
KẾT LUẬN
229. “Mỗi người hãy cẩn thận xem mình xây dựng thế nào” (1 Cr 3,10). Với những lời ấy, Thánh Phaolô khích lệ các Kitô hữu Côrintô gìn giữ sự hiệp nhất. Anh chị em thân mến, chúng ta đã suy tư về thế giới mà mình đang xây dựng, và đã tự hỏi việc bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo có nghĩa là gì. Kết thúc suy tư này, tôi muốn đề nghị một chương trình sống Kitô hữu vừa tỉnh thức vừa đòi hỏi, nhờ đó chúng ta có thể bước qua cuộc thay đổi mang tính thời đại này dưới ánh sáng Tin Mừng. Con đường ấy mở ra qua việc chiêm ngắm kế hoạch của Thiên Chúa, sống sự hiệp nhất Giáo Hội nhờ tham dự Bí tích Thánh Thể, xây dựng một thế giới đặt nền trên công ích, và cầu nguyện trong sự hiệp thông với Đức Trinh Nữ Maria.
Ngôi Lời đã trở nên xác phàm
230. Thế giới chúng ta đầy dẫy những nỗ lực nhằm chiếm lấy quyền kiểm soát thị trường và các vùng ảnh hưởng, thường được che phủ bằng những lời lẽ trấn an và những ý thức hệ quyến rũ. Tuy nhiên, tâm hồn chúng ta vẫn khát mong một con đường khôn ngoan và nhân hậu, giống như điều Đức Maria ca tụng trong kinh Magnificat, khi Mẹ tuyên xưng rằng lòng thương xót của Thiên Chúa trải dài từ đời nọ đến đời kia cho những ai kính sợ Người.[1] Kế hoạch thương xót ấy vẫn tiếp tục được thực hiện trong lịch sử hôm nay, ngay giữa những biến đổi nhanh chóng và gây xáo trộn do các thuật toán và mạng lưới toàn cầu mang lại; và kế hoạch ấy trở thành chiếc la bàn trong thời đại kỹ thuật số, giúp chúng ta sống theo Tin Mừng.
231. Ở trung tâm của mọi sự là mầu nhiệm Nhập Thể: Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Thân mình của Chúa Con, nghèo khó và dễ bị tổn thương, gợi lên thân mình của biết bao anh chị em bị tước đoạt phẩm giá và bị buộc phải im lặng.[2] Nhờ sự gần gũi của Chúa, ơn bình an đi vào thế giới cách nghịch lý. Bình an ấy đến qua quyền được trở nên con cái Thiên Chúa, và được đánh thức khi chúng ta để mình xúc động trước nước mắt của những người bé nhỏ, sự mong manh của người cao tuổi, sự im lặng của các nạn nhân và cuộc chiến đấu của những ai chống lại sự dữ mà họ không muốn phạm.[3] Nơi thân xác bị thương tích nhưng được yêu thương ấy, Chúa Cha tỏ cho chúng ta thấy nhân tính đích thực của một đời sống được hoàn thành nhờ mở ra và hiệp thông, dẫn chúng ta đến ước muốn cho thánh ý Người được thể hiện dưới đất cũng như trên trời.[4]
232. Trong những hứa hẹn của chủ nghĩa xuyên nhân loại và một số trào lưu hậu nhân loại, vốn tìm kiếm một nhân loại được nâng cấp và gần như không còn thân xác, chúng ta nhận ra một khát vọng đáng quan tâm: nhu cầu về một đời sống viên mãn hơn, ít bị giới hạn và đau khổ hơn. Tuy nhiên, mầu nhiệm Nhập Thể mở ra một con đường khác. Một đàng, các ý thức hệ cũ và mới thúc giục nhân loại vượt qua giới hạn nhờ công nghệ, và vươn lên trên người khác bằng cách khẳng định quyền thống trị. Ngược lại, mầu nhiệm Con Thiên Chúa đi vào thân phận con người hứa ban một điều hoàn toàn khác. Thiên Chúa hằng sống đi vào trong lịch sử chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi mọi hình thức nô lệ.[5] Người mang lấy sự yếu đuối của chúng ta và biến nó thành nơi chốn của ơn cứu độ. Không có khoảnh khắc hay hoàn cảnh nhân sinh nào lại không xứng đáng với Thiên Chúa. “Theo giáo huấn đức tin của chúng ta, trong các mầu nhiệm của mình, chúng ta có và thờ lạy một Thiên Chúa sinh ra trong máng cỏ, một Thiên Chúa sống và bước đi tại Giuđêa, một Thiên Chúa chết trên thập giá, một Thiên Chúa đã chết và nằm trong mồ.”[6] Vì thế, tương lai của nhân loại tìm thấy chuẩn mực của mình nơi khả năng đón nhận cách Thiên Chúa đến gần, chia sẻ gánh nặng của thế giới và biến đổi các tương quan từ bên trong. “Ôi kỳ diệu thay… con người là Thiên Chúa và vị Thiên-Chúa-làm-người ấy đi qua mọi giai đoạn, chịu đựng mọi trạng huống, nâng cao chúng, thánh hóa chúng, thần hóa chúng nơi chính mình!”[7] Điều cứu độ nhân loại chính là tình yêu Thiên Chúa đi xuống tận điểm mong manh nhất của lịch sử chúng ta và canh tân lịch sử ấy từ bên trong.
