như vậy, những kết hợp sự kiện sẽ trở thành một thể chế, và luật pháp sẽ chuẩn y các quyền lợi và bổn phận của chúng, có hại cho gia đình xây dựng trên hôn nhân. Những phối hợp thực tại có thể được đặt trên bình diện giống như hôn nhân; hơn nữa, cách sống chung này có thể được đánh giá như một "điều thiện" vì đưa nó lên tới điều kiện giống hay tương đương với hôn nhân, có hại cho chân lý và công lý. Như vậy, người ta sẽ hợp lực phá vỡ thể chế tự nhiên hôn nhân, một thể chế tuyệt đối quan trọng, cơ bản và cần thiết cho toàn khối xã hội.

Những yếu tố cấu tạo cho những phối hợp thực tại

4. Không phải tất cả những phối hợp thực tại có cùng một tầm quan trọng hay cùng một mục đích. Khi diễn tả những đặc điểm tích cực của chúng, ở trên và ngoài nét chung tiêu cực của chúng là hoãn lại, không biết hay loại trừ sự hợp nhất hôn nhân, thì phát sinh một số yếu tố. Trước hết, chỉ có đặc điểm thuần việc quan hệ. Nên chỉ rõ rằng những kết hợp kiểu đó gồm có sự sống chung kể luôn một sự quan hệ tình dục (điều này phân biệt chúng với những hình thức sống chung khác), và một xu hướng tương đối tới chỗ vững bền (điều này phân biệt chúng với những hình thức sống chung thỉnh thoảng hay khi có dịp). Những phối hợp thực tại không gồm có những quyền lợi và trách nhiệm vợ chồng, và không giả định có sự vững bền đặt nền tảng trên sự ràng buộc hôn nhân. Đặc điểm của những kết hợp đó là chúng xác nhận mạnh mẽ không chịu lấy một trói buộc nào. Sự không vững bền liên tục do khả năng chấm dứt sự sống chung, dĩ nhiên là một đặc điểm của những phối hợp thực tại. Cũng có một "cam kết" nào đó nhiều hay ít minh nhiên "trung thành với nhau", nói được như vậy, bao lâu quan hệ đó kéo dài.

5. Một số phối hợp thực tại rõ ràng là hậu quả của một lựa chọn quyết định. Những kết hợp "thử nghiệm" thường xảy ra giữa những người tính kết hôn trong tương lai, nhưng với điều kiện là họ kinh nghiệm một sự chung gối mà không một ràng buộc hôn nhân. Đây là một loại "giai đoạn có điều kiện" để kết hôn, giống như hôn nhân "thí nghiệm" (4), nhưng khác, vì giả định được xã hội thừa nhận phần nào đó.

Một số người khác sống chung với nhau biện minh sự lựa chọn này vì những lý do kinh tế hay là muốn tránh những khó khăn pháp lý. Những lý do thực sự thường sâu xa hơn nhiều. Khi sử dụng kiểu cớ thoái thoát này, thường có một ẩn ý coi rẻ bản năng sinh dục. Điều này bị ảnh hưởng nhiều hay ít bởi chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa khoái lạc, cũng như bởi quan niệm về tình yêu tách rời khỏi mọi trách nhiệm. Người ta cam kết tránh sự bền vững, những trách nhiệm, và những quyền lợi cũng như những bổn phận mà tình yêu hôn nhân thực sự bao gồm. Trong những trường hợp khác, những phối hợp thực tại được hình thành bởi những người đã ly dị trước kia và như thế những kết hợp đó thay thế cho hôn nhân. Do luật pháp cho phép ly dị, hôn nhân thường có khuynh hướng mất căn tính của nó trong lương tâm con người. Theo nghĩa này, ta thấy rõ sự thiếu tin tưởng vào thể chế hôn nhân, sự thiếu tin tưởng đó thỉnh thoảng phát sinh từ kinh nghiệm tiêu cực của những người đau buồn vì một sự ly dị trước kia hay là vì sự ly dị của cha mẹ họ. Hiện tượng đau buồn này khởi sự trở nên quan trọng từ quan điểm xã hội trong các nước mở mang hơn về mặt kinh tế.

Điều không hiếm là những người sống chung trong một phối hợp thực tại, huỷ bỏ hôn nhân vì những lý do ý thức hệ được biết cách minh nhiên. Nên đó là sự lựa chọn một cái để thay thế, một cách nào đó để sống bản năng tình dục của mình. Những người này coi hôn nhân như là điều phải loại bỏ, là điều nghịch với ý thức hệ của họ, một "hình thức không thể chấp nhận lạm dụng hạnh phúc cá nhân", hay là có khi như "mồ chôn tình yêu say đắm", những kiểu nói chứng tỏ sự thiếu hiểu biết về bản tính thật sự của tình yêu và hy sinh nhân bản, và của sự cao trọng và vẻ đẹp của sự kiên trì và trung tín trong những tương quan con người.

6. Những phối hợp thực tại không phải luôn là hậu quả của một sự lựa chọn tích cực và sáng suốt. Có khi những người sống với nhau trong những kết hợp này, chứng tỏ mình dung túng hoặc chịu đựng hoàn cảnh này. Trong một vài nước, số ngày càng tăng những phối hợp thực tại là do sự bất mãn đối với hôn nhân, không phải vì những lý do ý thức hệ, nhưng vì thiếu sự đào tạo xứng hợp trong trách nhiệm, sự thiếu hụt đó là sản phẩm của sự nghèo đói và sự bị gạt ra bên lề môi trường sống của họ. Sự thiếu tin tưởng vào hôn nhân, dầu sao, cũng có thể là do gia đình quyết định, nhất là trong thế giới thứ ba. Ưu thế văn hoá của những thái độ anh hùng tính hay dân tộc tính đi đôi với nhau và làm trầm trọng rất nhiều hoàn cảnh khó khăn này.

Trong những trường hợp này, thường gặp những phối hợp thực tại mà, từ đầu, trên nguyên tắc, hai bên muốn có một đời sống chung đích thực, coi mình kết hợp như vợ chồng, và ra sức hoàn thành những ràng buộc giống như trong hôn nhân. Sự nghèo đói, thường là hậu quả của những mất quân bình trong trật tự kinh tế thế giới và thiếu giáo dục cơ bản, (sự nghèo đói) đặt ra những chướng ngại nghiêm trọng không để họ thành lập một gia đình thật sự.

Trong những nơi khác, sự sống chung (qua những khoảng thời gian lâu hay ít kéo dài) là thường xuyên cho tới khi thụ thai và sinh con đầu tiên. Những tập quán này theo những thực hành từ tổ tiên và truyền thống, những thực hành rất mạnh trong một số vùng Châu Phi và Châu Á và liên hệ với cái gọi là "hôn nhân theo giai đoạn". Những thực hành này nghịch với phẩm giá con người, khó mà triệt tiêu, và tạo nên một hoàn cảnh luân lý tiêu cực với vấn đề xã hội có đặc tính riêng và định rõ. Loại kết hợp này không thể đồng hoá với những phối hợp thực tại mà chúng ta đang đề cập tới ở đây (những phối hợp hình thành trên bờ một thứ nhân loại học có văn hoá), và nêu lên một thách đố cho việc hội nhập đức tin trong Ngàn Năm Thứ Ba của kỷ nguyên Kitô giáo.

Có thể thấy rõ tính phức tạp và tính đa dạng của vấn đề các phối hợp thực tại nếu chúng ta công nhận, ví dụ, trong vài trường hợp nguyên nhân trực tiếp nhất của chúng có thể liên hệ tới những hệ thống an ninh và hạnh phúc xã hội. Ví dụ, đây là trường hợp trong những hệ thống phát triển nhất nơi những người lớn tuổi hình thành những phối hợp thực tại, bởi vì họ sợ rằng hôn nhân sẽ bao gồm những gánh nặng thuế má hay là sự mất trợ cấp.

Những lý do cá nhân và nhân tố văn hoá

7. Điều quan trọng là nêu vấn nạn về những nguyên nhân sâu xa tại sao nền văn hoá hiện nay đang chứng kiến một sự khủng hoảng trong hôn nhân, trong cả hai chiều kích tôn giáo và dân sự, và tại sao có sự cố gắng giành được sự công nhận và sự tương đương cho những phối hợp thực tại. Như vậy, những hoàn cảnh bất ổn, được xác định do những phương diện tiêu cực của chúng (sự bỏ qua hôn nhân) hơn là do những đặc tính tích cực của chúng, (những hoàn cảnh đó) xem ra ở trong cấp bậc giống như hôn nhân. Trên thực tế, tất cả những hoàn cảnh này được củng cố trong nhiều loại quan hệ, nhưng tất cả đều trái ngược với sự hiến mình thật sự và tương quan trọn vẹn, điều bền vững và được xã hội thừa nhận. Trong một bối cảnh của sự tư nhân hoá tình yêu và của sự loại trừ đặc tính qui chế của hôn nhân, sự phức tạp của những lý do kinh tế, xã hội và tâm lý gợi ý sự cần thiết nghiên cứu kỹ khung cảnh mà trong đó hiện tượng những phối hợp thực tại, như chúng ta biết ngày nay, ngày càng lớn mạnh và trở nên vững chắc.

