DẪN NHẬP


(Bấm để nghe)


1. Nhân loại, được Thiên Chúa dựng nên với tất cả vẻ huy hoàng cao quý, hôm nay đang đứng trước một chọn lựa mang tính quyết định: hoặc là xây dựng một Tháp Babel mới, hoặc là kiến tạo một thành đô nơi Thiên Chúa và con người cùng cư ngụ với nhau. Mỗi thế hệ đều lãnh nhận trách nhiệm định hình thời đại của mình, hướng dẫn lịch sử trở thành nơi phẩm giá của mọi con người được bảo vệ, công lý được cổ võ và tình huynh đệ trở nên khả thể. Tuy nhiên, mỗi thời đại cũng mang nguy cơ tạo nên một thế giới bất nhân hơn và bất công hơn. Khi nhân loại đứng trước nguy cơ làm méo mó căn tính đích thực của mình, người Kitô hữu chúng ta hướng mắt lên Thiên Chúa Nhập Thể, bởi chúng ta biết rằng: “chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể mà mầu nhiệm con người mới thực sự được sáng tỏ.”[1] Nơi Đức Giêsu Kitô, nhân tính trong vẻ cao cả của mình trở thành Đường, Sự Thật và Sự Sống, mở ra con đường cho mỗi người chúng ta tiến tới sự viên mãn.

2. Được xây dựng trên Đức Kitô là viên đá sống động, chúng ta cảm nghiệm quyền năng huyền nhiệm của Chúa Thánh Thần, và tin rằng mọi nỗ lực chân thành của con người nhằm cộng tác với Người để làm điều thiện đều sẽ được chúc lành bởi Chúa Cha trên trời, Đấng mà nơi Người chúng ta đặt trọn niềm hy vọng. Vì thế, chúng ta có thể nhiệt thành góp phần vào mọi sáng kiến nhằm xây dựng một thế giới công bằng hơn, đồng thời mời gọi người khác cộng tác để cổ võ sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Chúng ta muốn đối thoại với mọi người nam nữ của thời đại hôm nay, những người cùng chia sẻ với chúng ta các biến cố, thao thức và khát vọng của nhân loại.[2] Cùng với họ, chúng ta tìm kiếm những con đường mới cho công ích và cho việc thăng tiến một đời sống xứng hợp với phẩm giá con người dành cho tất cả mọi người. Thật vậy, sự cởi mở đối thoại là một phần thiết yếu trong ơn gọi của Hội Thánh, bởi vì được thiết lập trong Đức Kitô như “bí tích… của sự hiệp thông với Thiên Chúa và của sự hợp nhất toàn thể nhân loại,”[3] Hội Thánh nhận ra lịch sử là nơi Tin Mừng chất vấn và định hướng kinh nghiệm nhân loại.

3. Trong tinh thần ấy, Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã ban hành Thông điệp Rerum Novarum vào năm 1891, và năm nay chúng ta hân hoan mừng kỷ niệm 135 năm văn kiện này với lòng biết ơn sâu xa. Với thông điệp này, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đã khởi xướng một suy tư về xã hội, kinh tế và chính trị mà ngày nay được gọi là “Học thuyết Xã hội của Hội Thánh.” Khi có người cho rằng Hội Thánh không nên phí sức vào những chuyện thế tục, nhưng chỉ nên tập trung loan báo sự sống đời đời, Đức Lêô XIII đã đáp lại bằng sự thực tế và khôn ngoan rằng việc công bố Tin Mừng không thể bỏ qua đời sống cụ thể của con người.[4] Từ đó đến nay, nhiều thập niên đã trôi qua; Huấn quyền, các mục tử, thần học gia và tín hữu vẫn tiếp tục suy tư về các vấn đề xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng. Hôm nay, Học thuyết Xã hội của Hội Thánh đã trở thành một gia sản khôn ngoan, nơi chúng ta tìm thấy những nguyên tắc suy tư, những tiêu chuẩn phân định và phán đoán, cũng như những định hướng cụ thể cho hành động. Được đặt nền trên Thánh Kinh và Thánh Truyền, đồng thời đối thoại với các ngành khoa học, học thuyết này giúp chúng ta giải thích cách rõ ràng những thách đố của hiện tại và nhận ra những con đường thích hợp để sống chứng tá Kitô giáo cách minh bạch, vui tươi và phục vụ thế giới. Đây không phải là một tập hợp khái niệm bất động, nhưng là một thân thể sống động của chân lý, bảo vệ và giải thích ơn gọi của nhân loại hướng tới một đời sống viên mãn và công chính. Vì thế, tôi cũng muốn góp tiếng nói của mình vào truyền thống sống động ấy, khẩn xin Thần Khí Khôn Ngoan, Đấng hiện diện trong thế gian từ thuở ban đầu (x. Cn 8,22-31), trợ giúp chúng ta.

