TẬP VIỆN DÒNG CHÚA CỨU THẾ TRONG DÒNG CHẢY
LỊCH SỬ
100 NĂM CỦA NHÀ DÒNG TẠI VIỆT NAM
Năm thánh Hy Vọng 2025, cũng là năm mà gia đình Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) tại Việt Nam hân hoan mừng năm thánh kỷ niệm 100 năm Nhà Dòng hiện diện trên quê hương Việt Nam. Đây là dịp để những thành viên của DCCT nhìn lại những hồng ân Chúa đã thương ban cho Nhà Dòng qua những vị tiền nhân với những biến cố thăng trầm trong 100 năm qua. Qua đó, cảm nghiệm sâu hơn về tình yêu Thiên Chúa qua những kỳ công Chúa đã thực hiện nơi Mẹ Nhà Dòng và cả cuộc đời mỗi tu sĩ. Điều này trở nên đặc biệt hơn đối với mỗi tập sinh DCCT, vì không chỉ làm năm thánh của Giáo Hội, năm thánh của Nhà Dòng mà có thể nói rằng năm tập chính là năm thánh của cuộc đời họ.Chính vì thế, chúng ta cùng nhau nhìn lại những biến chuyển của Tập viện trong dòng chảy lịch sử 100 năm qua của DCCT tại Việt Nam.
Ngày 30/11/1925, ba vị thừa sai DCCT tiên khởi xuất phát từ Tỉnh mẹ Sainte-Anne-de-Beaupré Canada, đặt chân đến Việt Nam mang theo sứ mạng của Nhà Dòng được Tòa Thánh ủy thác. Với sứ vụ: “Quốc tế hóa các thừa sai, phúc âm hóa hàng linh mục, tu sĩ và giáo dân, góp phần cùng với Tòa Thánh đẩy nhanh tiến trình địa phương hóa các Giáo Hội tại Đông Dương”.[1] Vì lẽ đó, một trong những công việc ưu tiên nhất của các vị thừa sai là tuyển mộ ơn gọi. Nhờ đó, chỉ chưa đầy 3 năm, số các đệ tử được ghi nhận vào ngày 01/9/1928 là 27 người,[2] một tương lai hứa hẹn cho DCCT tại Việt Nam được mở ra.
Để rồi, ngày 25/3/1929, cùng với việc thành lập Nhà Huế, cha bề trên Tổng quyền Patrick Murray quyết định thiết lập Tập viện tại Việt Nam. Với quyết định: “Chiếu theo những năng quyền đã nhận được, tôi thiết lập và tuyên bố nhà của chúng ta tại Huế, thuộc Đông Dương và không có trở Ngại gì từ Thánh Bộ Truyền Giáo, là Tập viện tại nhà Huế nói trên.” Đồng thời đặt cha Hubert Cousineau làm cha giáo tập tiên khởi. Cơ sở đầu tiên của Nhà Tập là dãy lầu phía tây của Nhà Huế, vừa mới khánh ngày 07/01/1929. Tuy nhiên phải chờ đến ngày 08/12/1929 lớp Nhà Tập đầu tiên mới khai mạc với 7 tập sinh. Trong số đó có thầy Phaolô Thẩm (người Phủ Cam – Huế) là tập sinh và là tu sĩ Việt Nam đầu tiên. Lễ khấn dòng đầu tiên diễn ra vào ngày 09/12/1930 với năm thầy tuyên khấn trở thành 5 tu sĩ tiên khởi người Việt Nam và Á Châu. Trong thời gian đầu việc khai mạc các lớp không theo chu kỳ một năm như hiện nay, trong vòng chưa đầy 2 năm từ này 08/12/1929 đến ngày 18/7/1931 đã có 4 lớp Nhà Tập với 17 tập sinh.[3]