Sự giảm sút từ từ trong hôn nhân và gia đình được thừa nhận bởi luật pháp các Quốc Gia khác nhau, và trong một số nước sự gia tăng số cặp không kết hôn mà sống chung với nhau, thì không thể giải thích đầy đủ như là một phong trào văn hoá biệt lập và tự nguyện. Xem ra đó là một giải đáp cho những thay đổi lịch sử ở xã hội trong phong trào văn hoá hiện nay mà một số tác giả diễn tả như là "hậu chủ nghĩa hiện đại". Điều chắc chắn là ảnh hưởng giảm thiểu của thế giới nông nghiệp, sự phát triển lãnh vực thứ ba về kinh tế, sự gia tăng mức sống trung bình, sự bất ổn về việc làm và những quan hệ cá nhân, sự sút giảm những thành phần gia đình sống dưới cùng một mái nhà, và sự toàn cầu hoá những hiện tượng xã hội và kinh tế, đã làm phát sinh sự bất ổn to lớn trong các gia đình và thuận theo lý tưởng có một gia đình nhỏ hơn. Nhưng điều đó đủ để giải thích hoàn cảnh hiện nay của gia đình không ? Qui chế hôn nhân ít bị khủng hoảng hơn nơi nào truyền thống gia đình còn mạnh.

Bản dịch của Lm Phêrô Nguyễn Quang Sách VietCatholic News (17/02/2001).

1.1.4.1 Tài liệu 2

Những hướng dẫn mục vụ đối với những "trục trặc" trong "hôn nhân" theo Tông huấn Familiaris Consortio từ số 80 đến số 84

Hôn nhân thử nghiệm

80. Một tình trạng trái quy tắc đầu tiên là tình trạng quen được gọi là "hôn nhân thử nghiệm" mà ngày nay nhiều người đang muốn biện minh bằng cách gán cho nó một vài giá trị nào đó. Thật là một điều không thể nào chấp nhận được. Chỉ nguyên lý trí con người cũng đủ cho thấy điều đó, khi cho thấy rằng chẳng có mấy lý do khiến ta có thể nói đến việc "thử nghiệm" nhân vị, vì phẩm giá của nhân vị đòi hỏi nó phải luôn luôn là và chỉ có thể là đích điểm của tình yêu trao hiến không trừ một giới hạn nào, dù là giới hạn thời gian hay bất cứ giới hạn nào khác.

Về phần mình, Hội Thánh không thể chấp nhận loại kết hợp này còn vì những lý do bổ túc và độc đáo khác phát xuất từ đức tin. Thật vậy, một đàng, việc trao hiến thân xác trong tương quan tính dục là biểu tượng thật sự cho việc trao hiến trọn cả ngôi vị ; hơn nữa, trong ý định hiện hành của Thiên Chúa, một sự trao hiến như thế không thể được thực hiện cách chân thật trọn vẹn mà lại không cần đến tình yêu bác ái của Đức Kitô ban cho. Đàng khác, hôn nhân giữa hai người đã lãnh bí tích Thánh Tẩy là biểu tượng thật sự cho việc kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh, một sự kết hợp không thể nào có tính cách tạm bợ hay "để thử", nhưng là trung tín đời đời ; như thế, giữa hai người đã lãnh bí tích Thánh Tẩy, chỉ có thể có một hôn nhân bất khả phân ly.

Một tình trạng như thế bình thường không thể nào thắng vượt được nếu ngay từ thơ ấu, nhân vị đã không được giáo dục để lướt thắng nhục dục mới phát sinh và để thiết lập những tương quan tình yêu chân chính với người khác, với sự trợ giúp của ân sủng Đức Kitô và không sợ hãi. Điều này cũng sẽ không đạt được nếu thiếu sự đào tạo đúng nghĩa để biết yêu thương đích thực và để biết sử dụng tính dục cách đúng đắn, một việc đào tạo có khả năng đưa dẫn nhân vị với mọi chiều kích của nó, kể cả thân xác, vào trong sự viên mãn của mầu nhiệm Đức Kitô.

Thật là hữu ích nếu người ta điều tra kỹ các nguyên cớ của hiện tượng này, ngay cả trong khía cạnh tâm lý và xã hội của nó để có thể tìm được một phương thức chữa trị thật thích đáng.

Những trường hợp chung sống không hôn nhân

81. Đây là trường hợp của những việc kết hợp không có một ràng buộc cơ chế nào được công khai nhìn nhận, cả về dân sự lẫn về tôn giáo. Hiện tượng này, càng ngày càng trở nên thông thường, không thể nào không lôi cuốn sự chú tâm của các vị mục tử. Phải chú tâm tới những yếu tố dị biệt đưa tới tình trạng ấy để nhờ tác động trên những yếu tố nguyên nhân, ta có thể giảm bớt được các hậu quả.

Quả thế, một số người cho rằng mình bị buộc phải đi đến tình trạng ấy vì những hoàn cảnh khó khăn về mặt kinh tế, văn hoá hay tôn giáo. Họ nghĩ rằng nếu thực hiện một cuộc hôn nhân đúng luật, họ sẽ bị thiệt thòi, bị mất mát các lợi ích kinh tế, bị kỳ thị, v.v... Nơi một số người khác, người ta gặp thấy một thái độ miệt thị, phản kháng hay là chối bỏ đối với xã hội, đối với cơ chế gia đình, đối với trật tự chính trị xã hội, hoặc cũng có thể chỉ là một sự tìm kiếm lạc thú. Sau cùng, có những người bị đẩy đến tình trạng ấy vì sự ngu dốt và nghèo nàn cực độ, đôi khi cũng vì những điều kiện sống phát xuất từ những hoàn cảnh thật sự bất công, hoặc vì sự thiếu trưởng thành tâm lý khiến họ trở thành do dự và làm cho họ sợ hãi không dám cam kết ràng buộc với ai lâu bền và dứt khoát. Tại một vài xứ, lại có tục lệ cổ truyền là chỉ nghĩ đến hôn nhân đúng nghĩa sau một thời gian chung sống và sau khi đã sinh đứa con đầu lòng.

Mỗi yếu tố trên đây đều đặt ra cho Hội Thánh những vấn đề mục vụ gay go, vì nó đều đưa đến những hậu quả trầm trọng, hoặc trên bình diện tôn giáo và luân lý (mất ý thức tôn giáo về hôn nhân, được quan niệm trong ánh sáng của giao ước giữa Thiên Chúa với Dân Người ; thiếu ân sủng bí tích ; gây gương xấu trầm trọng), hoặc trên bình diện xã hội (phá huỷ quan niệm về gia đình ; làm suy yếu ý thức về sự trung thành, ngay cả đối với xã hội ; có thể gây chấn thương về tâm lý cho con cái ; cổ võ cho tính ích kỷ).

Các mục tử và cộng đồng Hội Thánh đều phải chuyên tâm tìm cách biết rõ những hoàn cảnh ấy và các nguyên cớ của chúng, từng trường hợp một ; các vị phải để tâm, với sự kín đáo và tôn trọng, tìm cách đến với những người đang chung sống như thế, ra sức kiên nhẫn khai sáng cho họ, đón nhận họ với tình bác ái, đem lại cho họ một chứng tích về gia đình Kitô hữu, nói cách khác là làm tất cả những gì có thể đưa họ tới chỗ hợp thức hoá hoàn cảnh của họ. Tuy nhiên, trên hết, cần phải làm một công cuộc ngăn ngừa, bằng cách vun trồng ý thức về sự trung thành trong mọi việc giáo dục về luân lý và tôn giáo cho bạn trẻ, bằng cách huấn luyện cho họ có các điều kiện và cơ cấu thuận lợi cho sự trung thành ấy, để nhờ đó họ thật sự được tự do, bằng cách giúp họ trưởng thành về mặt thiêng liêng, bằng cách làm cho họ hiểu được thực tại nhân bản và siêu nhiên phong phú của cuộc hôn nhân-bí tích.

Dân Thiên Chúa cũng phải can thiệp với các công quyền, để các quyền bính này chống lại những xu hướng đang làm phân hoá xã hội và gây thiệt hại cho phẩm giá, sự an ninh và tiện ích của nhiều công dân, cũng như để họ ra sức tránh cho quan niệm đại chúng khỏi đi tới chỗ coi rẻ tầm quan trọng của cơ chế hôn nhân và gia đình. Và tại nhiều miền, vì sự nghèo khổ cùng cực phát xuất từ những cơ cấu kinh tế và xã hội bất công và không thích hợp, mà các bạn trẻ không có được những điều kiện để có thể lập gia đình một cách thích hợp, do đó phải cầu mong sao cho xã hội và các công quyền tạo được sự thuận lợi cho người ta sống đời hôn nhân một cách hợp pháp, như bằng cách can thiệp vào xã hội và chính trị nhằm bảo đảm tiền lương gia đình, nhằm áp dụng những phương sách để ai nấy có được nơi cư trú thích hợp với đời sống gia đình, nhằm tạo ra những cơ hội tương xứng để làm việc và sinh sống.

Những người Công giáo kết hôn mà chỉ có hôn phối dân sự

82. Trường hợp những người Công giáo, vì những nguyên do ý thức hệ hay vì những lý do thực tiễn, muốn lập hôn phối dân sự mà từ chối việc cử hành hôn phối tôn giáo hoặc dời việc cử hành này lại sau, càng ngày càng trở nên nhiều. Không thể coi tình cảnh của họ cũng y như tình cảnh của những người chung sống mà không có một ràng buộc nào, vì ở đây ít là cũng có một sự dấn thân nào đó vào một tình trạng sống nhất định và có lẽ cũng bền vững, cho dù viễn tượng ly dị là một chuyện không xa lạ lắm với loại quyết định này. Khi muốn việc liên kết của mình được nhà nước công khai nhìn nhận, các đôi bạn này đã cho thấy rằng họ sẵn sàng đảm nhận những nghĩa vụ cũng như những quyền lợi của sự liên kết ấy. Dù vậy, Hội Thánh vẫn không thể chấp nhận tình trạng này.