Những “res novae” của thời đại hôm nay

4. Nếu Đức Lêô XIII đã nói về những “điều mới mẻ” (rerum novarum) của thời đại ngài, thì hôm nay chúng ta không thể chỉ lặp lại giáo huấn sâu sắc ấy cách đơn thuần. Trái lại, chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa ban ơn khôn ngoan để đọc được những chuyển biến lớn lao của thời đại mình, đặc biệt là những tiến bộ công nghệ. Trong những năm gần đây, ngày càng rõ ràng rằng tiến trình số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot học đang biến đổi thế giới chúng ta cách nhanh chóng và sâu rộng. Công nghệ tự nó không phải là một lực lượng đối nghịch với con người. Trái lại, từ khởi đầu lịch sử, công nghệ đã là “một thực tại hết sức nhân bản, gắn liền với quyền tự chủ và tự do của con người.”[5] Qua nhiều thế kỷ, sự phát triển công nghệ đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của nhân loại. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng cho thấy tính mơ hồ của những công cụ có thể gây hại khi không được hướng về điều thiện. Nhưng hôm nay, chúng ta đang đứng trước một hoàn cảnh mới. Quyền lực và tầm ảnh hưởng của các công nghệ mới đang thấm sâu vào chính cơ cấu đời sống hằng ngày, định hình các tiến trình quyết định và tác động mạnh mẽ đến trí tưởng tượng tập thể: “Chưa bao giờ nhân loại có quyền lực lớn lao trên chính mình như hôm nay.”[6] Những công nghệ mới mở ra các chân trời mà chúng ta có thể hình dung nhưng chưa thể tiên liệu hết. Điều này làm cho việc đánh giá tác động tiềm tàng và những hậu quả lâu dài của chúng đối với phẩm giá con người và công ích trở nên phức tạp hơn bao giờ hết.

5. Vì thế, bổn phận của chúng ta hôm nay là đối diện với những thách đố của thời đại bằng tư tưởng sáng suốt và tinh thần trách nhiệm. Cần thiết phải thiết lập những công cụ pháp lý thích hợp để bảo vệ công lý và ngăn chặn những biến dạng do quyền lực công nghệ gây nên. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc ban hành luật lệ. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã cảnh báo, chúng ta phải thực tế tự hỏi: ai đang nắm giữ quyền lực này hôm nay và họ sử dụng nó như thế nào? “Cũng cần nhìn nhận rằng năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kiến thức về ADN của chính chúng ta, cùng nhiều khả năng khác mà chúng ta đã đạt được… đã trao cho những người sở hữu tri thức ấy – đặc biệt là các nguồn lực kinh tế để sử dụng chúng – một quyền thống trị đáng kinh ngạc trên toàn thể nhân loại và thế giới.”[7] Trước đây, Nhà nước phần lớn giữ vai trò định hướng và điều phối sự đổi mới. Nhưng ngày nay, những động lực chính của sự phát triển lại thuộc về các nhóm tư nhân, thường mang tính xuyên quốc gia, với nguồn lực và khả năng can thiệp vượt quá nhiều chính phủ. Vì thế, quyền lực công nghệ mang một chiều kích “tư nhân” chưa từng có, khiến việc phân định, điều hành và hướng dẫn quyền lực ấy về công ích trở nên khó khăn hơn.