Nhờ tình yêu Chúa quan phòng, DCCT đã nhanh chóng thiết lập được phụ tỉnh Dòng tại Đông Dương ngày 05/5/1930, chưa đầy 5 năm hiện diện tại Việt Nam.[4] Lúc bấy giờ, bên cạnh nhà Huế, phụ tỉnh có thêm nhà Hà Nội. Để đáp ứng nhu cầu đào tạo, năm 1931 cha bề trên phụ tỉnh E. Dione quyết định dời Tập viện ra Thái Hà – Hà Nội. Quyết định này được thực hiện vào ngày 14/4/1932, khi cha H. Cousineau ra Hà Nội cùng 2 thầy tập sinh. Tuy nhiên, chỉ mấy tháng sau, cha H. Cousine thôi làm giáo tập, thay thế ngài là cha Pamphile Couture. Lễ mặc áo đầu tiên tại Hà Nội diễn ra vào ngày 04/8/1932 và 1 ngày sau 05/8/1932 diễn ra lễ khấn đầu tiên tại đây. Cho đến 1932, các tập sinh đều theo ơn gọi tu sĩ không phải linh mục, điều này được thay đổi vào ngày 05/8/1933 khi khai mạc lớp Nhà Tập có 2 thầy là Phêrô Sự và Giacôbê Cân theo ơn gọi giáo sĩ đầu tiên.[5]
Nhà tập duy trì ở Thái Hà cho đến năm 1950, trải qua 4 đời cha giáo tập, lần lượt là cha H. Cousineau (1932), cha P. Couture (1932-1935), cha G. Boissonnault (1935-1942) và cha Antoine Boucher (1942 -1955).[6] Đây là thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới thứ 2 (1939-1945) với nhiều cuộc chiến đẫm máu diễn ra nhiều nơi trên thế giới cũng như tại Việt Nam, gây ra nhiều xáo trộn bất ổn trong xã hội. Tại Việt Nam, các phong trào kháng chiến chống pháp diễn ra khắp nơi, điều này không thể không ảnh hưởng đến đời sống của Nhà Dòng cũng như Tập viện. Năm 1945, do ảnh hưởng của cách mạng tháng 8 lớp Tập viện năm đó phải khải mạc ở Huế ngày 15/8/1945 và chỉ di chuyển ra Hà Nội một tháng sau đó.[7] Các thừa sai gặp không ít khó khăn khi bởi Việt Minh và quân Nhật, cùng với nạn đói Ất Dậu năm 1945 và nhiều biến động phức tạp trong xã hội. Trước tình hình đó, để đảm bảo cho anh em, nhất là anh em trong diện đào tạo, năm 1947 cha Giám phụ tỉnh Alphonse Tremplay đã đặt vấn đề chuyển các cơ sở đào tạo từ Hà Nội vào Đà Lạt. Điều này càng có cơ sở khi tình hình chiến tranh diễn ra ngày càng ác liệt, đặc biệt là tại miền bắc, cao trào là cuộc chiến tranh Đông Dương (1946-1954).[8] Ngày 08/12/1950 cha giám phụ tỉnh ra quyết định: “Lập tức di tản các thầy Học viện, Tập viện và một phần Nhà Dòng…” Ngay lập lức, quyết định được thi hành. Ngày 26/12/1950 chuyến tàu di tản khởi hành và cập bến Sài Gòn 31/12/1950, sau ít ngày nghỉ ngơi, ngày 04/1/1951 cùng với học viện, tập viện chuyển lên Đà Lạt để tiếp tục đời tu nơi vùng đất mới.[9] Như vậy, Nhà tập hiện diện tại Thái Hà suốt 18 năm trời, từ năm 1932 -1950, là nơi đào tạo 86 tu sĩ, trong đó có 53 linh mục.[10]
Nhà Tập hiện diện tại Đà Lạt cho đến năm 1959, với các cha giáo tập Antonio Boucher (1950-1955), cha G. Boissonnault (1955 -1956) và cha Camille Dubé (1956-1959). Cuối tháng 7 năm 1959 các bề trên quyết định chuyển Nhà tập từ Đà Lạt về Nha Trang.[11] Cha Dubé tiếp tục làm cha giáo tập cho đến năm 1970. Trong thời gian này, năm 1968, với quyết định “vào đời” cho các anh em sau khi mãn Đệ Tử Viện, Tập viện đã phải tạm đóng cửa cho đến năm 1973 vì không có tập sinh mới.[12] Việc 5 năm không có Nhà Tập, đã để lại một khoảng trống nhân sự cho Nhà Dòng sau này.