Hoạt động mục vụ nhằm giúp cho người ta chấp nhận rằng nhất thiết phải có sự đi đôi giữa sự chọn lựa đời sống và đức tin họ tuyên xưng, mục vụ cũng phải cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được để đưa người ấy tới chỗ hợp thức hoá tình cảnh của họ theo các nguyên tắc Kitô giáo. Mặc dù vẫn đầy tình bác ái lớn lao đối với họ và muốn đưa họ về tham dự cuộc sống các cộng đồng, nhưng dầu vậy các mục tử trong Hội Thánh vẫn không thể chấp nhận cho họ xưng tội rước lễ.

Những người ly thân và những người ly dị không tái hôn

83. Có những nguyên do khác nhau như sự thiếu thông cảm giữa vợ chồng, thiếu khả năng mở ra với các tương quan liên vị, v.v... có thể làm cho cuộc hôn nhân thành sự đi tới chỗ đổ vỡ đau thương, mà thường không hàn gắn nổi. Hiển nhiên là việc ly thân chỉ có thể được dùng như phương thuốc cuối cùng sau khi đã dùng đủ mọi cố gắng để tránh mà không hữu ích gì.

Sự cô đơn và nhiều khó khăn khác nữa thường là số phận dành cho người phối ngẫu bị phân ly, nhất là nếu người ấy vô tội. Trong trường hợp đó, cộng đồng Hội Thánh phải nâng đỡ người ấy hơn bao giờ, phải đem lại cho người ấy sự quý mến, liên đới, cảm thông và giúp đỡ cụ thể để người ấy có thể trung thành ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn của mình ; phải giúp người ấy biết vun trồng sự tha thứ mà tình yêu Kitô giáo đòi hỏi và biết luôn luôn sẵn sàng nối lại cuộc sống vợ chồng trước kia.

Trường hợp một người phối ngẫu bị bó buộc phải chịu ly dị cũng tương tự như thế khi, vì ý thức rõ tính cách bất khả phân ly của dây hôn phối thành sự, người ấy không để mình bị lôi cuốn vào một sự kết hợp mới, nhưng chỉ ra sức chu toàn các bổn phận gia đình và các trách nhiệm Kitô hữu của mình. Lúc đó, chứng tích của họ về sự trung thành và về sự ăn khớp của mình với đời sống Kitô hữu có một giá trị thật đặc thù đối với thế giới và Hội Thánh ; hơn bao giờ hết, Hội Thánh phải đem lại cho họ một sự giúp đỡ đầy khích lệ ưu ái, và cho họ tham dự các bí tích, không một cản trở nào.

Những người ly dị tái hôn

84. Kinh nghiệm thường ngày cho thấy rằng, bất hạnh thay những người đã ly dị dường như bao giờ cũng nhắm tiến tới một sự kết hợp mới, dĩ nhiên là chẳng có nghi lễ Công giáo nào cả. Và vì đây là một đại họa ngày càng lan rộng và tấn công cả các môi trường Công giáo như những đại họa khác, nên cần phải cấp bách đối kháng lại vấn đề này với một sự quan tâm hết sức lớn lao. Các nghị phụ THĐGM đã nghiên cứu rành rẽ vấn đề này. Quả vậy, được thiết lập để đưa dẫn mọi người tới ơn cứu độ, một cách riêng là những người đã lãnh bí tích Thánh Tẩy, Hội Thánh không thể bỏ mặc những người, đã được kết hợp trong dây bí tích Hôn Phối, nay lại muốn cưới người khác. Nên Hội Thánh phải cố gắng không biết mỏi mệt để đem các phương tiện cứu rỗi của mình cho họ sử dụng.

Vì lòng yêu mến sự thật, các mục tử phải biết rằng mình có nghĩa vụ phân biệt rõ những hoàn cảnh khác nhau. Thật thế, những người đã thành tâm cố gắng cứu vãn cuộc hôn nhân thứ nhất nhưng đã bị ruồng bỏ một cách bất công, thì khác hẳn với những người do sai lỗi trầm trọng đã phá huỷ cuộc hôn nhân thành sự theo Giáo luật. Sau nữa cũng có trường hợp những người đã lấy một người khác để giáo dục con cái và đôi khi trong lòng cứ chủ quan chắc mẫm rằng cuộc hôn nhân trước, mà bây giờ đã bị phá huỷ không sao cứu vãn được, xưa nay vẫn không hề thành sự.

Cùng với THĐGM, tôi nồng nhiệt kêu mời các mục tử và toàn thể cộng đoàn tín hữu hãy giúp đỡ những người ly dị đã tái hôn. Bằng một lòng bác ái rộng lớn, tất cả sẽ làm thế nào để họ không cảm thấy bị lìa xa Hội Thánh, vì là những nguời đã được lãnh bí tích Thánh Tẩy, không những họ có thể mà còn phải dự phần vào đời sống Hội Thánh. Người ta sẽ mời họ lắng nghe Lời Chúa, tham dự hy tế thánh lễ, kiên trì cầu nguyện, góp phần vào các công cuộc bác ái và vào các sáng kiến của Hội Thánh để phụng sự công lý, giáo dục con cái họ trong đức tin Kitô giáo, vun trồng tinh thần đền tội và làm các việc đền tội, để ngày qua ngày thành khẩn nài xin ơn thánh của Thiên Chúa. Ước gì Hội Thánh cầu nguyện cho họ, khích lệ họ và tỏ ra là một người mẹ nhân từ đối với họ, và nhờ đó giữ họ trong đức tin đức cậy.

Tuy nhiên, Hội Thánh vẫn xác nhận lại kỷ luật của mình, kỷ luật xây dựng trên Kinh Thánh, theo đó Hội Thánh không thể chấp nhận cho những người ly dị tái hôn được hiệp thông Thánh Thể. Họ đã tự làm cho mình trở nên mất đi khả năng dự phần vào đó vì tình trạng của họ và vì điều kiện sống của họ mâu thuẩn một cách khách quan với sự hiệp thông yêu thương giữa Đức Kitô và Hội Thánh, như nó vẫn được diễn tả và hiện tại hoá trong bí tích Thánh Thể. Ngoài ra còn có một lý do mục vụ đặc thù khác: nếu chấp nhận cho những người ấy được rước lễ, điều đó sẽ xui khiến các tín hữu đi tới chỗ sai lạc, hiểu lầm giáo lý của Hội Thánh về sự bất khả phân ly của hôn nhân.

Việc giao hoà bằng bí tích thống hối - là bí tích mở đường cho bí tích Thánh Thể - chỉ có thể được ban cho những người biết hối hận vì đã phạm đến dấu hiệu của giao ước và của sự trung thành với Đức Kitô, và thành thật sẵn lòng chấp nhận một hình thức sống không còn mâu thuẫn với sự bất khả phân ly của hôn nhân nữa. Nói như thế là đã mặc nhiên cho rằng, khi có những lý do hệ trọng - chẳng hạn để làm gương và giáo dục con cái - nguời nam và người nữ không thể xa lìa nhau như luật buộc, thì họ có thể quyết tâm sống hoàn toàn tiết dục, nghĩa là tránh hẳn những hành vi dành riêng cho vợ chồng”.

Cũng thế, vì sự kính trọng phải có đối với bí tích Hôn Phối, đối với chính những người phối ngẫu và thân thuộc của họ, cũng như đối với cộng đồng tín hữu, cấm tất cả mọi mục tử dù bất cứ vì nguyên do nào hay bất cứ vịn cớ gì, ngay cả vì lý do mục vụ, đều không được cử hành bất cứ một thứ nghi thức nào cho những người đã ly dị nay kết hôn lại. Quả vậy, làm bất cứ điều gì loại đó cũng sẽ làm cho người ta có cảm tưởng rằng việc cưới hỏi mới này đã thành sự do một cuộc cử hành bí tích nào đó, và như thế sẽ đưa người ta đến chỗ hiểu sai lạc về sự bất khả phân ly của hôn nhân.

Khi hành động như thế, Hội Thánh tuyên xưng rằng mình trung thành với Đức Kitô và với bản chất đích thực của mình ; đồng thời, với một lòng từ mẫu, Hội Thánh cúi mình lo cho con cái, cách riêng là những người con đã bị người phối ngẫu hợp pháp của họ rẫy bỏ mà không do lỗi của họ.

Với một lòng tin tưởng mãnh liệt, Hội Thánh tin rằng ngay cả những người đã lìa xa lệnh truyền của Chúa và đang tiếp tục sống trong tình trạng ấy, cũng có thể nhận được ơn hoán cải và cứu rỗi nơi Thiên Chúa, nếu họ kiên trì trong kinh nguyện, thống hối và bác ái.

