ĐỨC MARIA – NGƯỜI NỮ CỦA HY VỌNG

Các tu sĩ DCCT nhận Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc làm gương mẫu và là vị bảo trợ của mình (x. Hp 32). Điều này nói lên rằng những người tu luôn có một niềm cậy trông hy vọng nơi Mẹ Maria trong con đường dâng hiến của mình. Không phải chỉ bây giờ, nhưng từ thời các ngôn sứ đã ngóng trông hy vọng vào một người phụ nữ được tiên báo cưu mang ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho nhân loại. “Này đây người thiếu nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai, và đặt lên là Emmanuel” (Is 7,14). Mẹ đã được Chúa chọn làm Mẹ của Con Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô, trở nên một người nữ được toàn thể nhân loại chờ mong.

Mẹ Maria là người nữ hoàn toàn tin tưởng phó thác nơi Chúa. Vì thế, Mẹ không khi nào ngừng hy vọng nơi Người. Mẹ không biết tương lai ra sao, hậu quả thế nào, nhưng Mẹ vẫn tin tưởng đáp lời “Xin Vâng” trước lời ngỏ của Thiên Chúa qua miệng của thiên sứ. “Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt lên là Giêsu” (Lc 1, 31). Người là Đấng Tối Cao, Đấng là Hy vọng của Israel và mọi dân tộc. Giờ đây, Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, là người nữ đẹp lòng Thiên Chúa và xứng đáng để Con Thiên Chúa ngự vào. Sau đó, Mẹ vội vã lên đường để mang niềm vui cứu độ đến cho gia đình chị họ Elisabet đang mang thai. Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được tràn đầy Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng.(Lc 1, 41) Mẹ mang Chúa đến cho gia đình chị họ để chị có niềm vui của Đấng Cứu Độ bởi ân sủng Thiên Chúa ban cho nhân loại qua Mẹ. Dù Mẹ đang mang thai, mà đường sá còn xa xôi, hiểm trở, Mẹ phải một mình đi đến nhà chị họ. Mẹ không chùn bước trước những cản trở này nhưng vẫn một lòng cậy trông và kiên vững ra đi để chia sẻ Chúa cho gia đình chị họ và cho mọi người. Nhờ đó, ân sủng của Chúa tuôn đổ đầy tràn nơi gia đình chị họ Elisabet. Chúa Thánh Thần hoạt động nơi Mẹ, trao ban Thần Khí cho đứa con trong bụng chị. Không chỉ nơi gia đình chị họ, nhưng cho tất cả những ai Mẹ gặp gỡ, thăm viếng; ân sủng Chúa vẫn tuôn tràn dư đầy cho hết mọi người. Giờ đây, Giáo Hội của Chúa là Giáo Hội của Mẹ, sứ mạng của Chúa đi theo Mẹ suốt cuộc đời. Nơi Mẹ toả ra thứ men, thứ muối của niềm vui và lòng quảng đại cho hết mọi người. Bởi vì, Mẹ cảm nghiệm tình thương và ân sủng của Chúa dành cho Mẹ quá lớn lao.

Khi lạc mất Chúa ba ngày sau khi lên đền Giêrusalem để làm việc thờ phượng, Mẹ đã lo lắng, hoang mang đi tìm Chúa. Nhưng Mẹ không phải là một người phụ nữ của tuyệt vọng, tiêu cực. Mẹ luôn sống trong hy vọng và phó thác vào Thiên Chúa trong khi đi tìm con trẻ Giêsu. Mẹ kiên trì tìm Chúa trong ba ngày nơi họ hàng, người thân, dọc đường. Mẹ còn lặn lội trở lại Giêrusalem để tìm kiếm. Tìm được rồi, Mẹ không trách phạt hay răn đe nhưng ân cần hỏi Chúa: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2, 48). Một người phụ nữ hiền từ, dạy dỗ con bằng một trái tim yêu thương. Mẹ là mẫu gương tuyệt hảo cho các bà mẹ trong việc nuôi dạy con cái theo tinh thần của Chúa.

