TU SĨ DÒNG CHÚA CỨU THẾ LÀ NGƯỜI NGHÈO
Có lẽ sẽ khiến nhiều người không khỏi bất ngờ khi nói tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế là người nghèo. Nhờ lời khấn dòng, cả cuộc đời họ trở thành những tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế. Nếu thế thì họ nghèo cả cuộc đời sao? Chẳng lẽ họ không bao giờ giàu có?
Có nhiều nguyên nhân để trả lời cho câu hỏi đó. Thứ nhất, họ sống như các Tông đồ thuở xưa là để chung của cải để phục vụ Tin Mừng (x. Hp 62). Thứ hai, họ không chỉ sống những hình thức khó nghèo truyền thống mà còn sẵn sàng khám phá ra những hình thức mới (x. Hp 63). Tiếp đến, họ như thể bị ràng buộc bởi luật lao động để trong khả năng nuôi sống mình và người khác (x. Hp 64). Và họ phải sống cuộc sống thực sự nghèo khó và tương hợp với hoàn cảnh của người nghèo (x. Hp 65). Nhưng trên hết, nguyên nhân quan trọng nhất mà họ trở thành những người nghèo vì họ dâng hiến cho Đức Giêsu bằng cách đi trên con đường mà chính Ngài đã đi, con đường khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục, con đường phục vụ và hy sinh chính mình cho đến chết (x. Hp 50)
Trong phạm vi bài biết, người viết xin gợi lên một vài suy tư khi nhìn tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế như là những người nghèo như Hiến Pháp số 64 nói đến: “Như là những người nghèo, họ (tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế) hãy coi mình như thể bị ràng buộc bởi luật lao động, để mỗi người trong khi chu toàn bổn phận, và trong khả năng tốt nhất, góp phần nuôi sống mình và người khác” (Hp 64).
Trước hết, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế coi mình như thể bị ràng buộc bởi luật lao động. Là con người thì ai cũng muốn được thành công. Và thành công được thể hiện trong việc làm, trong sự nghiệp. Với con mắt đức tin, ngay cả Thiên Chúa cũng không ngừng tạo dựng các sinh vật sống mỗi ngày. Chúa Giêsu cũng lao động không ngừng khi kế thừa nghề thợ mộc của cha nuôi là thánh Giuse trong suốt thời gian sống ẩn dật. Trong 3 năm sống công khai, công việc của Ngài là rao giảng Tin Mừng về tình yêu của Chúa Cha, chữa lành các bệnh nhân, trừ quỷ, dạy dỗ các môn đệ, ... Ngày nay, Ngài cũng không ngừng hiến mình nơi bí tích Thánh Thể để trao ban sự sống cho con người. Chúa Thánh Thần cũng không ngừng hoạt động trong tâm hồn mỗi người để họ hoán cải, giúp mỗi người mặc lấy tâm tình của Chúa Giêsu và nhận ra thánh ý Cha trong mọi sự. Và trong suốt dòng lịch sử, các thánh, các giáo phụ, các tu sĩ bằng nhiều cách vẫn đang cộng tác vào công trình tạo dựng mà Thiên Chúa tạo nên. Cũng vậy, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế là người theo gương Đức Giêsu Cứu Thế “bằng cách rao giảng Lời Chúa cho người nghèo, như chính Ngài đã tuyên bố về mình : ‘Ngài sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó’…” (x. Hp 1). Nhưng để rao giảng Lời Chúa cách minh nhiên thật không phải dễ dàng, đặc biệt là trong thời đại đầy thay đổi này. Thời đại mà người ta cần chứng nhân chứ không cần thầy dạy. Và nếu là thầy dạy thì họ chính là chứng nhân. Chính vì thế, để mở đường cho việc rao giảng Tin Mừng, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế dùng chứng tá bằng đời sống và đức ái làm bàn đạp. Nhìn lại lịch sử gần 300 năm Dòng Chúa Cứu Thế được thành lập, biết bao tấm gương luôn dấn thân hết mình cho sứ vụ hầu đem ơn cứu độ cho con người. Thánh tổ phụ Anphongsô dấn thân không biết mệt mỏi cho người nghèo và thánh nhân không để lãng phí bất cứ một giây phút nào, thánh Clemente với lòng nhiệt thành hăng say làm cho những nơi ngài đến được biến đổi hoàn toàn, thánh Giêrađô khiêm nhường và sẵn sàng làm mọi việc dù nhỏ bé đến đâu, chân phúc Phêrô Donders hy sinh chính mình cho những người phong cùi và những người thổ dân da màu… Nhìn gần hơn trong lịch sử 100 năm Dòng Chúa Cứu Thế có mặt tại Việt Nam, các nhà thừa sai đã áp dụng mọi sáng kiến tông đồ chỉ mong thành toàn ý Chúa trao phó cho Nhà Dòng nơi dải đất hình chữ S này. Hay chân dung 4 nhà thừa sai đầu tiên đặt chân lên mảnh đất Tây Nguyên đất đỏ, gió lào với biết bao khó khăn nhưng luôn giàu lòng nhiệt thành để nhờ sống cùng dân, làm cùng dân, ăn cùng dân rồi đưa Tin Mừng tới cho dân. Và còn biết bao minh chứng khác minh chứng rằng tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đã, đang và sẽ tiếp tục dấn thân cách nhiệt thành trong sứ vụ Chúa trao phó.