Một vài nhận xét

Tông huấn Familiaris Consortio cho thấy Giáo Hội không quá khắt khe với những người ở trong tình trạng nói trên, những tình trạng xưa nay vẫn bị coi là rối, không được chôn đất thánh, và rất thường bị loại ra khỏi cộng đoàn giáo xứ. Từ Tông Huấn, chúng ta thử đưa ra vài nhận xét:

Nhận xét thứ nhất là không ai có thể không nhận thấy Tông huấn hướng nhiều về mục vụ. Người mục tử không phải chỉ là người phạt, nhưng phải là người tìm hiểu nguyên nhân và luôn luôn đón tiếp ngay cả những “người rối”. Tông huấn cũng cho thấy không có kỷ luật nào khác hơn là không cho hiệp thông Thánh Thể. Và Tông huấn cũng chỉ nêu trong hai trường hợp: thứ nhất người Công giáo lập gia đình theo nghi thức đời mà không có “phép đạo” và thứ hai là trường hợp ly dị-tái hôn. Thế nhưng, không vì thế mà người mục tử được phép loại họ ra khỏi cộng đoàn giáo xứ. Trái lại còn có nhiệm vụ phải khuyến khích họ tham dự thánh lễ và các hoạt động khác trong giáo xứ.

Nhận xét thứ hai là Giáo Hội phân biệt các tình trạng khác nhau để có những lối ứng xử khác nhau. Có những người sống hôn nhân thử nghiệm nghĩa là họ sống như vợ chồng trong một thời gian không lâu và sau đó sống với người khác… cho tới khi gặp được một người “tâm đầu ý hợp”. Có những người sống như vợ chồng nhưng không hề có cam kết công khai trước chính quyền hay trong đạo nghĩa là không đăng ký kết hôn. Cả hai trường hợp nầy, Giáo hội, tuy không chấp nhận, nhưng rõ ràng không thấy Giáo Hội đưa ra biện pháp kỷ luật cấm xưng tội, rước lễ.

Trường hợp làm hôn phối đời mà thôi thì khác. Hình như Giáo Hội coi đó như sự thách thức công khai đến nguyên tắc của Giáo Hội: hai người đã cam kết “ăn đời ở kiếp với nhau” với tất cả những ràng buộc nghĩa vụ và bổn phận kèm theo mà không lãnh nhận Bí tích Hôn phối. Theo Tông huấn, họ không được rước lễ. Cũng vậy, đối với trường hợp ly dị tái hôn, họ cũng không được rước lễ. Tuy nhiên, trong trường hợp ly dị-tái hôn, họ lại được xưng tội rước lễ nếu “họ có thể quyết tâm sống hoàn toàn tiết dục, nghĩa là tránh hẳn những hành vi dành riêng cho vợ chồng” (số 84) ("sống như anh em" theo kiểu nói thông thường). Từ đó chúng ta thấy Giáo Hội không bao giờ công nhận tình trạng vợ chồng của người tái hôn và đây là một nguyên tắc xuyên suốt của Giáo Hội. Ngay cả trong những “gia đình” ly dị-tái hôn, Giáo Hội cho thấy có những tình trạng khác nhau và phải được đối xử một cách khác nhau. Giáo Hội không hề giữ khăng khăng nguyên tắc phải trở lại với người phối ngẫu trước kia.

1.2 Các nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái

Khi sinh con cái, đôi vợ chồng có thêm một nghĩa vụ mới là nuôi dạy con cái. Thực ra ngay từ lúc mở mắt chào đời đứa trẻ sống tùy thuộc hoàn toàn vào cha mẹ, hay vào cha mẹ nuôi. Thiếu vắng những người nầy đứa trẻ sẽ chết. Đứa trẻ ra đời cũng đem lại niềm vui hay gia tăng tình yêu vợ chồng nhưng cũng đòi nơi hai người một trách nhiệm. Trách nhiệm đó là gì ?

1.2.1 Cha mẹ đối với con cái

Trước tiên chúng ta nên nói tới quyền của cha mẹ trên con cái. “Quyền bính của cha mẹ trước tiên là quyền xuất phát từ bản thân nhưng cũng là quyền phát xuất từ nhiệm vụ. Cha mẹ có quyền trên con cái tự bản thân mình vì các ngài hơn con cái về thể lý lẫn tinh thần. Các ngài cũng là người gần gủi con cái về mặt tình cảm, về các khuynh hướng và năng khiếu tự nhiên, cũng như do trách nhiệm. Thế nên, quyền bính của cha mẹ là quyền bính ưu tiên và căn bản, trong khi quyền của Giáo Hội và quốc gia là thứ yếu và có tính bỗ trợ thôi. Những gì cần để bảo đảm cho con cái phát triển thành người lớn có trách nhiệm thì cha mẹ có nghĩa vụ và quyền hạn để làm. Ngoài ra cha mẹ cũng có quyền trên con cái trong những gì cần thiết để gia đình được ổn định, trật tự… cả hai cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ bằng nhau…”

 “Thông thường các quyết định được cả hai bên cùng quan tâm phải được cả hai bên quyết định. Tuy nhiên khi cha mẹ không thể đồng ý với nhau, mà tình thế lại đòi quyết định, quyền quyết định cuối cùng thường được trao cho người cha.”

 “Cha mẹ có thể mất quyền trên con cái, nếu bỏ bê chúng hay tỏ ra không có khả năng đem lại cho chúng một sự giáo dục thích hợp…” (tr. 125-126)

Còn nói về nghĩa vụ đối với con cái thì trước tiên “cha mẹ ‘chỉ được phép sinh con khi có hy vọng hợp lý là có thể nuôi nấng và dạy dỗ con cái xứng với một con người’… Trên nguyên tắc các cha mẹ không hôn thú ấy cũng có các nghĩa vụ như các bậc cha mẹ đã kết hôn…Vì lý do chính đáng, cha mẹ được phép gởi đứa con bất hợp pháp ấy vào một cô nhi viện hay cho một gia đình nào sẵn sàng chấp nhận nuôi hộ hoặc thậm chí nhận làm con, nếu biết rằng con mình sẽ được chăm sóc cẩn thận ở những nơi ấy. Nhận nuôi những trẻ bất hợp pháp đã không được cha mẹ chăm sóc cẩn thận, chắc hẳn là một việc bác ái rất đáng khen đối với các Kitô hữu.”

Cha mẹ phải yêu thương con cái vì đây là bổn phận căn bản của cha mẹ. Muốn yêu thương thì trước tiên “phải xem con cái như những con cái của Thiên Chúa và tôn trọng chúng như những nhân vị.” (GLCG no 2221) Thường thường cha mẹ rất yêu thương con cái. Tuy nhiên tình yêu ấy có thể bất cập “khi bỏ bê các nghĩa vụ của mình, khi thiên vị, dữ tợn, nóng giận, trừng phạt bất công hay tàn bạo. Có một lỗi rất nặng theo hướng nầy là cấm đoán và ngăn cản hôn nhân của con cái vì những lý do lợi lộc, thỏa mãn cá nhân, tự ái hay vì những động cơ bất chính khác. Vì thái quá, cha mẹ có thể lỗi phạm tình yêu khi chiều chuộng, quá dễ dãi, thiên vị không chính đáng. Yêu thương thái quá cũng làm hại con cái không kém gì yêu thương quá ít. Trẻ em được chăm sóc quá kỹ đôi khi không có đủ sự tự lập và tự tin, vì thế không mạnh mẽ đủ để tự đối phó với những khó khăn trong cuộc sống. Hoặc không tập chế ngự mình và hòa hợp với người khác dễ đưa tới chỗ đối kháng với cộng đoàn và sống cô lập.” (tr. 127-128)

Yêu thương con cái là lo cho chúng có một đời sống đủ về vật chất “Cha mẹ phải chăm lo cho sự an ninh về vật chất của con cái cả trước khi chúng sinh ra. Trong thời kỳ mang thai, cha mẹ phải tránh bất cứ điều gì có thể nguy hại cho thai nhi. Phải tránh cho người mẹ mọi hình thức bị cưỡng bức bằng bạo lực và cảm xúc mạnh. Người cha phải tỏ ra quan tâm đối với vợ nhiều hơn thường lệ. Ông sẽ bị mắc tội vô trách nhiệm nặng nề, nếu thường xuyên đối xử với vợ một cách thô lỗ và tàn bạo.”

Con cái lớn dần lên, cha mẹ còn “phải lo liệu cho chúng có cái ăn cái mặc, có sức khoẻ, nhà cửa và gia đình. Ngoài ra họ còn phải tạo sự an ninh vật chất tới một mức nào đó cho tương lai của con cái, giúp chúng thành lập gia đình riêng khi lớn tuổi.” (tr. 128)

Cha mẹ cũng có nghĩa vụ giáo dục con cái, chăm lo cho con cái phát triển về nhân cách và đạo đức có những đức tính cần thiết cho xã hội, cho tôn giáo cũng như cho một đời sống hạnh phúc, ổn định và trật tự.

Sách Giáo lý Công giáo dành nhiều số để đề cập đến vấn đề giáo dục nầy.

Trước tiên con cái phải được giáo dục về tôn giáo vì: “Có thể nói gia đình là Hội Thánh tại gia. Trong Hội Thánh ấy, cha mẹ sẽ là người đầu tiên rao giảng về đức tin cho con cái, qua lời nói và gương sáng của mình”. (Giáo Hội 11 ; GD 3) Họ phải dạy cho con cái còn nhỏ hiểu biết và thờ phượng Chúa. Khi chúng đi học, cha mẹ có bổn phận phải làm sao cho chúng được dạy dỗ về tôn giáo do nhà trường hay do Giáo Hội, phù hợp với đức tin và tín ngưỡng của chúng. (tr. 131).