233. Vì thế, như một tín hữu giữa các tín hữu, tôi mời gọi mọi người chiêm ngắm nơi khuôn mặt Con Thiên Chúa sự cao quý của nhân tính, vốn cũng chiếu sáng trên thời đại AI. Trong Đức Kitô, chúng ta được mời gọi cộng tác vào công trình tạo dựng, thay vì trở thành những người quan sát thờ ơ trước các tiến trình công nghệ đang giới hạn tự do và trách nhiệm của chúng ta.[8] Phẩm giá được Chúa Thánh Thần khắc ghi trong mỗi người chúng ta cũng được tỏ lộ nơi khả năng suy tư phê phán, chọn lựa và yêu thương cách tự do, cũng như xây dựng các tương quan chân thật. Không một hệ thống tính toán nào, dù tinh vi đến đâu, có thể tạo nên một trái tim biết hiến trao, hay một lương tâm biết phân định thiện ác. Ngay cả khi máy móc vượt trội về hiệu quả, khuôn mặt con người đang đòi được nhìn ngắm vẫn là trung tâm của lịch sử. Khuôn mặt con người ấy là sự viên mãn mà lịch sử đang hướng tới. Đó là mầu nhiệm “quy tụ”: niềm xác tín rằng Chúa Cha đã quyết định quy tụ muôn loài trên trời dưới đất về với Đức Kitô, vị Thủ Lãnh duy nhất (x. Ep 1,10). Trong kế hoạch ấy, không điều gì thật sự nhân bản sẽ bị đánh mất. Trái lại, mọi sự sẽ được thanh luyện và quy tụ trong Đấng Duy Nhất, Đấng thu gom mọi mảnh vụn của đời sống, mọi giọt lệ và mọi thành tựu đích thực của con người, cứu chúng khỏi hư vô và trao lại cho Chúa Cha trong tình trạng đã được cứu chuộc.
Một thân mình trong Đức Kitô
234. Linh đạo mà chúng ta cần là linh đạo Thánh Thể, nghĩa là linh đạo của sự hiệp nhất Giáo Hội trong tình yêu. Mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm Vượt Qua mặc khải một Thiên Chúa đi vào thân phận con người và biến đổi thân phận ấy bằng việc tự hiến. Hồng ân ấy vẫn hiện diện và hoạt động trong Bí tích Thánh Thể, nơi Chúa hiến ban chính mình và quy tụ Hội Thánh, để lễ dâng của Người trở thành nguyên lý hiệp nhất và nguồn mạch sự sống mới. Chính từ sự hiệp thông ấy mà tình liên đới Kitô giáo phát sinh, bởi “hiệp nhất với Đức Kitô cũng là hiệp nhất với tất cả những ai Người hiến mình cho họ.”[9] Như Thánh Augustinô đã giải thích cho các tân tòng trong Giáo Hội địa phương của ngài, bánh và rượu trên bàn thờ là bí tích của sự hiệp nhất các tín hữu trong Đức Kitô: “Điều được thấy chỉ là hình dạng hữu hình; điều được nắm bắt mang lại hoa trái thiêng liêng. Vậy giờ đây, nếu anh em muốn hiểu mình thánh Đức Kitô, hãy nghe Tông đồ Phaolô nói với các tín hữu: tất cả anh em là thân mình Đức Kitô (1 Cr 12,27). Nếu anh em là thân mình và là chi thể của Đức Kitô, thì chính bí tích của anh em được đặt trên bàn của Chúa; chính bí tích của anh em mà anh em lãnh nhận. Anh em đáp ‘Amen,’ và khi đáp như thế, anh em ưng thuận điều ấy. Vì anh em nghe lời: ‘Mình Thánh Chúa Kitô’ và đáp ‘Amen.’ Vậy hãy là chi thể của Thân Mình Đức Kitô, để lời Amen của anh em được chân thật!”[10]
235. Lời “Amen” chúng ta thưa trong phụng vụ, Mình Thánh chúng ta ăn và Máu Thánh chúng ta uống, định hình toàn bộ đời sống chúng ta. Bí tích Thánh Thể “là một cuộc gặp gỡ hết sức cá vị với Chúa, nhưng không bao giờ chỉ đơn thuần là một hành vi đạo đức cá nhân.”[11] Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta thấy được cách hữu hình thực tại rằng chúng ta “là Hội Thánh của Đức Kitô, là các chi thể của Người, là thân mình của Người. Chúng ta là anh chị em trong Người. Và trong Đức Kitô, dù đông đảo và khác biệt, chúng ta vẫn là một: In Illo uno unum.”[12] Bí tích Thánh Thể mở chúng ta ra với công lý và sự chia sẻ, với mối quan tâm ưu tiên dành cho những ai bị đè nặng bởi nghèo đói hay bị gạt ra bên lề. Và trong khi các mạng lưới kinh tế và công nghệ mới có thể tạo ra loại trừ, cô lập và lệ thuộc, Hội Thánh - được nuôi dưỡng bởi Bí tích Thánh Thể - được mời gọi làm cho một mô hình khác trở nên hữu hình: mô hình gìn giữ các mối dây nhân bản, trao tiếng nói cho những người vô hình và bảo đảm rằng các tiến trình luôn hướng đến việc tôn trọng phẩm giá con người.