Sau thời gian tạm ngưng, nhà tập được mở lại và dời về nhà Thủ Đức năm 1973 với vị giáo tập người Việt Nam đầu tiên là cha Giacôbê Nguyễn Hữu Sơn. Cha Sơn làm giáo tập cho đến ngày 25/01/1978 khi nhà Thủ Đức bị “trưng dụng”. Biến cố này đã khiến Nhà tập DCCT Việt Nam rơi vào một hoàn cảnh vô tiền khoáng hậu, khi các tập sinh không được cư trú trong Tu Viện của mình. Thay vào đó, họ phải “làm nhà tập” ở tại gia đình hoặc các nông trường, cơ sở, xí nghiệp và chỉ tập trung vào mỗi thứ 7 và Chúa nhật hàng tuần để “làm nhà tập” và nhà tập kéo dài 2 năm. Trong hoàn cảnh đặc biệt này, cha Giacôbê Đào Hữu Thọ là người mang trách nhiệm làm giáo tập. Tình trạng này kéo dài đến năm 1983 thì tạm ngưng, lại một lần nữa nhà tập DCCT Việt Nam phải “đóng cửa”. Cũng sau biến cố 1978, thì các tập sinh không mặc tu phục ngay từ ngày khai mạc, thay vào đó việc nhận áo dòng chỉ diễn ra trong ngày khấn dòng.[13]
Đến năm 1986, Nhà tập trở lại sinh hoạt bình thường với cha giáo tập là cha Anphongso Phạm Gia Thụy. Và nhà Kỳ Đồng trở thành cơ sở mới cho Tập viện. Ngày 05/4/1988, việc có 4 tập sinh tuyên khấn đã chấm dứt 5 năm không có lễ khấn trong Tỉnh dòng. Khóa Tập viện 1989-1991 với 10 tập sinh là khóa cuối cùng theo chương trình 2 năm không liên tục. Và khóa 1991-1992 trở thành khóa đầu tiên trở lại theo chương trình 1 năm liên tục, kể từ năm 1994 đến nay, mỗi năm đều có một khóa tập sinh mới.[14]
Năm 2004 Nhà tập dời về nhà Mai Thôn, cha Gioan Baotixita Nguyễn Thanh Bích thay cha Thụy làm giáo tập. Năm 2005, với mong muốn cho các tập sinh sống giữa môi trường truyền giáo, Nhà Tập dời về Nhà Cần giờ và ở đó 10 năm.[15]
Tới năm 2015, lại một lần nữa Tập viện di chuyển, lần này là sự trở lại ngôi nhà đầu tiên là Nhà Huế và cha Gioan Baotixita Hồ Quang Lâm làm giáo tập từ 2015 cho đến năm 2019. Thay thế cha Quang Lâm là cha Đaminh Trần Thật (từ 2019 đến nay). Cơ sở đào tạo dành cho Tập viện lần này là lầu 2 và lầu 3 của Nhà Đệ tử trước đây, một không gian thoáng mát, yên tĩnh phù hợp với bầu không khí của Tập Viện. Sau lần trở lại này, việc khai mạc và làm nhà tập diễn ra tại Huế, nhưng lễ khấn dòng của anh em lại diễn ra ở Sài Gòn sau khi mãn khoá. Ngoại trừ năm 2021, vì ảnh hưởng của đại dịch Covid 19, lớp Tập viện niên khoá 2021 – 2022 đã phải khai mạc ở Sài Gòn và ở lại đó 4 tháng trước khi trở ra Huế. Sau 10 năm ở Huế, Tập viện đã có 10 lớp với 110 thầy tuyên khấn và hiện tại là lớp Clemente 2024-2025 có 8 anh em sắp tuyên khấn vào tháng 7 sắp tới. Và cây nho DCCT vẫn tiếp tục vươn mình.