GLCG ghi rõ:

no 2222: “Họ (cha mẹ) phải dạy cho con cái biết chu toàn luật Thiên Chúa, bằng cách chính họ chũng cho thấy mình vâng phục thánh ý Cha trên trời.”

no 2225: “cha mẹ nhận trách nhiệm và đặc quyền giáo dục đức tin cho con cái. Cha mẹ là những sứ giả đầu tiên của đức tin, khai tâm cho con về các mầu nhiệm đức tin từ lúc còn nhỏ.”

Cha mẹ còn phải quan tâm về các mặt khác như đức dục và trí dục. Lo cho con có những đức tính tốt nhưng đồng thời cũng tìm cách trang bị cho con những kiến thức khoa học nghề nghiệp để con có thể đi vào đời một cách tự tin.

no 2229: “cha mẹ là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục con cái, nên có quyền chọn lựa cho con cái một trường học theo ý mình. Quyền nầy là quyền căn bản. Cha mẹ phải cố gắng chọn lựa trường học nào giúp chu toàn tốt nhất trách vụ của người giáo dục đức tin.”

no 2230: “khi đến tuổi trưởng thành, con cái có bổn phận và có quyền chọn lựa nghề nghiệp và bậc sống. Con cái có những trách nhiệm mới nhưng vẫn giữ tương quan đầy tín nhiệm đối với cha mẹ, sẵn sàng bàn hỏi, lắng nghe ý kiến và lời khuyên bảo của cha mẹ.”

Như thế cho dù gia đình có khá giả, cha mẹ cũng đừng quên giúp cho con tính tự lập bằng cách khuyến khích và tạo điều kiện để con có một nghề.

“Khi lớn lên, con cái phải được tập cho quen làm việc, dù cha mẹ đã khá giả. Vì chỉ có thế, con cái mới có khả năng làm ăn sinh sống xứng hợp, trở thành phần tử hữu dụng cho cộng đồng, chứ không làm gánh nặng cho cộng đồng. Việc giáo dục con cái phải được bổ sung bằng việc tạo điều kiện cho chúng có được một nghề nghiệp hữu ích, nhờ đó nuôi sống bản thân và nuôi sống gia đình của mình trong tương lai.” (tr. 131)

Cha mẹ cũng là người hướng dẫn đầu tiên của con cái trong việc chọn lựa bậc sống và ơn gọi. Con cái có thể chọn sống độc thân, nhưng không là tu sĩ, để dành trọn cuộc đời cho việc “chăm sóc cha mẹ, anh chị em, hoặc để dồn hết tâm trí vào một nghề nghiệp hay một lý do cao đẹp khác. Họ có thể góp phần lớn lao vào lợi ích của gia đình nhân loại.” (GLCG no 2231)

Con cái cũng có thể chọn đời sống độc thân vì nước Trời. Lúc đó “Với tâm tình vui mừng và biết ơn, cha mẹ phải đón nhận và tôn trọng ơn Thiên Chúa mời gọi một trong số con cái mình đi theo Người, trong đời sống trinh khiết vì Nước Trời, trong đời sống thánh hiến, hay trong thừa tác vụ tư tế.” (GLCG no 2233)

1.2.2 Con cái đối với cha mẹ

Điều răn thứ tư hiểu theo nghĩa chặt thì nhấn mạnh đến quan hệ đối với cha mẹ vì thật ra nguyên bản được viết như sau: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi.” (Xh 20,12) Những quan hệ khác chỉ được hiểu rộng ra. Vì thế thiết tưởng chúng ta cần đi sâu hơn một chút.

Nếu so sánh giữa Xuất hành 20, 12 và Đệ nhị luật 5, 16 chúng ta thấy:

12. Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi.
16. Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, như Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi, để được sống lâu và để được hạnh phúc trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi.

Bảng trên cho thấy những chi tiết giống và khác nhau giữa hai bản văn. Tuy có những chỗ khác nhau nhưng cả hai cùng có chung ý nghĩa bởi vì những chữ quan trọng như “thờ cha kính mẹ”  “được sống lâu trên đất” vẫn giữ nguyên vẹn. Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhớ rằng thánh Phaolo lại nhấn mạnh đến chỗ khác nhau nầy khi ngài viết: “Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất nầy” (Ep 6, 3-4)

Điều nhận xét trước tiên là cũng như các điều răn khác, điều răn thứ tư nhắm nói với những người Do thái trưởng thành. Một cách chính xác hơn nhắm tới những người Do thái thuộc phái nam và tự do. Vì nhắm tới người lớn nên điều răn nầy không phải nằm ở mức độ tình cảm hay là sự tử tế nhưng nằm ở mức độ bổn phận và trách nhiệm đối với cha mẹ. Vì nhắm tới con người tự do nên điều răn mang tính cộng đồng. Người ta phải sống những điều tối thiểu trong điều răn để đời sống cộng đoàn có thể tồn tại. Chính vì thế mà trong xã hội Israel, người vi phạm điều răn sẽ bị kết án tử.

1.2.2.1 Ý nghĩa chữ thờ kính

Chữ quan trọng trong điều răn 4 là thờ kính dịch từ chữ kbd (honorer trong Pháp ngữ). Trong Kinh thánh chữ nầy được dùng:

- Trong quan hệ với người dưới: “Tại sao ngươi lại coi trọng các con ngươi hơn Ta” (1 Sm 2, 29)

- Trong quan hệ đối với cha mẹ (Điều răn 4) hay đối với người trên trong quan hệ tôn ti trật tự: “Con phải kính trọng cha ; tôi tớ kính trọng chủ, vậy nếu Ta là cha thì đâu là lòng kính trọng Ta ? Và nếu Ta là chủ, thì đâu là niềm kính sợ Ta ?” (Ml 1, 6)

- Trong chính quan hệ với Thiên Chúa: “Của cải làm ra con hãy dùng mà tôn vinh Đức Chúa, và hãy dâng lên Người phần hoa lợi đầu mùa của con.” (Cn 3, 9)

Chính vì thế mà Julian Carron cho rằng “thờ kính” có nghĩa là nhận biết tầm quan trọng của một người nào đó, đặc biệt là tầm quan trọng đối với cộng đoàn. Kính thờ Chúa đó là nhận biết vị trí đặc biệt quan trọng của Thiên Chúa cũng như nhận biết thần tính của Thiên Chúa. “Thờ kính” một người nào cũng có nghĩa là làm cho người đó được vinh dự hay là nhận biết phẩm chất của người đó, tôn trọng người đó hay dâng cho người đó lễ vật. (Thủ lãnh 13, 17)

Tuy nhiên tôn kính không chỉ là một việc ngoài môi miệng nhưng còn là bên trong vì thế Kinh thánh luôn nhấn mạnh đến con tim hay cõi lòng: “Dân nầy chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm…” (Is 29, 13) Sự chia cắt giữa bên ngoài và bên trong luôn đe dọa mối quan hệ với Thiên Chúa và nhất là trong các mối liên hệ trong xã hội, thí dụ như giữa con cái và cha mẹ.

Theo Jacques Briend, thờ kính cha mẹ cũng là “thờ kính” Thiên Chúa bởi vì “Theo chứng từ của Kinh thánh, nếu người ta có thể thờ kính con người, đặc biệt là những vị thủ lãnh, thì thái độ nầy cũng rất thích hợp với Thiên Chúa là Đấng phải được thờ kính hơn tất cả mọi thứ khác… người con được mời gọi tôn kính cha mẹ như chính Thiên Chúa vì nhờ cha mẹ mà người con nhận biết Thiên Chúa.”

Như thế thờ cha kính mẹ là nhận biết phẩm tước của cha mẹ đến từ Thiên Chúa. Thờ kính cha mẹ cũng nhắm đến những bổn phận đối với cha mẹ nhất là khi cha mẹ già yếu. Những bổn phận nào ?

1.2.2.2 Những bổn phận đối với cha mẹ

Người ta có thể tìm ra được nhiều lời dạy cụ thể trong Kinh thánh.

Trước tiên là những gì không được làm:

- Chúc dữ cha mẹ: Lời chúc dữ luôn luôn liên hệ tới sự sống (cái chết hay là vô sinh) như thế lời chúc dữ cha mẹ thực chất lại là lời chúc dữ chính con cái. “Vậy bất cứ người nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Nó đã nguyền rủa cha mẹ, thì máu nó đổ xuống đầu nó.” (Lv 20, 9)

- Không vâng lời cha mẹ: Sách Đệ nhị Luật cho biết hình phạt dành cho đứa con bất trị là ném đá cho tới chết. (Lv 21, 18-21) Nơi Israel, nền móng xã hội đặt trên quyền hành người cha. Nổi loạn chống lại cha mẹ đe dọa trật tự không những cho gia đình mà còn cho xã hội.

- Bạc đãi cha mẹ: Có thể dưới hình thức khinh bỉ chế nhạo (Cn 30, 17) hay chiếm đoạt của cải của cha mẹ: “Kẻ bóc lột mẹ cha, rồi bảo: ‘Đâu có tội vạ gì!’, chính hắn là bạn của quân ăn cướp.” (Cn 28, 24)

Kinh thánh cũng dạy những việc phải làm đối với cha mẹ:

- Nhận biết lời chúc lành của cha mẹ:

Vì phúc lành của người cha

làm cho cửa nhà con cái bền vững,

lời nguyền rủa của người mẹ

làm cho gốc rễ bật nền” (Hc 3, 9)

Kinh thánh thường cho thấy lời chúc lành của cha mẹ không dừng lại nơi người con nhưng còn kéo dài qua nhiều đời. Lời ấy mang đến sự sống dồi dào và hạnh phúc. Chính vì thế nó mang một tầm quan trọng đặc biệt.

