Con người ai cũng cần có tình yêu, không ai có thể sống mà không có tình yêu. Như thánh Augustino nói: “yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”. Để thánh nhân thốt ra những lời ấy từ cõi sâu thẳm lòng mình, ngài đã dùng cả cuộc đời để khám phá, sống và thi hành tình yêu đó. Qua đó ta thấy tình yêu là một quá trình: tình yêu kêu gọi tình yêu, tình yêu tìm kiếm tình yêu. Và tình yêu được tình yêu đáp trả mới thật là tình yêu. Con đường tình yêu không phải là tương quan một chiều nhưng là con đường của tình yêu đáp trả tình yêu, ân tình đáp trả những mối ân tình. Đó là cách mà Thiên Chúa dùng để nói với con người về kế hoạch yêu thương của Người. “Thiên Chúa yêu nhân loại đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Người Con thì không phải chết nhưng được sống muôn đời” (x. Ga 3,16).

Con đường mà Thiên Chúa đã dùng để đến với con người là con đường của tình yêu. Trong suốt dòng lịch sử nhân loại, dường như con người chỉ muốn gạt Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình. Điều đó đã dẫn họ đến đau khổ, bất hạnh và tuyệt vọng. Con người vùng vẫy thì họ càng lún sâu trong tội lỗi và cuối cùng đưa họ đến cái chết. Tuy nhiên, không vì thế mà Thiên Chúa bịt tai, che mặt hay làm ngơ trước tiếng kêu rên siết của con người. Người là một vị Thiên Chúa luôn biết lắng nghe. Không những vậy, Chúa còn thấy và thấu cảm được nỗi đau khổ của con người. Như chính Chúa đã phán: “Ta đã thấy cảnh khổ cực của dân ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng kêu than của chúng. Ta biết các nỗi khổ của chúng, nên Ta xuống để giải thoát chúng” (x. Xh 3, 7-10). Điều đó giúp chúng ta nhận ra: Chúa không phải là một vị Thiên Chúa giả điếc làm ngơ, nhưng luôn bận tâm, thao thức cho đời sống con người. Để giải thoát và đưa họ ra khỏi cảnh đau khổ. Trong thời cựu ước Thiên Chúa đã kêu gọi các ngôn sứ đến để làm trung gian và dẫn dắt dân. Chúa đã dùng các ngôn sứ để dạy dỗ, truyền lại cho dân biết con đường để được sống và cứu độ. Con đường đó là lắng nghe và thực thi Lời Người (x. Đnl 6, 4-7). Nhưng vào thời sau hết Thiên Chúa không còn dùng các ngôn sứ để dạy dỗ dân nữa mà qua chính Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô đến để mặc khải tình yêu cứu độ của Chúa Cha cho nhân loại. Chính Người đã nói rằng: “Đây là con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe Lời Người” (x. Mt 3, 17). Con đường cụ thể mà Thiên Chúa đến với con người là Nhập Thể, Thập Giá, Thánh Thể.

Nhập Thể (Máng Cỏ).

Hình ảnh máng cỏ cho thấy nơi Thiên Chúa đã chọn để biểu tình yêu của Ngài dành cho nhân loại. chúng ta có thể nói đó là một tình yêu lớn hơn cả tình yêu của người nam người nữ dành cho nhau. “Thiên Chúa yêu chúng ta đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3, 16). Đứa con mà Ngài hằng quý mến, ấp ủ trong lòng, giờ đây đã ban cho nhân loại. Người cũng chính là Thiên Chúa, nhưng đã huỷ mình ra không, lãnh lấy thân phận tôi đòi (x. Pl 2, 7) và phó mình cho ý Chúa Cha trong công trình cứu chuộc nhân loại, một công trình hiến trọn đời để thi hành (HP 48). Người cũng chính là Ngôi Lời Nhập Thể. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (x. Ga 1, 14). Người đã trở nên một con người bằng xương bằng thịt giống như bất kì người nào trên trái đất ngoài trừ tội lỗi.

Khi chiêm ngắm Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ chúng ta nhận thấy một Thiên Chúa thật nhỏ bé, mỏng manh, yếu đuối. Nhưng Người càng đơn sơ, nhỏ bé bao nhiêu thì tình yêu của Người trao ban càng ta lớn bấy nhiêu. Thiên Chúa yêu nhân loại biết chừng nào. “Vì yêu mà đến như Con Một Ngài cũng chẳng tiếc” ( Rm 8, 32) Không chỉ thế, Thiên Chúa còn thể hiện tình yêu của Ngài bằng cách ở giữa nhân loại. Như thánh Gioan nói: “Thiên Chúa đã sai người con của mình, người con duy nhất, đến trong thế gian, để nhờ người ấy mà nhân loại được cứu độ”. (1 Ga 4, 9). Chúa đã mang lấy tất cả sự nghèo khó của nhân loại. Điều đó cũng nói lên rằng Người không bỏ rơi một ai, dù họ là người tội lỗi, nghèo khổ, thấp bé đến đâu đi nữa. Nhưng một cách nào đó, Chúa đã muốn đồng hoá chính mình Ngài với họ (x. HP 4).