Bên cạnh đó, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế trong khi chu toàn bổn phận và trong khả năng tốt nhất góp phần nuôi sống mình và người khác. Hiển nhiên con người sống cho nhau và vì nhau. Điều đó được thể hiện rõ nhất qua gia đình khi cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Còn con cái phải báo hiếu cha mẹ khi về già. Hay có những người vì tình tương thân tương ái đã cho đi tài sản của bản thân để giúp đỡ người khác bằng những món quà vật chất và những sự giúp đỡ tinh thần. Nhưng tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế cũng có thể làm tất cả những gì không chỉ để nuôi sống mình mà còn nuôi sống người khác. Như dụ ngôn người Samari nhân hậu, người khác đối với tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế cũng chính là người thân cận, là mọi người đang cần sự giúp đỡ. Đặc biệt, người khác cũng chính là người nghèo, người bị bỏ rơi và họ chính là lý do Dòng hiện hữu. Nhưng khi làm như thế, mỗi tu sĩ phải thể hiện được Tin Mừng qua việc làm để khi đến thời thuận tiện, họ phải rao giảng Tin Mừng cách minh nhiên. Việc tông đồ đó được đánh dấu bằng sự năng động thừa sai hơn là bởi hình thức hoạt động đặc biệt nào đó (x. Hp 14). Họ không ngừng tìm kiếm những sáng kiến tông đồ, những đường lối mới trong việc loan báo Tin Mừng. Bắt đầu từ những khả năng Chúa ban rồi những điều học được biến họ trở thành những người đầy khả năng để từ đó đưa ra những sáng kiến áp dụng vào môi trường mục vụ khiến việc rao giảng Tin Mừng trở nên hữu hiệu hơn. Họ có thể sử dụng chuyên môn về công nghệ thông tin để lắp đặt những thiết bị giúp đỡ những người dân nghèo. Họ dấn thân để hiểu văn hoá bản địa và nhờ ánh sáng Tin Mừng soi chiếu để hội nhập văn hoá và Tin Mừng cách hữu hiệu. Họ có thể sử dụng kiến thức về luật pháp để giúp đỡ và đòi lại công bằng cho người dân. Họ sử dụng kiến thức để đem cái chữ, đem văn minh đến cho những người thất học, những người lạc hậu.
Trong môi trường đào tạo, mỗi lớp thường có những nét đặc biệt. Anh em trong lớp Clemente chúng tôi thường gọi là lớp lao động. Nguyên nhân là vì lớp gắn liền với khá nhiều công việc lớn nhỏ trong các giai đoạn đào tạo Dự tập, Nhà tập và do lớp ít người nên mỗi thành viên phải đảm nhận nhiều việc hơn. Trong giai đoạn Dự tập, sau 30 phút chào đón, cầu nguyện và nhận chỗ, chúng tôi bước vào chuỗi 20 ngày tu sửa lại nhà nguyện cho kịp khai giảng. Lực lượng chủ yếu là thành viên trong 2 lớp cùng với một số bác thợ. Bên cạnh đó, cũng tôi cũng được cộng tác đắc lực vào một số hạng mục khác như làm lại đường thoát nước, thay hàng rào, nâng cấp nền một vài nơi. Tưởng chừng công việc dừng lại ở đó để tiếp tục với con đường tu tập tại Nhà Tập nhưng không. Để chuẩn bị cho chương trình khai mạc năm thánh mừng 100 năm Dòng Chúa Cứu Thế hiện diện tại Việt Nam, công việc đầu tiên là sơn sửa lại nhà. Suốt 5 tháng ròng cộng tác vào việc sửa nhà đã làm chúng tôi trở thành những thợ cạo, thợ sơn bán chuyên nghiệp. Cùng với đó, chúng tôi trở thành đội dọn dẹp lành nghề. Và còn biết bao sự kiện lớn nhỏ chúng tôi được cộng tác vào.
