
ĐIỀU RĂN THỨ TÁM
Sách GLCG cho biết: “Điều răn thứ tám cấm xuyên tạc chân lý trong khi giao tiếp với tha nhân. Qui định luân lý này bắt nguồn từ ơn gọi của Dân Thánh làm chứng nhân cho Thiên Chúa của mình, Đấng là chân lý và muốn có chân lý.”
“Khi nói hoặc làm điều gì xâm phạm đến chân lý, con người từ chối sống ngay thẳng về luân lý. Làm như vậy là bất trung nặng nề với Thiên Chúa và do đó phá hủy nền tảng của Giao Ước.” (no 2464)
Như thế, điều răn thứ 8 cấm làm thiệt hại kẻ khác bằng lời nói. Nếu nói lời không đúng với sự thật là nói dối, nhưng nếu sự thật nầy thuộc loại không nên nói ra, thì người ấy đã tiết lộ bí mật.
“Sự thật là gì ?” là câu hỏi luôn làm ray rức con người ở mọi thời: “Ngôn ngữ hiện nay gọi một ý tưởng hay một câu nói là thật khi nó phù hợp với thực tại hay với xác tín và hiểu biết nội tại của một người. Cách hiểu về sự thật này gần với quan niệm của Hy lạp. Ngược lại, Kinh thánh quan niệm sự thật mang ý nghĩa gần giống sự chân thật. Sự thật là lòng trung thành với luật Chúa và với sứ điệp Tin mừng. Luật Chúa và lời Chúa là sự thật.” (tr. 314).
Trong Cựu Ước sự thật có nghĩa gần như trung thành. Khi nói Thiên Chúa chân thật thì ta muốn diễn tả Người là Đấng trung thành và rất đáng tin. Sự thật của Thiên Chúa được biểu lộ qua sự trung thành của Người với giao ước.
“Cựu Ước chứng nhận: Thiên Chúa là nguồn mạch chân lý. Lời Người là chân lý (x. Cn 8, 7 ; 2 Sm 7, 28). Luật Người là chân lý (x. Tv 119, 142). ‘Lòng tín trung Người tồn tại đến muôn đời’ (x. Tv 119, 90 ; Lc 1, 50). Bởi vì Thiên Chúa là ‘Đấng Chân Thật’ (Rm 3, 4), nên mọi thành phần Dân Người được mời gọi sống trong chân lý (x. Lc 1, 50).” (GLCG no 2465)
Về phần con người, Cựu Ước mời gọi kính sợ và phụng sự Thiên Chúa với lòng chân thật và trung thành. Điều đó cũng có nghĩa là trung thành tuân giữ luật Chúa. Giữa con người với nhau, Cựu Ước đặt nặng việc sống trung thành (Gs 2, 14: chúng tôi sẽ lấy chữ tình chữ tín mà đối xử với các cô). Đồng thời sự thật cũng là phẩm chất của lời một con người. Người nói thật là người ấy có những lời phù hợp với thực tế ‘Những điều tôi nghe nói ở nước tôi về ngài và sự khôn ngoan của ngài quả là sự thật.’ (1V 10, 6)
“Cũng như trong Cựu ước, sự thật có thể chỉ về lòng trung thành Thiên Chúa (Rm 3, 3-7) và sự trung thành đối với những lời đã hứa (Rm 15, 8) Lời Chúa là sự thật (2 Cr 4, 2) Và cũng như trước đây lề luật là chân lý (Rm 2, 20) giờ đây Tin mừng cũng là chân lý (Gl 2, 5. 14 ; Ep 1, 13 ; Cl 1, 5 ; Gc 1, 18)” (tr. 316).
Đặc biệt Tân Ước, qua Phúc âm theo thánh Gioan, nhấn mạnh chiều kích qui kitô: Sự thật chính là sự mạc khải Thiên Chúa nơi Đức Kitô. ‘Lề luật được ban qua Môsê, còn ân sủng và chân lý thì được ban qua Dức Giêsu Kitô’ (Ga 1, 17). Đức Kitô luôn mạc khải sự thật vì theo Người, Người chỉ loan báo những gì đã nghe nơi Chúa Cha (Ga 8, 26 ; 40, 45-47 ; 18, 37). Là Ngôi Lời của Chúa Cha, hẳn Người cũng chính là sự thật. Đây là một cái nhìn rất mới mẻ của Kitô giáo. Đức Kitô là ‘đường đi, là sự thật và là sự sống’ (Ga 14, 6). Là ‘ánh sáng thật’ (Ga 1, 9 ; l Ga 2, 8) Người chính là ánh sáng của cuộc đời (Ga 8, 12). Sự thật, ánh sáng và sự sống là những hạn từ có nghĩa tương đương với nhau, nếu dùng chúng để nói lên những thuộc tính của Đức Kitô. Vì Thánh Thần đóng vai trò hướng dẫn các môn đệ tìm ra sự thật toàn diện và làm chứng cho Đức Kitô, nên Thánh Thần cũng được xác định là ‘Thánh thần chân lý’ (Ga 14, 17 ; 15, 26 ; 16, 13 ; 1Ga 5, 7) (tr. 316-317).
Vì thế, các môn đệ Chúa Giêsu được mời gọi sống trong sự thật bởi vì “Môn đệ của Chúa Giêsu ‘ở trong lời Người’, nhờ đó nhận biết chân lý giải thoát (Ga 8, 32) và thánh hóa (x. Ga 14, 6). Bước theo Chúa Giêsu là sống nhờ ‘Thánh Thần chân lý’ (Ga 14, 17) mà Thiên Chúa Cha gởi đến nhân danh Người (x. Ga 17, 17) và Thánh Thần sẽ dẫn đưa đến ‘chân lý toàn vẹn’ (Ga 16, 13). Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải yêu mến chân lý vô điều kiện: Trong lời ăn tiếng nói của anh em, ‘hễ có thì phải nói có’, ‘không thì phải nói không’ (Mt 5, 37). (GLCG số 2466). Từ đó phát sinh vấn đề tôn trọng sự thật.
Sách GLCG viết: “Người môn đệ Đức Kitô chấp nhận “sống trong chân lý”, nghĩa là sống đơn sơ và thành thật theo gương mẫu của Chúa. “Nếu chúng ta nói là chúng ta được hiệp thông với Người, mà lại sống trong tối tăm, thì chúng ta nói dối, và không hành động theo sự thật” (1Ga 1, 6). (no 2470)
Muốn hành động theo sự thật thì cần phải nhận biết sự thật. Trong thế giới thông tin ngày nay điều đó thật là khẩn thiết vì trong số những thông tin mà chúng ta nhận được đâu là sự thật ? Vì thế đặt ra trước tiên vấn đề tìm kiếm sự thật.
Thật ra, con người luôn tìm kiếm sự thật: “Công đồng Vatican II đã chỉ ra: nghĩa vụ tìm kiếm sự thật và gắn bó với sự thật là bổn phận buộc nhặt hết mọi người. “Mọi người đều bị bản tính tự nhiên thôi thúc và bị một bổn phận luân lý ràng buộc phải tìm kiếm sự thật, nhất là sự thật tôn giáo. Họ cũng bị buộc phải gắn bó với sự thật, một khi đã biết, và tổ chức toàn bộ cuộc sống của mình cho phù hợp với những đòi hỏi của sự thật ấy” (TD 2 ; cf 1) Đi đôi với nghĩa vụ này là ai cũng có quyền tìm kiếm sự thật, nói lên ý nghĩ của mình và phổ biến ý tưởng ấy" (MV 59) (tr. 319-320).
Sự thật ở đây trước tiên là sự thật khách quan: “Nền đạo đức học của sự thật cũng phải lưu ý đến những quy luật của trật tự khách quan và những thực tại của thế giới xung quanh. Vì những điều này thường được biết đến qua những khoa học, nên ta cần phải chú ý đặc biệt tới những phát hiện và những kết luận đã ổn định của khoa học. Điều này càng đúng khi những phát hiện và kết luận ấy có ảnh hưởng trên cuộc sống và công ăn việc làm của ta.” (tr. 320)
Tuy nhiên điều quan trọng là “Sự thật không phải là một điều gì do con người uốn nắn ra, mà đúng hơn con người phải chấp nhận để cho sự thật uốn nắn mình, để cho sự thật nắm lấy mình. Thế nên, xét cho cùng, chân thật là để cho mình bị cội nguồn của mọi sự thật và mọi thực tại hay Thiên Chúa bắt lấy ; Ngài chính là sự thật ở mức sâu nhất, không thể dò tới.” (tr. 318). Giáo huấn của Giáo Hội cũng là nguồn giúp chúng ta biết sự thật khách quan. “Người Công giáo sống đức tin cũng phải lưu ý đến giáo lý của Giáo hội, coi đó như một cội nguồn sinh ra đức Tin của mình. Mỗi người phải ý thức rằng sự hiểu biết của mình về sự thật rất giới hạn.” (tr. 321)
Như thế sự thật khách quan là cái con người phải hướng tới, “con người phải chấp nhận sự thật đang đặt ra cho mình dưới nhiều hình thức và phải nhiệt tình tìm cho ra sự thật ấy. Dĩ nhiên, không ai có thể tìm kiếm mọi sự thật mà loài người có thể thu lượm và có thể biết được. Ta có bổn phận đi tìm trước hết những sự thật có liên quan đến bản thân mình, những nhiệm vụ mà mình phải thi hành trong thế giới này, và nền tảng thần linh của hữu thể mình, tức là Thiên Chúa - Đấng đem lại cho đời ta cái ý nghĩa cuối cùng.” (tr. 319)
Đàng khác, còn có sự thật chủ quan là sự thật do chính con người đó xác tín. Sở dĩ gọi là chủ quan vì tùy thuộc vào một con người cụ thể và có khi sự thật chủ quan nầy khác với sự thật khách quan: “chúng ta phải nhìn nhận rằng cả người bị sai lầm cũng vẫn là kẻ chân thành và trung thực nếu người ấy hành động theo đúng những gì mình xác tín. Và nếu họ xác tín tuy sai về mặt khách quan mà vẫn chân thật về mặt chủ quan, người ấy vẫn là người chân thật trong ý muốn và ý hướng”. Những người như thế không hề mắc tội là đã lầm lạc, như công đồng Vatican II đã ghi nhận. “Lương tâm lầm lạc vì nhiều khi vô tri bất khả thắng, nhưng không vì thế mà mất hết phẩm giá” (MV 16) (tr. 323)
Nói cách khác, có thể xảy ra trường hợp một người nói điều sai sự thật nhưng vẫn tin là đúng thật thì người đó chỉ nói sai cách chất thể, vì sự không thật kia ở ngoài ý muốn, ở ngoài sự hiểu biết của người ấy. Từ đó cho thấy, thay vì dừng lại ở chân lý chủ quan, nhiệm vụ tìm kiếm chân lý khách quan rất quan trọng trong đời sống người Kitô hữu, để hoàn hảo hoá đời sống của mình.