- Nhận biết uy quyền của cha mẹ. Theo Kinh thánh, mọi quyền hành đều đến từ trên cao. Chúa Giêsu nói với Philato: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu trời chẳng ban cho ngài”. (Jn 19, 11) Nếu một người nào đó xúc phạm đến Thiên Chúa cũng như nhà vua thì phải chịu xử tử vì đó là tội rất nặng như trường hợp trong sách các Vua. (1V 21, 10) Vì thế tôn kính cha mẹ không chỉ đơn thuần là mối quan hệ nhân loại, giữa người trên và người dưới, người trẻ và người già nhưng còn là quan hệ với Thiên Chúa.

Cha mẹ có quyền dạy con về luật Chúa (Đnl 4, 10) về truyền thống đức tin (Đnl 6, 20-24) Quyền nầy càng được nhấn mạnh trong thời gian lưu đầy nơi mà không còn cơ chế nào khác ngoài gia đình Do thái.

- Trở nên một người khôn ngoan và công chính. Khôn ngoan là nghệ thuật sống giúp cho người ấy trở nên khéo léo trong mọi công việc, đồng thời cũng là người hiểu biết được ý nghĩa những thời điềm và nhận biết được con đường mang đến hạnh phúc thật. Khôn ngoan thuộc về Thiên Chúa. Người khôn ngoan là người biết được chương trình của Thiên Chúa, là người kính sợ Thiên Chúa.

- Làm những việc tốt lành cho cha mẹ, khi cha mẹ già yếu:

Con ơi hãy săn sóc cha con khi người đến tuổi già ;

Bao lâu người còn sống chớ làm người buồn tủi.

Người có lú lẫn con cũng phải cảm thông,

Chớ cậy mình sung sức mà khinh dễ người.” (Hc 3, 12-13)

Kinh thánh còn đi xa hơn khi dạy rằng Thiên Chúa sẽ xóa bỏ tội lỗi nếu người con hiếu thảo:

Vì lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng,

và sẽ đền bù tội lỗi cho con.

Thiên Chúa sẽ nhớ đến con, ngày con gặp khôn khó,

Và các tội con sẽ biến tan

Như sương muối biến tan lúc đẹp trời” (Hc 3, 14-15)

- Theo Kinh thánh, để sống thảo hiếu với cha mẹ người con cần nhớ lại những ơn nghĩa mà cha mẹ đã làm cho mình:

Cha con, con hãy hết lòng tôn kính,

và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau

Hãy luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành,

Công ơn ấy, con sẽ lấy chi đáp đền cho cân xứng ?”

(Hc 7, 27-28)

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là Chúa Giêsu dạy như thế nào trong quan hệ với cha mẹ ?

- Phúc âm thánh Lc ghi lại trường hợp của Chúa Giêsu ở lại trong đền thờ (lạc mất ?) (Lc 2, 41-50). Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Đức Mẹ cho thấy hai điều:

+ Câu hỏi của Đức Mẹ thì ở mức độ tự nhiên trong khi câu trả lời thì ở mức độ siêu nhiên. Sự quan hệ tự nhiên không được làm cản trở quan hệ vơí Thiên Chúa.

+ Chúa Giêsu vâng lời cha mẹ nhưng cũng luôn luôn vâng lời Thiên Chúa Cha.

- Trong Phúc âm thánh Mc (Mc 7, 9-12) Chúa Giêsu trách các luật sĩ: “Còn các ông, các ông lại bảo: ‘Người nào nói với cha mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ đều là corban, nghĩa là lễ phẩm đã dâng cho Chúa rồi, và các ông không để cho người ấy làm gì để giúp cha mẹ nữa”

Lời trách cứ của Chúa Giêsu cho thấy người ta thích dâng cho Chúa của cải hơn là dâng cho cha mẹ. Người ta tưởng tượng rằng họ có quyền từ chối phục vụ cha mẹ do một lời hứa với Thiên Chúa. Lời trách cứ của Chúa Giêsu đưa người ta về con tim, về tình yêu, về tận gốc rễ của con người: người ta không thể dâng cho Chúa lễ vật nếu người ta từ chối phụng sự cha mẹ bởi vì cả hai hành động đều phải được đặt trên tình yêu. Và tình yêu đối với cha mẹ được cụ thể hóa bằng việc làm cho cha mẹ vinh dự và bằng việc nuôi nấng cha mẹ.

- Đặc biệt, Phúc âm thánh Lc ghi lại lời dạy của Chúa Giêsu về tình trạng các người trong gia đình chống đối nhau: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao ?… Họ sẽ chia rẽ nhau: cha chống lại con trai, con trai chống lại cha ; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng.” (Lc 12, 51-53) Vậy thì có những lúc quan hệ trong gia đình căng thẳng với nhau. Lúc nào ?

Theo Jaques BRIEND thì một trong những vai trò của cha mẹ là truyền đạt Lời Chúa cho con cái. Khi từ chế độ Cựu Ước sang Tân Ước, cha mẹ trong gia đình phải đối diện với Đức Kitô, Ngôi Lời Nhập thể. Tùy vào sự chọn lựa của mỗi người mà các phần tử trong gia đình có thể căng thẳng với nhau. Như thế chọn lựa theo Đức Kitô làm lay động các quan hệ trong gia đình.

Thế nhưng trong cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi thì căng thẳng nầy không còn hiện diện nữa. Vai trò của cha mẹ đối với con cái trở nên quan trọng như trước kia bởi vì tất cả đều là con một Cha trên trời, tất cả đều trong một nhiệm thể Đức Kitô. Và hơn nữa, đối với các Kitô hữu, chính Thiên Chúa mới là Đấng dạy dỗ đúng nghĩa vì chính Thiên Chúa mới làm cho người Kitô hữu thực sự là con của Ngài. Trong chiều hướng đó thì cha mẹ cũng như con cái đều nhận từ Thiên Chúa sự sống, sự thánh thiện và như thế ngang hàng nhau khi tiến về nước Trời.

2. Quan hệ chủ tớ

“Gia nhân và người giúp việc cũng thuộc về gia đình theo nghĩa rộng” (tr. 144). Trong nhiều xã hội người ta có những qui định chặt chẽ về cách thuê muớn những người nầy (qui định về giờ giấc, về tiền công, về nghỉ hè, về an sinh xã hội…). Tuy nhiên từ đó nẩy sinh ra vấn đề “quan hệ giữa gia nhân và gia đình thường được xử lý như quan hệ lao động hợp tác (labour contract). Chủ cần một số việc phục vụ rõ ràng và gia nhân được trả tiền vì những sự phục vụ ấy. Quan hệ nầy thường tạo ra nơi các gia nhân mặc cảm bị hạ giá, cô đơn và tuyệt vọng… Để chu toàn các nhiệm vụ, gia đình cần có sự giúp đỡ. Người ta không thể tính toán giá trị của sự giúp đỡ nầy bằng tiền bạc, như tính toán lao động của các công nhân trong một xí nghiệp, nhưng còn phải lưu ý đến mối quan tâm đầy thiện cảm mà các gia nhân đã dành cho gia đình… Gia đình phải chịu trách nhiệm về sự an sinh của các gia nhân, cả về thể xác lẫn tinh thần.”

Karl. H. PESCHKE đã nêu lên hai nghĩa vụ giữa chủ nhà và người giúp việc.

+ Các nghĩa vụ do đức công bằng: cả hai phải tuân thủ hợp đồng. Chủ nhà phải trả công xứng đáng, không được tự tiện thêm công việc cho người giúp việc đồng thời phải bảo đảm cho họ có thời gian nghỉ ngơi cũng như không được sa thải trước khi hết hạn hợp đồng vì những lý do không rõ ràng. Phải nhớ rằng chủ phải bồi thường khi vi phạm hợp đồng.

Người giúp việc thì phải chu toàn nhiệm vụ được giao. Phải tôn trọng chủ nhà cũng như trật tự của chủ. Những sáng kiến của người giúp việc cần được chủ chấp nhận. Không được tự tiện sử dụng các tiện nghi trong nhà mà không được sự chấp nhận của chủ.

+ Các nghĩa vụ do lòng trung tín và sự chăm sóc cá nhân: “chủ nhà phải thi hành nghĩa vụ đối với người giúp việc còn nhỏ như cha mẹ đối với con cái… Chủ nhà có nghĩa vụ phải tránh những lời lẽ nhục mạ, chửi rủa và khiếm nhã, cũng như ngăn ngừa những nguy cơ phạm tội. Chủ nhà hay các phần tử khác trong gia đình sẽ phạm tội năng gấp đôi nếu dựa vào địa vị của mình để đẩy gia nhân vào tội lỗi.” (lạm dụng tình dục chẳng hạn)

“Đối với những gia nhân phục vụ lâu năm, chủ nhà phải có nghĩa vụ trung tín và tôn trọng đặc biệt… Họ đã hiến cả đời cho gia đình, nên gia đình phải lo liệu cho họ có được những nhu cầu thiết yếu, nhất là nhu cầu được kính trọng, yêu thương, nhu cầu được nghỉ ngơi, giải trí, được an ninh trong lúc bệnh hoạn cũng như khi về già, được có nơi cư ngụ xứng hợp, có thời gian rảnh rỗi và bất cứ điều gì giúp họ được sung sướng.”