6. Chính vì vậy, cần khởi sự một tiến trình phân định chung để nhận ra những cội rễ thiêng liêng và văn hóa của các biến đổi đang diễn ra. Nếu chỉ tập trung vào những tình huống cấp bách, chúng ta có nguy cơ để cho chuỗi khủng hoảng liên tiếp quyết định hướng đi của mình. Chúng ta đang sống trong một giai đoạn chuyển mình mau lẹ, một cuộc “thay đổi thời đại,” trong đó – khi có người tranh giành tương lai của các công nghệ mới, cũng có người dấn thân suy tư về chúng – thì phần lớn nhân loại chỉ đứng nhìn và chờ đợi, hy vọng điều tốt đẹp nhất sẽ xảy ra. Chính vì thế, những câu hỏi thiết yếu đang thôi thúc lương tâm chúng ta và không thể né tránh: Chúng ta đang đi về đâu? Chúng ta muốn hướng đến mục tiêu nào? Với tư cách là một dân tộc và một cộng đồng nhân loại, chúng ta phải chọn con đường nào?

Hai hình ảnh Kinh Thánh

7. Để trả lời những câu hỏi ấy và phân định cách có trách nhiệm trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tôi muốn nhắc lại hai hình ảnh trong Kinh Thánh: việc xây Tháp Babel (x. St 11,1-9) và việc tái thiết tường thành Giêrusalem (x. Nkm 2–6). Câu chuyện Babel trong sách Sáng Thế, xuất hiện ở buổi đầu lịch sử nhân loại, ngay sau gia phả các con cháu ông Nôê. Sau khi định cư tại đồng bằng đất Sinar, con người quyết định xây một thành phố và một ngọn tháp “cao chọc trời” (St 11,4). Vì sợ bị phân tán khắp mặt đất, họ tìm cách bảo đảm cho mình sự ổn định và quyền lực, nhất là để “làm cho mình một danh tiếng.” Đó là một công trình vĩ đại: một ngôn ngữ duy nhất, một công nghệ duy nhất, một hướng đi duy nhất. Nhưng dự án ấy ẩn chứa một nguy cơ sâu xa. Đó là công trình được hình thành mà không quy chiếu về Thiên Chúa, được nâng đỡ bởi một thứ đồng nhất hóa loại bỏ khác biệt và chọn sự đồng dạng thay vì hiệp thông. Khi một thành phố được xây dựng trên lòng kiêu ngạo và ảo tưởng tự mãn, truyền thông sẽ đổ vỡ, ngôn ngữ trở nên hỗn loạn và con người không còn hiểu nhau nữa. Kết quả không phải là hiệp nhất nhưng là phân tán. Babel cho thấy giới hạn của mọi nỗ lực – dù có vẻ huy hoàng đến đâu – nếu phát xuất từ việc tự khẳng định mình, hy sinh phẩm giá con người cho hiệu quả và muốn chạm tới trời cao mà không có phúc lành của Thiên Chúa.

8. Trái lại, sách Nơkhemia mở ra trong bối cảnh đầy mong manh của lịch sử Israel cổ đại. Sau thời lưu đày Babylon, một phần dân chúng trở về Giêrusalem, nhưng thành này vẫn còn đổ nát, tường thành sụp đổ và cổng thành bị thiêu rụi (x. Nkm 1–2). Ông Nơkhemia, một người Do Thái phục vụ vua Ba Tư Artaxerxes, nghe tin về tình trạng tang thương của quê hương tổ tiên. Trước khi hành động, ông ăn chay, cầu nguyện và chuyển cầu cho dân mình. Sau đó, ông xin vua cho trở về Giêrusalem, và khi đến nơi, ông âm thầm khảo sát những phần tường thành bị phá hủy. Ông không áp đặt giải pháp từ trên xuống. Ông quy tụ các gia đình, giao cho mỗi gia đình một đoạn tường để xây lại, lắng nghe những lo âu của họ, phối hợp các nỗ lực và đối diện với mọi chống đối. Trình thuật cho thấy thành phố được tái sinh không phải nhờ sáng kiến của một cá nhân, nhưng nhờ trách nhiệm chung của mọi người: đàn ông, phụ nữ, tư tế, thợ thủ công, gia trưởng và người trẻ đều góp phần. Đây là một công trình đặt Thiên Chúa ở trung tâm, tái thiết các tương quan trước khi xây lại những bức tường bằng đá. Nhờ đó, Giêrusalem xưa tìm lại được một ngôn ngữ chung – không phải ngôn ngữ của sự đồng nhất, nhưng là ngôn ngữ của hiệp thông, tức sự hòa điệu phát sinh khi mỗi người đảm nhận phần việc của mình và nhìn nhận sức mạnh đến từ Chúa.