Tôn trọng sự thật đòi phải có đức tính chân thật. Sách GLCG viết: “Người ta sẽ không thể sống chung với nhau được nếu không tín nhiệm nhau, nghĩa là nếu không cho nhau biết sự thật” (x. DH 2). Đức tính chân thật đòi chúng ta cho người khác biết sự thật họ có quyền biết. Người chân thật vừa lương thiện, vừa cẩn mật: nói điều phải nói và giữ kín điều phải giữ kín. Theo đức công bình, “người ta phải sống thành thật với nhau” (T. Tôma Aquinô, s. th 2-2, 109, 3) (no 2469).
Vì thế đức tính chân thật cần thiết cho cuộc sống chung. Nó diễn tả lòng yêu thương người khác. Yêu thương chân thành thì phải đề cao, bảo vệ và phát huy sự thật, bảo đảm cho người khác nhận được sự thật khi liên lạc với nhau.
Để có đức tính chân thật:
- Cần phải can đảm đón nhận sự thật: “Một trong những đòi hỏi cơ bản của đức chân thật là lòng can đảm đối diện với sự thật trong lòng mình. Con người có thể che giấu bản ngã và ý định thật của mình, không chỉ trước mặt người khác và cả trước mặt mình. Con người có thể bịt mắt trước những động cơ thật của mình, đánh lừa mình về những bổn phận thật của mình và chạy trốn vào một thế giới có vẻ không thật. Người ta có thể tự đánh lừa mình xa tới mức biến sự dối trá thành một bản tính thứ hai của mình và chỉ nhận ra một cách lờ mờ thôi. Chính vì thế, không phải là không có lý khi gọi ma quỷ là “cha của sự dối trá” (Ga 8, 44)
“Để đối phó với tình trạng lừa bịp và vong thân này, mỗi người phải học cách sống hết sức trung thực với mình. Muốn vậy, phải khiêm tốn chấp nhận mình và chân thành nhìn nhận những giới hạn của mình. Cũng thế, phải sẵn sàng hoán cải mỗi khi thấy mình có lỗi. Để có sự chân thật trong nội tâm, cần phải biết khiêm tốn từ bỏ mình, không chút tự ái.” (tr. 320)
Người chân thật “phải biết chấp nhận cho người khác phê bình, nhưng không vì thế mà tỏ ra ác cảm và muốn trả thù. Người chân thật là người biết nghiêm túc đón nhận những ý kiến của người khác và sẵn sàng nhìn nhận những sai sót và lầm lẫn của mình.” (tr. 323)
Điều này không chỉ áp dụng cho những cá nhân mà cả cho các tập thể, các cộng đoàn, kể cả Giáo hội. "Cần phải lưu tâm khích lệ mọi người sống chân thật và can đảm mỗi khi bày tỏ đức tin trong đời sống chung, ngay chính trong Giáo hội, hay nói cách khác, giữa những người Công giáo với nhau. Hãy để cho mọi người phát biểu ý kiến, kể cả khi thấy những kiến đó phá vỡ sự an ninh của mình. Hãy để cho “công luận” có chỗ đứng thật sự trong chính Giáo hội, khi ta có đủ tư thế để gia tăng hay thu hẹp những cơ hội phát biểu các ý kiến ấy”. Để bênh vực đạo, ta không được phép đánh giá những người ủng hộ và những người chống đối mình theo những tiêu chuẩn khác nhau. Trái lại, theo tinh thần của Thầy mình, các Kitô hữu phải nỗ lực hết sức để giữ sự vô tư trong các cuộc tranh cãi và để lắng nghe những ý kiến của người khác với tất cả thiện chí.
- Cần phải sống sự thật: Công đồng Vatican II nhấn mạnh tới nghĩa vụ của mọi người không những là tìm kiếm sự thật mà còn phải bám chặt vào sự thật, là “tổ chức toàn bộ cuộc sống của mình cho phù hợp với những đòi hỏi của sự thật " (TD 2 ; cf 1). Khi khám phá ra sự thật, con người có bổn phận phải gắn bó với nó bằng sự ưng thuận của chính mình, nhờ đó con người có thể gặp gở được Thiên Chúa, Đấng mà vì đó họ đã được dựng nên (TD 3) (tr. 322).
Sống chân thật là đồng nhất trong tin tưởng và hành động, là thực hành điều mình tin tưởng một cách vô điều kiện bởi vì “ngược với sự chân thật hơn hết là giả hình, tức là ngụy trang bằng sự ứng xử bên ngoài rất đạo đức, còn động cơ sâu xa bên trong hoàn toàn khác. Đây chính là lời phê bình của Chúa Giêsu đối với nhóm Pharisêu và các kinh sư” (Mt 6 1-8 ; 2, 3) Người cũng chỉ trích họ về một hình thức thiếu thành thật khác, đó là đòi người khác giữ luật lệ và bổn phận, còn chính mình thì không. (Mt 23, 3-5)”
- Cần chia sẻ sự thật cho người khác. “Chân thật trong lời nói là một đòi hỏi của đức công bằng, kính trọng và bác ái. Bởi vì thái độ ngược lại, tức là nói dối không những không cho người khác biết sự thật, mà còn đưa người ấy tới chỗ tin những gì không thật và rơi vào sai lầm. Người ấy sẽ đón nhận những sự kiện, sẽ cậy dựa vào những điểm an toàn không có trong thực tế. Nếu hành động dựa trên cơ sở ấy, người ấy thường phải gánh lấy thiệt hại hoặc có khi làm hại những người khác.”
“Nếu đức bác ái huynh đệ buộc ta phải giúp đỡ người khác trong những nhu cầu của họ, thì nó cũng buộc ta phải chia sẻ cả sự thật nữa. Ngay cả khi một sự thật nào đó xem ra không quan trọng đối với một người nhưng nếu phản bội sự tín nhiệm của người ấy, một điều luôn luôn có trong mọi lời nói dối, thì đó cũng là một cách xúc phạm đến người ấy.” (tr. 324)
2.3 Làm chứng cho sự thật: tử đạo
Tôn trọng sự thật mời gọi làm chứng cho sự thật. Người Kitô hữu làm chứng theo gương Đức Kitô: “Trước mặt Philatô, Đức Kitô tuyên bố: “Tôi đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật” (Ga 18, 37). Người Kitô hữu, “đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa” (2Tm 1, 8). Trong những hoàn cảnh cần phải làm chứng cho đức tin, người Kitô hữu phải tuyên xưng không úp mở, theo gương thánh Phaolô trước mặt các thẩm phán. Người Kitô hữu phải cố gắng để “lương tâm không có gì đáng chê trách trước mặt Thiên Chúa và người ta” (Cv 24, 16). (GLCG no 2471)
“Làm chứng nhân là truyền đạt đức tin bằng lời nói và việc làm. Làm chứng cho đức tin là một việc làm chính đáng để khẳng định hoặc làm cho kẻ khác nhận biết chân lý (x. Mt 18, 16) (GLCG no 2472). Làm chứng chính là chứng tỏ lòng trung thành với sự thật đức tin mà người Kitô hữu đã nhận được. Sự thật ấy như một ân huệ của Chúa nên đòi người Kitô hữu phải can đảm làm chứng về sự thật ấy trước mặt những người khác bằng những phương cách phù hợp với ơn gọi và hoàn cảnh riêng của mình.
Hình thức làm chứng cao quí nhất là tử đạo: “Tử đạo là chết để làm chứng cho chân lý đức tin, nên là lời chứng cao quí nhất. Sống kết hợp với Đức Kitô, khi chịu chết, vị tử đạo làm chứng cho Đấng đã chết và đã sống lại. Những vị tử đạo làm chứng cho chân lý đức tin và đạo lý Kitô giáo bằng cái chết anh hùng.” (GLCG no 2473)
2.4 Các phương tiện truyền thông và sự thật
GLCG đặc biệt nhấn mạnh đến tính đạo đức của các phương tiện truyền thông: “Các phương tiện truyền thông phải phục vụ công ích. Xã hội có quyền được biết những tin tức phổ biến dựa trên sự thật và tự do, công bằng và tình liên đới.” (no 2494)
Trong thế giới ngày nay, các phương tiện truyền thông xã hội giữ một vai trò quan trọng trong lãnh vực thông tin. Thế nhưng các phương tiện nầy là con dao hai lưỡi. Vì thế, “Vì bổn phận nghề nghiệp, những người có trách nhiệm thông tin, khi phổ biến tin tức phải phục vụ chân lý nhưng không được lỗi phạm đức bác ái. Họ cũng phải để tâm vừa tôn trọng bản chất các sự kiện vừa tôn trọng những giới hạn khi phê bình người khác. Không bao giờ được bôi nhọ người khác.” (no 2497)
Vai trò chính quyền cũng rất quan trọng: “Vì công ích, chính quyền có trách nhiệm đặc biệt đối với những phương tiện truyền thông. “Bằng cách ban hành luật lệ và thi hành nghiêm chỉnh, chính quyền phải bảo đảm rằng các phương tiện truyền thông không bị lạm dụng để gây thiệt hại nặng nề cho thuần phong mỹ tục và cho những tiến bộ của xã hội (x. IM 12). Chính quyền phải trừng phạt kẻ vi phạm thanh danh và bí mật đời tư của người khác. Chính quyền phải thông báo kịp thời và đúng đắn những thông tin liên hệ đến lợi ích của đại chúng hoặc giải đáp những bận tâm chính đáng của dân chúng (no 2498).
Thực ra nhờ nền thông tin chân thật và công bình, và của việc tự do trao đổi ý kiến, thế giới gần nhau hơn và người ta hiểu biết và tôn trọng nhau hơn (no 2495). Muốn được như vậy thì “những người tiếp nhận phải giữ điều độ và kỷ luật đối với những nguồn thông tin đại chúng. Họ phải tạo cho mình một lương tâm sáng suốt và ngay thẳng, để có thể chống lại những ảnh hưởng thiếu lương thiện.” (no 2496)
Những tội xúc phạm đến sự thật thường là chứng dối và thề gian ở nơi tòa án hoặc nói dối trong cuộc sống thường ngày. Người ta cũng xúc phạm khi vu khống, khi phán đoán hồ đồ, khi nịnh hót và khoe khoang. Tất cả đều xảy ra khi lời nói hay suy nghĩ không phù hợp với thực tế. Mức độ nặng nhẹ tuỳ theo ý hướng và hoàn cảnh. Tuy nhiên cũng thuộc loại xúc phạm đến sự thật khi tiết lộ sự việc có thật.