Ngược lại thì người giúp việc có nghĩa vụ phải giữ kín những chuyện trong gia đình chủ nhất là những chuyện buồn, chuyện xấu, phải biết kính trọng những người trong gia đình chủ và phải có tác phong xứng hợp với địa vị của chủ. (tr. 144-145)

Như thế chủ mắc tội (nặng) khi:

- Làm cớ cho người giúp việc lỗi luật Chúa và Giáo Hội (ví dụ: bỏ lễ Chúa Nhật)

- Không sửa phạt sai lỗi cũng như không ngăn cản người giúp việc phạm tội.

- Chủ không trả tiền công như đã hứa, hay nợ tiền công quá lâu. Chủ vô cớ cho nghỉ việc trước thời hạn cũng như sai làm thêm mà không trả thêm lương.

- Chủ sa thải người giúp việc khi họ đau để khỏi săn sóc họ. Tuy nhiên không buộc phải trả một số tiền quá lớn cho bệnh tật của người giúp việc.

Người giúp việc mắc tội khi:

- Cười nhạo, vô lễ với chủ.

- Không làm việc, hay chỉ làm việc có lợi cho mình, hay lãng công.

- Để người khác làm thiệt hại cho chủ khi có thể ngăn cản.

- Nghỉ việc trước hạn định

- Mua đồ mắc trong khi có thể mua rẻ hơn hay thông đồng với người bán để chia chác lợi nhuận thu được.

3. Quan hệ thầy trò

Cô Thầy không chỉ có nhiệm vụ dạy văn nhưng còn dạy lễ “Tiên học lễ hậu học văn”. Thầy Cô còn phải lo hướng dẫn về phần đạo đức, phải làm gương tốt và sửa phạt khi cần.

Thầy cô lỗi nặng về bổn phận khi:

- Bỏ bê, khi dạy điều xấu hay làm gương xấu.

- Làm ngơ trước lỗi phạm của học sinh hay là sửa phạt cách bất công, thiếu tế nhị.

- Làm gương xấu hay quyến rủ học sinh phạm tội nặng (về điều răn thứ sáu chẳng hạn)

Học sinh phải kính nể và vâng lời Thầy Cô trong việc học và đạo đức. Vì thế học sinh có lỗi khi:

- Chế nhạo, cáo gian Thầy Cô.

- Làm biếng, trốn học, ham chơi.

- Không vâng lời Thầy Cô (lưu ý trên hết mọi sự cần vâng lời Thiên Chúa)

Thường thì học sinh không mắc tội nặng do thiếu hiểu biết hay do còn chưa đủ trưởng thành trong cách cư xử, trong nhận thức.

4. Quan hệ giữa nhà cầm quyền và công dân

Sách GLCG dạy: “Điều răn thứ tư cũng dạy ta phải tôn trọng tất cả những ai được Thiên Chúa trao ban một quyền bính trong xã hội để mưu ích cho chúng ta. Điều răn này soi sáng các bổn phận của những người thực thi quyền bính cũng như những kẻ được phục vụ.” (no 2234)

3.1 Bổn phận của nhà cầm quyền

Tất cả những người phục vụ trong bộ máy cầm quyền phải trung thành với quốc gia và phải là những người xứng đáng về tư cách và có năng lực. “Ai thấy mình không có khả năng hoàn thành một chức vụ thì cấm không được nhận lãnh chức vụ ấy… Những ai có khả năng thậm chí đôi khi còn có bổn phận phải nhận lãnh một chức vụ xã hội, nếu không có ai khác có năng lực và nếu không có lý do nào chính đáng để thoái thác.” (tr. 154)

- Sách GLCG no 2237 viết: “Chính quyền phải tôn trọng các quyền căn bản của con người. Phải thực thi công bình với lòng nhân đạo khi tôn trọng quyền của từng người, nhất là quyền của các gia đình và những người khốn cùng.

- Chính quyền có bổn phận bảo vệ những quyền lợi của dân và lo bảo vệ sự công bình: công bình giao hoán, công bình phân phối (những tài nguyên quốc gia chẳng hạn) đồng thời cũng thưởng phạt công minh.

- Chính quyền phải bảo vệ các quyền lợi quốc gia chống ngoại xâm, nếu cần cũng có thể sử dụng chiến tranh để bảo vệ. Chính quyền phải ra sức bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của người khác.

- Chính quyền có nhiệm vụ ban hành luật lệ và áp dụng những sự chế tài khi cần để bảo vệ và phát huy quyền lợi của mọi công dân, duy trì trật tự và sự ổn định chung, cũng như đẩy mạnh sự an ninh quốc gia. Thế nhưng các luật lệ nầy cũng phải phù hợp với những tiêu chuẩn như: phục vụ ích lợi chung, luật tự nhiên và mục tiêu mà Chúa đã định cho con người. (tr. 156)

- Chính quyền có bổn phận chăm lo cho nền kinh tế được phát triển nhưng không nên can thiệp quá sâu vào trong lãnh vực kinh tế của các xí nghiệp. Nhà nước có nhiệm vụ phối hợp, kích thích các hoạt động kinh tế để các xí nghiệp phát triển và trở nên những nhân tố tích cực cho việc phát triển Kinh tế.

- Về vấn đề chăm lo cho các giá trị văn hóa và đạo đức: “Vai trò văn hóa của nhà nước gồm có việc lo cho mọi người được học hành và dạy dỗ, phát triển khoa học và nghệ thuật, cổ vỏ những thuần phong mỹ tục… Một trong các nhiệm vụ của nhà nước là tạo điều kiện cho các công dân hưởng các lợi lộc của sự giáo dục căn bản. Giáo dục công dân và giáo dục chính trị phải là một phần trong nền giáo dục căn bản ấy, bởi vì ngày nay đây là điều kiện vô cùng cần thiết để mọi công dân có thể góp phần vào cộng đồng chính trị.” (tr. 160) Tuy nhiên nhà nước cũng cần tôn trọng quyền chọn trường của cha mẹ, quyền giáo dục đạo đức cho con cái mình cũng như quyền tự do tôn giáo cho mọi người.

- Nhà nước cũng cần chú ý ngăn chặn những đồi phong bại tục để bảo vệ đạo đức của xã hội vì đây là di sản chung của xã hội, của đất nước thậm chí đây là “một trong những tài sản cao quí nhất trong nền thịnh vượng chung của quốc gia. Nhà nước có quyền ra những luật lệ, hình phạt để bảo vệ trật tự xã hội, để ngăn ngừa tội ác. Nhưng điều quan trọng hơn là “những kẻ phạm pháp cần được giáo dục để sửa chữa lối sống của mình và trở nên người tốt… Tuy nhiên ta không thể lấy việc sửa chữa của các phạm nhân làm lý do duy nhất hay lý do chính yếu khiến cho nhà nước có quyền trừng giới. Trái lại, sở dĩ nhà nước có quyền này là vì ích lợi căn bản của cộng đồng, kể cả khi vì một lý do nào đó không thành công trong việc sửa chữa ấy”

Nhà nước có quyền ra hình phạt, nhưng còn án tử hình thì xem ra phức tạp hơn vì ngày nay có người bênh, có người phản đối. Trước tiên là câu hỏi phải chăng việc xét xử hoàn toàn công minh và chính xác ? Án tử hình cho tội nhân thì hoàn toàn cân xứng với tội của người ấy ? Phạm nhân có thể được cải tạo qua hình phạt nầy ? Hiệu quả răn đe của án tử hình như thế nào ? Giết chết phạm nhân có thực sự bảo vệ công ích ? Thực ra khi xử tử người nào thì người đó không thể được giải oan như các hình thức tù tội khác. Giáo Hội vẫn ủng hộ án tử hình nhưng sách GLCG (bản mới) cho thấy sự thận trọng của Giáo Hội (so với bản cũ):

“Giáo huấn truyền thống của Hội Thánh không loại trừ án tử hình, khi đã xác minh đầy đủ căn tính và trách nhiệm của phạm nhân, nếu đây là biện pháp khả thi duy nhất để bảo vệ hữu hiệu mạng sống con người khỏi bị xâm phạm bất chính. Tuy nhiên, nếu các phương tiện nhân đạo hơn cũng đủ để bảo vệ an ninh con người khỏi bị xâm phạm, nhà cầm quyền phải dùng những phương tiện này, vì đáp ứng hơn với những hoàn cảnh cụ thể của công ích và phù hợp hơn với phẩm giá con người.”

“Thực ra, ngày nay, vì Nhà Nước có nhiều cách để chế ngự hữu hiệu tội ác, làm cho kẻ đã phạm tội không còn khả năng tác hại, không dứt khoát tước đoạt khả năng hối cải của họ, nên những trường hợp tuyệt đối phải khử trừ phạm nhân từ nay khá họa hiếm, nếu không muốn nói là thực tế không còn nữa” (Evangelium vitae, 56). (GLCG no 2267)

- Nhà nước cần có một chính sách tài chánh tạo công bằng trong xã hội. Đặc biệt là do chính sách thuế hợp lý, nhà nước có thể điều tiết thu nhập những người giàu qua những người nghèo, cũng như tạo những công trình phúc lợi xã hội cho những vùng có thu nhập thấp.

