Công Đồng Vatican II đã có một tuyên bố rất sâu sắc về lương tâm. Lương tâm chính là nơi bí mật nhất, là cung thánh của con người, nơi họ được ở một mình với Thiên Chúa, Đấng vẫn không ngừng lên tiếng trong lòng họ. Lương tâm mặc khải cách tuyệt vời một thứ lề luật chỉ có thể hoàn tất bằng lòng mến Chúa và yêu người (Mt 22, 37-40; Ga 5, 14)[1]. Nhưng không phải ai cũng có được cái nhìn và sự tôn trọng ấy của lương tâm.

I. SUY TƯ CÓ TÍNH THẦN HỌC VÀ NHÂN CHỦNG HỌC.

1. Những định nghĩa của thần học và nhân chủng học về lương tâm:

1.1. Lương tâm là một phán đoán giúp ta biết được điều tốt, điều xấu[2].

Do ảnh hưởng của sự phân biệt rõ ràng giữa conscientia (“lương tâm”: cùng hiểu biết) với synteresis[3] hoặc synderesis[4], trường phái Stoic và nền thần học luân lý sau này đã coi lương tâm như một sự phán đoán hoặc một hành vi, nhờ đó, con người có thể biết được điều tốt, điều xấu[5]. Nhưng synteresis lại có nghĩa là một khả năng vững bền thôi thúc con người tìm kiếm và thực hành chân lý, tức làm lành, lánh dữ[6]. Như thế, synteresis ám chỉ cả lý trí lẫn ý chí.

1.2. Lương tâm, một khuynh hướng bẩm sinh sâu sắc nhất của trí tuệ.

Truyền thống kinh viện đã coi synteresis là một phẩm chất sâu sắc giúp con người có được lương tâm, nghĩa là có khả năng cảm nhận trật tự và các giá trị luân lý như một sự đòi buộc[7].

Theo Thánh Tôma thì lương tâm là một thiên hướng bẩm sinh sâu sắc nhất (primus habitus) của trí tuệ[8], một khả năng độc đáo và thiên phú xứng hợp nhất làm cho người ta trở thành các hữu thể luân lý[9] nghĩa là biết cái gì là tốt cái gì là xấu.

2. Các lý thuyết bất toàn có liên quan tới lương tâm

2.1. Việc nhấn mạnh đến đầu óc thực tiễn

Theo thánh Albertô Cả và thánh Tôma Aquinô thì synteresis là khả năng bẩm sinh của đầu óc thực tiễn, có tính đòi buộc, chỉ cho con người biết “điều lành phải làm”, nhưng đây là cái “biết” trong Kinh Thánh, xuất phát từ cõi thẳm sâu của tâm hồn, một sự hiểu biết về ơn cứu độ và sự toàn diện[10].

Sau này, những người theo Tôma học thuyết và các luân lý gia không còn thấy được sự độc đáo của con người và chiều sâu của tâm hồn họ nữa.

2.2 Việc nhấn mạnh đến khuynh hướng bẩm sinh của ý chí

Alexander thành Hales, thánh Bonaventura, Henry thành Ghent và nhiều người khác, thấy rằng việc ưa chuộng và ước muốn sự thiện chính là khuynh hướng bẩm sinh của ý chí trong synderesis. Các nhà thần bí lại hiểu khuynh hướng ấy như scintilla animae, một tình yêu nồng cháy, thôi thúc toàn bộ con người hướng về sự thiện[11].

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau khi hai trường phái này trở thành đối nghịch nhau, thì người ta bắt đầu nhấn mạnh đến khía cạnh này nhằm đả kích khía cạnh khác, nên cũng bắt đầu phá vỡ sự toàn diện.

2.3. Quan niệm về lương tâm của khoa tâm lý và xã hội.

2.3.1. Những người không chấp nhận hoặc đề cao lương tâm.

F. Skinner[12] cảm nghiệm rằng có thể dùng các hình thức thưởng phạt mà huấn luyện con người y như huấn luyện loài vật vậy. Nên trong thuyết hành vi của ông, không có chỗ cho lương tâm.

S. Neill bảo các thầy cô giáo là hãy quên hẳn những khái niệm luân lý và việc nại đến lương tâm đi: điều duy nhất cần làm là thích nghi, trung thành với trường học, và như thế cũng là chuẩn bị để trung thành với xã hội[13].

Theo Emile Durkheim, luân lý chỉ là để duy trì kỷ luật và trật tự, và bao giờ cũng nảy sinh từ việc thích nghi với xã hội chứ không phải nhờ tình yêu thương và tự do con người cảm nghiệm được trong gia đình[14].

2.3.2. Những người đề cao lương tâm.

George Gurvich lại tin vào lương tâm con người và ông cũng thấy sự sống trong cộng đoàn và trong xã hội, tự bản chất là một lời gào gọi phải thể hiện sự tự do sáng tạo đã được bày tỏ trong lương tâm con người[15].

Sigmund Freud đã khám phá ra trong “cái tôi” của các bệnh nhân của ông, có “một năng lực đặc biệt”, nhờ năng lực ấy, con người luôn lệ thuộc cha mẹ và môi trường sống. Ông gọi năng lực ấy là “siêu ngã”. “Ảnh hưởng tự nhiên của cha mẹ không chỉ gồm nhân cách của họ thôi mà còn gồm cả những truyền thống về chủng tộc, quốc gia và gia đình đã được chuyển giao cho họ, cũng như những đòi hỏi trực tiếp của môi trường xã hội”[16].

Như thế, tuy nhiều người không coi trọng lương tâm, tức khả năng bẩm sinh của con người, giúp họ biết và thực hành điều tốt, biết và tránh điều xấu, nhưng đối với Hội thánh Công giáo, lương tâm không chỉ giúp con người trở thành các hữu thể luân lý mà còn là cung thánh, nơi đó họ có thể biết mình nhờ đối diện với Thiên Chúa và tha nhân.

II. LƯƠNG TÂM VÀ TƯ CÁCH NGƯỜI MÔN ĐỆ.

1. Lương tâm và Lời

Lương tâm là khả năng luân lý, khả năng biết cái gì tốt, cái gì xấu của con người, là cõi thẳm sâu và cung thánh của họ, trong cung thánh ấy con người biết được mình nhờ được đối diện với Thiên Chúa và đồng loại[17].

Trong lòng ta bao giờ cũng vang dội lời của Ngôi Lời, trong Ngài, ta được tạo dựng. Lương tâm ta sống được là nhờ Ngài, Đấng đã làm cho ta hiện hữu và hiện vẫn đang mời gọi ta ở với Ngài với tư cách là môn đệ của Ngài.

Lương tâm giúp ta ý thức rằng cái tôi đích thật của ta được gắn kết chặt chẽ với Đức Kitô và ta có thể tìm được tên gọi độc đáo của mình bằng cách lắng nghe và đáp lại Đấng luôn kêu gọi ta.

Lời của lương tâm xuất phát từ Ngôi Lời, Đấng đã thành xác phàm để ở với ta. Và Ngôi Lời ấy lên tiếng nhờ tiếng nói từ bên trong, một tiếng nói ta có thể nghe bằng tất cả con người ta. Tự mình, lương tâm chỉ là một chiếc đèn chưa được thắp sáng. Lương tâm đón nhận sự thật từ Đấng là Sự Thật và là Sự Sáng, nhờ Ngài, lương tâm trở nên chói chang, ấm cúng[18].

2. Cái nhìn có tính Kinh Thánh về lương tâm

2.1. Lương tâm trong Cựu Ước.

2.1.1. Thuật ngữ “lương tâm” trong Cựu Ứơc

Trong Cựu Ước, ta chỉ tìm được từ ngữ syneidesis trong sách Khôn Ngoan, một sách mãi sau này mới được viết ra (17,10), diễn tả sự bất ổn hoặc một lương tâm xấu xa. Tuy thế, Cựu Ước vẫn nói về lương tâm cách sâu sắc nhất.

Israel vẫn nhìn sự thiện, sự ác theo quan điểm nội tâm, khách quan và đôi khi theo quan điểm có tính tập thể. Thiên Chúa bày tỏ ý định của Ngài qua các truyền thống và các nhà lãnh đạo tôn giáo. Tuy nhiên, bao giờ họ cũng kinh nghiệm được tiếng nói của Thiên Chúa như một tiếng gọi từ trong lòng họ. Lương tâm, như một cái gì đó đã được nội tâm hóa, là một trong những đóng góp lớn của các ngôn sứ của Israel[19].

Nên trước tiên, ta sẽ tập chú vào cái nhìn có tính Kinh Thánh về “tâm hồn” con người.

2.1.2. Tâm hồn con người

Nhờ Thần Khí Thiên Chúa, con người lãnh nhận trong toàn bộ con người mình, một thiên hướng nội tâm và một lời mời gọi làm điều thiện, chân thành tìm kiếm và sẵn sàng thi hành thánh ý Thiên Chúa. Israel tin rằng tâm hồn con người chính là nơi Thần Khí Thiên Chúa có thể đụng chạm và kêu gọi họ. Vì thế, tâm hồn chính là thẩm phán ca tụng hoặc kết án các hành vi của họ[20].

2.1.3. Chức năng của tâm hồn con người.

Khi làm điều dữ, tận trong thâm sâu lòng mình, con người bao giờ cũng biết rằng họ đã làm điều sai trái chống lại Thiên Chúa và đồng loại. Đó không chỉ là một sự hiểu biết về mặt tri thức mà còn là một nỗi quặn đau của tâm hồn.

Tâm hồn con người có thể lắng nghe sự can thiệp của Chúa Thánh Thần, Đấng đang soi sáng, hướng dẫn họ trên đường công chính, và nếu họ có phạm phải sai lầm, thì Đấng ấy lại mời gọi họ trở về với Thiên Chúa.

Cái nhìn sâu sắc ấy về tâm hồn con người vượt xa tất cả mọi nền luân lý chỉ chú tâm đến những thứ bên ngoài. Sứ điệp quan trọng của các ngôn sứ chính là Thiên Chúa đã khắc ghi trong lòng con người lề luật của Người (Gr 31, 29-34; Ez 14, 1-3 và 36, 26) [21].

2.2. Lương tâm trong Tân Ước.

2.2.1. Sứ điệp của Tân Ứơc.

Sứ điệp của Tin Mừng là đã đến lúc và chính là lúc này đây, Thiên Chúa sẽ lấy đi những tâm hồn chai đá và sẽ ban cho tội nhân một tấm lòng mới để họ có thể sống một cuộc sống mới trong một tâm hồn và tinh thần mới; đã đến lúc Thiên Chúa không chỉ ban cho họ một tình thần mới mà còn ban cho họ Thần Khí của Người. Ánh sáng mới đã bừng lên soi sáng cho họ và họ có thể bừng sáng trong Chúa. Nhưng họ vẫn có thể thiếu sự ngoan ngùy và trở nên ngoan cố[22].