Chiêm ngắm Chúa Giêsu Nhập Thể, các tu sĩ DCCT với tư cách là những thừa sai trong tinh thần tín thác được mời gọi hãy mang lấy sự nghèo khó của Chúa Giêsu Nhập Thể. “Đấng” vốn giàu sang, phú quý, giờ đây lại trở nên nghèo khó vì chung ta. Để nhờ cái nghèo ấy của Người chúng ta được trở nên giàu có (x. HP 61). Khi các tu sĩ DCCT mặc lấy cái nghèo ấy họ trở nên chứng tá sống động của tình yêu cứu độ ở giữa muôn người và ở bất cứ nơi đâu. Họ biểu lộ tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa cho nhân loại và cho con người được biết chính Chúa Giêsu là Đấng mà Chúa Cha sai đến thế gian, hầu giúp mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý (x. Tm 2, 4)

Thập Giá ( Thương Khó)

“Không tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”( Ga 15, 13). Đó là cách Thiên Chúa biểu lộ kế hoạch yêu thương của Người dành cho nhân loại. Chính Chúa Giêsu đã tự nguyện và bước trên con đường phục vụ và hy sinh chính mình cho đến chết ( x. HP 50). Vì yêu mà Chúa đã trở nên con người yếu đuối như chúng ta, vì yêu mà Chúa đã trở nên tôi tớ khiêm tốn phục vụ, vì yêu mà Chúa đã bị coi là một tên nô lệ để người đời khinh bỉ, chà đạp, sỉ vả, đánh đập. Tình yêu lớn lao và trọn vẹn nhất mà Chúa dành cho con người là cái chết đau thương, nát tan, thân xác rã rời trên thập giá. Đáng lẽ nhân loại phải chết trong tội lỗi của mình, nhưng Chúa đã đến và mang lấy tất cả lên thập giá. Chính trên thập giá Người đã đổ máu mình ra, nơi cạnh sườn bị đâm thâu, trái tim Chúa đã mở toang ra để tuôn trào tình yêu và đời sống mới cho nhân loại. Cũng nơi suối nguồn ấy Chúa đã sinh ra nhân loại trong Thần Khí. Khi Người trút hơi thở, đó là giây phút nhân loại được đón nhận ân sủng của Người. Thập giá Đức Kitô là niềm hy vọng cho những ai tin vào Người. Như thánh Phaolo đã quả quyết: “Trông cậy thì không làm cho thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần đã được ban cho chúng ta” (x. Rm 5, 5). Thập giá Chúa như một cái neo vững chắc, không bao giờ lay chuyển. “Ước chi chúng ta chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”(Gl 6, 14).

Thập giá là con đường đau khổ mà chính Thiên Chúa đã chọn và chính Chúa Giêsu đã đi trên con đường ấy để mang ơn cứu độ cho nhân loại. Thiên Chúa dùng Thập giá để cứu độ con người và cho con người đi sâu vào lòng thương xót vô biên của một Thiên Chúa muốn cứu vớt con người tội lỗi chúng ta. Thập giá là nơi chúng ta gặp được sự khôn ngoan của Thiên Chúa, Đấng muốn dạy chúng ta rằng đó là con đường dẫn đến vinh quang. Là chìa khoá diễn tả tình yêu, sự sống và niềm hy vọng của Thiên Chúa trao ban cho con người.

Thiên Chúa đã dùng thập giá mà biểu lộ tình yêu của Ngài dành cho con người. Vì thế, các tu sĩ DCCT cũng được mời gọi hãy bước đi trên con đường ấy mà đáp lại tình yêu của Thiên Chúa, để hiến mình và cho sứ mạng của Đức Kitô. Qua đó họ biểu lộ tình yêu của Người dành cho nhân loại (x. HP 58). Noi gương Đức Kitô, đi trên con đường mà Người đã đi đó là khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục, con đường của hy sinh, phục vụ cho đến chết. Họ được mời gọi tham dự vào sự bỏ mình của Đấng chịu đóng đinh, sự tự do thanh thoát của trái tim Chúa Giêsu cho sự sống trần gian.(x. HP 50, 51).