Về hai tội nầy, sách GLCG cho biết: “Công khai nói nghịch với sự thật là một lỗi nặng. Trước tòa án, lời nói như thế là chứng dối (x. Pr 19, 9). Khi nói dối mà còn thề, thì đó là thề gian. Chứng dối và thề gian sẽ dẫn đến một người vô tội bị kết án hoặc can phạm được gỡ tội hoặc gia tăng hình phạt cho bị cáo (x. Pr 18, 5), làm cho các thẩm phán đi đến những phán quyết lệch lạc.” (GLCG no 2476)
“Nói dối là đưa ra một câu nói đi ngược lại sự tin tưởng và hiểu biết của mình. Thần học luân lý Công giáo thường định nghĩa nói dối là nói ngược với tâm ý ('locutio contra mentem'), nói ngược với những gì mình nghĩ trong đầu. Nối gót thánh Augustinô, một số tác giả còn đưa thêm vào định nghĩa trên đây chi tiết: người nói có ý muốn đánh lừa người nghe. Nếu vậy, phải định nghĩa nói dối là nói ngược với những gì mình nghĩ trong đầu với dụng ý đánh lừa người khác (“cum intentionne fallendi”).”
Lời nói dối có thể làm thiệt hại người ta tùy theo hai cách: nội tại hay ngoại tại. Nội tại là tự bản chất của lời nói dối làm hại người khác. Còn ngoại tại khi lời ấy vốn không hại trực tiếp đến người khác.
“Cựu ước đã phát biểu quan điểm của mình thành một giới răn trong bảng Thập giới như sau: 'Ngươi không được làm chứng gian hại đồng loại ngươi” (Xr 20 16) Giới luật này cấm đưa ra một lời tuyên bố không thật tại toà án khiến cho người khác bị thiệt hại. Nếu vậy, khi giới thiệu điều răn thứ 8 một cách tổng quát là “Ngươi không được nói dối” sách giáo lý đã không dịch sát chữ giới răn nguyên thủy ấy. Tuy nhiên, cách dịch ấy vẫn phù hợp với tâm ý của Kinh thánh, vì trong Kinh thánh cũng có nhiều chỗ lên án việc nói dối và người nói dối một cách tổng quát như thế (cf Lv 19, 11)” (tr. 328 tt)
3.2.2 Các nhà thần học luân lý với tội nói dối
“Vào thời thượng cổ Kitô giáo, nhiều giáo phụ lên án sự dối trá dưới mọi hình thức, không muốn chấp nhận một trường hợp ngoại lệ nào. Tuy nhiên, nhận xét ấy không được tất cả mọi người nhất trí. Có những giáo phụ nhìn nhận những ngoại lệ như đối với những trường hợp đột xuất, để tránh một điều xấu còn lớn hơn.”
“Thánh Augustinô có ảnh hưởng rất quyết định trên giáo lý Kitô giáo về việc nói dối. Ngài mô tả nói dối là đưa ra một lời nói sai với dụng ý đánh lừa người khác và coi đó như một điều xấu tự bản chất. Vì thế, cấm nói dối trong mọi trường hợp. Không thể chấp nhận một ngoại lệ nào. Để hậu thuẫn cho ý kiến này, ngài đã trích dẫn Cyprianô và Ambrosiô. Tuy nhiên, lý do sau cùng để thánh nhân có quan điểm ấy là chính giáo huấn của Kinh thánh.”
“Vào thời Trung cổ, các nhà thần học tiếp tục chia sẻ quan điểm của thánh Augustinô, trừ một ít vị. Kể từ khi thánh Tôma Aquinô cũng chấp nhận ý kiến đó, ý kiến đó càng trở nên nặng ký trong truyền thống Kitô giáo, đặc biệt trong truyền thống Công giáo. Tôma coi nói dối là đi ngược lại bản chất của lời nói và vì lý do đó, nói dối là một điều xấu tự bản chất. Trong số các nhà thần học thời Trung cổ theo quan điểm khác coi nói sai là điều được phép làm khi có đủ lý do, có William người Auxerre, Alexander người Hales và Bonaventura.
“Trong thần học luân lý Công giáo, vào giai đoạn đầu của thời hiện đại ta thấy xuất hiện lý thuyết “ẩn ngôn” hay “giữ ý trong lòng” (“restrictio mentalis”) Một đàng người ta vẫn nhìn nhận mọi sự dối trá đều là bất hợp pháp hoàn toàn. Đàng khác, người ta thử tìm một con đường để thoát khỏi những tình huống trong đó cần bảo vệ sự thật để mình khỏi bị lạm dụng. Nhiều nhà thần học đi xa tới mức cho phép cả việc giữ ý trong lòng thuần túy hay ẩn ngôn không hơn không kém ('restrictio pure mentalis). Đức giáo hoàng Innocentê XI đã nêu ra những sự lạm dụng của lý thuyết này. Năm 1679 ngài đã lên án mệnh đề: mọi người đều được phép đưa ra một ẩn ngôn thuần túy, kể cả bằng cách thề.
Sau khi Toà thánh lên tiếng chống lại những lệch lạc của lý thuyết giữ ý trong lòng, lý thuyết ẩn ngôn thuần tuý, kể như không còn người theo nữa. Tuy nhiên, ta vẫn tiếp tục nghe những ý kiến đòi phải chấp nhận một số trường hợp ngoại lệ đối với luật cấm nói dối. Con số các nhà thần học Công giáo đòi chấp nhận cho nói sai trong một số trường hợp cấp thiết đã gia tăng đáng kể trong thế kỷ này.
Điều này cho thấy rằng mệnh đề tuyệt đối nói dối bị coi là có tội tự trong bản chất, không phải là một mệnh đề không còn bàn cãi nữa trong thần học luân lý Công giáo. Kỳ thật, con số đông đảo các nhà thần học bênh vực khả năng phải cho phép có những trường hợp ngoại lệ cũng đủ cho ta kết luận rằng ý kiến ngược lại của những vị này là cái nhiên không kém (tr. 331-333).
3.2.3 Những lý do khiến nói dối bị kết án
Nói dối là một việc đáng phản đối. Mọi nhà thần học đều đồng ý ở điểm này. Các tác giả cho phép có những ngoại lệ cũng nhất trí với điểm ấy, dù chỉ nhất trí một cách miễn cưỡng và hết sức dè dặt. Chân thật là một giá trị rất cao quý, đáng cổ võ cho dù nhiều khi nó đòi ta phải hy sinh rất nhiều. Để hậu thuẫn cho điều này, ta có thể nêu ra rất nhiều lý do, mà căn bản là:
- Nói dối là đáng tội, vì nó khiến cho người khác bị sai lầm và làm hại tới sự tin tưởng lẫn nhau. Không những người ta không cho đồng loại mình biết sự thật, mà tệ hơn, người ta còn cung cấp cho đồng loại mình những thông tin sai lạc, chắc hẳn sẽ đưa họ tới những kết luận sai mỗi khi họ sử dụng những thông tin ấy. Bởi đó, nói dối là phá hoại một nền tảng vô cùng quan trọng của sự an ninh cá nhân và hoạt động hữu hiệu. Với những lý do vừa kể ta rất có lý khi bảo rằng nói dối là làm hại tới công ích.” (tr. 334)
- Nói dối còn là phá vỡ lời hứa, hàm chứa trong mọi câu nói. Chính vì dựa vào lời hứa mặc nhiên ấy mà người ta tin vào chúng ta. Nhưng cũng chính vì dựa vào lời hứa mặc nhiên ấy mà đồng loại có thể bị ta lừa gạt do những lời nói dối của ta. Vì lỗi lời hứa là một cách đối xử người khác thiếu kính trọng, nên nói dối cũng bị coi là một việc xúc phạm tới phẩm giá con người.
- Lời nói là những ký hiệu vốn được dùng để diễn tả ra bên ngoài những gì chứa đựng bên trong đầu óc ta. Bởi đó, một lời nói không thành thật là một lời nói đã đi ngược lại mục tiêu mà Chúa gán cho lời nói. Đó là một hành vi xâm phạm tới trật tự và bản chất của sự vật đòi phải tôn trọng.
Đối với Tôma Aquinô và nhiều nhà thần học Công giáo khác, đây là lý chứng có tính quyết định, vì nó chứng minh tính cách tội lỗi nội tại trong chính việc nói dối. Có thể thu về lý chứng này cả lý chứng cho rằng nói dối đáng tội vì gây ra xáo trộn nơi con người và nơi việc sử dụng các khả năng của con người (tr. 334-335).
Nói dối tự bản chất của nó, luôn luôn là một điều xấu. Thế nhưng, nói dối thường chỉ có tội nhẹ “Sự thiệt hại do việc nói dối gây ra thường không nặng tới mức đủ để làm thành một vấn đề trầm trọng, sự xáo trộn gây ra cho các khả năng của con người do lạm dụng lời nói cũng không nguy hiểm lắm.” (tr. 335). Vì thế, nói dối chơi (không phải để cung cấp một thông tin nghiêm túc, mà chỉ để giải trí) hay để chữa mình (không gây thiệt hại cho người khác nhưng chỉ tránh thiệt hại cho mình) thường chỉ là tội nhẹ.
Nói dối thành tội nặng vì gây thiệt hại hay xúc phạm đến Thiên Chúa và người ta. Nói dối như thế chống lại luật kính Chúa yêu người. Nói dối như vậy không những trái với sự thành thật, mà còn đối với Chúa, trái với đức tin và đức thờ phượng, và đối với tha nhân, nghịch với đức công bằng. Tuy nhiên có thể là tội nhẹ vì chất thể nhẹ hay vì hành vi bất toàn, thí dụ người có bệnh hay nói dối.
Nói dối là đáng tội, thế nhưng làm sao bảo vệ được sự thật khỏi những người có ý định lạm dụng sự thật ấy ? “Tất cả mọi nhà thần học đều nhận thức rằng trong những trường hợp đó ta không thể tiết lộ sự thật một cách đơn sơ, mà phải giấu đi càng nhiều càng tốt. Ta đừng quên rằng đức công bằng hay đức ái cũng đòi hỏi ta thi hành một bổn phận nữa là giữ gìn các bí mật. Thông thường ta không cần trả lời gì hết cho những người hỏi thăm không có lý do xác đáng hay không có gì bảo đảm, hoặc tránh né bằng cách hỏi ngược lại, hoặc giản dị là từ chối dứt khoát. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp trong đó thinh lặng hay từ chối thẳng thắn lại là một cách tiết lộ bí mật muốn giấu. Bởi đó, không có con đường nào khác hơn là trả lời, nhưng qua câu trả lời ấy, người ta không tiết lộ sự thật (tr. 336)
Đa số các nhà thần học Công giáo đề nghị phương cách dùng ẩn ngôn. “Nhiều nhà triết học và thần học Cải cách, cũng như một số tác giả Công giáo - được kể tên trên đây - cho phép ta nói sai hay nói dối như một biện pháp cuối cùng đành phải dùng.” (tr. 336) Chúng ta thử tìm hiểu cả hai cách nầy.
3.2.4 Ẩn ngôn để che giấu sự thật
Luân lý Công giáo thường đưa ra kiểu nói ẩn ngôn để che giấu sự thật. Ẩn ngôn có 2 cách: ẩn ngôn hẹp nghĩa và ẩn ngôn rộng nghĩa. Ẩn ngôn hẹp nghĩa là khi cứ theo hoàn cảnh người nghe không thể nào hiểu được và cũng không thể nào đoán được ý của người nói. Còn ẩn ngôn rộng nghĩa thì người nghe có thể đoán được ý người nói.