9. Dưới ánh sáng của hai hình ảnh ấy, Chúa Thánh Thần đang chất vấn chúng ta hôm nay về tương quan giữa con người với công nghệ và cuộc cách mạng số đang diễn ra. Những khám phá khoa học là những nén bạc được trao cho nhân loại để sinh hoa kết quả (x. Mt 25,14-30). Công nghệ có khả năng chữa lành, kết nối, giáo dục và bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta; nhưng nó cũng có thể chia rẽ, loại trừ và tạo nên những hình thức bất công mới. Xét theo nghĩa trừu tượng, công nghệ tự nó không phải là giải pháp cho các vấn đề nhân loại, cũng không tự bản chất là điều xấu. Tuy nhiên, trong thực tế, công nghệ không bao giờ hoàn toàn trung lập, vì nó mang dấu ấn của những người tạo ra, tài trợ, điều hành và sử dụng nó. Do đó, chọn lựa căn bản không phải là “có” hay “không” với công nghệ, nhưng là: xây Babel hay tái thiết Giêrusalem; chọn một quyền lực muốn thống trị trời cao hay chọn một dân tộc cùng nhau cộng tác trước mặt Thiên Chúa để xây dựng lại những bức tường của sự chung sống huynh đệ.

10. Vì thế, chúng ta phải tránh “hội chứng Babel”: thứ ngẫu tượng hóa lợi nhuận khiến người yếu thế bị hy sinh; thứ đồng nhất hóa làm vô hiệu mọi khác biệt; và ảo tưởng rằng chỉ cần một ngôn ngữ duy nhất – kể cả ngôn ngữ kỹ thuật số – là có thể diễn tả tất cả, kể cả mầu nhiệm con người, thành dữ liệu và hiệu năng. Nguy cơ phi nhân hóa – xây dựng một tương lai loại trừ Thiên Chúa và biến tha nhân thành phương tiện – là một cám dỗ vừa xưa vừa mới, hôm nay khoác lên mình dáng vẻ kỹ thuật. Trái lại, chúng ta hãy chọn “con đường Nơkhemia,” con đường nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cùng nhau cộng tác để biến Thành Đô Thiên Chúa thành nơi an toàn cho những người lưu đày trở về. Tái thiết hôm nay nghĩa là nhìn nhận rằng chính từ sự đa dạng của các tiếng nói và viễn tượng – dù đôi khi làm chúng ta nhớ đến sự hỗn loạn của Babel – lại nảy sinh một khả thể tươi sáng. Đó là khả thể cùng nhau xây dựng, biến khác biệt thành nguồn lực, và làm cho việc lắng nghe cùng đối thoại trở thành nền tảng chung để vun trồng công lý và tình huynh đệ. Trong công trình chung ấy, các Kitô hữu khám phá vai trò đặc biệt của mình là hướng mọi hành động về Thiên Chúa, để dưới ánh sáng của Người, sự đa nguyên không tan biến thành hỗn loạn, nhưng nhờ thực hành tính hiệp hành, trở thành không gian nơi nhân loại tìm lại nền tảng vững chắc và cùng đích tối hậu của mình. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan thấy Giêrusalem mới “từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống” (Kh 21,2) như một quà tặng dành cho toàn thể nhân loại. Và thị kiến đầy ân sủng ấy là lời mời gọi chúng ta – những Kitô hữu – cùng nhau làm việc để xây dựng một đời sống cộng đoàn đầy hòa bình, công chính, và xứng hợp với phẩm giá con người giữa những “thành” của thế giới hôm nay.  