Lời Thiên Chúa kêu gọi vẫn âm vang trong lòng ta. Đó là một kinh nghiệm tôn giáo và kinh nghiệm của lương tâm. Kinh nghiệm ấy bao giờ cũng được đánh dấu bằng sự toàn diện để ta sống cho Người và cho sự thiện[23]. Lời ấy chính là luật mến Chúa yêu người đã được khắc sâu trong lòng ta.

2.2.2. Lương tâm theo quan niệm của thánh Phaolô.

Vì là tông đồ, thánh Phaolô đã mang lại cho thừa tác vụ của ngài một cái nhìn của Cựu Ước và kinh nghiệm về việc Thiên Chúa kêu gọi và đổi mới tâm hồn ngài. Sự bén nhạy của ngài khi đụng đến lương tâm của người khác nảy sinh từ sự tế nhị của lương tâm ngài (2Cr 1,12), từ việc ngài thường xuyên ý thức về lòng nhân từ Thiên Chúa dành cho ngài (2Cr 4, 1-2), và từ lòng kính sợ Thiên Chúa (2Cr 5,11)[24].

2.2.2.1. Lương tâm kết án kẻ tội lỗi.

 Đôi lần thánh Phaolô cũng sử dụng syneidesis để chỉ lương tâm kết án kẻ tội lỗi, một khái niệm phù hợp với cả truyền thống Kinh Thánh và Hy Lạp. Có lẽ, không có một bản văn nào cho thấy rõ hơn cách thánh Phaolô nối kết cái cũ với cái mới bằng đoạn Rm 2, 14-15: “Ví thử dân ngoại không có Luật, nhưng theo lương năng mà làm những điều Luật dạy, thì họ, những kẻ không có Luật, họ là Luật cho chính mình họ”[25].

2.2.2.2. Lương tâm là nơi Thiên Chúa làm cho con người nhận biết luật yêu thương của Người.

Khi sử dụng khái niệm syneidesis[26], thánh Phaolô có ý truyền đạt một sứ điệp của các ngôn sứ về cõi lòng con người, nơi Thiên Chúa làm cho họ nhận biết luật yêu thương của Ngài, luật đã được khắc ghi trong tâm hồn họ.

Ngài nhận định rằng lương tâm tốt lành bao giờ cũng cho thấy sự toàn diện của con người. Sứ điệp trung tâm của ngài bao giờ cũng là Chúa Thánh Thần luôn canh tân tâm hồn con người, và việc ăn năn và hoán cải bao giờ cũng chất chứa một sự tái sinh của “tâm hồn”. Rõ ràng ngài đang muốn nói đến những gì mà ta gọi là lương tâm[27].

Ơn cứu chuộc chính là một sự giải thoát trong lương tâm con người. Nếu ta tin vào Đức Kitô và trao phó toàn thân cho Ngài, thì máu Ngài sẽ tẩy sạch lương tâm chúng ta. Lương tâm cũng làm chứng cho tín hữu về sự chân thành của đức tin và cuộc sống (Hr 13, 18; 2 Tim 1, 3).

Như thế, tuy sử dụng các thuật ngữ khác nhau, nhưng Kinh thánh vẫn nói về lương tâm con người như một thiên hướng nội tâm, một lời mời gọi làm điều thiện, chân thành tìm kiếm và sẵn sàng thi hành thánh ý Thiên Chúa. Lương tâm chính là nơi Thần Khí Thiên Chúa đụng chạm và kêu gọi con người, nên lương tâm cũng là thẩm phán ca tụng hoặc kết án các hành vi của họ[28].

III. CÁC LOẠI LƯƠNG TÂM

Peschke đã phân loại lương tâm như sau:

1. Lương tâm tiền kết: lương tâm thúc giục, ra lệnh hoặc cho phép hay đưa ra lời phê phán về một hành vi luân lý, về nghĩa vụ phải làm hoặc phải tránh trước khi người ta thực hiện hành vi ấy.

2. Lương tâm hậu kết: tán thành, bào chữa, tố cáo hoặc khiển trách về một hành vi đã làm rồi[29].

3. Lương tâm chắc chắn hoặc hồ nghi: lương tâm chắc chắn là một lương tâm có thể đưa ra một phán đoán nào đó mà không sợ sai lầm. Còn lương tâm hồ nghi là lương tâm không chắc chắn về giá trị luân lý của một hành vi nào đó. Ví dụ như hồ nghi không biết mình có nói lời gì xúc phạm tới người ta trong lúc nói chuyện chơi không[30].

4. Lương tâm phóng khoáng: lương tâm có xu hướng coi một hành vi tội lỗi là không có tội, hoặc coi tội nặng là tội nhẹ mà không có cơ sở, không dám nhìn thẳng vào tầm quan trọng của một nghĩa vụ luân lý. Một hình thức đặc biệt của loại lương tâm này là lương tâm của Biệt phái, việc nhỏ thì xé ra to, còn việc to lại cho là bé. Loại lương tâm này thường là kết quả của một thời gian dài hờ hững với việc phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

5. Lương tâm tinh tế: nhận định điều tốt cách rất rõ ràng, tỉnh táo[31] .

6. Lương tâm lúng túng: khi đứng trước hai điều phải làm, mà chỉ chọn được một, lương tâm cảm thấy hoang mang, lúng túng, sợ mình đã phạm tội bất kể mình đã chọn việc nào đi nữa. Ví dụ, khi một người nào đó phải làm chứng trước tòa về tội của một ân nhân của mình. Trong trường hợp này, thì đương sự phải hoãn quyết định lại, để thâu thập thông tin, nếu không hoãn được thì phải chọn bên nào xem ra ít xấu hơn, và khi hai điều xấu bằng nhau, thì phải chọn luật tự nhiên hơn là các luật thiết định[32].

7. Lương tâm bối rối

Từ ngữ “bối rối” cũng có nhiều nghĩa. Đó có thể gồm những cuộc khủng hoảng bình thường hay một số những bệnh lý học, cảm xúc bị xáo trộn. Lương tâm bối rối không phải là lương tâm sai lầm mà là lương tâm bệnh hoạn[33]

7.1. Nguyên nhân đưa tới lương tâm bối rối.

Theo nhận xét của Đức Hồng Y Gerson, thì bối rối là một phần của nỗi ám ảnh gây nên chứng loạn thần kinh, bất kể đó là chứng loạn thần kinh do âu lo hay chỉ là một biểu hiện của chứng loạn thần kinh do đam mê, hay áp lực. Theo nhiều nhà thần học và tâm lý học thì bối rối phát sinh từ sự hờ hững, chểnh mảng trong những lãnh vực căn bản nhất về đời sống tôn giáo và luân lý[34].

7.2. Chữa lành lương tâm bối rối.

Muốn được giải thoát khỏi sự bối rối cần phải hết lòng hoán cải. Tersteegen, một nhà hướng dẫn tâm linh vĩ đại Tin Lành, khẳng định rằng nhìn vào mình nhiều quá, sẽ làm cho mình bệnh hoạn. Nên để tránh khỏi căn bệnh này cần hướng lòng, trí về Thiên Chúa và quan tâm đến nhu cầu của người khác[35].

Theo thánh Anphong, người bối rối thường nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ nổi giận và ném họ vào hỏa ngục. Nhưng không phải thế, Thiên Chúa chỉ lấy lại ân sủng khi ta khinh miệt, quay lưng lại với Ngài cách ý thức và khi ý chí ta hoàn toàn bị khuất phục trước sự ác[36]. Nên cần nhắc cho người bối rối biết rằng Thiên Chúa muốn chữa lành họ, vì thế họ phải làm mọi sự để tự thoát ra khỏi bối rối hoặc những nỗi ám ảnh.

Để tránh tất cả những loại lương tâm bất ổn, bối rối, phóng khoáng, hồ nghi… ta cần hiểu rõ sự toàn diện của lương tâm.

IV. SỰ HIỂU BIẾT TOÀN DIỆN VỀ LƯƠNG TÂM

1. Khao khát sự toàn diện

Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần hợp nhất với nhau thành một bản thể duy nhất thế nào, thì khi lý trí, ý chí, và tình cảm của con người hợp nhất với nhau thành một bản thể duy nhất – con người cũng là hình ảnh sâu sắc nhất của Ba Ngôi như thế.

Khi lý trí và ý chí chống lại nhau, tâm hồn con người nơi lý trí và ý chí đã từng hợp nhất sẽ phải chịu một nỗi buồn mênh mang. Khi bị chia cắt thành hai, một con người đích thật chỉ biết khao khát sự toàn diện và chân lý, và một con người ích kỷ chỉ biết tìm kiếm mình, họ sẽ phải cay đắng, quằn quại ngay trong con người mình, linh hồn khi ấy sẽ bị tra tấn, cắt chia [37]. Đây là nỗi đau đớn khủng khiếp duy nhất và tự nhiên của lương tâm.

2. Sự toàn diện và việc mở ra cho sự thật và tình liên đới.

Lời kêu gọi hướng đến sự hợp nhất và toàn diện vang dội trong lương tâm ta bao hàm khao khát thống nhất mọi năng lực của mình và khao khát đến với Tha Nhân và những người khác. Như thế, thực tại giao ước vẫn được khắc sâu trong lòng ta[38] như ngôn sứ Giêrêmia đã tiên báo: “Này sẽ đến những ngày, sấm của Giavê, Ta kết với nhà Israel và nhà Giuđa một giao ước mới … Ta sẽ đặt luật Ta vào bên trong chúng và Ta sẽ viết trên tim lòng chúng: Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng; và chúng sẽ là dân của Ta” (Gr 31,31-33; Hr 8, 8-12).

Luật vang dội trong ta là một luật vàng, và chỉ luật ấy mới xứng danh là “luật”: “Yêu thương đồng loại như chính mình”. Đó là bản tóm kết mọi thứ lề luật. “Muốn người ta làm gì cho mình, thì hãy làm cho người ta như thế: đó là lề luật và các ngôn sứ” (Mt 7, 12; Lc 6, 31). Luật ấy đã được ghi trong lòng ta, khi ta đón nhận Chúa Thánh Thần và mở lòng ra cho Ngài. Mỗi lần nâng chén cứu độ, ta lại cử hành luật ấy. Nếu Thánh Thể, trung tâm của đức tin của ta, cũng trở thành luật sống cho ta, thì ta sẽ đạt được sự toàn diện trong lương tâm ta và cũng sẽ đạt được sự hợp nhất với anh chị em ta[39].

3. Lương tâm trong sự trung thành và tự do sáng tạo

Việc phán đoán có tính sáng tạo của lương tâm tùy thuộc một số điều kiện:

3.1. Trước hết, tùy thuộc những năng động của lương tâm mà Thiên Chúa đã ban cho, tuỳ thuộc ước muốn thiên phú về sự toàn diện và cởi mở;

3.2. Hai là, tùy thuộc sự vững chắc và rõ ràng của chọn lựa căn bản[40],

3.3. Ba là, tùy thuộc sức mạnh của các khuynh hướng hướng đến sự tỉnh thức và khôn ngoan và tất cả những khuynh hướng khác thể hiện một chọn lựa căn bản cách sâu sắc;

3.4. Bốn là, tùy thuộc sự hỗ tương của các lương tâm trong một môi trường, nơi tự do và trung thành sáng tạo đã được thể hiện; 

3.5. Năm là, tùy thuộc sự trung thành, sáng tạo và quảng đại trong việc tìm kiếm chân lý, và sẵn sàng “thực thi lời Chúa”[41].