Về phần ẩn ngôn rộng nghĩa thì “Ẩn ngôn là dùng một cách nói có nhiều nghĩa, còn được gọi là nói úp mở. Để che giấu một sự thật, người nói sẽ chọn từ ngữ mang hai nghĩa: một là ý nghĩa rất thông dụng thường được hiểu khi trò truyện với nhau ; hai là ý nghĩa ít thông dụng hơn, một ý nghĩa vẫn có thể hiểu được nhưng người nghe ít quen nhận ra. Để cho lời nói của ta không phải là một lời nói dối không hơn không kém, câu nói úp mở ấy phải luôn luôn có một ý nghĩa thứ hai và là ý nghĩa có thể nhận ra được.” (tr. 336)
“Chẳng hạn, khi bị hỏi. “Hôm qua anh có đi tới rạp chiếu bóng không ?” Ta có thể trả lời: “Vâng, hôm qua tôi có xem một phim”. Trả lời như thế không phải là không mang hai ý. Vì có thể cho thấy đương sự đã xem phim, nhưng là một phim trên truyền hình. Trong cách sử dụng quen thuộc, có một số chữ mang hai ý nghĩa, như trong câu nói lịch sử có tính quy ước sau đây: “Bà chủ không có nhà” với ý nghĩa: “Bà chủ không có nhà để tiếp khách”. Đây là một loại ẩn ngôn rộng nghĩa, có thể nhận ra được.” (tr. 336)
Vài thí dụ:
+ Người ta hỏi: “Anh có ăn bánh mì không ?” Anh ta đáp: “Không!” với ý là không ăn bánh mì không (nhưng ăn với thịt hay với cá). Phần người hỏi, họ có thể hiểu theo nghĩa khác, nhưng điều đó không quan trọng chỉ cần câu trả lời có thể mang hai hay ba nghĩa là đủ.
+ Cảnh sát khám nhà hỏi: “Có tên sát nhân trong nhà của anh không ?” Anh ta sợ nếu nói có, thì tên sát nhân sẽ bị bắt và đồng bọn của nó sẽ trả thù cho nên anh ta trả lời: “không”. Tuy nhiên, trong tiếng “không” ấy, dù bên ngoài có vẻ phủ nhận, nhưng đối với cảnh sát, nhất là người có tinh ý một chút có thể hiểu ngược lại, tức là “có” và có thể tìm bắt được phạm nhân.
“Khác với loại ẩn ngôn rộng nghĩa là loại ẩn ngôn hẹp nghĩa hay ẩn ngôn thuần túy không hơn không kém. Loại thứ hai này là loại trong đó ta không có cách nào suy diễn ra ý nghĩa thứ hai của câu nói từ các chữ được dùng hay từ hoàn cảnh bên ngoài. Chẳng hạn như lời xác nhận của một tên trộm “Tôi không ăn cắp” thật ra đã bỏ chi tiết xác định thêm là chữ “hôm nay” “Hôm nay tôi không ăn cắp.” Nói kiểu này chẳng khác mấy với lời nói dối.” (tr. 337)
Thực ra đôi khi con người cũng hành động với ẩn ý, thường gọi là giả đò. Sự giả đò có thể là mô thể hoặc là chất thể, tùy việc làm bề ngoài có một ý nghĩa nào khác hơn là ý nghĩa của người làm, hay là do hoàn cảnh việc làm đó lại có một ý nghĩa mơ hồ. Sự giả đò cách mô thể cũng giống ẩn ngôn hẹp nghĩa ; còn giả đò cách chất thể giống như ẩn ngôn rộng nghĩa.
Theo nguyên tắc không khi nào được dùng ẩn ngôn hẹp nghĩa. Bởi vì lời nói, nếu tự nó hay cứ theo hoàn cảnh, không bộc lộ chút gì điều ta nghĩ trong lòng, thì lời nói đó mâu thuẫn với quan niệm bên trong: vì vậy đây chính là lời nói dối. Đàng khác cho dù bên trong có ngầm hiểu đúng đi nữa, thì điều đó chỉ không nói dối cho riêng mình, còn thực sự đã nói dối với người khác. Vì vậy người sử dụng ẩn ngôn hẹp nghĩa vẫn mắc tội nói dối.
Tuy nhiên được phép dùng ẩn ngôn rộng nghĩa hay kiểu nói úp mở, nếu muốn cho người ta dễ tin hơn, cũng được kèm theo lời thề để che giấu sự thật, miễn là có lý do đích đáng và miễn là không có gì khác bắt buộc phải nói sự thật.
Thông thường không cấm nói úp mở hay ẩn ngôn rộng nghĩa, bởi vì không kể là nói dối khi mà người ta nói một câu với nhiều ý, cho dù trong thực tế người nghe không hiểu y như người nói. Người ta có thể sử dụng cách nói có nhiều nghĩa, xét theo văn phạm hoặc xét theo hoàn cảnh và nói chung người nghe cũng thường biết như vậy. Nếu người nghe hiểu lầm, thì sự hiểu lầm ấy không quy trách cho người nói, vì người nói không chủ trương gạt gẫm, nhưng chỉ chú tâm giấu sự thật mà thôi. Do đó không thể nói lỗi tại người nói hay là người nói hữu ý muốn trong nguyên nhân.
Thực ra đôi khi vì công ích người ta buộc phải làm như vậy để bảo toàn sự bí mật vì nếu sự bí mật bị tiết lộ, thì có hại cho cả tập thể. Có người thấy Phúc âm theo Thánh Gioan (7, 8) biện minh cho kiểu nói nầy: khi nói không đi dự lễ, Chúa Giêsu hiểu là không đi cách công khai.
“Sau đây là những trường hợp phải dùng lối ẩn ngữ rộng nghĩa: thường thường ta có thể trả lời cho những câu hỏi không chính đáng liên quan đến những bí mật nghề nghiệp như sau: “tôi không biết gì về chuyện ấy”, với ý giữ trong lòng là “tôi không được phép thông tin cho người khác”. Nguyên tắc này áp dụng đặc biệt cho các vấn đề của toà giải tội. Trước một yêu cầu không chính đáng tại toà án chẳng hạn, ta có thể trả lời: “Tôi không biết gì về chuyện ấy", hiểu ngầm rằng "tôi không biết gì về điều mà tôi đã bị tra vấn hợp lý”. Ta có thể nhận ra ý tưởng ngầm ấy qua chính tình huống bất hợp pháp (tr. 338).
Sau đây là một ít thí dụ để làm sáng tỏ thêm những điều đã nói ở trên:
- Cha giải tội có phép trả lời và cũng có phép thề, để xác nhận sự mình nói: “Tôi không nghe người ấy xưng tội mà ông hỏi” ; bởi vì Cha giải tội ở đây biết là biết với tư cách là Cha giải tội, phải giữ ấn tòa giải tội.
- Tội nhân hay nhân chứng bị quan Tòa vô thẩm quyền hỏi cung, có thể đáp: Tôi không biết điều ấy ; hiểu ngầm đối với vụ nầy ông không có quyền hỏi tôi.
- Người vợ ngoại tình bị chồng gạn hỏi, có phép trả lời cách mơ hồ rằng: Tôi không có tội, tôi xin thề với anh tôi không lỗi phép hôn phối. Và nếu người đàn bà ấy đã đi xưng tội ấy rồi, thì càng có thể nói “tôi vô tội về sự anh hồ nghi”, bởi vì tội ấy đã được Chúa tha cho rồi.
- Người mắc nợ, vì một lý do nào đó được miễn trả nợ, nếu quan Tòa hỏi: “Anh có thiếu nợ không ?” Anh ta được phép trả lời: “Không”. Ở đây hiểu ngầm là không có thứ nợ mà anh ta cần phải trả.
- Nếu con nợ cần giấu lại một ít tiền bạc để nuôi sống mình, thì người ấy có phép trả lời cho vị quan tòa: “Tôi không còn giấu gì hết” bởi vì ở đây quan tòa chỉ có phép hỏi về thứ tiền mà con nợ không có phép giữ lại cho mình khi mắc nợ (buộc phải trả nợ nhưng cũng cần nuôi sống mình).
- Người đi vay tiền và đã trả nợ rồi, nhưng vì không có giấy tờ chứng minh, người ấy được phép chối mình không vay nợ để khỏi phải trả lần thứ hai.
Tuy cho phép dùng ẩn ngôn, nhưng cũng đòi phải có lý do chính đáng. Bởi vì nếu không thì có thể mở đường cho sự lừa dối nhau, đến nỗi không còn ai có thể tin ai được nữa: điều ấy trái nghịch với sự tồn tại của xã hội loài người. Vì thế nếu có ai nghĩ rằng cần che giấu sự thật để đạt tới mục đích tốt tương xứng, thì khi đó kể như người ấy có lý do chính đáng. Dùng ẩn ngôn cũng cần phải tuân theo điều kiện thứ hai là khi không bị bó buộc nói sự thật.
Tuy được phép dùng ẩn ngôn rộng nghĩa nhưng cha giải tội phải cẩn thận khi khuyên bảo hối nhân làm chuyện ấy vì có thể sinh gương xấu. Những người ít hiểu biết không phân biệt được đâu là ẩn ngôn và đâu là nói dối, họ có thể tưởng lầm linh mục cho phép nói láo.
3.2.5 Vấn đề che giấu sự thật bằng nói sai
Phương pháp che giấu sự thật bằng ẩn ngôn tuy được số đông các nhà luân lý Công giáo chấp nhận nhưng cũng có mặt hạn chế của nó. Người ta có thể dễ dàng đoán ra sự thật nếu người hỏi hơi tinh ý một chút. Đồng thời người trả lời phải có chút khả năng ứng xử mới có thể áp dụng phương pháp ấy trong những trường hợp cụ thể.
“Chính vì thế, thỉnh thoảng các nhà thần học Công giáo cũng cho rằng nói sai là một giải pháp hữu hiệu hơn cho những trường hợp khẩn cấp, khi ta phải che giấu sự thật, ngăn chận người khác lợi dụng sự thật. Người ta nêu ra những lý do để bênh vực cho quan điểm này như sau:”
a) “Chân thật trong lời nói là một giá trị quan trọng, nhưng đó không phải là giá trị cao nhất và duy nhất. Còn có những giá trị khác, cao hơn. Luôn luôn những giá trị được bảo vệ phải cao quý và cấp thiết hơn những giá trị bị thiệt hại do việc nói sai.” (tr. 339)
“Ngoài ra, thiệt hại bị gây ra cho người bị đánh lừa trong trường hợp ấy thường không lớn, nếu giả như có phải bị thiệt hại. Còn nếu thiệt hại gây ra có lớn thì giá trị khiến ta phải dùng lời nói dối gạt còn lớn hơn, tới mức ngay cả người bị dối gạt cũng không thể phản đối hành vi ấy một cách hợp lý được.” (tr. 339)
b) Lập luận thứ hai dựa trên nhận xét: quyền biết sự thật không phải là quyền tuyệt đối. Nếu tuyệt đối cấm sử dụng lời nói sai, đương sự sẽ không còn phương thế nào tương đối hữu hiệu để thi hành quyền bảo vệ sự thật trước sự can thiệp của người khác và để bảo vệ các giá trị còn cao hơn nữa trước sự tấn công bất chính.