Thánh Thể (Bàn Thờ)

“Ta ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế”( Mt 28, 20). Đó là lời hứa của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ xưa kia, nhưng lời hứa vẫn tồn tại mãi cho đến ngày tận cùng. Chúa Giêsu đã thực sự hiện diện trong phép Thánh Thể. Như chính Chúa nói: “Ai khát, hãy đến với ta mà uống”( Ga 7, 37). Chính vì yêu con người mà Chúa đã chọn và ở lại trong phép Thánh Thể, để được ở gần với người mình yêu. Tình yêu ấy luôn dạt dào trong trái tim đầy tràn những ơn huệ ngọt ngào của Ngài (Thánh Anphongso). Chính tình yêu đã khiến Chúa trao ban chính mình Ngài. Chúa đã khiêm hạ đến độ trở nên một tấm bánh bé nhỏ. “Đây là mình Thầy hiến tế vì anh em”(Lc 22, 19). Đó là một món quà vô giá mà Chúa Cha đã ban tặng. Món quà ấy đã xuất phát từ tận sâu thẳm cung lòng Chúa Cha, đó cũng chính là trái tim, là tình yêu của Ngài dành cho nhân loại. Trái tim Ngài đã phải tổn thức và ruột gan Ngài đã phải bồi hồi vì chung ta (x. Hs 11, 8). Thánh Gioan cũng đã nói: “Thiên Chúa là tình yêu. Ai yêu mến Thiên Chúa thì kể ấy ở lại nơi Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại nơi Người ấy” (1 Ga 4, 16). Bí tích Thánh Thể là nơi Chúa Giêsu đã thể hiện tình yêu vô hạn của Người cho nhân loại. Nơi tấm bánh đơn sơ Chúa Giêsu đã bẻ mình ra để trao ban sự sống. “Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì có sự sống nơi người ấy. Từ cung lòng của Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước sự sống” (Ga 7, 37-38). Qua đó Chúa không chỉ ở bên, ở cạnh, nhưng đã ở trong chúng ta. Như chúng ta rước đón Người vào trong cuộc đời (x. Rm 10, 8-10). Khi Chúa ngự trong tấm bánh Người không cưỡng lại bất kì ai hay lựa chọn cho mình một đối tượng nào. Nơi tấm bánh ấy Chúa đã chịu bẻ ra và trở nên của ăn cho nhân loại. Nhờ tấm bánh Chúa đã trở nên một với con người. Chính vì thế các tu sĩ DCCT sẽ nhận ra Đức Kitô một cách đặc biệt trong những dấu chỉ của ơn cứu độ. Qua việc họ được nuôi dưỡng và giáo huấn của Tin Mừng đặc biệt là Thánh Thể. Nhờ Thánh Thần, Đấng hoạt động không ngừng làm cho họ nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, và nên một lòng một ý với Người (x. HP 25).

Bí tích Thánh Thể là cách Thiên Chúa chọn để ở lại với con người và tra ban sự sống của Người cho nhân loại. Để ai tin và đón nhận Người thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời. Vì thế các tu sĩ DCCT được mời gọi siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và mặc khải về mầu nhiệm Đức Kitô ở giữa loài người. Từ đó họ khám phá và sống mầu nhiệm Đức Kitô và mầu nhiệm cứu độ. Đặc biệt trong bí tích Thánh Thể họ nhận ra đó là chóp đỉnh và nguồn của toàn bộ đời sống (x. HP 29). Họ còn được mời gọi bước theo Chúa Cứu Thế, để trở nên môn đệ, là thừa sai của niềm hy vọng, loan báo Tin Mừng cho người nghèo, người bị bỏ rơi hơn cả. Vì thế họ phải mặc lấy con người mới và được tạo dựng theo hình của Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại từ cõi chết. (x. HP 41). Biết noi gương Chúa là Đấng đã trở nên tấm bánh bẻ ra để nuôi sống muôn người. Vì vậy mà mỗi tu sĩ cũng mang lấy sứ vụ tráo hiến ấy, luôn là tấm bánh bẻ ra cho muôn người bằng đời sống hy sinh, phục vụ và trở nên mọi sự cho mọi người (x. HP 49). Họ thực sự chia sẻ với mọi người niềm vui Tin Mừng đã mang lại cho cuộc đời họ. Họ trở nên men, muối cho đời và là chứng tá sống động của niềm hy vọng (HP 43).

Cuối cùng, trên những bước đường của tình yêu, ta có thể gặp đủ thứ, có khi đó là gian nan, vất vả, bão tố và điêu đứng trong cuộc sống. Tuy có nhiều bước, nhiều chặng, nhưng đường tình yêu đã có mục đích. Vì thế, ta phải luôn chỗi dậy, phải luôn đi tới, vì ta luôn có một người bạn đồng hành trung tín là chính Chúa Giêsu. Ngài không chỉ mời gọi ta theo Ngài , mà còn mở đường cho ta. Dù đôi khi mọi cánh cửa xem ra con người đã đóng chặt cả, vì tội lỗi, nhưng Ngài luôn chừa cho ta một lối nhỏ. Dù ta mệt mỏi, gánh nặng, vấp ngã, Ngài luôn nâng đỡ, làm lại sức cho ta nữa. Hơn nữa, Ngài chính là con đường, đường của Ngài sẽ dẫn đến sự thật, sự giải thoát và là sự sống đời đời. Như Ngài đã nói: “ Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (x. Ga 14,6).

Giuse K’Huân