4. Sự toàn diện và sai lầm của lương tâm

4.1. Sai lầm do chân thành và vô tri

Công Đồng Vatican II khẳng định: “Lương tâm thường mắc phải sai lầm vì vô tri mà vẫn không làm mất phẩm giá của nó. Nhưng không được áp dụng sự kiện này cho một người nào đó không quan tâm hoặc không mấy quan tâm tới sự thật và sự tốt lành, hay cho một lương tâm càng lúc càng trở nên mù quáng do thường xuyên phạm tội”[42]. Tuyên bố ấy của Công Đồng chỉ được áp dụng cho những trường hợp, khi người ta có chủ ý đúng và khi lương tâm thực sự muốn tìm kiếm giải pháp tốt nhất trong một hướng chiều đúng đắn nhất, đối với người ấy trong hoàn cảnh ấy, và vào lúc ấy.

4.2. Sai lầm do thiếu chân thành và vô tâm

Sai lầm trong phán đoán của lương tâm của một người nào đó về một vấn đề quan trọng có thể là một xui rủi lớn; nhưng nếu sai lầm chỉ vì thiếu sự chân thành thì đó sẽ là điều rất tệ hại, và là một điều xấu về mặt luân lý. Vô tâm trong việc tìm hiểu luân lý, và nhất là trong những hoàn cảnh đòi phải có thái độ luân lý sẽ đẩy họ tới chỗ hoàn toàn mù quáng vì thói quen phạm tội mà không hối cải.

Khi một người nào đó thực tâm tìm kiếm những gì là tốt lành, ngay chính, thì trong lương tâm họ sẽ có được sự không thể sai lầm[43].

4.3. Tính đòi buộc của một lương tâm sai lầm.

Một phán quyết sai lầm không đáng khiển trách của lương tâm cũng đòi buộc như một lương tâm ngay thẳng vậy. Nếu ta thực tâm tìm cách khám phá ra ý Chúa trong việc thành tâm tìm kiếm chân lý và quyết tâm sống theo chân lý ấy, thì Thiên Chúa sẽ nhìn nhận sự chân thành của tâm hồn ta. Vì thế mà, Đức Hồng Y Newman thật đúng khi tuyên bố: “Bao giờ tôi cũng nhất trí rằng vâng phục, kể cả vâng phục lương tâm lầm lạc vẫn là con đường dẫn đến sự sáng”[44].

4.3.1. Lương tâm sai lầm.

Thánh Anphong cũng nhấn mạnh về điểm này trong nền thần học luân lý và mục vụ của ngài[45]. Ngài cho rằng một lương tâm sai lầm vì vô tri thì cũng là lương tâm chân thành nhưng không thể nội tâm hoá một luật tích cực nào đó của Hội Thánh hoặc của những quyền bính trần thế, hay của luật tự nhiên. Nếu một vị mục tử, một cha giải tội hay bất cứ ai khác thúc ép người ta phải hành động trái với lương tâm chân thành của họ, hay cố công khai nhồi nhét một qui tắc khách quan nào đó, khiến họ phải bối rối chỉ vì họ không thể kham nổi luật lệ hoặc qui tắc ấy, thì đó phải kể là một tội nặng chống lại phẩm giá của lương tâm.

4.3.2. Tội chống lại lương tâm

Thánh Tôma khẳng định rằng, khi có một mệnh lệnh nào đó của một lương tâm lầm lạc đáng bị kết án, thì người ta phạm tội chống lại lương tâm hay không, hoàn toàn tùy thuộc việc họ có làm theo hoặc không làm theo mệnh lệnh ấy. Nhưng rõ ràng họ sẽ trực tiếp phạm tội nếu họ làm trái với lương tâm lầm lạc của họ, dẫu khi làm thế, họ vẫn đang làm những gì khách quan là đúng. Thánh Tôma còn dạy rằng nếu có ai, tuy vẫn xác tín mạnh mẽ rằng tuyên xưng đức tin vào Đức Kitô và/hoặc Hội Thánh là sai, nhưng lại vẫn cứ tuyên xưng, thì người ấy đang phạm tội chống lại lương tâm mình[46].

5. Tiêu chuẩn chọn lựa của lương tâm

Khi buộc phải làm ngay, không thể trì hoãn một quyết định nào đó, thì người có lương tâm sẽ chọn những gì họ cho là “ít tội hơn” và chọn như thế là đúng. Thực ra, trong vấn đề này, chẳng có gì là tội lỗi cả, vì tội không chỉ là một vấn đề thuộc phán đoán về mặt lý trí thôi mà còn là một hành vi xấu xa của ý chí tự do, mà ở đây không thấy ý chí ấy đâu cả.

V. KHOA TÂM LÝ PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG GIAI ĐOẠN CỦA LƯƠNG TÂM

Erikson cho thấy mối nguy của những giai đoạn phát triển ý thức luân lý và lương tâm. Đó là nền giáo dục ra oai tác quái trên trẻ em bằng những luật cấm cộng thêm với những khuôn mặt hình sự và những đe doạ luân lý. Nhưng ở đâu được hướng dẫn bằng tình thương và tôn trọng, thì ở đấy trẻ em đã học được cách nội tâm hoá những luật cấm về mặt luân lý rồi[47].

Kohlberg cho một hiểu biết sâu sắc hơn về sự phát triển luân lý của lương tâm. Ông phân biệt sáu giai đoạn thuộc ba mức độ phát triển[48]:

I. Mức độ tiền qui ước

Giai đoạn 1: hướng dẫn bằng sự vâng lời và trừng phạt

Giai đoạn 2: hướng dẫn bằng các định hướng theo chủ nghĩa tương đối.

II. Mức độ qui ước

Giai đoạn 3: hướng dẫn bằng cách giúp trẻ trở nên những cô cậu tốt lành, dễ thương

Giai đoạn 4: hướng dẫn bằng lề luật và trật tự

III. Mức độ hậu qui ước, độc lập hay có nguyên tắc

Giai đoạn 5: hướng dẫn bằng những hợp đồng xã hội

Giai đoạn 6: hướng dẫn bằng những nguyên tắc phổ quát[49].

Kohlberg giải thích:

1. Sự thiện vẫn còn nặng tính thực tiễn.

Suốt giai đoạn thứ nhất, trẻ có được kinh nghiệm về sự thiện chủ yếu là nhờ những kết quả vật chất chúng cảm nhận được khi phản ứng. Giai đoạn thứ hai, bắt đầu nổi lên một cảm nhận rõ hơn về các giá trị, như sự tốt đẹp và hỗ tương, nhưng cảm nhận ấy vẫn ở mức độ còn nặng tính thực tiễn.

2. Thái độ tốt là làm vui lòng người khác.

Đến giai đoạn thứ ba, thái độ tốt là làm vui lòng hoặc giúp đỡ người khác và trẻ chấp nhận thái độ ấy. Ở giai đoạn này trẻ muốn được đồng nhất với những hình ảnh mẫu mực chung cho mọi thái độ “tự nhiên”. Chúng có thể tìm được sự chấp nhận của người khác bởi vì chúng “đẹp”[50].

3. Điều tốt được quyết định bởi chính lương tâm.

Suốt giai đoạn thứ tư, con người đang phát triển ấy cảm nhận cách đặc biệt về những giá trị của quyền bính, việc duy trì trật tự và lòng tin cậy. Vào giai đoạn thứ sáu, một cái nhìn phổ quát về đạo đức bắt đầu chiếm ưu thế. Điều tốt được định nghĩa bởi chính quyết định của lương tâm dựa trên những nguyên tắc đạo đức tự chọn.

4. Nguyên tắc phổ quát.

 Luật vàng luôn luôn căn bản và phổ quát chính là: “Hãy làm cho người ta những gì bạn muốn họ làm cho mình. Hãy yêu thương đồng loại như bạn muốn họ yêu thương mình”. Đối với Kohlberg, đây quả là nguyên tắc phổ quát nhất [51].

VI. MỘT LƯƠNG TÂM ĐẶC TRƯNG KITÔ GIÁO

Thiên Chúa mặc khải mình cách trọn vẹn trong nhân tính và trong việc cùng làm người với ta của Đức Kitô, thế nên, nếu biết ý thức về căn tính Kitô hữu của mình, ta sẽ phát triển được một lương tâm đặc trưng Kitô giáo, nhờ lương tâm ấy, ta suy nghĩ về tình liên đới của ta với toàn nhân loại. Ta tin rằng Đức Kitô là Đấng Cứu Thế và là Chúa của mọi người, và Thánh Thần của Ngài vẫn đang hoạt động trong mọi người, nhờ mọi người và cho mọi người[52].

1. Trong Đức Kitô – dưới luật của đức tin

1.1 Đặc tính của lương tâm Kitô Giáo

Lương tâm của một Kitô hữu được đánh dấu bằng việc gặp gỡ Đức Kitô, bằng niềm vui được là tạo thành mới trong Đức Kitô, bằng việc họ nhận biết Cha và anh chị em mình nhờ Đức Kitô (x. Ga 17,3) và bằng việc trao hiến toàn thân cho Đức Kitô, Đấng vẫn đang lôi kéo họ về với Cha.

1.2. Nền tảng của lương tâm Kitô Giáo

Nền tảng của lương tâm Kitô giáo nằm trong đức tin. Tận trong con người mình, Kitô hữu không bị phân ra thành tự nhiên và siêu nhiên, mà chỉ có một phán đoán duy nhất của lương tâm và phán đoán ấy là do đức tin quyết định[53]. Theo thánh Phaolô thì, đức tin là toàn bộ thái độ của người Kitô hữu, và cũng là việc hấp thụ những phán đoán về các giá trị luân lý nữa.

Đức tin ở đây không phải là một bản liệt kê các sự vật và các công thức, mà là những gì đem lại sự toàn diện cho lương tâm và sự vững chắc cho chọn lựa căn bản của Kitô hữu. Đức tin, vì là một tương quan mật thiết với Đức Kitô, sẽ khơi dậy trong ta một khát vọng sâu sắc muốn được biết Đức Kitô và tất cả những gì Ngài dạy ta và mong đợi nơi ta. Đức tin này được đánh dấu bằng lòng biết ơn và niềm vui khiến đời ta có được hướng đi và sức mạnh (Ne 8,10). Đức tin có thể được định nghĩa là một ý thức tổng quát về Đức Kitô[54].

2. “Không còn ở dưới chế độ lề luật nhưng dưới chế độ ân sủng”

2.1. Chế độ ân sủng

Ai dành vị trí thứ nhất cho lề luật và những ràng buộc luân lý và chỉ dành vị trí thứ yếu cho ân sủng của Đức Kitô sẽ làm xáo trộn trật tự đúng đắn và xói mòn sự chân thực của lương tâm Kitô giáo.

Nhờ được tham dự vào sự chết và sống lại của Đức Kitô, ta hiểu rằng “ta không còn ở dưới chế độ luật nữa mà là dưới chế độ ân sủng” (Rm 6, 14). “Luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô đã giải thoát tôi khỏi luật của sự tội và sự chết” (Rm 8,2). Lương tâm Kitô giáo, được đánh dấu bởi lòng tin vào Chúa Thánh Thần và lòng biết ơn, bao giờ cũng giữ ta trong mức độ của Thần Khí và giải thoát ta khỏi sự ích kỷ.

2.2. Thái độ của Kitô hữu dưới chế độ ân sủng.

2.2.1. Kẻ vụ luật.

Kẻ vụ luật đứng trước một luật trừu tượng và luôn bị cám dỗ loay hoay với luật ấy nên không thể dấn thân cho Chúa cách trọn vẹn, hoặc chỉ biết áp đặt luật ấy trên người khác cách tàn nhẫn[55].

2.2.2. Thay đổi từ các luật cấm đến những điều răn quan trọng.

Sống dưới chế độ ân sủng nghĩa là thay đổi từ các luật cấm tới những định hướng của những điều răn quan trọng đã được trình bày trong Tin Mừng và các thư của thánh Phaolô. Đó là một nền luân lý năng động, không bao giờ cho phép Kitô hữu dừng lại, tự hài lòng với mình[56].

2.2.3. Hướng về anh chị em mình.

 Một lương tâm được hình thành bởi đức tin và ân sủng bao giờ cũng biết rằng mọi ân sủng đều do bởi một Thiên Chúa duy nhất và là Cha, và cũng biết rằng không sử dụng các ơn ấy cách có trách nhiệm và không biết tận dụng những ơn ấy là vô ơn đối với Thiên Chúa và bất công đối với cộng đồng nhân loại, vì mọi ơn đều được ban để xây dựng nước Thiên Chúa.

Nếu ta sống dưới chế độ ân sủng, ta sẽ qui hướng về anh chị em ta như chính Thiên Chúa đã qui hướng về ta[57]. Dưới ánh sáng của những ân sủng lớn lao này, ta khám phá ra rằng mọi sự ta là và mọi cái ta có đều là dấu chỉ của tình Chúa thương ta. Trọn cuộc đời ta khi ấy sẽ hướng đến việc thực hiện điều răn quan trọng này: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12),

3. Tỉnh thức và khôn ngoan

Tỉnh thức xuất phát từ sự căng thẳng sáng tạo giữa “cái đã có” và “cái chưa có”, được cảm nhận và đáp trả trong lòng biết ơn.

Việc huấn luyện lương tâm tùy thuộc phần lớn vào việc ta hiểu thế nào về đức khôn ngoan. Sự khôn ngoan, tỉnh thức giúp ta trong mọi hoàn cảnh và trong những biến cố rắc rối nhất, vẫn đọc ra ý nghĩa của các thời cơ và nhu cầu bất kể những đen tối nảy sinh từ các tội lỗi của quá khứ và từ những cám dỗ của thế giới tội lỗi này. Khôn ngoan tỉnh thức có hai nhiệm vụ: một là biện phân cách chính xác các thực tại khách quan, hai là biện phân và đòi hỏi những hành động phù hợp như đáp lại ân sủng của Thiên Chúa và nhu cầu của con người[58].

4. Sự biện phân: nhân đức phê phán

Bị bao vây bởi đủ mọi thứ ý thức hệ, ta không thể không để ý tới lời cảnh cáo sau của Chúa Giêsu: “Hãy coi chừng những tiên tri giả… xem quả thì biết cây. Há người ta lại có thể hái nho nơi bụi gai, hay vả nơi cà quốc sao? Cũng vậy, phàm cây lành thì sinh quả tốt, cây độc sinh quả độc” (Mt 7, 15-17).

4.1. Tiêu chuẩn để biện phân theo Kinh Thánh

Thánh Phaolô cũng đề cập tới: “Khả năng biết phân biệt thần khí xấu với thần khí đích thật” (1 Cr 12,13). Thánh Gioan lại nói “Đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy nghiệm xét các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không (1Ga 4,1). Tiêu chuẩn để biện phân chính là “phàm thần khí nào tuyên xưng Đức Giêsu Kitô đã đến trong xác thịt là (thần khí) thuộc về Thiên Chúa” (1Ga 4, 2). Ta có thể kết luận rằng tất cả những ai không sẵn sàng cộng tác thể hiện tự do, trung thành, tốt lành và bất bạo động trên thế giới chung quanh họ, đều không phải là những tiên tri thật[59].

Điều kiện để biện phân chính là sự hoán cải tâm trí. Kinh nghiệm sâu sắc về đức tin và việc chu toàn luật yêu thương của Đức Kitô là những điều kiện để nhận ra những gì là giá trị nhất.

4.2. Tiêu chuẩn biện phân theo thánh Ignatiô

Thánh Ignatiô Loyola cũng theo mẫu mực của Kinh Thánh và các truyền thống linh đạo lớn khi đề ra những tiêu chuẩn khách quan cho việc biện phân và nhất là đã chỉ cho thấy mức độ thiêng liêng nhờ đó người ta phải sống, nếu họ muốn có được ơn biết biện phân[60].

Tỉnh thức để đề phòng “một lối sống rập theo bản chất ích kỷ: dâm bôn, ô uế… bất hoà, ghen ghét…và những thứ khác giống như thế” (Gal 5, 19-21) và cố gắng đạt cho bằng được những ước muốn, việc làm và phẩm chất đem lại “hoa quả của Thánh Thần: mến yêu, vui mừng, bình an, nhẫn nại” v.v. (Gal 5, 22) bao giờ cũng là điều quan trọng. Do đó, việc biện phân của ta bao giờ cũng liên quan tới lợi ích chung trong Hội Thánh và ngoài xã hội và tới lợi ích của mỗi người trong chúng ta[61].

4.3. Thái độ phê phán

4.3.1. Phê phán dưới mắt Thiên Chúa

Hội Thánh và thế gian cần một lương tâm biết phê phán. (Từ ngữ “biết phê phán” ở đây tiếng Hy Lạp là krinein, có nghĩa gần giống với “việc biện phân” của ta)[62]. Trong xã hội và thế giới đa nguyên này, Kitô hữu phải là một dúm men còn tác dụng của nhân đức phê phán. Có ba chọn lựa. Hoặc ta chọn phê phán dưới mắt Thiên Chúa hoặc sẽ rơi vào một trong hai sự sai lạc quá khích là tuân thủ cách biếng nhác hoặc phê phán với ý xấu.

4.3.2. Chấp nhận sự phê bình của tha nhân.

Ta cũng phải sẵn sàng đón nhận sự phê bình của người khác và phải nhìn nhận những khiếm khuyết và lầm lỗi của ta. Những lời buộc tội và chê trách chung chung chẳng có gì cụ thể có hại nhiều hơn lợi. Sự phê phán của ta phải chi tiết, rõ ràng và bao giờ cũng chỉ mong cho mọi sự được tốt đẹp. Còn lúc nào cũng sặc mùi căm ghét, thì phê bình sẽ là một tội[63].

Tóm lại, ta có thể nói rằng ta có một lương tâm đặc trưng Kitô giáo nếu ta cắm rễ thật sâu trong Đức Kitô, nếu ta ý thức về sự hiện diện của Người và các ân sủng Người ban, sẵn sàng liên kết với Người trong tình yêu Người dành cho mọi người. Ta sẽ phải xem xét mọi sự xem có thể dâng nó cho Đức Kitô và xem đó có phải là một đáp trả xứng hợp với tình yêu, ân sủng của Người và với nhu cầu của anh chị em ta chăng.

Việc huấn luyện lương tâm Kitô giáo

Nếu lương tâm Kitô giáo lành mạnh đòi phải có sự hợp nhất giữa lý trí, ý chí và tình cảm dưới ánh sáng đức tin, thì việc huấn luyện lương tâm Kitô giáo bao giờ cũng bao gồm việc đào tạo:

5.1. Một lý trí sáng suốt:

Biết cái gì đúng, cái gì sai, cái gì tốt, cái gì xấu dựa trên Lời Chúa, giáo huấn của Hội thánh và các luật pháp bảo vệ phẩm giá và quyền lợi toàn diện của con người.

Biết phê phán mọi sự dưới ánh sáng Lời Chúa trong tinh thần xót thương và xây dựng. Đồng thời cũng biết đón nhận những phê bình của người khác.

Thói quen học hỏi và tìm kiếm sự thật là lương thực bổ dưỡng quan trọng cho một lý trí sáng suốt.

5.2. Một ý chí mạnh mẽ

Biết can trường làm điều tốt, tránh điều xấu bằng mọi giá.

Biết can đảm đứng lên theo lời mời gọi của Chúa khi vấp ngã.

Luyện tập nhân đức, thực hành khổ chế là con đường bằng phẳng đưa tới một ý chí mạnh mẽ.

5.3. Một đức tin vững mạnh

Biết đón nhận với lòng biết ơn tất cả những gì Thiên Chúa nói qua Lời Ngài

Biết đón nhận tất cả mọi sự kể cả những thứ dưới mắt thế gian là xui rủi, tai họa với lòng biết ơn vì tin rằng Thiên Chúa là tình yêu, chỉ muốn điều tốt lành cho ta.

Biết dành thời gian tham dự các bí tích, và tự mình có những giờ riêng tư với Chúa mà không bị bất cứ áp lực nào.

Biết tạ ơn trong mọi hoàn cảnh vì các thánh của Thiên Chúa không phí sức vào việc càm ràm, chửi rủa mà luôn hân hoan bước đi trên con đường thánh giá[64].

VII. TỘI LỖI VÀ LÀNH MẠNH

Ai dập tắt ánh sáng trong lòng mình, và tách ý chí ra khỏi lý trí vì muốn thỏa mãn cái tôi ích kỷ của mình, đều là những người có lương tâm hư hỏng. Họ sẽ mất dần tự do sống cho sự thật và sự tốt lành. Nếu lương tâm đã ra hư hỏng, thì sẽ không thể có được một sức khỏe trọn vẹn và một sự toàn diện hoàn toàn. Tự bản chất của nó, mỗi tội đều là kẻ thù của sự lành mạnh.

Tội chính là cách ly với cái tôi tốt lành hơn, là làm mất đi sự hiểu biết về tên gọi độc đáo của mình, là dìm mình vào trong tăm tối và là một sự rạn nứt tận cõi thẳm sâu của sự sống mình.

Mỗi tội đều có những ảnh hưởng tiêu cực trên sự toàn diện và tự do sáng tạo của con người, đều phá vỡ ý nghĩa và mục đích của lương tâm, tự do và đức tin của ta, nên cũng phá vỡ luôn sự giải thoát của ta trong Đức Kitô. Đặc biệt, những tội phạm do thói quen mà không sám hối sẽ làm loang vết thương trong thâm tâm ta[65].

1. Lánh vào trong thuyết luân lý và âu lo về sự đền bồi.

Tội phạm do thói quen làm cho cố gắng đạt đến sự thống nhất của bản thân ngày một kiệt quệ đi. Kẻ tội lỗi, bị tính ích kỷ và biếng nhác xiết chặt, khó có thể nhận ra sự cách biệt giữa hiểu biết luân lý với ý chí mình. Một người như thế chỉ có thể trở thành một nhà duy luân và duy nghi lễ thôi. Họ biết quá nhiều luật, và tưởng thế là đủ mà không biết rằng họ còn thiếu luật tối thượng lòng người công chính ưa chuộng. Họ sẽ phỉnh gạt mình bởi lòng nhiệt thành và tỉ mỉ về một ít điều nhỏ nhặt trong khi lại xao lãng lòng yêu mến, cảm thương và sự công chính. Nhân cách họ bị chia cắt, một “người” thì nói về luân lý, còn “người” khác thì lại hành động và sống mà không hề khao khát sự toàn diện và toàn vẹn[66].

2. Tự ái, kiêu căng làm cho con người ra tăm tối.

Ai khao khát hướng đến sự toàn diện có thể cảm thấy rất rõ rằng mỗi lần lương tâm cắn rứt là mỗi lần họ được kêu gọi hoán cải. Nhưng nếu vì tự ái, kiêu căng, họ luôn cưỡng lại lời mời gọi đó, thì guồng máy tội lỗi ngoan cố ấy sẽ sản sinh ra một thứ thống nhất nội tâm khác. Ý chí mạnh mẽ kiêu hãnh ấy, liền ra lệnh cho lý trí và lý trí khi ấy sẽ tìm ra một ngàn lẻ một lý do để ủng hộ cho những gì ý chí đang muốn. Cuối cùng là, lý trí chỉ còn nghe được những gì tự ái và kiêu căng nói, và hậu quả có thể là một con người nào đó sẽ trở thành Hitler hay Stalin, những người “thống nhất”, nhưng chỉ để nhắm đến những mục đích tăm tối thôi[67].

3. Tội tước mất sự vui mừng, bình an và sức mạnh.

Tội bao giờ cũng tước mất của con người khả năng vui mừng và an nghỉ trong sự thiện. Tội làm suy kiệt khả năng đánh giá và lòng biết ơn của con người, khả năng chung vui với và đem niềm vui cho người khác. Có thể họ cũng cố tỏ ra có máu hài hước, nhưng máu hài hước ấy chỉ là những lời mỉa mai châm chích, làm tổn thương tình huynh đệ[68].

4. Tội làm mất phẩm giá

Vì những tội phạm do thói quen, lương tâm sẽ mất dần phẩm giá[69]. Lương tâm bị vấy bẩn và ngày một trở nên biến chất khiến người ấy không thể tôn trọng lương tâm và phẩm giá của người khác và như thế cũng là đánh mất phẩm giá của chính mình.

5. Việc đánh mất tự do cách tội lỗi

Không gì tàn phá tự do của con người, nhất là sự tự do sáng tạo để làm việc thiện cho bằng tội quen phạm. Sự mất mát lớn, nhỏ tuỳ thuộc mức độ nặng nhẹ và số lần phạm tội, và tùy thuộc thời gian không ăn năn sám hối. Mất mát sẽ vô cùng lớn nếu chọn lựa căn bản là một chọn lựa tội lỗi[70].

6. Danh mục những tội chống lại tự do và sự lành mạnh:

6.1. Không vượt ra khỏi các mức độ thấp của lương tâm; không vượt thắng được một quan điểm quá tĩnh về cuộc sống, về các qui tắc, luật lệ và lương tâm; biết quá nhiều thứ nhưng lại không biết đâu là sự thiện hảo, và chân thật.

6.2. Khước từ dấn thân hoạt động cho tự do và phẩm giá của mọi người.

6.3. Quá quan tâm đến sự hàng phục và đồng nhất hơn là quan tâm đến việc lớn lên trong trách nhiệm luân lý; bóp nghẹt sáng kiến và tự do sáng tạo.

6.4. Không dám liều lĩnh, dấn thân cho những lý tưởng chung và cho ơn gọi gay go, gian khổ.

6.5. Ủng hộ trung ương tập quyền và những hình thức độc tài của chính phủ.

6.6. Cho phép người khác chi phối lương tâm mình; tỏ ra khoan nhượng đối với việc khuynh đảo ý kiến chung.

6.7. Từ khước không chịu lắng nghe các ngôn sứ để biết biện phân; chia cắt tôn giáo ra thành tín lý (những đạo lý trừu tượng không liên quan gì tới sự toàn diện và ơn cứu độ của con người) với những nền luân lý không có được một hệ thống giá trị có tính thuyết phục.

6.8. Cúi đầu trước các nhóm áp bức thay vì đứng lên bênh vực những người yếu và bị áp bức.

6.9. Đưa ra một nền đạo đức gồm toàn những luật cấm và kiểm soát gây tác hại cho một nền đạo đức của tự do sáng tạo và trung thành.

VIII. SÁM HỐI VÀ VIỆC TÁI SINH CỦA SỰ TOÀN VẸN CỦA LƯƠNG TÂM

1. Lương tâm hư hỏng có thể phục hồi.

Lương tâm đã bị ô uế và hư hỏng do tội lỗi, trừ “tội chống lại Chúa Thánh Thần”, có thể phục hồi vì nó vẫn chưa bao giờ bị phá hủy hoàn toàn, chỉ phá được sự toàn diện và vẹn toàn thôi. Thiên Chúa kêu gọi sám hối, nghĩa là, kêu gọi ta đến một cuộc sống mới bằng cách đụng chạm đến cõi thẳm sâu của lương tâm ta, nơi vết thương vẫn van xin được chữa lành. Và nếu tội nhân hết lòng quay trở về với Thiên Chúa, thì Ngài sẽ trả lại cho họ sự toàn diện và toàn vẹn nhờ quyền năng của Ngài[71].

2. Không ăn năn đích thật, không có tái sinh.

Con người là thụ tạo tốt lành của Thiên Chúa đến độ ngay cả sau khi đã phạm tội trọng, nơi họ vẫn còn một chút gì đó là hình ảnh và giống Thiên Chúa, nên vẫn còn một khát vọng tự nhiên hướng đến sự toàn diện, nhờ đó, ân sủng của Thiên Chúa hoạt động. Tuy nhiên, nếu không có sự ăn năn đích thật thì sẽ không khi nào có được sự tái sinh[72].

3. Ăn năn là gặp gỡ Thiên Chúa cách mới mẻ.

Ăn năn là một sức mạnh có tính cách mạng nhất trong thế giới luân lý[73]. Đó là một cuộc gặp gỡ Thiên Chúa và sự thiện cách mới mẻ, và là cuộc kết hôn mới giữa ý chí, đang mong muốn có được một tình yêu chân thành, với lý trí đang tìm kiếm chân lý và sự thiện.

4. Mối nguy của việc trì hoãn ăn năn.

Danh dự của Thiên Chúa đòi hỏi ta, mỗi lần phạm tội kể cả tội nhẹ đều phải ăn năn, xin ơn tha thứ và chữa lành càng sớm càng tốt. Không có một mối nguy nào đối với sự toàn diện của ta bằng việc trì hoãn không chịu ăn năn, hoán cải. Những tội nhẹ không ăn năn sẽ mở đường cho sự đổ vỡ của chọn lựa căn bản tốt lành[74].

IX. SỰ HỖ TƯƠNG CỦA CÁC LƯƠNG TÂM

1. Ý nghĩa của sự hỗ tương của các lương tâm

Maurice Nédoncelle cho rằng: Con người chỉ có thể đến được với căn tính và sự toàn vẹn của mình trong sự hỗ tương của ý thức và của lương tâm. Ở đâu người ta thiết lập được sự trung thành với bản vị đích thật của người khác, thì ở đó mỗi người sẽ có thể được giải thoát khỏi mọi thứ mặt nạ của mình[75]. Hai người biết chấp nhận sự đa dạng và sự bình đẳng về phẩm giá của nhau khi chia sẻ lương tâm với nhau, và triệt để tôn trọng lương tâm của nhau, sẽ không còn nô lệ cho siêu ngã nữa, và không còn chỉ tìm cách làm vui lòng nhau nữa[76].

2. Sự hỗ tương của các lương tâm trong các thư của thánh Phaolô.

2.1. Đáp lại khát vọng về cuộc sống sung mãn của tha nhân.

Những người được luật Thần Khí giải thoát sẽ không còn tìm cách để được người khác ủng hộ, mà chỉ luôn tìm cách đáp lại khát vọng thâm sâu nhất của họ, là đạt đến sự sung mãn của sự sống và một kinh nghiệm đầy đủ về sự liên đới cứu độ[77].

2.2. Nhiệm vụ xây dựng thân mình Đức Kitô của Hội Thánh.

Lời mời gọi canh tân lòng trí của thánh Phaolô kéo theo một cái nhìn về việc xây dựng thân mình Đức Kitô. “Hãy quan tâm đến tha nhân như chính mình” (Rm 12,16), “nếu kẻ thù anh em đói, thì hãy cho nó ăn, nó khát hãy cho nó uống, làm thế anh em đã chất than hồng lên đầu nó” (Rm 12,20). Hội Thánh trở nên một dấu chỉ hữu hình của sự hiện diện của Đức Kitô trên trần gian bao lâu các môn đệ biết sử dụng mọi khả năng và đặc sủng của mình mà bổ túc cho nhau (Rm 12,1; 1 Cr 12,14; Ep 4).

2.3. Sự hỗ tương của các lương tâm.

2.3.1. Tôn trọng lương tâm người khác.

Trong thư Rôma chương 14 và 1 Côrintô chương 10, thánh Phaolô bàn về một ví dụ rất đặc biệt của sự hỗ tương của các lương tâm: đó là sự quan tâm yêu thương mà những người đã tiến bộ trong đức tin dành cho những người có lương tâm yếu hơn trong cộng đoàn Kitô hữu. Chính thánh Phaolô cũng nhắc cho các Kitô hữu là phải tôn trọng lương tâm của người khác[78]. “Có người tin là ăn được mọi sự, còn kẻ yếu thì đành ăn rau. Người ăn đừng khinh kẻ không ăn, còn kẻ không ăn đừng xét đoán người ăn, vì chưng Thiên Chúa đã chấp nhận nó (Rm 14, 2-3).

2.3.2. Nguồn gốc của sự hỗ tương các lương tâm.

Sự hỗ tương của các lương tâm này bắt nguồn từ trong những mối tương quan của ta với Đức Kitô. Nếu ta sống cho Chúa, thì ta cũng sẽ sống cho nhau bằng cách quan tâm và tôn trọng lương tâm của nhau. “Không ai trong chúng ta được sống cho mình, cũng không ai được chết cho mình. Nếu ta có sống là sống cho Chúa, và nếu ta có chết là chết cho Chúa (Rm 14, 7-8). “Bổn phận của ta, những người mạnh là vác đỡ sự yếu đuối của những người yếu, chứ không phải là làm hài lòng mình. Mỗi người chúng ta hãy cố làm hài lòng người đồng loại để tấn ích tài bồi cho nhau” (Rm 14, 22-15,2). “Mỗi người trong anh em đừng tìm ích cho riêng mình nhưng là ích cho kẻ khác” (1 Cr 10, 23-24).

Theo thánh Phaolô thì, rõ ràng là ta không thể tôn vinh Thiên Chúa từ tận cõi thẳm sâu của lương tâm ta, nếu ta không tạ ơn và cũng không cân nhắc xem việc ta làm có ảnh hưởng thế nào trên những người lương tâm còn non yếu.

3. Tự do tôn giáo nơi những người theo thuyết nhân đạo và theo quan điểm Kitô giáo

Một trong những chiều kích quan trọng nhất của sự hỗ tương của các lương tâm chính là việc nhận biết đầy đủ về sự tự do của lương tâm và nhất là tự do tôn giáo. Tất cả những gì ta đã nói về lương tâm cho tới nay, chắc chắn sẽ vô ích, nếu ta chối bỏ tự do trong các vấn đề tôn giáo như một nố đặc biệt của tự do lương tâm[79].

3.1. Lịch sử của tự do lương tâm và tự do tôn giáo.

3.1.1. Một cố gắng ý nghĩa nhất của Hội Thánh và xã hội trần tục.

Cố gắng của Hội Thánh và xã hội trần tục trong việc nhìn nhận tự do tôn giáo là một trong những dấu chỉ ý nghĩa nhất của thời đại ta. Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền, được Hội Đồng Chung Liên Hiệp Quốc chấp nhận ngày 10.12.1948, tuyên bố trong khoản 18 như sau: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo hoặc tín ngưỡng…”.

Thông điệp Hoà Bình Trên Mặt Đất của đức Gioan XXIII, và Tuyên Ngôn Về Tự Do Tôn Giáo của Vatican II là những đáp trả rất rõ ràng đối với các dấu chỉ thời đại. Đó là một cú đột phá lớn trong đời sống Hội Thánh. Và đó là điều cần phải được đón nhận với lòng chân thành như một sự phát triển đích thật và chân thành hoán cải.

3.1.2. Một sự hiểu sai về tôn giáo.

Vào thời Constantinô có một khuynh hướng chung muốn coi tất cả những ai không nhất trí với các giáo huấn của Hội Thánh đều là những người có tội. Người ta nhấn mạnh đến bản chất của các sự vật hoặc đến tính khách quan của các công thức tín lý hơn là đến một sự thật quan trọng về sự hiện diện của con người trong cộng đoàn[80]. Tôn giáo được coi như một mối dây ràng buộc với hệ thống các chân lý và như một sự trung thành tuyệt đối với giới cầm quyền tôn giáo.

3.1.3. Điều làm mất uy tín Hội Thánh.

Một lý thuyết rất phổ biến về tự do tôn giáo được mọi người coi như một “luận thuyết” bình thường, đó là ở đâu người Công giáo chiếm đa số, thì ở đấy họ có thể yêu cầu nhà nước giới hạn tự do của các tôn giáo khác; còn ở đâu người Công giáo chỉ là thiểu số, thì ở đấy họ sẽ ủng hộ và đòi cho mình quyền được bình đẳng với các tôn giáo khác. Chắc chắn đó là điều không đem lại uy tín cho Hội Thánh trong thế giới hiện nay.

Nay Hội Thánh đã hoàn toàn công nhận con người và sự hỗ tương của các lương tâm chính là nền tảng của đời sống cộng đoàn và của việc rao giảng Tin Mừng.

2. Sự độc lập của xã hội trần thế và các chính quyền

Dân Israel cổ và hầu hết các xã hội dân ngoại đã không phân biệt được xã hội tạm thời với cộng đoàn tôn giáo.

3.2.1. Mọi quyền bính đều phải được Hội Thánh chuẩn nhận.

Đức Bonifaciô VIII khẳng định rất mạnh trong sắc chỉ Unam Sanctam rằng quyền bính tạm thời chỉ nằm trong tay các vua chúa “khi được thượng tế đồng ý và cho phép”[81]. Người đã chỉ thị cho Albertô thành Halsburg rằng: “Mọi quyền hành trên trần gian này đều là hư vô hết, trừ phi quyền ấy được Hội Thánh ban cho” và “mọi quyền bính đều xuất phát từ chúng tôi, vì chúng tôi là đại diện của Đức Kitô Giêsu”[82].

3.2.2. Quyền bính của Hội Thánh và quyền bính dân sự.

Giáo thuyết này chỉ chính thức thay đổi nhờ sự bất đồng ý kiến can trường của đức Hồng Y Bellarmine. Sự thay đổi chính thức này, một sự thay đổi đem lại Tuyên Ngôn Về Tự Do Tôn Giáo của Vatican II chủ yếu do Đức Lêô XIII và Đức Piô XII khởi xướng.

Đức Lêô XIII dẹp bỏ hết mọi quan niệm của thời trung cổ về các mối liên hệ giữa Hội Thánh và các quốc gia. “Đấng Toàn Năng đã trao cho nhân loại hai thứ quyền bính, quyền của Hội Thánh và quyền dân sự, một có quyền trên các sự việc liên quan tới Thiên Chúa và một trên các sự việc thuộc con người. Mỗi quyền đều có tính tối thượng, và đều có những giới hạn của nó”[83]. Đức Piô XII đã gọi giáo huấn của Đức Bonifaciô về vấn đề này là “một quan điểm thuộc thời trung cổ… nên bị ảnh hưởng của thời đại ấy”, và người hy vọng rằng Hội Thánh sẽ không lặp lại những sai lầm này nữa [84].

3.2.3. Thẩm quyền của các nhà nước và thẩm quyền của Hội Thánh.

Giáo huấn ấy chính thức khẳng định mục đích của nhà nước không phải là để bảo vệ cho một giáo lý nào đó của Hội Thánh, mà là bảo vệ cho mọi công dân có được một sự tự do và một phẩm giá như nhau. Còn thẩm quyền trong Hội Thánh sẽ không can thiệp vào các hoạt động của nhà nước, và khi phải lên tiếng về việc lập pháp liên quan tới những vấn đề luân lý, thì Hội Thánh sẽ lên tiếng không phải để áp đặt nhưng là để bàn bạc vì lợi ích chung[85].

3. Việc công nhận trọn vẹn phẩm giá của con người

Hội Thánh và nhà nước đều thích tôn trọng và bảo vệ tự do lương tâm và tự do tôn giáo như nhau, vì nếu không thế thì họ sẽ không tôn trọng con người, phẩm giá căn bản và quyền của mọi người cách trọn vẹn, và như thế là phản lại nhiệm vụ thiết yếu nhất của họ. Tự do lương tâm càng được tôn trọng bao nhiêu, thì niềm hy vọng rằng con người sẽ thực sự sống theo lương tâm mình càng lớn bấy nhiêu[86].

4. Vì niềm tin chân thành và công cuộc tin mừng hóa.

Các Kitô hữu trân trọng tự do lương tâm và tự do tôn giáo của con người không phải vì bất cứ lý do nào khác mà vì chính đức tin và việc rao giảng Tin Mừng.

Tuyên Ngôn Về Tự Do Tôn Giáo của Công Đồng Vatican II cho thấy rõ ràng, tự do tôn giáo không phải là vấn đề khôn ngoan hoặc thích nghi về mặt chính trị mà là một đáp trả lại mặc khải của Thiên Chúa. Đây có lẽ là một bước quyết định nhất trên đường tiến tới sự hợp nhất các Kitô hữu[87]. Nếu Thiên Chúa đã liều lĩnh tạo nên ta trong tự do và vì tự do, thì Hội Thánh cũng phải liều lĩnh trung thành với Thiên Chúa như thế.

Tự do tôn giáo là một điều kiện thiết yếu đối với việc dấn thân của các Kitô hữu trong việc làm chứng và chinh phục mọi người cho Đức Kitô, và để phục vụ ơn cứu chuộc cho toàn nhân loại.

Julian Marias, một thần học gia Tây Ban Nha xác tín rằng sự tê liệt về mặt thần học từ thế kỷ 17 phần lớn là do tinh thần đàn áp của toà án tôn giáo[88]. Tôn giáo không phải là một cái gì đó có thể áp dụng như một đạo luật, mà giống như một ngôn ngữ, nếu người ta biết văn phạm, từ vựng và có khiếu về ngôn ngữ, họ có thể sử dụng nó cách sáng tạo.

3.5. Tự do đối với lương tâm con người trước.

3.5.1. Tôn trọng lương tâm cách trọn vẹn

Việc chọn lựa đức tin Công giáo chỉ có thể có được khi con người biết tôn trọng lương tâm cách trọn vẹn, do đó sứ mạng hàng đầu của Hội Thánh phải là một bí tích của sự tự do và giải thoát. Tuyên Ngôn Về Tự Do Tôn Giáo, khoản 9, nhấn mạnh rằng “các Kitô hữu buộc phải tôn trọng tuyên ngôn này với tất cả lương tâm mình”.

3.5.2. Hội Thánh dấn thân phát triển tự do, tìm kiếm sự thật.

Để rao giảng Tin Mừng của Đức Kitô cách trung thành và có kết quả, Hội Thánh sẽ trình bày sứ điệp của Tin Mừng ấy trong bối cảnh “tôn giáo như một sự tự do”. Chỉ khi nào Hội Thánh làm cho tự do đích thật lớn mạnh trong việc tìm kiếm và dấn thân cho sự thật, một sự thật đến được với ta trong con người của Đức Kitô và sẽ đến với mọi dân nước nhờ con người của các môn đệ, thì khi ấy Hội Thánh mới là bí tích của ơn cứu độ, và của chân lý[89]

Tuyên Ngôn Về Tự Do Tôn Giáo chính là việc chọn lựa nền luân lý giao ước, là việc cùng dấn thân cho tự do trong trách nhiệm. Vì tuyên ngôn ấy cũng nhấn mạnh đến sự tự do của Hội Thánh trong việc loan báo Tin Mừng và quảng bá một nền luân lý theo Tin Mừng. 

3.6. Thừa tác vụ có tính ngôn sứ của sự bất đồng quan điểm trong Hội Thánh.

3.6.1. Mọi người có khả năng đều có quyền lên tiếng.

Hội Thánh cần tuyệt đối bình tĩnh và trung thực trong mọi mức độ, để ai có tài sẽ được tự do phát biểu kể cả phát biểu chống lại những khuynh hướng cứng nhắc của các khoa giáo lý và mọi cơn cám dỗ về các ý thức hệ trong đời sống và giáo huấn của Hội Thánh[90].

3.6.2. Giáo dân và các thần học gia đều có quyền lên tiếng.

Lumen Gentium nhấn mạnh rằng giáo dân có quyền và có nhiệm vụ tự do phát biểu những vấn đề liên quan không chỉ tới thế giới trần tục thôi mà cả những vấn đề liên quan tới Hội Thánh nữa, nếu họ có khả năng về những vấn đề ấy[91]. Gaudium et Spes cũng khẳng định quyền tự do của các nhà thần học và nhìn nhận mọi tín hữu đều được quyền tự do hợp pháp trong việc tìm kiếm, suy nghĩ, và tự do diễn tả suy nghĩ của mình cách khiêm tốn và can đảm về những vấn đề thuộc chuyên môn của họ[92].

Nhưng sự bất đồng quan điểm sẽ chỉ có tính xây dựng Hội Thánh, khi xuất phát từ những con người triệt để dấn thân cho Tin Mừng của Đức Kitô và cho việc phục vụ Hội Thánh.

3.7. Tự do trong việc giáo dục tôn giáo

Tuyên ngôn của Vatican II về tự do tôn giáo không phải dửng dưng đối với chân lý, vì Hội Thánh mạnh mẽ đòi hỏi tự do trong việc giáo dục tôn giáo và nhất là tự do đối với nền giáo dục Công giáo trong các trường Công giáo[93].

X. THẨM QUYỀN CỦA HỘI THÁNH VÀ SỰ HỖ TƯƠNG CỦA CÁC LƯƠNG TÂM.

1. Lương tâm chỉ đạt đến mức độ viên mãn khi liên đới với các lương tâm khác.

Đối với hết mọi người, thì một lương tâm chân thành có quyền tối thượng chỉ thua một mình Thiên Chúa. Nhưng lương tâm của ta chỉ đạt đến mức độ viên mãn trong sự liên đới với các lương tâm khác. Lương tâm ta không nhận được nhiều ánh sáng và sự thôi thúc từ những luật trừu tượng cho bằng từ gương sáng của những người sống chân thành với lương tâm mình và biết tôn trọng lương tâm của những người khác.

2. Nhiệm vụ của hàng giáo phẩm: lắng nghe tiếng nói của dân.

Dưới quyền lãnh đạo của đức thánh cha, các giám mục và các thần học gia cùng chung lưng đấu cật phục vụ Lời Thiên Chúa. Mọi người đều là kẻ bảo vệ và nâng cao đức tin trong sự hỗ trợ lẫn nhau. Các ngài chỉ có thể là những vị lãnh đạo của dân khi các ngài biết lắng nghe cách tuyệt hảo, lắng nghe tín hữu, nhất là những người có khả năng và kinh nghiệm, trong khi vẫn luôn luôn lắng nghe Chúa Thánh Thần[94]

3. Không ai được độc quyền về chân lý.

Trong Hội Thánh lữ hành, cả hàng giáo phẩm lẫn các nhà thần học, đều vừa là những vị lãnh đạo vừa là những người học hỏi. Không ai được độc quyền trên chân lý, và cũng không ai có thể hy vọng được Chúa Thánh Thần linh hứng, nếu họ không biết tôn thờ Ngài, Đấng vẫn đang hoạt động trong mọi người và cho mọi người.

XI. MỘT CÁI NHÌN MỚI VỀ THUYẾT CÁI NHIÊN

1. Bối cảnh xã hội của thuyết cái nhiên

Những tranh luận xung quanh thuyết cái nhiên xảy ra trong một xã hội cực kỳ độc tài và đàn áp và trong một Hội Thánh nặng tính trung ương tập quyền. Những cơ cấu quản trị và có thẩm quyền quyết định lại chịu ảnh hưởng rất nặng của xã hội chung quanh.

1.1. Một xã hội và Hội Thánh bị ám ảnh quá mức về kỷ luật.

Đó là một xã hội và một Hội Thánh bị ám ảnh quá mức về việc kiểm soát và lề luật. Các luân lý gia lại chỉ viết cho các cha giải tội và các hối nhân, và nhiều cha giải tội lại chỉ hiểu vai trò của mình chủ yếu như một thẩm phán thôi. Tuy nhiên, những người khác, như thánh Anphong, lại hiểu rất rõ rằng mục đích đích thật của cha giải tội là trở nên hình ảnh và giống như tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa và phục vụ sự phát triển của con người trong sự thánh thiện[95].

1.2. Lập trường của các nhà luân lý

Các luân lý gia đã cố tìm ra những giải pháp không đàn áp lương tâm con người, nhưng cho phép họ tham dự cách xây dựng vào hoàn cảnh mới ấy[96]. Họ không dễ dàng tranh chấp với giáo huấn của Hội Thánh, nên để giúp những người đang ở trong trường hợp cắn rứt lương tâm, họ đã phải giải quyết vấn đề theo luật hiện hành.

1.3. Lập trường của thánh Anphong.

Thánh Anphong, một trong những thành phần chủ yếu của thuyết cái nhiên quân bình, đã ý thức cách đầy đủ về mâu thuẫn này. Định hướng cho toàn bộ hoạt động của ngài với tư cách là một nhà thần học luân lý và một mục tử là “nơi Người ơn cứu chuộc chan chứa” (Tv 130). Từ định hướng ấy nảy sinh một niềm tin tưởng mãnh liệt hơn vào sự chân thành của lương tâm con người[97].

1.4. Những người theo đại xác cách thuyết.

Nhiều người theo đại xác cách thuyết[98], theo thuyết khắc kỷ[99] và cái nhiên thuyết[100] do vướng vào một hệ thống và một phương pháp hoàn toàn có tính pháp lý, đã không thấy được lương tâm trong phẩm giá và quyền hạn của nó và không tin vào lương tâm sáng tạo của những người đã đón nhận chân lý của Tin Mừng. “Còn ai có thể nhục mạ lương tâm hơn người đã coi nó chỉ là nô lệ của lề luật chăng”[101]. Mặt khác, một số người theo thuyết cái nhiên, thường bị dán cho nhãn hiệu phóng túng, cũng phần nào bị vướng vào hệ thống luân lý qui ước, ít ra trong những gì có liên quan tới phương pháp, nhờ đó họ muốn giải thoát lương tâm đang bị đè nặng.

2. Mối quan tâm đích thật về thuyết cái nhiên vững chắc

Quan tâm chính của các Kitô hữu vĩ đại, đã hiến toàn thân cho Hội Thánh và cho phẩm giá của các lương tâm, đó là phải làm sao để:

2.1. Lương tâm và Hội Thánh phải mở ra cho những dấu chỉ thời đại.

Lương tâm của con người và ý thức chung của Hội Thánh phải mở ra cho những dấu chỉ của thời đại, phải đáp lại những nhu cầu và những cơ hội mới cách sáng tạo. Mỗi Kitô hữu phải được phép đáp lại hoàn cảnh cụ thể của họ bằng chính lương tâm sáng tạo của họ trong tinh thần trách nhiệm chân thành. Việc có quá nhiều luật và việc giải thích các luật ấy quá khắt khe có thể bóp nghẹt sự sáng tạo và niềm vui của các Kitô hữu[102].

2.2. Cá nhân các nhà thần học phải được phép tìm kiếm chân lý cách sáng tạo.

Thánh Anphong tuyên bố rõ ràng rằng con người và các nhà thần học phải theo lương tâm mình trong các quyết định riêng tư, nghĩa là, dám sử dụng lý trí và kinh nghiệm bản thân mình. “Tôi nể phục các cha Dòng Tên và các Dòng khác, nhưng trong những gì liên quan tới thần học luân lý, tôi phải theo lương tâm của tôi”[103]. Tuyệt đối trung thành và chân thành trong suy nghĩ và trong cách truyền đạt chính là yêu mến Hội Thánh cách trưởng thành hơn là chỉ biết tôn kính một cơ chế do chủ nghĩa đồng nhất tạo nên.

2.3. Tôn trọng phẩm giá của lương tâm.

Thánh Anphong luôn nhấn mạnh đến phẩm giá không ai được quyền tước mất của lương tâm mỗi người. Con người không bao giờ được cố gắng áp đặt lên người khác những gì họ không thể thực sự nội tâm hóa được, trừ khi phải ngăn cản một bất công lớn đối với người thứ ba. Hội Thánh chỉ có thể xây dựng chính mình trên nền tảng của một sự hỗ tương chân thành của các lương tâm[104].

Những người theo thuyết cái nhiên vẫn thực sự thao thức sao cho con người sống theo lương tâm chân thành của họ.

4. Những qui luật khôn ngoan để đương đầu với những rủi ro về mặt luân lý

4.1. Con người và việc sống theo lương tâm mình

Những cha mẹ độc tài và các nhà duy luật không cho phép ai rơi vào trong tình trạng rủi ro, một sự rủi ro không thể tránh được nếu họ sống theo xác tín của mình và can đảm tìm kiếm chân lý và sự tốt lành vượt quá mức độ qui ước của lương tâm[105].

Một số người lại không muốn được phép sống theo lương tâm mình, mà lúc nào cũng chỉ muốn được người khác bảo. Nơi những người thiếu trưởng thành, bao giờ cũng có một mặc cảm an toàn, và mặc cảm này thường bị những người độc tài khai thác. Thánh Antôn Florence (1389- 1459) đã lên tiếng cảnh giác sự an toàn này: tuy trông có vẻ là người có kỷ luật, vì lúc nào cũng đồng ý với một sự chắc chắn nào đó, nhưng thật ra đó là dấu chỉ của những người chết[106].

2. Chủ đích của những người theo thuyết cái nhiên.

4.2.1. Sống theo luân lý Giao Ước

Thánh Anphong và tất cả những người theo thuyết cái nhiên chỉ muốn nhắm đến một nền luân lý giao ước, nghĩa là sống theo lương tâm mình và trong tinh thần đồng trách nhiệm trọn vẹn. Nói cách khác, các vị ấy chỉ muốn cho người ta thấy rằng sự thiện có nhiều mức độ và có nhiều cách để làm, và đó là điều khẩn thiết và giá trị hơn là chỉ biết theo đuổi những lề luật mơ hồ hay chỉ biết tuân giữ các lề luật có khi chống lại nhu cầu của con người.

4.2.2. Không đặt lên vai người ta ách nặng của lề luật.

Ai tin vào “Luật Thần Khí trao ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 8,2) sẽ không bám vào một sự áp đặt quá khắt khe, những truyền thống hay công thức tín lý bất di bất dịch. “Làm suy yếu việc tuân giữ luật Thiên Chúa là một điều bất công; tuy nhiên làm ra một cái ách nhân danh Thiên Chúa mà đặt lên người ta khiến họ phải cực khổ hơn là nên công chính thì cũng chẳng khác gì việc không tuân giữ luật Thiên Chúa. Sự hà khắc quá đáng của lề luật, muốn trói buộc con người vào những qui định khó khăn nhất, bao giờ cũng là một trở lực của ơn cứu độ”[107].

Ví dụ, ta có dám nghiên cứu luật buộc một người nào đó phải sống độc thân suốt đời sau khi đã ly dị, dẫu người ấy đã chiến đấu cách hết sức anh hùng để bảo vệ cuộc hôn nhân của mình; không giữ được, họ sẽ suốt đời không được lãnh các bí tích? Trong khi ta vẫn phải trung thành với việc kết án nghiêm khắc của Chúa về những cuộc ly dị tàn nhẫn để cưới người khác, nhưng liệu ta có phải trung thành với một điều răn quan trọng khác là “hãy nhân từ như Cha các con trên trời” (Lc 6, 36) chăng?