Quả thật, nhìn lại lịch sử của Nhà Tập, chúng ta thấy rõ công việc Chúa làm cho chúng ta trong suốt 100 năm qua. Trải qua nhiều biến động, từ những khó khăn trong giai đoạn ban đầu, những bất ổn của xã hội do chiến tranh, bị bắt bớ, cấm cản, nạn đói và dịch bệnh, cho đến những thay đổi của Giáo Hội và Nhà Dòng, nhất là thời gian mới kết thúc Công Đồng Vaticano II. Nhà Tập đã có lúc phải đóng cửa, có lúc có nhà mà không được ở và trải qua 10 lần di chuyển, nhưng có điều bất di bất dịch là Đức Kitô, Ngài vẫn luôn ở cùng và là trung tâm của Tập viện cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cùng với Thần Khí của Ngài, mỗi tập sinh của DCCT qua các thời kỳ luôn được đào tạo để đi sâu vào tình yêu đối với Đức Kitô, với một đời sống cầu nguyện vững chắc, sự sẵn lòng phục vụ và cộng tác với người khác, ngày càng xác tín sâu sắc về ơn gọi của mình trong DCCT. Đồng thời có một nhận thức chắc chắn về ý nghĩa của ba lời khấn và khả năng sống ba lời khấn trong cộng đoàn DCCT. Bên cạnh đó là chương trình đào đạo được thừa hưởng một chiều dài lịch sử từ cha thánh Anphongso và 100 năm hiện diện phát triển trên quê hương Việt Nam. Tập sinh được đào sâu hơn về Linh đạo và đặc sủng của Nhà Dòng. Điều này dựa trên nên nền tảng vững chắc được cha thánh Anphongso đặt nền là mầu Nhiệm Cứu Độ của Chúa Kitô đó là mầu nhiệm Nhập Thể, Thương Khó và Sự Phục Sinh của Ngài. Cùng với lòng tôn kính Đức Maria Mẹ Ngài và là mẹ của mỗi tu sĩ DCCT. Nhờ đó, mỗi tập sinh có thể sẵn sàng đi vào ba lời khấn trong Dòng Thánh như một hành động đáp trả tình yêu của Thiên Chúa Cha, Đấng đã yêu thương họ trước (x. Hp 46). Để tiếp nối những bước chân của các vị tiền nhân, bước theo chân Chúa Cứu Thế rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó. Ngay trong Nhà tập, các tập sinh đã tham dự trực tiếp vào sứ mạng của Nhà Dòng qua việc cầu nguyện mỗi ngày cho Nhà Dòng và các công việc tông đồ của Nhà dòng như công việc giải tội, giảng tĩnh tâm và đặc biệt là Đại phúc. Trong lời cầu nguyện mỗi ngày, họ cũng luôn nhớ tới những nhà thừa sai đang miệt mài trên cánh đồng truyền giáo, những cộng tác viên, ân nhân, thân nhân và đặc biệt là những đối tượng mục vụ của Nhà dòng, nhất là những là người nghèo. Nhờ đó, họ được nuôi dưỡng một đời sống cho sứ vụ tương lai, ngõ hầu, trở nên những thừa sai của niềm hy vọng, trong một thế giới đầy thương tích và đổi thay không ngừng.
Nhìn lại những câu chuyện của lịch sử, chúng ta thấy rằng Thiên Chúa luôn là nhân vật chính và làm chủ mọi biến cố đó, với một lòng yêu thương và trung tín. “Bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn Cứu Chuộc nơi Người chan chứa” (Tv 129,7). Chính vì thế, Ngài đã cho những con người, vốn yếu hèn được trở nên lợi khí của Ngài trong DCCT, mà Tập viện chính là cửa ngõ mà mỗi tu sĩ DCCT đều được Chúa dẫn qua. Chúa đã bước vào cuộc đời họ để làm nên lịch sử, lịch sử của cuộc đời mỗi người, lịch sử của Nhà Dòng, lịch sử của Giáo hội và là Lịch sử Cứu Độ. Qua đó, chúng ta càng thêm lòng tin, cậy, mến vào Thiên Chúa là Cha cùng với Con của Ngài, để cho Thần Khí của Ngài làm chủ trong mọi biến cố (x. Hp 25) và cùng Ngài viết tiếp những trang sử cuộc đời chúng ta.
Giuse
Văn Hùng tổng hợp
[1] x. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong CSsR, Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam 1924 - 2024, Cứu Thế Tùng Thư, 6.
[2] x. 75 Năm Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam 1925 – 2000 (lưu hành nội bộ), 11.
[3] x. Lm Rôcô Nguyễn Tự Do, Lịch Sử Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam (lưu hành nội bộ), 419 – 422.
[4] x. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong CSsR, Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam 1924 -2024, 85.
[5] x. Lm Rôcô Nguyễn Tự Do, Lịch Sử Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, 421 – 424.
[6] X. Ibid., 429.
[7] x. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong CSsR chủ biên, Gia Đình Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam Trên Trời I, 240.
[8] x. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong CSsR, Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam 1924 -2024, 154
[9] Ibid., 172 -174.
[10] x. Lm Rôcô Nguyễn Tự Do, Lịch Sử Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, 426.
[11] Ibid., 426.
[12] x. 75 Năm Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam 1925 – 2000, 88.
[13] x. Lm Rôcô Nguyễn Tự Do, Lịch Sử Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, 426.
[14] x. Ibid., 426.
[15] x. Ibid., 426.