Nói như thế không hề có ý định than thở hay tự hào vì những gì chúng tôi làm chẳng ăn thua gì với những thế hệ cha anh đi trước. Nhưng ngược lại, chúng tôi thật sự biết ơn vì điều đó. Trước hết, bên cạnh việc tu tập, lao động giúp chúng tôi biết thêm được nhiều lĩnh vực, biết thêm được nhiều nghề nghiệp cũng như nhiều hoàn cảnh. Để cùng với những khả năng sẵn có, chúng tôi có thêm những phương thế tiếp cận và giúp đỡ người khác, đặc biệt là những người nghèo khó. Tiếp đến, nhờ lao động, lớp chúng tôi hiểu nhau và gắn kết chặt chẽ hơn để mà khi nhận lãnh công việc, mọi ban bệ cũng như thành viên sẵn sàng và nhanh nhẹn hoàn thành sao cho hiệu quả, ăn ý và trôi chảy nhất. Không chỉ thế, giống như các tông đồ xưa nối kết việc cầu nguyện với lao động (x. Cv 2, 42), chúng tôi học được cách kết hợp liên lỉ với Chúa trong mọi lúc mọi nơi. Cầu nguyện không chỉ dừng lại ở nhà nguyện mà còn trong khi làm việc, trong khi vui chơi,… Khi chúng tôi lao động cũng là khi chúng tôi cộng tác vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa như chính Chúa Giêsu đã nói: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5, 17). Chúng tôi nhận ra được sự hiện diện và kinh nghiệm được Chúa nơi mỗi công việc lớn nhỏ để từ Ngài liên kết và chi phối suy nghĩ cũng như hành động của chúng tôi mỗi ngày nhiều hơn. Đặc biệt, thông qua lao động, chúng tôi cảm nhận được tình gia thất, tình thương của Chúa qua những người cha, người thầy trong cộng đoàn. Đó là hình ảnh những đàn anh cùng cạo sơn, cùng sửa chữa, cùng đào đất, cùng dọn dẹp, ….. Tình thương đó cũng đến từ sự chia sẻ vật chất hay những lời động viên tinh thần và những phút giây cười đùa bên nhau. Tất cả những hành động đó như tiếp thêm tinh thần và sức mạnh vì chúng tôi biết rằng đây cũng là nhà, là gia đình của mỗi người. Chúng tôi làm việc trong vai trò là người con, người em trong gia đình và phục vụ cách vui vẻ chứ không phải là người đầy tớ làm vì bị ép buộc. Chúng tôi thật hạnh phúc vì được góp phần vào làm đẹp ngôi nhà chung. Tôi còn nhớ câu nói trong lúc rửa bát của một cha hậu học viện vào dịp thường huấn tại Huế: “Ở học viện, tuần anh rửa bát có một lần. Còn bây giờ về cộng đoàn, tuần anh rửa cũng có một lần nhưng là bảy ngày”. Từ câu nói cũng như hành động của các cha, các thầy, tôi mới thấm thía câu Lời Chúa: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải là người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mt 20, 26-27). Mỗi linh mục, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế được Chúa chọn gọi từ giữa dân vì họ cũng đã trải qua những yếu đuối để phục vụ dân chứ không phải để đè dầu cưỡi cổ hay sai khiến người dân. Chính những việc làm dù nhỏ bé như rửa bát, dọn dẹp nhưng khi làm với niềm yêu mến cũng là đang rao giảng Tin Mừng, đang làm chứng cho niềm vui mà Tin Mừng đem lại nơi họ.
Tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế là người nghèo về của cải nhưng lại giàu về tình thương. Họ nghèo vì bị ràng buộc bởi luật lao động nhưng lại giàu sự dẫn thân và sẵn sàng trong mọi công việc. Họ nghèo vì không tích trữ của cải nhưng lại rộng tay chia sẻ để nuôi sống người khác, đặc biệt là những người nghèo, những người bị bỏ rơi hơn cả. Và họ nghèo vì biết rằng chỉ có Đức Kitô mới làm cho họ trở nên giàu có.
Vincente Văn Nhật