Tuy nhiên, ngay cả khi được phép phản đối quyền biết sự thật ấy, ta cũng chỉ dùng lời nói sai khi không còn phương thế nào, ít quyết liệt hơn, như im lặng, tránh né hay trả lời bằng những câu nói dị nghĩa.
c) Những lập luận trên gặp sự chống đối của luân lý truyền thống của Giáo Hội Công giáo đó là “dùng việc nói dối để bảo vệ một giá trị được cho là cao hơn cả sự chân thật chính là dùng một phương tiện xấu để đạt được mục tiêu tốt. Mà đây là điều không thể chấp nhận được.” (tr. 341)
“Để trả lời cho bế tắc này, cần xét lại một lần nữa bản chất của lời nói. Các khoa học về ngôn ngữ có thể giúp ta làm việc này. Theo các khoa học ấy, mục đích của ngôn ngữ không những là bày tỏ tin tưởng của một người và thông tin cho nhau về các sự kiện. Ngôn ngữ có rất nhiều chức năng... Trong số này chức năng gây ảnh hưởng lên người khác cũng rất quan trọng. Người ta có thể tạo ra ảnh hưởng đó bằng cách yêu cầu, chất vấn, khuyến khích, đe dọa, ra lệnh, v.v...”
“Áp dụng vào vấn đề nói sai, ta có thể rút ra những kết luận sau đây. Cho dù nói dối thì không hoàn thành các chức năng diễn đạt và thông tin, nhưng nó có thể làm tốt vai trò gây ảnh hưởng lên người khác. Người nói dối là người muốn người nghe phải thôi phản ứng một cách nào đó hay phải làm, một việc nào đó, mà nếu không sử dụng biện pháp này chắc chắn người kia sẽ không làm. Như thế, nói dối không phải là dùng lời nói vào một mục tiêu hoàn toàn xa lạ với nó. Sự kiện này đã phản bác một lập luận rút ra từ bản chất của lời nói, cho rằng nói dối là đi ngược hoàn toàn với mục tiêu của ngôn ngữ.” (tr. 342)
d) “Để trả lời cho những người khiếu nại rằng lời nói dối nào cũng là một cách bội phản lời hứa, “đặc điểm của những loại lời nói này là chúng có hàm chứa một lời hứa hẹn rằng chúng hoàn toàn phù hợp với sự hiểu biết hay tư tưởng của người nói. Thế nên, khi nói sai là ta đã không giữ lời hứa này.” Vậy mà “Người ngay thẳng phải giữ lời hứa, chứ không thể bội phản cách tùy tiện.”
“Tuy nhiên, lời hứa không ràng buộc ta một cách vô điều kiện. Nó cho phép có những ngoại lệ, như các nhà thần học thường dạy. Theo những nguyên tắc thần học luân lý, lời hứa ngưng hiệu lực, hoặc nếu chứng minh thấy thực hiện lời hứa sẽ gây tai hại, không thể làm được hay hoàn toàn vô luân ; hoặc nếu người thừa hưởng lời hứa tự nguyện từ khước hay có thể suy ra sự từ khước ấy ; hoặc những điều kiện mà lời hứa dựa vào nay đã thay đổi một cách cơ bản ngoài sự dự kiến. Nếu áp dụng các nguyên tắc này vào lời hứa sẽ chân thật trong lời nói, ta có thể rút ra kết luận sau đây: một người có thể được miễn khỏi giữ lời hứa chân thật trong lời nói khi thấy thi hành lời hứa ấy sẽ gây tai hại lớn hay đưa tới những hậu quả vô luân ; hoặc nếu người nghe đã tự nguyện từ chối quyền được biết sự thật hay nếu ta có thể suy ra như thế. Nhưng ở đây một lần nữa cần nhớ rằng tai hại mà nhờ nói dối ta ngăn chận được phải lớn hơn tai hại do sự nói dối gây ra. Nếu kiểm chứng được tất cả những điều đó thì có thể cho phép nói sai (tr. 343).
* Ghi chú: những lý luận cho phép nói sai để bảo vệ sự thật trên đây cho thấy lý luận đã nhấn mạnh đến việc bảo vệ sự thật và cũng lưu ý đến sự thiệt hại do việc nói thật gây ra: nói chung nhấn mạnh đến hậu quả của việc nói thật. Trong khi đó luân lý truyền thống đặt vấn đề căn bản trên chính việc nói láo. Nói láo là điều xấu, người nói láo là người đã làm một điều xấu tự bản chất nghĩa là nhắm đến người nói một điều không thật hơn là nhắm đến hậu quả.
3.3 Xúc phạm danh dự người khác
Đức công bằng đòi ta phải tôn trọng danh dự của người khác. “Hãy tôn kính những người phải tôn kính” (Rm 13, 7) Đức ái cũng thúc giục ta phải đề cao danh dự của người khác một cách tích cực. "Hãy yêu thương nhau bằng tình yêu huynh đệ ; hãy đua nhau bày tỏ lòng tôn kính nhau" (Rm 12, 10) Người có tâm hồn cao thượng sẽ rất rộng rãi trong lời khen. Người ấy không chờ cho đến khi mình được tôn trọng và đề cao, nhưng luôn sẵn sàng và rộng rãi bày tỏ lòng tôn kính và lời ca ngợi đối với người khác.
Phải tôn trọng đặc biệt những người đang cầm giữ các chức vụ, vì họ là đại diện của cộng đồng và chăm lo cho lợi ích của cộng đồng. Thế nên, mọi nhà cầm quyền hợp pháp trên thế gian này đều phải được kính trọng (Rm 13, 7 ; 1Pr 2, 17) Những người đang cầm nắm quyền hành về mặt thiêng liêng càng đáng được kính trọng, trên hết là các giám mục và linh mục (cf (Dt 13, 17 ; cf l Pr 5, 5) Thảo kính cha mẹ là điều đã được truyền dạy trong giới răn thứ tư của thập giới và luôn luôn được Kinh thánh nhắc nhở (Xh 20, 12 ; Đnl 27, 16 ; Mt 15, 4 ; 19, 19) Người già cũng đáng được tôn trọng đặc biệt, vì kinh nghiệm sống của họ và vì những vất vả họ đã phải chịu khi phục vụ các thế hệ trẻ (Lv 19, 23 ; Cn 16, 31 ; 1Tm 5, 1t) (tr. 363-364)
Sau đây là một số lỗi phạm đến danh dự người khác:
Trước tiên người ta lỗi phạm đến danh dự người khác khi “phán đoán hồ đồ, nghĩa là khi không có đủ cơ sở mà minh nhiên hoặc mặc nhiên cho rằng một người có lỗi về luân lý ;” (GLCG no 2477)
“Có những ý tưởng thiếu bác ái về người khác là một tội rất thường xảy ra nhưng không được mấy ai chú ý. Nhất là khi đưa ra những lời phê phán nhẹ dạ xúc phạm danh dự của người khác, làm cho người ấy bị kết tội vì một khuyết điểm luân lý nào đó mà không có những lý do chính đáng. Ta phải áp dụng cho việc phê phán này lời cảnh cáo của Đức Giêsu. “Đừng xét đoán, để khỏi bị xét đoán” (Mt 7, 1) (tr. 365)
“Phán đoán nhẹ dạ là một tội nặng nếu vấn đề liên quan là vấn đề nghiêm trọng và nếu phán đoán ấy được đưa ra dù ý thức rõ ràng chưa có đủ lý do để đưa ra lời phán đoán ấy. Tuy nhiên, thường thường người ta không có ý thức rõ ràng này. Có nghi ngờ và nghi vấn, chứ chưa phải là phán đoán dứt khoát, thường không phải là tội nặng.”
“Cẩn thận dè dặt trong đời sống thực tế không phải là một tội, mà thường đó là đòi hỏi của đức khôn ngoan. Người cẩn thận không nghĩ xấu về người khác, mà chỉ nhận xét với ý thức rằng mình có thể sai lầm. Chẳng hạn các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục có bổn phận phải thận trọng đối với những lời buộc tội. Nói thế không có nghĩa là bảo họ nghi ngờ tất cả. Nhưng là bảo rằng họ phải lưu ý đến sự yếu đuối của con người, phải kiểm tra con cái và thận trọng đối với những lời buộc tội để bảo vệ chúng khỏi điều xấu.”
“Để tránh phán đoán hồ đồ, chúng ta phải cố gắng cắt nghĩa tốt cho ý nghĩ, lời nói và việc làm của tha nhân:
Mọi Kitô hữu tốt phải sẵn sàng bào chữa cho người khác hơn là lên án. Nếu không bàu chữa được, thì phải hỏi xem người ấy có ý nói gì, nếu người ấy nói sai, thì hãy lấy tình thương mà sửa chữa ; và nếu chưa đủ thì tìm mọi phương thế thích hợp để giúp người ấy hiểu được và thoát được sai lầm (T. I nhã Linh Thao, 22).” (GLCG no 2478)
Sách GLCG viết: “Vu khống tức là khi dùng những lời ngược với sự thật mà làm hại thanh danh kẻ khác và tạo cớ cho người ta phán đoán sai lầm về người ấy.” (no 2477)
Như thế “vu khống là quy những khuyết điểm không thật cho người khác dù biết rằng những khuyết điểm ấy không đúng. Một hình thức thường gặp của sự vu khống là pha lẫn điều đúng với điều sai.” (tr. 367)
“… vu khống là một tội phạm đến sự công bằng và sự thật, vì qua đó người ta có ý gian xảo là đổ cho người khác những lỗi người ấy không hề phạm. Quyền có được thanh danh đúng với sự thật là một quyền phổ quát và vô điều kiện: Sự thật và sự công bằng đòi ta không được giới thiệu một người tốt thật như một người xấu xa.” (tr. 369)
“Nói xấu nghĩa là khi không có lý do khách quan chính đáng mà lại tiết lộ những tật xấu và những lỗi lầm của kẻ khác cho những người chưa biết (x. Kn 21, 28)” (GLCG no 2477) Như thế nói hành, nói xấu hay gièm pha xâm phạm cách bất công danh dự của người khác vì tiết lộ những khuyết điểm tuy có thật, nhưng còn kín đáo của đương sự. Việc làm nầy được thi hành mà không có mặt của đương sự vì nếu bôi lọ thanh danh cho người có mặt, thì đó là tội mạ lỵ.