Trên các chặng đường rao giảng của Chúa, Mẹ luôn đồng hành và ở kề bên Chúa ngay từ những ngày đầu cho đến dưới chân thập giá. Tại tiệc cưới Cana (x. Ga 2, 1), Mẹ cùng Chúa dự tiệc cưới. Nơi đây, Chúa Giêsu thực hiện phép lạ đầu tiên. Mẹ cẩn thận quan sát tình hình bữa tiệc và nhận thấy gia chủ đang gặp khó khăn vì hết rượu. Với nhãn quan của người phụ nữ, Mẹ hiểu tình cảnh đầy lo lắng của gia chủ . Mẹ đã chủ động thổ lộ tâm tình thay cho gia chủ với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2, 3). Mẹ trở nên trung gian giữa người chủ tiệc và khách dự tiệc là Chúa Giêsu, giữa gia nhân và Chúa Giêsu. Chúa đáp lại với Mẹ rằng: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi. Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2, 4). Theo cái nhìn của người đời, câu trả lời của Chúa Giêsu đối với Đức Mẹ tỏ ra sự thờ ơ. Tuy nhiên, trong sâu thẳm, Chúa muốn nói với Mẹ rằng Con mà thực hiện phép lạ này mọi người sẽ nhận biết con là Đấng Cứu Thế, Con sẽ bắt đầu thực hiện ý Chúa Cha ngay bây giờ cho đến chết trên cây thập giá. Mẹ hiểu và đón nhận trong lòng tin tưởng rằng Con của Mẹ sẽ thực hiện. “Người bảo gì các anh cứ việc làm theo” (Ga 2, 5). Lời nhắn nhủ với gia nhân của chủ tiệc. Chính Mẹ đã chắc chắn Chúa sẽ làm nên Mẹ có cơ sở để chỉ dạy cho người khác. Mẹ trở nên cầu nối giữa loài người với Thiên Chúa, là nguồn hy vọng cho những ai đang gặp gian nan khốn khó. Mẹ rao giảng cho mọi người nguồn cứu cánh đích thực và duy nhất nơi Con Mẹ - là Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ trần gian.

Chính nơi biến cố thập giá, Mẹ đi theo Chúa lên tới đồi Gôlgôtha. Mẹ âm thầm dõi theo từng bước chân của Con Mẹ. Mẹ im lặng trước mầu nhiệm Thương Khó của Con Mẹ. Khi phần lớn các môn đệ bỏ trốn, Mẹ vẫn vững vàng không sợ hãi từng bước trên con đường thập giá. Một người phụ nữ không phản bội, và dưới chân thập giá, mẹ đau đớn tột độ: trước cái chết thê thảm của Con Mẹ, sự hấp hối của Chúa là sự hấp hối của người mẹ đồng hành với Con cho tới cùng. Để rồi, trong cơn hấp hối Chúa Giêsu đã để lại di chúc cho Mẹ. Chúa trao phó mỗi người chúng ta trong bàn tay yêu thương của Mẹ: “Thưa bà, đây là con của bà” (Ga 19, 26). Mẹ trở thành người mẹ nâng đỡ cho các môn đệ Chúa Giêsu. Mẹ không trốn tránh mà đón nhận trách nhiệm của Chúa giao phó cho mẹ. Mẹ là Mẹ của các môn đệ Chúa Giêsu đại diện là thánh Gioan Tông Đồ, là Mẹ của chúng con và của toàn nhân loại.

Mẹ Maria là Mẹ của niềm hy vọng, giữa cộng đoàn các môn đệ rất mỏng dòn, yếu đuối: một người chối Chúa, nhiều người đã bỏ chạy mất hút khi Chúa bị bắt đi chịu khổ hình, tất cả sợ hãi không dám lộ diện (x. Cv 1,14). Mẹ hiện diện với Giáo Hội của Chúa ngay từ những ngày đầu vì Mẹ là Mẹ của Giáo Hội. Và giờ đây, Mẹ tiếp tục trở nên men cứu cánh cho chúng con đặc biệt cho các tội nhân. “ Mẹ sáng chói như dấu chỉ của niềm hy vọng vững chắc và niềm an ủi cho dân lữ hành của Thiên Chúa”. Mẹ bảo trợ cho tất cả những ai kiên tâm chạy đến kêu cầu Mẹ trước những thử thách của cuộc sống.

Phanxico Xavie Văn Kính