3.2 Nghĩa vụ công dân

3.2.1 Tuân phục

Sách GLCG dạy: “phải coi cấp trên như người đại diện Thiên Chúa, Đấng đã đặt họ làm người phân phát các ân huệ của Người (x. Rm 13,1-2): ”“Vì Chúa, anh em hãy tuân phục mọi thể chế do loài người đặt ra. Hãy hành động như những con người tự do, không phải như những người lấy tự do làm màn che đậy sự gian ác, nhưng như những tôi tớ của Thiên Chúa” (1 Pr 2,13.16). (no 2238)

Tuân phục ở đây không phải là vâng lời tối mặt nhưng là tuân phục cách thông minh, có suy nghĩ bởi vì: “Sự cộng tác trung thực của người công dân bao hàm quyền, đôi khi là bổn phận, phải lên tiếng phê phán những gì họ cho là có hại cho nhân phẩm và lợi ích của cộng đồng.” (no 2238) Thực ra đây không phải là điều mới lạ vì trên hết mọi sự, con người cần phải vâng nghe theo chân lý, cần phải sống theo công lý và phục vụ cho hòa bình. Vì thế sách GLCG dạy: “Người công dân phải góp phần với chính quyền để mưu ích cho xã hội trong tinh thần tôn trọng chân lý, công bằng, liên đới và tự do. Lòng yêu mến và phục vụ Tổ Quốc phát xuất từ bổn phận tri ân và đòi hỏi của đức ái. Nhiệm vụ tùng phục quyền bính hợp pháp và phục vụ công ích đòi hỏi người công dân chu toàn vai trò của mình trong đời sống của cộng đồng chính trị.” (no 2239)

“Sự tùng phục ở đây không hề là sự tôn kính đặc biệt dành cho bản thân người lãnh đạo, mà đó chính là đặt các quyền lợi cá nhân của mình dưới các nhu cầu của công ích. Một trong các hậu quả lớn của thái độ nầy là các công dân phải làm sao hài hòa các lợi ích riêng tư của mình với các nhu cầu của cộng đoàn, phải sử dụng của cải và việc làm của mình như chính quyền đã yêu cầu, phù hợp với các chuẩn mực công bằng, theo đúng nguyên tắc, và phù hợp với những hạn chế trong khả năng của mình.” (tr. 181)

Đàng khác chính quyền có nhiệm vụ phục vụ nhân dân nên “các công dân phải có tỏ lòng kính trọng thích đáng đối với nhà cầm quyền. Nhục mạ người cầm quyền là một tội nặng, nhất là khi việc ấy xảy ra chỗ công khai hay có thể trở thành công khai cách rõ ràng” (tr. 82)

3.2.2 Nộp thuế

Sách GLCG no2240 cho biết: “Bổn phận tùng phục quyền bính và có trách nhiệm đối với công ích buộc người công dân phải đóng thuế, bầu cử và bảo vệ quê hương”

Về nộp thuế Thánh Phaolo cho biết: “Anh em nợ ai cái gì, hãy trả cho người ta cái đó: nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính” (Rm 13,7)

“Nghĩa vụ trả thuế xuất phát từ bổn phận của người công dân là phải đóng góp vào các nhu cầu của nhà nước… Mục đích của thuế khoá là duy trì bộ máy và các cơ quan nhà nước như lực lượng công an và quân đội ; giúp thoả mãn các nhu cầu chung của cộng đồng như đường sá, cầu cống, trường học, an sinh xã hội … Theo đức công bằng và đức ái, mỗi công dân phải góp phần thực hiện các mục tiêu ấy và bởi đó phải trả các thuế khoá công bằng.”

3.2.3 Tham gia vào đời sống dân sự

Mỗi công dân cần phải lưu tâm đến công ích, đến những nhu cầu của xã hội. Mọi người phải tôn trọng các chuẩn mực của xã hội về sức khoẻ, về trật tự giao thông, về vệ sinh (đường phố chẳng hạn)… Các công dân cũng cần tìm cách đóng góp ý kiến cho chính quyền để họ hành động đúng hơn cũng như đưa ra các luật lệ phù hợp với đạo đức và phục vụ cho lợi ích chung hơn.

Trong các nước dân chủ, bỏ phiếu là một quyền hạn và nghĩa vụ quan trọng. “Bỏ phiếu là một nghĩa vụ công dân và là một bổn phận hợp lý ràng buộc trong tận lương tâm, ít là lúc đối thủ của một ứng viên tài đức là một người bất xứng. Không có lý do chính đáng mà từ chối bỏ phiếu sẽ là phạm tội nặng, nếu qua việc bầu cử nầy người ta sẽ quyết định được đảng nào sẽ nắm quyền – một chính quyền thù nghịch hay có thiện cảm đối với tôn giáo và sự tự do lương tâm.” (tr. 167)

Người Công giáo được khuyến khích tham gia gánh vác trách nhiệm phục vụ cho công ích: trong chính quyền, trong hiệp hội, trong các đoàn thể nghề nghiệp… nhờ đó họ có thể phục vụ con người một cách hiệu quả hơn.

3.2.4 Bảo vệ quê hương

Các công dân không có quyền từ chối thi hành nghĩa vụ quân sự vì nhà nước có quyền yêu cầu các công dân tham gia bảo vệ tổ quốc. Trừ trường hợp cuộc chiến tranh không có chính nghĩa (như đi xâm lược hay đi bắt người khác làm nô lệ chẳng hạn) mọi công dân đều phải hưởng ứng mệnh lệnh cầm súng khi có yêu cầu, nhất là khi để bảo vệ tổ quốc.

Điều cần lưu ý là “Không một cấp dưới nào, quân sự hay dân sự, được phép nghe theo những mệnh lệnh vô luân. Tuy nhiên, bao lâu còn hồ nghi tính hợp pháp của mệnh lệnh ấy, phía được giả định vẫn là chính quyền. Ngoài ra, nếu vì từ chối tuân hành một mệnh lệnh mà có thể đi tới những hậu quả tệ hại hơn cho mình, đương sự được phép tuân phục các mệnh lệnh bất chính, như phá hủy nhà thờ để tính mạng mình được an toàn.” (tr. 178)

Đối với những người phản đối chiến tranh (thí dụ giáo phái Quakers, Mennonites), họ có thể “tham gia bảo vệ tổ quốc dưới một hình thức khác, cũng nguy hiểm không kém, như trong các đơn vị cứu thương ngoài mặt trận.” (tr. 178)

3.3 Quyền phản kháng

Thông thường thì người công dân phải tuân theo những luật lệ của chính quyền dân sự. Tuy nhiên lịch sử cũng cho thấy có những chính quyền lạm dụng quyền hành để làm những điều hại đến con người hay một nhóm người hay cả một dân tộc (diệt chủng chẳng hạn). Thời Đức quốc Xã đã chứng minh điều đó. Chính vì thế GLCG số 2242 dạy:

“Theo lương tâm, người công dân không được tuân theo những luật lệ của chính quyền dân sự khi chúng ngược lại các đòi hỏi luân lý, nghịch với các quyền cơ bản của con người hay giáo huấn của Tin Mừng. Khi những đòi hỏi của chính quyền nghịch với đòi hỏi của lương tâm ngay thẳng, Kitô hữu từ chối vâng phục chính quyền, vì phải phân biệt giữa việc phục vụ Thiên Chúa và việc phục vụ cộng đồng chính trị. ”“Của Xêda, trả về Xêda ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (Mt 22,21). “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người” (Cv 5,29):

“Khi công quyền vượt quá quyền hạn của mình mà đàn áp công dân, thì lúc đó chính công dân cũng không nên từ chối những gì khách quan xét thấy phù hợp với đòi hỏi công ích. Họ được phép bênh vực các quyền lợi riêng của mình cũng như của đồng bào, chống lại những lạm dụng của công quyền, nhưng phải tôn trọng các giới hạn của luật tự nhiên cũng như luật Tin Mừng” (GS 74,5).

Những lời đó cho thấy Giáo Hội rất cẩn trọng khi nhìn nhận quyền phản kháng, nhất là khi phải sử dụng bạo lực. Điều cần lưu ý trước tiên là cần phải tôn trọng những giới hạn. Thay vì làm nổ tung một căn nhà để xây dựng một tòa nhà mới thì người ta có thể tìm cách cải tạo ngôi nhà cũ ấy cho khang trang hơn. Điều cần lưu ý tiếp theo là “Thỉnh thoảng sử dụng quyền hành một cách không chính đáng… không phải là lý do để một chính phủ mất tính hợp pháp” (tr. 191) Như thế quyền phản kháng nầy không thể được áp dụng bừa bãi bởi vì ngoài những điều trên còn cần phải chú ý đến trật tự cũng như tính ổn định của xã hội.

Tóm lại điều răn thứ tư nhắm đến những quan hệ trong xã hội, các quan hệ cần phải đặt trên nền tảng căn bản là sự thật, là công bình và bác ái. Để đạt đến những điều trên, trong mọi quan hệ cần lưu ý đến tinh thần đối thoại để tìm ra chân lý và đạt đến sự đồng thuận. Chính trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau mà quan hệ giữa người với người được cải thiện hơn, tránh được cảnh cá lớn hiếp cá bé, tình trạng luật của kẻ mạnh hơn, là những thứ đã gây nhiều đau khổ cho nhân loại như lịch sử thế giới đã từng chứng minh.

[Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau]