Chắc hẳn mỗi người đều có ít nhiều câu nói để đời. Tức là dù nói cách đây rất lâu nhưng vẫn còn được nhắc đi nhắc lại, nhất là trong gia đình. Còn tôi, câu nói cách đây tầm 18 năm mặc dù bây giờ không còn đúng nữa: “Trên đời này con ghét nhất hai thứ là làm chiếu và ăn canh cua”. Lý do đơn giản là vì làm nhiều quá, ăn nhiều quá đến nỗi khiếp sợ nhưng bây giờ lại nhớ, lại thèm. Gác qua hình ảnh bát canh cua, tôi xin dùng nghề làm chiếu để diễn tả cảm nghĩ cảm bản thân, những điều mà tôi kinh nghiệm được từ nghề thân thương này.
Tôi sinh ra và lớn lên tại một làng quê nghèo thuộc giáo xứ Xuân Dục, giáo phận Bùi Chu. Tôi sống cùng ông bà và bố mẹ ngay từ nhỏ. Ba năm sau, bố mẹ tôi đi lập nghiệp ở Hà Nội nên tôi chỉ còn sống cùng ông bà nội. Chính vì thế mà tuổi thơ của tôi gắn liền với ông bà đến nỗi một thời gian dài tôi con họ quan trọng hơn bố mẹ. Bậc làm cháu, tất nhiên tôi phải có bổn phận ngoan ngoãn, vâng lời và giúp đỡ ông bà. Và một cách nào đó, công việc của ông bà cũng là công việc của tôi. Ông bà tôi lúc đó không còn mạnh khoẻ nên chỉ kiếm sống nhờ dàn chiếu và sự giúp đỡ của con cháu. Dàn chiếu đó đã nuôi tôi 10 năm. Tôi vẫn thường được nghe: Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình. Vì vậy, nghề làm chiếu của tôi cũng thay đổi theo độ tuổi. Từ xếp chiếu, phơi chiếu, lựa cói đến xén chiếu, làm chiếu. Tôi không nhớ rõ ngày tôi bắt đầu làm chiếu lúc nào nhưng thời gian chủ yếu vào buổi trưa. Kết thúc buổi học của tôi là ngồi vào làm chiếu để ông hoặc bà đi nấu cơm. Bụng thì đói, chân tay thì mệt mỏi rã rời và cũng có lúc làm trong nước mắt nhưng còn cách khác đâu. Chính vì thế mà tôi đâm ra ghét nghề này.
Nghề chiếu nhìn chung cũng dễ học, không cần nhiều vốn, nhanh có sản phẩm nhưng lời lãi không nhiều. Dàn chiếu là hai hàng đay mắc song song, so le, được luồn qua khung chiếu và cố định chắc chắn hai đầu. Độ dài còn tuỳ thuộc và kích cỡ mỗi lá chiếu. Bên cạnh dàn chiếu là một bó cói, một thanh tre nhỏ và dài gọi là cây văng. Làm chiếu phải cần 2 người: người luồn cói và người dệt chiếu. Mỗi sợi cói được người luồn khéo léo cố định trên đầu cây văng và đưa qua hai hàng đay song song mà đến cuối chỉ cần lắc nhẹ là sợi cói rời ra cùng với động tác rút văng trở về. Còn người dệt chỉ cần dập khung dệt để sợi cói được đúng vị trí, cố định một đầu. Sau mỗi lần dệt sẽ thay đổi úp ngửa khung chiếu để hai hàng đay đổi vị trí trên dưới giúp sợi cói được chắc chắn và đẹp hơn. Đến độ dài thích hợp thì cắt hàng đay, đem đi phơi, ghim lại cho chắc chắn, xén những chỗ thừa cho gọn gàng và phơi khô tránh nấm mốc. Chất lượng của lá chiếu dựa trên chất lượng của đay và cói cùng với dệt sao cho đều và chắc chắn.
Nghề chiếu gợi lên trong tôi câu Lời Chúa trong Thánh vịnh 139 rằng :
“Tạng phủ con Ngài đã cấu tạo,
dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.
Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng,
Công trình Ngài xiết bao vĩ đại,
Hồn con đây biết rõ mười mươi.” (Tv 139, 13-14)
Nếu ví thể xác mỗi người như một lá chiếu thì nó được Thiên Chúa dệt khoảng 9 tháng 10 ngày trong cung lòng của người mẹ để trở nên hoàn thiện tức là có đầy đủ bộ phận để sống và tồn tại. Bắt đầu chỉ từ một con tinh trùng bé nhỏ mắt chẳng thể nhìn thấy nhưng mỗi ngày Chúa dệt thêm những tế bào, những bộ phận cho tới khi toàn thân được thành hình. Khi tới thời điểm thích hợp sẽ chào đời. Đó quả là một mầu nhiều mà con người chẳng thể nào hiểu nổi và cũng chẳng thể nào bắt chước được. Nhưng bên cạnh tấm chiếu thể xác có thể nhìn, có thể đụng chạm thì có một tấm chiếu khác Chúa dệt mỗi ngày trong suốt cuộc đời mỗi người đó là tấm chiếu tâm hồn mà người khác chẳng thể nhìn thấy, chẳng thể đụng chạm. Tấm chiếu tâm hồn được thêu dệt bởi tất cả những suy nghĩ, cảm xúc, hành động, tinh thần ,.... trong mọi ngày sống. Nó hình thành nên con người, nên thói quen, nên tính cách và nên số phận.
Trong năm Tập viện, sau 27 năm được ngấm biết bao mùi đời có tốt có xấu, tôi được tách riêng ra khỏi môi trường sống cũ, được thanh luyện con người để trở thành một tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế.
Trước tiên, những sợi đay được coi như nền tảng hay trụ cột để dệt lên một lá chiếu. Đay càng chắc thì chiếu càng dẻo, càng bền. Vì vậy, sợi đay trong tấm chiếu tâm hồn của mỗi người chính là động lực cho mọi suy nghĩ và hành động. Đã một thời gian dài tôi lấy sự kỳ vọng của gia đình, lời khen ngợi của người khác hay tiền tài, địa vị, quyền lực ,... làm mục đích, làm động lực sống rồi cứ mải mê chạy theo mà chẳng bao giờ được thoả mãn. Động lực cũng đến từ tình cảm gia đình, tình tương thân tương ái giữa người với người, tình cảm đôi lứa nhưng lại có ngần có hạn. Những tình cảm đó chỉ là chất bán dẫn, là bước đệm cho một tình yêu vĩ đại, tình yêu của Đức Kitô, Đấng đã chết vì tội lỗi của tôi để một khi cùng chết với Ngài, tôi cũng được cùng sống lại với Ngài (x. Rm 6, 8). Chỉ có tình yêu đó mới là sợi đay chắc chắn và không thể đứt được. Mỗi ngày tôi phải làm cho sợi đay đó thêm dày, thêm chắc bằng đời sống cầu nguyện và kết hợp với Đức Kitô để Ngài hướng dẫn và chi phối cuộc đời tôi.
Bên cạnh đó, trong thời gian Tập viện, tôi được mời gọi gấp nếp lại đời tu, tức là bỏ đi những giá trị trần gian có hại cho đời tu và thay vào đó là những giá trị Tin Mừng, những nền tảng đời tu cũng như nếp sống của một tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế. Đó là những sợi cói được cha Giáo tập và các cha truyền lại cho tôi như: đời sống cầu nguyện, mầu nhiệm cứu độ, thần học đời tu, hiến pháp và quy luật Dòng Chúa Cứu Thế, linh đạo và đặc sủng của Dòng, thấu hiểu bản thân, đời sống cộng đoàn ,... và biết bao nhiêu sợi cói khác hầu giúp tôi có thể đáp ứng lại được những đòi hỏi của đời tu, của Nhà Dòng cũng như của thời đại.
Và cuối cùng, công việc của tôi là dệt những sợi cói nền tảng đó vào trong sợi đay trụ cột là Đức Kitô mà chúng tôi gọi là nội tâm hoá sao cho chắc chắn và đều nhất có thể. Chỉ khi quy tất cả mọi điều vào Đức Kitô, đặt Ngài làm trung tâm và để Ngài hướng dẫn thì tấm chiếu đời tôi mới trở nên chắc chắn.
Mặc dù chúng tôi đều được học những môn như nhau, đều được đào tạo theo cẩm nang nhất định nhưng sản phẩm cho ra không hề giống nhau, không hề rập khuôn. Vì mỗi người chúng tôi xuất thân từ những hoàn cảnh khác nhau, tính cách khác nhau, chuyên ngành khác nhau và mỗi người đều là duy nhất vì được Thiên Chúa tạo dựng và trao ban những đặc sủng giúp làm phong phú đời sống cộng đoàn. Dù khác biệt nhưng đều chung một tinh thần của Dòng Chúa Cứu Thế là hiến mình hoàn toàn cho Thiên Chúa và cho hoạt vụ thừa sai. Chính những sự khác biệt là những đặc sủng riêng Chúa ban làm nên sự năng động thừa sau của mỗi người vì tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế không được phép vướng mắc bởi những điều kiện sống và những cơ chế khiến hoạt động của họ không còn mang tính thừa sai nữa. Họ phải tận tuỵ khai phá những đường lối mới trong việc loan báo Tin Mừng (x. Hp 15)
Tấm chiếu mang nhãn hiệu Dòng Chúa Cứu Thế không nhất thiết là phải thật đẹp vì họ phải “trải” ra, phải đến với những người nghèo, những người bị bỏ rơi hơn cả. Khi đến với những người như thế, tấm chiếu đó phải chịu được những sự gồ ghề của số phận long đong, chịu được sự thiếu thốn của người nghèo, chịu được sự khó khăn của những người cô đơn thất vọng. Vì vậy, tấm chiếu đó phải chắc chắn và dẻo dai. Tấm chiếu mang nhãn hiệu Dòng Chúa Cứu Thế không nhất thiết cần phải có hoạ tiết cầu kỳ hay những đường nét sắc sảo mà cần sự giản dị để có thể dễ dàng đến với người nghèo cũng như để người nghèo dễ đến với họ. Tấm chiếu đó cũng cần hoán cải không ngừng để loại bỏ đi những sợi đay ích kỷ, hẹp hòi mà thay vào đó là dệt thêm những sợi đay quảng đại, hy sinh, dấn thân. Đặc biệt, tấm chiếu đó không ngừng dệt chắc hơn cuộc đời vào Đức Kitô để trở nên phù hợp với những đòi hỏi của Tin Mừng và của thời đại này.
Vincente Văn Nhật