11. Xây dựng một thành đô đặt nền trên công ích trước hết đòi hỏi phải xây dựng trên một tương quan vững bền với Thiên Chúa. Điều ấy có nghĩa là nhận ra rằng chân lý về tình yêu của Người mời gọi chúng ta bước vào sự sống “dồi dào” (Ga 10,10) và hiệp thông với Người. Như thánh Augustinô, chúng ta cũng có thể thưa lên: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và lòng chúng con mãi khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”[8] Thật vậy, Thiên Chúa đã khắc ghi nơi lòng con người một khát vọng hạnh phúc bao trùm mọi chiều kích của cuộc sống. Trong cuộc đối thoại với con người thời đại hôm nay, Hội Thánh nhận ra nhu cầu khẩn thiết phải bảo vệ và hướng dẫn khát vọng ấy tới chân lý sâu xa nhất của nó.  

12. Thứ đến, xây dựng cho công ích nghĩa là chấp nhận những giới hạn và yếu đuối của con người mà không xem chúng như một lỗi cần phải loại trừ. Hôm nay, khát vọng đạt tới sự viên mãn của đời sống nhân loại có nguy cơ bị dẫn sai hướng bởi những mục tiêu đầy mê hoặc, chẳng hạn như lời hứa của công nghệ muốn giải thoát con người khỏi mọi yếu đuối, hay những mô hình phúc lợi loại bỏ biết bao dân tộc khỏi tiến trình phát triển. Quá thường xuyên, chúng ta đặt hy vọng nơi những “nâng cấp” vô giới hạn, nơi những kiểu tiến bộ làm gia tăng bất bình đẳng, hay nơi những giải pháp tức thời không thể chữa lành các vết thương của con người. Hậu quả là, trong khi một số người theo đuổi ảo tưởng tự khẳng định vô hạn, thì nhiều người khác lại bị tước mất cả những nhu cầu căn bản nhất. Với tiếng nói vừa kiên quyết vừa khiêm tốn, Hội Thánh nhắc nhở chúng ta rằng sự viên mãn đích thực không đạt được bằng việc loại trừ yếu đuối, nhưng bằng sự phát triển hài hòa. Sự viên mãn ấy được tìm thấy nơi tự do và trách nhiệm gắn kết với nhau trong sự chăm sóc lẫn nhau và tình liên đới chân thành; nơi tiến bộ được đo lường bằng phẩm giá của mỗi người và thiện ích của mọi dân tộc.  

13. Hơn nữa, xây dựng một thế giới trong đó mọi người đều có thể phát triển đòi hỏi trách nhiệm chung và lòng can đảm. Không ai có thể một mình gánh vác những thách đố mà thế giới đang phải đối diện; nhưng cũng không ai quá yếu đến nỗi không thể góp phần của mình, bởi vì “quyền năng được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Mỗi người đều được trao cho một phần bức tường để xây dựng: các nhà khoa học và nghiên cứu, doanh nhân và người lao động, nhà giáo dục và nhà lập pháp, xã hội dân sự, các phong trào quần chúng và các cộng đoàn đức tin. Đây chính là logic của nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), nguyên tắc đề cao sự cộng tác giữa các thế hệ, các dân tộc, các ngành chuyên môn và các nền văn hóa như con đường tốt đẹp nhất để xây dựng ổn định, thịnh vượng và hòa bình. Chúng ta không nên sợ hãi trước những căng thẳng hay khác biệt, bởi chúng có thể trở thành nguồn lực sáng tạo nếu được hướng dẫn bởi trách nhiệm chung.