Người ta có thể nói xấu bằng nhiều hình thức khác nhau: “Giải thích xấu để làm cho động cơ của những hành vi tốt trở thành đen tối, thinh lặng một cách ác ý, nói chen vào những lời hàm hồ, khen một cách mỉa mai, làm giảm giá trị những việc tốt, tất cả là những hình thức khác nhau của việc nói xấu.” (tr. 368)
“Tuy vậy, không có gì tai hại cho danh tiếng và vì thế cũng không phải là gièm pha, khi những khuyết điểm nói ra đã được mọi người biết hay chẳng mấy chốc sẽ được mọi người phổ biến. Những sự lỗi phạm đã được biết công khai trong một cộng đồng nhỏ như gia đình, trường học, chủng viện, tu viện, không nên cho người ngoài biết. Một tội phạm đã được biết ở nơi này nhưng nơi kia chưa biết, hoặc một lỗi lầm trước đây ai cũng biết nhưng nay mọi người đã quên, thì không nên tiết lộ hay nhắc lại, nếu can phạm đã đền tội và đang cố gắng sống tốt hơn (tr. 368).
Người nói xấu hay gièm pha làm hại đến danh dự của người khác: “Vì thế không được phép làm hại tới tiếng tốt của một người một cách nhẹ dạ bằng cách tiết lộ những khuyết điểm còn bị che giấu của người ấy, nếu ở chỗ công khai người ấy chưa làm điều gì để đánh mất thanh danh của mình và nếu thanh danh mà người ấy đang có không làm hại ai cả. Không kể những thiệt hại riêng tư gây ra cho người bị gièm pha, việc gièm pha cũng ảnh hưởng xấu trên công ích vì nó sẽ cản trở nạn nhân làm ăn và quan hệ trong xã hội.”
“Việc gièm pha còn gây ra sự bất công cách đặc biệt, khi lỗi mà ta tiết lộ chỉ là một sai sót ngoại lệ hay một nhược điểm bất chợt. Người tiết lộ những khuyết điểm của người khác thường có khuynh hướng vơ đũa cả nắm và cho đó là những khuyết điểm riêng của người ấy.”
“Một người có thể đã đánh mất sự quý trọng của người khác ở mặt này vẫn có quyền được hưởng sự quý trọng ấy ở một mặt khác. Bởi đó, thật là bất công khi kết án một người một cách trọn bộ, đang khi đương sự mới chỉ lỗi phạm ở một điểm (tr. 369-370).
Gièm pha là một tội còn nặng hơn cả trộm cắp, vì thanh danh còn quý hơn của cải. Tội ấy nặng nhẹ là tùy vào sự thiệt hại mà ta có thể dự kiến sẽ gây ra cho danh dự của một người, tùy vào đau khổ mà người bị gièm pha cảm nhận, tùy vào sự thiệt hại gây ra cho sự thành công trong nghề nghiệp của người ấy và tùy vào những thiệt hại vật chất có thể có (như mất việc chẳng hạn) (tr. 370).
Một vài thí dụ
- Không phải là tội nặng khi tiết lộ tật xấu thể lý hay luân lý của người anh em, như thể nói: nó đần độn, dốt nát, v.v... Tuy nhiên, trong thực tế, nếu nói như thế mà đời sống yên lành của họ có bị giảm sút phần nào, thì vẫn có tội.
- Nói anh X nóng tính, hà tiện, kiêu ngạo v.v... thường không có tội nặng, bởi vì các tật đó chỉ nói lên tính tình của anh, những điều cần phải lưu ý khi giao tiếp với anh.
- Phải coi là tội nói hành cách nặng, nếu dùng những cách nói gợi cho kẻ nghe một sự nghi ngờ anh có nhiều tật xấu nặng. Thí dụ nói: “Tôi còn biết nhiều chuyện khác, nhưng vì đức bác ái tôi không nói ra..." Nói như thế là đủ cho người ta nghĩ trái về anh đó, và có khi còn nghĩ tới những điều tồi tệ hơn là sự thật.
- Nói xấu về những người vô danh, hoặc không ám chỉ người nào cách rõ rệt, thí dụ, nói: “trong chỗ đó có nhiều tên du đảng, cờ bạc, rượu chè…” thì không có tội, ít là không có tội nặng.
Ngược lại, có tội nặng, nếu nói cách nào đó có thể làm cho người ta suy đoán được người tội lỗi ấy là ai ; hoặc nói giấu tên, nhưng lại kể ra những chi tiết như: tôn giáo, gia đình hay tên Nhà Dòng, đến nỗi vì đó mà cả gia đình ấy hay cả Nhà Dòng ấy mang tiếng xấu bởi vì làm cho Nhà Dòng đó mất tiếng tốt, mặc dù không tiết lộ danh tánh kẻ có tội. Không có lỗi nặng nếu mọi người đều biết tội ấy.
- Nói xấu người chết được coi là tội nhẹ hơn là nói xấu người còn sống, nhưng vẫn mắc tội nặng như thường. Bởi vì sau khi chết, người chết vẫn còn giữ thanh danh như thường hay có ý để tiếng lại cho con cháu.
- Trường hợp tiết lộ một tính xấu của anh em với một người và người nầy hứa giữ kín: nếu có ác ý bôi lọ người ta cách nặng, thì có tội nặng ; còn nếu có lý do chính đáng, (thí dụ để nhắc bảo) thì chắc chắn là không có tội gì hết.
- Kể lại tội kín của một người nào đó, nhưng có ý cho nhiều người khác cùng nghe được thì cần phân biệt: nếu kể lại cách nào đó đến nỗi những người nghe không tin được, thì không có lỗi nặng vì không có nguy cơ làm mất tiếng tốt ; nếu kể lại trước mặt những người yếu đuối dễ bị vấp phạm, những người có ác ý, dễ tin, thì có lỗi nặng vì lỗi đức bác ái do lòng xấu, do ác ý sẵn của chính họ
- Một người đã mất tiếng tốt về một tội nào đó còn có thể mất tiếng tốt do bị nói xấu nữa không nữa không ?
Nếu tội bị nói xấu là tội gần giống như tội trước và đi đôi với tội trước, thì không có lỗi gì, ít là không có lỗi nặng. Thí dụ: một người bị mang tiếng công khai về tội ngoại tình, nếu bị nói xấu thêm rằng: nó có gởi thơ cho nhân tình… thì không kể là thêm điều gì quan trọng.
Trái lại, nếu tội khác không đi đôi với tội trước, thì có lỗi nặng. Thí dụ một người đàn bà mang tiếng về tội ngoại tình một lần rồi, nhưng bị nói xấu chị ta còn ngoại tình với một người khác nữa mà tội sau nầy còn kín thì kể là bị nói xấu thêm.
Chú ý: “Không những người nói xấu có tội, mà cả những người cộng tác vào đó cũng có tội. Hình thức thông thường nhất của việc cộng tác này là chăm chú lắng nghe. Ai nghe người ta nói xấu như thể thuận tình với những điều ấy đều phải chia một phần tội nói xấu. Còn nếu chỉ nghe vì tò mò hay vì nhẹ dạ thì thường không mắc tội nặng, Người nghe đã cộng tác cách gián tiếp, khi bỏ qua không dám ngắt lời người kia nói hay phản đối lúc có thể và lúc cần thiết.” (tr. 373)
“Ta có thể phản đối việc nói xấu bằng một cách tích cực là khiển trách, ra lệnh cho người nói xấu phải im lặng hay phản bác những lời người ấy nói nếu là những lời nói sai. Ta có thể phản đối việc nói xấu bằng một cách tiêu cực là bỏ đi, không tham gia câu chuyện, đổi đề tài, v.v...” Tuy nhiên, “ta được miễn bổn phận ngăn chận việc nói xấu, khi thấy rằng can thiệp vào sẽ gây bất lợi nghiêm trọng cho mình, khi không thể can thiệp thành công hoặc khi phản đối chỉ làm cho sự việc tệ hại hơn.” (tr. 373)
“Hỗn láo là làm một người mất danh dự một cách không chính đáng ngay trước mặt người ấy. Sự khinh bỉ ấy có thể được biểu lộ qua những lời nói, cử chỉ hay thiếu sót. Không nhất thiết nạn nhân phải có mặt lúc đó. Đương sự có thể bị sỉ nhục khi người ta hỗn láo với người đại diện của đương sự, với ý nhắm là để cho đương sự biết. Không tỏ lòng kính trọng mà đương sự đáng được là hỗn láo cách tiêu cực ; còn hỗn láo cách tích cực là sĩ nhục bằng lời nói, chữ viết hay việc làm.”
“Làm ô danh là cướp đi của một người cái người ấy đáng được ; đó là tội bất công. Hỗn láo nghiêm trọng là một tội nặng. Con người thường đánh giá danh dự cao hơn những của cải vật chất. Vì thế, Đức Kitô đã đưa ra lời phê phán rất nghiêm khắc về tội hỗn láo này. "Ai nhục mạ anh em thì phải trả lời trước hội đồng. Ai nói anh em mình là "đồ ngu” thì phải trầm luân trong lửa địa ngục” (Mt 5, 22) Phaolô kể người nhiếc mắng anh em mình vào số những người không được thừa hưởng Nước Trời (1Cr 6, 10)”
“Tội này nặng hay nhẹ là tùy theo phẩm giá của người bị xúc phạm và tùy theo tính chất của lời nói, hành vi hay những quên sót diễn tả sự bất kính ấy.” (tr. 366)
3.3.5 Bồi thường thiệt hại danh dự
Nói chung phải bồi thường khi làm thiệt hại danh dự người khác.
“Bồi thường cho những thiệt hại đã gây ra cách bất công là một nghĩa vụ của đức công bình và đức ái. Bởi thế, người nói xấu cũng có bổn phận phải bồi thường. Người ấy phải làm những gì mình có thể làm để sửa chữa lại những thiệt hại đã gây ra cho thanh danh của nạn nhân, kể cả những thiệt hại vật chất xuất phát từ chỗ đó. Người ấy phải gánh lấy bổn phận bồi thường này ít nhiều tùy theo mức dự kiến của mình về những thiệt hại ấy, ít là dự kiến một cách mơ hồ. Bổn phận bồi thường sẽ nặng hay nhẹ là tùy theo thiệt hại gây ra là lớn hay nhỏ. Nếu là bổn phận bồi thường nặng thì cả khi phải chịu những bất lợi nghiêm trọng can phạm cũng phải thi hành.” (tr. 374)
Đối với những lời vu khống: “Những người vu khống phải bồi thường bằng cách rút lại lời tố cáo sai lạc, rút lại một cách rõ ràng, không úp mở. Phải rút lại những lời chứng gian tại toà án, nếu không làm thế thì cũng không bồi thường được những thiệt hại đã gây ra. Người gièm pha không thể rút lại những lời buộc tội vì đó là những điều đúng. Nhưng đương sự phải bồi thường bằng một cách khác, chẳng hạn bào chữa những lỗi lầm của người bị gièm pha hay nêu lên những đức tính tốt của người ấy.” (tr. 374)
Đối với những lời nói xấu: “Nếu đã nói xấu công khai thì phải bồi thường đối với tất cả những ai có mặt lúc đó. Trong mức độ có thể, phải bồi thường về những lời nói xấu trước mặt những người đã được nghe những lời ấy. Tuy nhiên, bổn phận bồi thường sẽ chủ yếu dựa vào lương tâm của những ai đã kể lại chuyện xấu ấy, dù dã ý thức đó là một lời nói xấu. Nếu nói xấu ai trên báo chí, truyền thanh hay truyền hình thì có thể chỉ cần bồi thường qua những phương tiện truyền thông ấy” (tr. 374).