Tất cả các giáo huấn luân lý của ta phải giải quyết cho bằng được thắc mắc căn bản này, “Ta đang chuyển giao cho người ta hình ảnh nào của Thiên Chúa?”[108]

Tóm lại, ta đang sống trong một thế giới “lương tâm không bằng lương tháng” này, đòi ta phải có một lương tâm Kitô giáo lành mạnh, nghĩa là phải có một lý trí sáng suốt, một ý chí mạnh mẽ, một tình cảm quân bình, một đức tin vững mạnh, một lòng mến sắt son biết yếu mến, tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh. Thiên Chúa, Hội thánh và thế giới tăm tối này đang cần những con người có lương tâm và sống theo lương tâm mình. Cầu nguyện, đọc Lời Chúa, tham dự các bí tích nhất là Thánh thể và Hòa giải là những phương thế rất cần thiết để có một lương tâm như lòng Chúa mong ước.

Hy vọng bài viết này thúc đẩy nhiều người sống theo lương tâm tag ngay chính của mình và hy vọng sẽ có nhiều người nói về lương tâm này cách sâu sắc, hiệu quả hơn.

Sàigòn ngày 14.12.2018

Linh mục Đaminh Nguyễn Đức Thông CSsR.

_____

[1]Gaudium et Spes, 1.

[2] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 22.

[3] Synteresis là một niềm tin hoặc một đạo lý cho rằng lương tâm là kho chứa những luật về đúng hoặc sai.

[4] Synderesis, đúng ra là synteresis, là một sự hiểu biết bẩm sinh về những nguyên tắc chính yếu của một hành vi luân lý.

[5] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 22.

[6] Xem H. Schar, “Protestant problem with Conscience” trong E. Nelson (ed.), Conscience: Theological Perspectives, New York, 1973, 86; M.B. Crowe, “The Term Synderesis and the Scholastics” trong IrishTh. Q. 23 (1956) 151- 164; 228-245; xem Jerome, Commentarium in Ezechielem, lib. L.c 1 PL 25, 22.

[7] Xem H. Schar, “Protestant problem with Conscience” trong E. Nelson (ed.), Conscience: Theological Perspectives, New York, 1973, 86; M.B. Crowe, “The Term Synderesis and the Scholastics” trong IrishTh. Q. 23 (1956) 151- 164; 228-245; xem Jerome, Commentarium in Ezechielem, lib. L.c 1 PL 25, 22.

[8] S.Th., I II, q. 79 a 13.

[9] H. Thielicke, Theological Ethics, Philadelphia, 1967, 67.

[10] R. Hofmann, Die Gewissenslehre des Walter von Bruegge und die Gewissenslehre in der Hochscholastik, Munster, 1941, 107-108.

[11] Bernard Haring, Tự Do Và Trung Thành Trong Đức Kitô, tập II, tr. 24.

[12] Haring, Manipulation, New York, 1975, 109-133.

[13] A. S. Neil, Summerhill: A Radical Approach to childbearing, New York, 1960.

[14] Bernard Haring, Tự Do Và Trung Thành Trong Đức Kitô, tập II, tr. 25.

[15] G. Gurvitch, Determinisme sociaux et liberté humaine, Paris, 1955, 12. Xin cũng xem G. Gurvitch, The Social Framework of Knowledge, Oxford, 1971.

[16] S. Freud, An Outline of Psychoanalysis, London, 1969, 149tt.

[17] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 13.

[18] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 14.

[19] Ibid., tr. 15.

[20] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 16.

[21] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 17.

[22] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 17.

[23] C.A. Pierce, Conscience in the New Testament, London, 1955, 113.

[24] D. Stanley, S.J. Boasting in the Lord, New York, 1973, 131.

[25] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 19.

[26] R.H. Preston, “Conscience” trong J. Macquarrie, Dictionary of Christian Ethics, Philadelphia, 1967, 67; xem Ph. Delhaye, l.c., 42; P. Spicq, “La conscience dans la Nouveau Testament”, trong Revue Biblique 47 (1938), 63-67; E.D. D’Arcy, Conscience and the Right to Freedom, New york, 1961, 4-12.

[27] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 20.

[28] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 16.

[29] Peschke, đạo đức học Kitô Giáo, Thần Học Luân Lý Dưới Anh Sáng Công Đồng Vatican II, tập II, tr,. 18

[30] Ibid., tr. 19.

[31] Peschke, đạo đức học Kitô Giáo, Thần Học Luân Lý Dưới Anh Sáng Công Đồng Vatican II, tập II, tr,. 40 – 42.

[32] Ibid., 43.

[33] Ibid., 44

[34] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 109; Karl Peschke, Đạo Đức Kitô Giáo, Thần Học Luân Lý Dưới Anh Sáng Công Đồng Vatican II, tập II, tr. 44.

[35] W. Nigg. Great Saints, Hinsdale/III., 1968, 219.

[36] Thánh Anphong, The Way of Salvation and of Perfection, Complete Ascetical Works, 3, do E. Grim, Brooklyn xuất bản, 1926, 482tt.

[37] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 28.

[38] J. Mullroomcy, “Covenant and Conscience” the Way 2, 1971, 283- 290.

[39] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 30

[40] Chọn lựa căn bản ở đây là biết rõ mình và sống theo những gì mình biết về mình. Biết mình là hình ảnh, là con Thiên Chúa, thì phải sống theo đúng tư cách của mình.

[41] S. Breton, Conscience et intentionalité, Paris, 1956.

[42]Gaudium et Spes, 16.

[43] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 32.

[44] J. H. Newman, Apologia Pro Vita Sua, New York, phần IV, 212.

[45] Anphong, Theologia Moralis lib, I, Tr. 2…

[46] S. Th., I II q 19, a 5; Xem De Veritate q 17, a 5 và Th. Deman OP, “the Dignity of Conscience” trong quyển Blackfriars 34 (1953) 115-119.

[47] L.c., 261.

[48] Xem L. Kohlberg, Collected Papers on Moral Development and Moral Education, Cambridge/Mass., 1973; L. Kohlberg và E. Turiel (Eds) Moralization Research; the Cognitive developmental Approach, New York, 1971.

[49] L. Kohlberg, “Stage of Moral development” 86tt.

[50] L.c., 87.

[51] L.c., 65.

[52] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 45- 46.

[53] R. Schnackenburg, Moral Teaching of the New Testament, 249.

[54] J. Lerlerqu, Christ and the Modern Conscience, New York, 1962.

[55] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 50.

[56] Ibid., tr. 50 – 51.

[57] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 52.

[58] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 56.

[59] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 58.

[60] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 59 – 60.

[61] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 59 - 60

[62] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 61.

[63] Xem P. Freire, Education for Critical Consciousness, New York, 1973; G. Goulet, La Conscience critique, Paris, 1971.

[64] Gaudetet et Exsulate, 72.

[65] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 62 – 64.

[66] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 65.

[67] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 65- 66.

[68] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 66.

[69] GS 6.

[70] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 67.

[71] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 69.

[72] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 70.

[73] L.c., 41.

[74] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr.71.

[75] L.c., “masque” trong tiếng Pháp và “mask” trong tiếng Anh gợi lại tiếng Hy lạp là “Personna” có nghĩa là mặt nạ người ta dùng để chơi. Tiếng này trong tác phẩm của Nédoncelle có nghĩa rất gần với siêu ngã là cái thúc đẩy người ta chơi trò chơi xã hội mà không quan tâm tới tính chân thực và lương tâm của họ.

[76] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 72.

[77] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 73.

[78] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 74.

[79] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 76.

[80] R. Panikkar, “Hermeneutique de la liberté de la religion; religion comme liberté, trong quyển sách của E. Castelli (Ed.) Herméneutique de la liberté de la réligion, Paris-Rôma, 1968, 58-61.

[81] Denzinger-Sch., Enchiridion symbolorum, definitinum et declarationum de rebus et morum, in lần thứ 33, Freiburg, 1965.

[82] Monumenta Germamiea historica, Leges, sect, IV, tập IV, phần I, 139.

[83] Leo XIII, Immotale Dei, SSS 55, 1885, 166.

[84] Pio XII, Bài nói chuyện với Hội Nghị Quốc tế lần thứ 10 về việc nghiên cứu lịch sử, AAS 47, 1955, 678.

[85] J. C. Murray S.J., Church and State in U.S. New York.

[86] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 82.

[87] A. Bea, Unity of Freedom, New York, 1964.

[88] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 86.

[89] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 88.

[90] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 90.

[91] LG 32 & 37

[92] GS 62.

[93] Tuyên ngôn về Giáo Dục Kitô giáo nhất là các số 7-10.

[94] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 94.

[95] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 98.

[96] J. T. Nooman, The Scholastic Analysis of Ursury, Cambridge/Mass, 1957.

[97] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 99- 100.

[98] Thuyết Đại xác cách thuyết quan niệm rằng khi có sự nghi ngờ về một luật, hay việc áp dụng một luật nào đó, thí người ta phải giả thiết có luật nào đó và giữ luật ấy cho tới khi biết chắc không có luật mới thôi.

[99] Thuyết khắc kỷ quan niệm rằng, là những hữu thể thuộc xã hội, con người chỉ hạnh phúc khi giây phút hiện tại sao, chấp nhận vậy, đứng để những khát vọng khoái lạc, hay nỗi sợ khổ đau thống trị bằng cách sử dụng tâm trí để hiểu rõ thế giới này và tham dự vào kế hoạch của tự nhiên và bằng cách cùng nhau làm việc và đối xử với nhau cách công bằng, chính trực. Nhân đức là điều tốt lành duy nhất đối với con người, các sự vật bên ngoài – sức khỏe, sự giàu sang và hoan lạc – tự chúng, không tốt cũng không xấu, nhưng có giá trị là vật liệu để nhân thức hoạt động.

[100] Cái nhiên thuyết quan niệm rằng khi nghi ngờ về một luật hay việc áp dụng luật ấy, thì lương tâm ngay lành, với những ý định ngay lành được phép làm theo lương tâm mình cho tới khi biết rõ sự thật.

[101] Th. Deman Op., “Probabilism” trong Dict. Théol. Cath. XII (1936), 418. Tôi không nghĩ rằng Deman đã thực sự hiểu được mục đích và linh đạo của thuyết cái nhiên đích thật, trong khi ông kết án cách đúng đắn tất cả nền tảng có tính duy luật của các cuộc tranh cãi.

[102] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 101.

[103] “Risposta apologie Italiane della teologia morale del beato Alfonsos Maria de liguori”, Torimo, 1829, 36.

[104] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 102.

[105] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 103

[106] Thánh Antôn thành Florence, Summa Moralis, lib. I, tr. I, số 79.

[107] Thánh Anphong, Theologia Moralis, lib. I, tr. I. số 82.

[108] Bernard Haring, Tự Do và Trung Thành trong Đức Kitô, tập II, tr. 108.