14. Sau cùng, xây dựng công ích đòi hỏi một ngôn ngữ mang tinh thần Tin Mừng. Chúng ta phải tránh những lời lẽ hạ nhục hay đối kháng, nhưng chọn sự rõ ràng soi sáng và sự chân thành mở ra những khả thể mới. Chúng ta không thể dung túng cho những nhiệt tình ngây thơ, cũng không được nuôi dưỡng những nỗi sợ vô căn cứ. Trái lại, hãy thiết lập những tiêu chuẩn phân định – phẩm giá con người, đích đến phổ quát của của cải, ưu tiên dành cho người nghèo, việc chăm sóc ngôi nhà chung và hòa bình – rồi chuyển hóa các tiêu chuẩn ấy thành những thực hành cụ thể như hoạch định có trách nhiệm, đánh giá tác động nhân bản và xã hội, bao gồm những người dễ bị tổn thương nhất, cổ võ giáo dục kỹ thuật số và hướng dẫn nghiên cứu cũng như kỹ nghệ phục vụ công lý và hòa bình.  

Trung thành với phẩm giá làm người

15. Trong Năm Thánh Thường lệ 2025 vừa qua, chúng ta đã bước đi như những người hành hương của hy vọng và lãnh nhận biết bao hồng ân. Được củng cố bởi những ân huệ ấy, chúng ta có thể tiến bước với lòng tín thác để đối diện với những công việc nặng nề và những thách đố cam go đang chờ đợi phía trước. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, khi phẩm giá con người bị đe dọa bởi những hình thức phi nhân hóa mới, bổn phận khẩn thiết của chúng ta là phải luôn giữ mình thật sự là con người. Chúng ta phải yêu mến gìn giữ vẻ cao quý của nhân tính mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta và đã được mặc khải trọn vẹn nơi Đức Kitô – vẻ huy hoàng mà không một cỗ máy nào có thể thay thế. Tiến bộ đích thực luôn phát sinh từ một trái tim mở ra với tha nhân, một trí tuệ biết lắng nghe và một ý chí tìm kiếm điều hiệp nhất thay vì chia rẽ.  

16. Tôi gửi lời khẩn thiết này đến mọi tín hữu Công giáo, mọi Kitô hữu và tất cả những người thiện chí. Đừng sợ làm bẩn đôi tay mình nơi “công trường” của thời đại hôm nay. Như ông Nơkhemia, chúng ta hãy cầu nguyện, hoạch định cách khôn ngoan và kiên trì lao động, luôn đặt Thiên Chúa ở vị trí ưu tiên trong hành động và đặt con người ở trung tâm mọi chọn lựa. Nhờ đó, những “viên đá bị loại bỏ” – người nghèo, người đau yếu, người di dân và những người bé mọn nhất – sẽ trở thành đá tảng góc tường, và một mái nhà chung vững chắc, đón nhận mọi người, sẽ mọc lên trên mặt đất, nơi “tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hòa bình công lý đã giao duyên” (x. Tv 85,10). Đó là phúc lành chúng ta cầu xin nơi Thiên Chúa; và nhiệm vụ đặt trước mắt chúng ta là trở nên những người xây dựng hiệp thông chứ không phải những kiến trúc sư của Babel. Chúng ta được mời gọi trở thành những người phục vụ Nước Trời đang đến, thay vì làm chủ những ngọn tháp mang định mệnh huỷ hoại. Với trái tim của một mục tử và người cha, tôi mời gọi mọi người từ bỏ việc dựng thêm một Tháp Babel mới và cùng nhau xây dựng công ích, để nhân loại không bao giờ đánh mất vẻ đẹp của mình, và thế giới một lần nữa nhận ra trái tim con người chính là nơi Thiên Chúa muốn ngự trị.  


[1] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 22: AAS 58 (1966), 1042.

[2] Cf. ibid., 11: AAS 58 (1966), 1033-1034.

[3] Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution Lumen Gentium, 1: AAS 57 (1965), 5.

[4] Cf. Leo XIII, Encyclical Letter Rerum Novarum (15 May 1891), 22: ASS 23 (1890-1891), 653.

[5] Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 69: AAS 101 (2009), 702.

[6] Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 104: AAS 107 (2015), 888.

[7] Ibid.

[8] Saint Augustine, Confessions, I, 1, 1: CCSL 27, Turnhout 1981, 1.

[Bản dịch tham khảo - lưu hành nội bộ]