Đối với những người nhục mạ người khác (hay hỗn láo) “Phải bồi thường về những sự nhục mạ ấy một cách công khai hay kín đáo riêng tư, điều đó còn tùy vào bản thân những sự nhục mạ ấy có tính công khai hay riêng tư. Có thể làm việc bồi thường này đích thân mình hay qua một người trung gian. Nếu người mắc lỗi không thể đến gặp người bị mình xúc phạm, thì có thể viết thư bày tỏ sự hối tiếc ấy. Việc bồi thường cũng phải được làm cách nào cho người bị thiệt hại hiểu không lẫn lộn đó là sự hối tiếc và trân trọng của người mắc lỗi. Đối với các bề trên, ta có thể bồi thường danh dự bằng cách xin lỗi, ít nhất là khi sự nhục mạ đã làm có tính nghiêm trọng. Còn đối với người ngang hàng hay bề dưới, thông thường chỉ cần tỏ một cử chỉ thiện chí hay quý trọng nào đó là đủ. Nhưng thỉnh thoảng cũng cần phải xin lỗi khi đã làm một việc nhục mạ nghiêm trọng chẳng hạn, kể cả đối với người ngang hàng.” (tr. 367)
Tuy nhiên, “Bổn phận bồi thường cho những thanh danh đã bị thiệt hại sẽ chấm dứt khi ta có thể suy đoán một cách hợp lý rằng người bị xúc phạm không đòi quyền ấy ; khi danh thơm tiếng tốt của người ấy đã được phục hồi cách nào đó ; khi người nói xấu là người không được ai tin ; khi vụ việc đã bị quên lãng ; khi những lỗi lầm kể ra trong lúc nói xấu đã được mọi người biết dựa vào các nguồn khác ; khi người bị nói xấu cũng mắc tội ấy với người nói xấu mình (cho dù cả trong trường hợp nầy thường thường ta phải sửa chữa lại những điều không thật đã được nói ra một cách cố tình) ; khi không thể bồi thường xét về mặt luân lý. Chẳng hạn người nói xấu phải chịu thiệt hại lớn hơn cả thiệt hại đã gây ra cho người bị nói xấu, nếu rút lại lời đã nói. Cho dù người bị nói xấu có tự nguyện tha thứ, ta vẫn phải bồi thường nếu vì bỏ qua như thế mà làm thiệt hại nặng cho người thân của họ hay cho công ích. Chẳng hạn vì bị nói xấu mà uy tín của một người cầm quyền bị sút giảm, như trong trường hợp các chủ chân, bề trên hay quan toà (tr. 375).
Bổn phận bồi thường sẽ chấm dứt khi người bị thiệt hại đã trả miếng hay khi đó là sự nhục mạ hai bên làm cho nhau và cùng nặng như nhau ; khi người phạm tội đã bị pháp luật trừng phạt ; khi sự xúc phạm đã bị quên hẳn tới mức tốt hơn là đừng làm sống lại ký ức ấy hay khi không có cách nào để xin lỗi nữa (tr. 367).
Sách GLCG viết: “Ai lỗi phạm đến công bình và chân lý, đều phải đền bù, dù đã được thứ tha. Khi không thể đền bù cách công khai, thì phải làm kín đáo ; nếu không thể đền bù cách trực tiếp cho người bị hại, thì phải đền bù về tinh thần vì đức bác ái. Ai lỗi phạm đến thanh danh kẻ khác, cũng phải đền bù như thế. Phải đền bù tinh thần và đôi khi về mặt vật chất, tương xứng với thiệt hại đã gây ra. Đây là nghĩa vụ lương tâm.” (GLCG no 2487)
Điều răn thứ 8 cũng kể là không tôn trọng sự thật khi tâng bốc người khác hay khi khoe khoang. Sách GLCG viết: “Phải loại trừ mọi lời nói hoặc thái độ như nịnh hót, a dua, tâng bốc hoặc lấy lòng để thúc đẩy kẻ khác làm điều xấu và ăn ở đồi bại. Tâng bốc là một lỗi nặng nếu đồng lõa với các thói xấu hoặc các tội nặng. Ý muốn giúp đỡ hoặc tình bạn không biện minh được cho lời nói giả dối. Tâng bốc là một tội nhẹ khi chỉ vì muốn làm vui lòng người khác, tránh một điều xấu, thoát khỏi một tình thế khó khăn hay để đạt được những lợi ích chính đáng.” (no 2480)
“Khoe khoang hoặc khoác lác là một lỗi nghịch với sự thật. Mỉa mai cũng là tội khi có ý châm biếm một cách cư xử nào đó của người khác để hạ giá họ.” (no 2481)
“Một bí mật là một sự kiện bị giấu mà ta không được phép tiết lộ. Sự kiện bị giấu diếm ấy có thể là một khuyết điểm hay một lỗi lầm, như tính bất hợp pháp của đứa con hay một sự rắc rối về tài chính, một tài sản có giá trị cao cần được bảo vệ để khỏi bị lạm dụng (một phát minh hay những bí mật có liên quan dến quốc phòng).”
“Cần phân biệt ba loại bí mật: bí mật tự nhiên, bí mật do lời hứa và bí mật được ký thác. Gọi là bí mật tự nhiên vì bổn phận giữ bí mật ở đây xuất phát trực tiếp từ chính luật tự nhiên. Không cần phải có sự quy ước hay thoả thuận nào để tạo ra bổn phận ấy. Chính sự quan tâm đến anh em và bản chất của tình thân hữu giữa loài người buộc ta phải giữ bí mật ấy. Đó là trường hợp của những sự kiện kín đáo mà nếu tiết lộ ta sẽ làm thiệt hại hay làm mất lòng người khác, do chính bản chất của các sự kiện đó.
Bí mật do một lời hứa là một bí mật mà ta đã hứa bảo vệ sau khi đã biết, dù nếu không có lời hứa này có thể ta sẽ không có bổn phận phải giấu diếm. Nếu lời hứa này có liên quan đến một bí mật mà đồng thời cũng là một bí mật tự nhiên, thì ta sẽ bị buộc giữ bí mật gấp đôi, vừa vì đức ái hay công bằng vừa vì phải trung thành với lời hứa. Hứa giữ bí mật trong những vấn đề vô bổ hay bất hợp pháp đều không có giá trị.
Bí mật được ký thác hay được giao phó là một bí mật mà ta chỉ được biết với điều kiện phải giữ bí mật. Phải bảo đảm sẽ giữ bí mật trước khi được cho biết về bí mật ấy. Sự thoả thuận này có thể là minh nhiên hay mặc nhiên. Thuộc về loại này là các bí mật nghề nghiệp, nghĩa là những bí mật mà ta buộc phải giữ vì nghề nghiệp của mình như khi làm bề trên, quan toà, chủ chân, bác sĩ, luật sư, cô đỡ, v.v... Bí mật nghề nghiệp là bí mật có sức ràng buộc mạnh hơn cả. Bí mật linh thiêng nhất và ràng buộc nghiêm nhặt nhất là bí mật toà giải tội (tr. 351-352).
“Bí mật toà giải tội là thánh thiêng và không được tiết lộ vì bất kỳ lý do nào. “Bí mật toà giải tội là bất khả vi phạm ; do đó tuyệt đối cấm linh mục giải tội tiết lộ về hối nhân bất cứ điều gì, bằng lời nói hoặc một cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì (x. CIC, can 983, 1)”. (GLCG no 2490)
“Những bí mật nghề nghiệp - ví dụ của các nhà chính trị, quân nhân, y sĩ, luật gia - hoặc chuyện tâm sự được yêu cầu giữ kín, phải được giữ bí mật trừ trường hợp ngoại lệ nếu việc giữ bí mật sẽ gây ra cho người đã nói ra, hoặc cho người đã tiếp nhận hoặc cho một đệ tam nhân, những thiệt hại nặng nề và chỉ có thể tránh được khi nói sự thật. Dù không buộc phải giữ kín, không được tiết lộ những chuyện riêng tư có thể gây tổn hại cho tha nhân, trừ khi có lý do hệ trọng và tương xứng.” (GLCG no 2491)
“Chúng ta phải tôn trọng bí mật đời tư của người khác. Ai có trách nhiệm về các phương tiện thông tin khi phục vụ công ích vẫn phải tôn trọng cách tương xứng các quyền lợi của cá nhân. Phải lên án việc ngành thông tin xen vào đời tư của những người hoạt động chính trị hoặc được công chúng biết đến, nếu xâm phạm đến cuộc sống riêng tư và sự tự do của họ.” (GLCG no 2492)
Nói chung cần phải tôn trọng bí mật vì nhiều khi tiết lộ bí mật có thể làm thiệt hại cho người ta, hay làm phiền lòng người ta, vì vậy lỗi đức công bằng hay lỗi đức bác ái, đôi khi còn làm hại cho đoàn thể cộng đồng vì gây hoang mang, sinh gương xấu cho nhiều người, hoặc làm mất an ninh cho xã hội, hay làm thất bại công việc của người khác...
“Tiết lộ bí mật tự nhiên khi chưa có lý do đủ sẽ là tội nặng hay nhẹ đối với đức ái hay đức công bằng, tùy theo người khác bị thiệt hại nặng hay nhẹ do sự tiết lộ ấy. Càng là tội nặng khi vi phạm một bí mật nghề nghiệp, trừ khi nội dung của bí mật ấy tầm thường, vụn vặt. Nếu các bí mật phải giữ chỉ là những bí mật do lời hứa, chứ không phải là những bí mật tự nhiên hay nghề nghiệp, thì tiết lộ chúng thường chỉ là tội nhẹ.”
“Phải luôn luôn bồi thường theo đức công bằng về những thiệt hại gây ra do sự vi phạm các bí mật nghề nghiệp. Còn các sự vi phạm khác trên nguyên tắc chỉ buộc bồi thường vì đức ái, trừ khi do sử dụng những phương tiện bất chính ta cũng đã vi pbạm đức công bằng trong các trường hợp đó.” (tr. 353-354)
Buộc phải giữ bí mật, nhưng cho phép tiết lộ bí mật khi có đủ lý do cho phép tiết lộ. “Một lý do gọi là đủ để cho phép tiết lộ một bí mật tự nhiên, là khi muốn tránh một sự bất lợi tương đối lớn cho mình hay cho một đệ tam nhân, không có liên quan hoặc cho công ích. Một lý do gọi là đủ để cho phép tiết lộ bí mật do lời hứa, nhưng không phải là bí mật tự nhiên hay bí mật nghề nghiệp, là khi muốn tránh một bất lợi không cân xứng với sự có lợi khi giữ bí mật ấy. Khi bề trên hay quan toà được quyền tra hỏi thì phải tiết lộ cả bí mật tự nhiên lẫn bí mật do lời hứa. Tuy nhiên, quyền tra hỏi ấy phải là quyền chắc chắn.
Không được phép tiết lộ bí mật được ký thác, ngay cả tiết lộ cho bề trên, trừ khi có một trong những lý do sau đây:
- Để tránh một nguy hiểm lớn cho công ích
- Để tránh một thiệt hại lớn cho một đệ tam nhân vô tội. Thiệt hại này đã được gây ra cách bất công do chính người ký thác bí mật. Vì không thể đặt bí mật nào được gởi gắm ưu tiên tới mức làm hại tới quyền lợi của một người vô tội mà ta có bổn phận phải bảo vệ chống lại sự tấn công bất chính. Bởi đó, nếu bác sĩ không thể ngăn can một người có bệnh về tính dục lập gia đình, bác sĩ có thể tiết lộ điều ấy với cô dâu. Tuy nhiên, ta không được phép vi phạm những bí mật nghề nghiệp để chống lại kẻ phạm pháp và cứu người vô tội khỏi bị kết án, khi kẻ phạm pháp ấy không phải là nguyên nhân làm cho người vô tội này bị kết án ;
- Để tránh điều xấu nghiêm trọng, cho chính người đã ký thác bí mật, như khi người ấy cho biết mình có ý định tự sát ;
- Để tránh một nguy hiểm lớn cho người đựợc gởi gắm bí mật. Tuy nhiên, không được phép đặt công ích vào tình trạng nguy hiểm để tránh những nguy hiểm cho bản thân mình.
Được phép thảo luận về một vấn đề bí mật với nhà cố vấn khôn ngoan và người này sẽ có bổn phận giữ bí mật, trừ khi người gởi gắm bí mật cho ta phản đối điều đó. Phải luôn luôn hết sức thận trọng để sự tín nhiệm của đại chúng vào bí mật nghề nghiệp và vào chính nghề nghiệp không bị tổn hại, có hại cho công ích (tr. 354-355).
“Nhiều khi công ích có thể buộc giữ kín bí mật do giao ước, cho dù có sự đe dọa nặng nề cho cả một làng, một nước, như trường hợp linh mục bị khóa miệng do ấn tòa giải tội. Sự kín ở tòa giải tội thì không khi nào được tiết lộ. Cũng có thể còn cấm tiết lộ như vậy đối với các vấn đề lương tâm mà người ta đến bàn hỏi với linh mục hay với một người nào khác, để được sự bằng yên trong lương tâm hay để được hướng dẫn. Cho được tiết lộ các sự kín thuộc loại sau hết này, thì ta phải bảo trước cho đương sự biết rằng: ta có bổn phận ngăn đón tai họa cho phần đông công chúng, và nếu đương sự không cho phép, thì lúc ấy ta phải cân nhắc thật kỹ tai họa kia và sự giữ bí mật, đàng nào trọng hơn ?”
Một vài trường hợp cụ thể:
+ Một người hứa chắc rằng sẵn sàng chết để bảo vệ bí mật nào đó. Thế nhưng khi đụng tới cái chết thì người ấy lại sợ, vậy thì người ấy có thể tiết lộ được không ? Thưa không được tiết lộ, bởi vì luật buộc giữ kín là luật buộc nặng, cho nên cái chết vì bảo vệ bí mật là từ khước giữ gìn mạng sống để bảo toàn điều đã hứa.
+ Đối với bí mật quan trọng mà đương sự lại tiết lộ vì cho rằng không quan trọng hay ít quan trọng. Trường hợp nầy đương sự không phạm tội nặng, nếu đã có suy xét kỹ và đoán là ít quan trọng hay không quan trọng. Cũng không mắc tội nặng, nếu đương sự không biết là có luật buộc nặng phải giữ kín, hoặc đã quên mình có giao ước giữ kín.
+ Một sự bí mật quan trọng được anh A tiết lộ cho anh B, với điều kiện phải giữ kín. Anh B lại đi kể lại cho anh C cũng với điều kiện như vậy. Trường hợp nầy có lẽ anh B không mắc tội nặng nếu anh C là người đứng đắn đáng tin cậy. Tuy nhiên cần phải rất thận trọng và không được đem áp dụng đối với ấn tòa giải tội, đối với bí mật nghề nghiệp và đối với các thứ bí mật có tầm rất quan trọng.
Thăm dò bí mật của người khác trong những việc quan trọng là có tội nặng vì lỗi đức công bằng bởi vì mỗi người có quyền giữ lấy sự bí mật riêng mình. Cưỡng ép tiết lộ bí mật là một xâm phạm nặng.
“Tò mò muốn biết bí mật của người khác không những là bất hợp pháp mà còn đáng bị phạt nữa. Bởi đó, ta không được phép tìm biết một sự kiện được che giấu, như một phát minh, một hồ sơ bệnh lý hay ý kiến riêng của một người bằng cách ăn trộm, nghe lén, đọc thư, bí mật thâu băng các cuộc trò chuyện, v.v... Thường thường đây là một tội nặng, trừ khi nội dung sự việc vốn vặt vãnh, tầm thường và ta không có ý khai thác những hiểu biết ấy.” (tr. 355)
Tuy nhiên cũng có luật trừ khi có lý do chính đáng hay khi phỏng đoán khá chắc chắn rằng đương sự bằng lòng hay đương sự đáng lý ra phải bằng lòng, thì được phép thăm dò những bí mật. Lý do chính đáng là khi cần ngăn chặn sự thiệt hại cho một cộng đoàn, hay cho chính mình, hay cho những người bà con của mình.
Cũng có khi “vì những lý do nghiêm trọng, không những được phép mà đôi khi còn bị buộc phải thăm dò những bí mật của người khác, miễn là các phương tiện sử dụng không phải là những phương tiện bất chính. Dùng thư từ kín đáo để đặt ra những câu hỏi đặc biệt. Một số tiêu chuẩn soạn ra cho việc này có thể áp dụng vào việc kín đáo thâu băng các cuộc đàm đạo.” (tr. 356)
Về đọc thư từ hay nhật ký của người khác, vốn có lỗi nặng, lỗi đức công bằng: bởi vì mỗi người có quyền giữ kín sự bí mật của mình, bí mật hoặc nói ra bằng lời hoặc bằng chữ viết. Đàng khác, đọc thư của người khác là lỗi phép lịch sự trong việc giao dịch.
“Nói chung, đọc thư người khác khi chưa có phép là một sự vi phạm đức công bằng. Gọi là được phép khi người gởi hay người nhận đã cho phép ta làm việc ấy. Cha mẹ có quyền đọc thư của con cái khi chúng còn chịu sự giám hộ của cha mẹ. Cũng thế, các nhà giáo dục có quyền đọc thư của những người dưới quyền trừ khi thư ấy có chứa đựng những bí mật của gia đình hay các vấn đề lương tâm. Trong trường hợp này ta phải ngưng đọc các thư ấy. Thói thường đôi khi cũng cho vợ chồng và cả những người thân đọc thư của nhau.”
“Bề trên của các cộng đoàn tu trì có thể mở và đọc thư của bề dưới, nếu luật cho phép, trừ khi thư được viết cho các bề trên cao hơn hay có đề cập đến các vấn đề lương tâm.”
“Không kể trường hợp này, đọc thư của người khác chỉ hợp pháp khi việc đó cần thiết để tránh những thiệt hại lớn cho công ích, cho người khác hay cho chính mình. Cũng với lý do đó, ta được phép kín đáo thâu băng các cuộc trò chuyện. Chính quyền được phép mở thư xem, nếu điều ấy cần để bảo vệ an ninh chung, như để khám phá hay ngăn chặn các tội ác hoặc các hành vi phản bội bí mật quốc gia. Dĩ nhiên các nhân viên nhà nước chỉ được dùng những thông tin tới mức công ích đòi hỏi thôi. Đối với nội dung còn lại của bức thư, họ cũng có bổn phận phải giữ bí mật nghề nghiệp. Một cá nhân cũng có thể được phép đọc thư của người khác khi đương sự có quyền giả định rằng lá thư ấy có chứa những vấn đề sẽ gây thiệt hại và bất công cho mình. Chẳng hạn vợ hay chồng có thể mở thư của nhau để bảo vệ mình hay gia đình trước những bất công và thiệt hại nặng có thể xảy ra.”
“Đọc thư đã bị ném vào thùng rác công cộng không phải là bất hợp pháp. Tuy nhiên, nếu thư đã bị xé vụn và quăng ra chỗ công khai thì ta sẽ phạm lỗi đức ái khi ráp các mảnh vụn ấy lại để đọc. Không được phép đọc những thư bị lạc địa chỉ.” (tr. 356-357)
Người sử dụng bí mật là người, dù không tiết lộ sự bí mật, nhưng lại dùng bí mật mình biết, để đạt tới mục đích nào đó. Về điều nầy, có những qui tắc sau đây:
+ Khi ai biết một bí mật, và biết theo lối bí mật tự nhiên, hoặc theo lối bí mật có giao ước, thì thường không được phép sử dụng điều mật ấy để có một hành động khác, trừ ra khi nào phỏng đoán được một cách hợp lý tác giả của điều bí mật ấy cho phép, hoặc khi nào có một lý do tương xứng cho phép thì mới được sử dụng điều bí mật ấy. Thí dụ: Bề Trên có thể sử dụng điều mình biết do bề dưới tiết lộ để làm ích cho chính bề dưới trong việc thiêng liêng mà không cần tiết lộ và cũng không gây sự bất mãn nào cho bề dưới.
+ Khi biết được bí mật không phải bằng đường lối mua chuộc, nhưng nhờ công khó tìm kiếm thì có thể sử dụng bí quyết cách chính đáng để tạo cho mình hay cho người khác một mối lợi, mặc dù vì đó mà người kia phải bị thiệt phần nào. Như thế, nếu ai dùng tài trí thông minh, khám phá ra bí quyết của người khác trong một sản phẩm nào đó chẳng hạn, người ấy có thể tiết lộ bí quyết đó, nhưng còn có thể sử dụng bí quyết ấy để sinh lợi cho mình hay cho người khác. Vì thế, người sản suất nên phòng ngừa bằng cách hoặc công bố và bán bằng sáng chế hoặc xin Nhà Nước ban cho mình độc quyền sản xuất nếu nơi ấy Luật cho phép.
+ Còn nếu nắm được bí quyết cách bất hợp pháp (thí dụ ăn cắp công thức làm thuốc), nói chung, người ấy không được sử dụng bí quyết đó mà làm cho người kia bị thiệt hại. Bởi vì ai đã nhờ cách gian dối mà biết được sự bí mật của kẻ khác, người ấy không được phép tiếp tục và hoàn thành cách hợp pháp một hành vi bất hợp pháp.
[Tổng hợp từ nhiều tài liệu khác nhau]