Công trường của thời đại chúng ta
236. Linh đạo mà tôi muốn giới thiệu là linh đạo của “người kiến trúc sư khôn ngoan,” người được thúc đẩy bởi niềm hy vọng vào Nước Thiên Chúa và dấn thân xây dựng thế giới vì công ích (x. 1 Cr 3,10). Như tôi đã nói ở đầu suy tư này,[13] nhiệm vụ xây dựng trong thời đại chúng ta phải đặt tương quan với Thiên Chúa ở trung tâm. Quy luật của chúng ta phải là đón nhận các giới hạn của con người như một thực tại tự nhiên và tích cực, đồng thời phải được đánh dấu bởi trách nhiệm chung và một ngôn ngữ thấm nhuần Tin Mừng. Kết thúc suy tư này, kế hoạch xây dựng nền văn minh tình thương hiện ra rõ ràng hơn, và công trường ấy dường như đã bắt đầu hoạt động, đặc biệt nhờ rất nhiều viên đá sống động được kết hợp vững chắc với Đức Kitô, viên đá góc tường (x. 1 Pr 2,4-6). Trong nhiệm vụ này, chúng ta được mời gọi đảm nhận một vai trò tích cực, không ẩn náu trong thứ tình cảm thiêng liêng mơ hồ hay rút lui vào những thế giới nhỏ bé riêng mình. Chúng ta phải trung thành với chân lý, đầu tư vào giáo dục, vun trồng các tương quan, yêu mến công lý và hòa bình.
237. Chúng ta hãy trung thành với chân lý! Sống giữa những dòng chảy không ngừng của thông tin, ý kiến và hình ảnh, chúng ta biết thật dễ dàng để các quyết định và sở thích bị ảnh hưởng bởi những thuật toán ngày càng tinh vi.[14] Trong bối cảnh ấy, điều khẩn thiết là đào luyện những trái tim biết yêu mến chân lý, biết chọn điều đúng dù nội dung hấp dẫn nhất lôi cuốn, và tìm kiếm sự khôn ngoan hơn là những kết quả tức thời. Chúng ta phải luôn đặt trước mắt mình chân lý về Thiên Chúa và về con người, như Đức Kitô đã mặc khải cho chúng ta. Chúng ta phải gạt bỏ cái nhìn cá nhân chủ nghĩa và kỹ thuật về nhân loại, như thể thực tại chỉ là vật chất để được uốn nắn theo các lợi ích ích kỷ, dù là cá nhân hay tập thể.[15] Thay vào đó, chúng ta hãy vun trồng điều Đức Thánh Cha Phanxicô gọi là “chủ nghĩa nhân tâm đặt trong bối cảnh,”[16] nghĩa là nhìn nhận con người như một thụ tạo được đặt trong mạng lưới tương quan với các sinh vật khác và với toàn thể công trình tạo dựng. Trung thành với chân lý đòi hỏi phải hội nhập các khả năng do công nghệ mang lại vào một khuôn khổ của sự khôn ngoan, có khả năng bảo vệ phẩm giá của mỗi người và tương lai của ngôi nhà chung.
238. Chúng ta hãy đầu tư vào giáo dục, bắt đầu từ chính mình! Tất cả chúng ta cần học biết cách tương tác với thế giới kỹ thuật số theo một cách nhân bản, như một phần không thể thiếu của việc giáo dục đức tin và đời sống theo Tin Mừng. Thật vậy, chúng ta phải xem thế giới kỹ thuật số như một lục địa mới cần được loan báo Tin Mừng, một lục địa cần đến những nhà truyền giáo quảng đại và trưởng thành trong đức tin. Cách đặc biệt, chúng ta cần những người trưởng thành tái khám phá ơn gọi của mình như những nghệ nhân giáo dục, sẵn sàng làm việc kiên nhẫn mỗi ngày với sự nâng đỡ của những liên minh giáo dục rộng lớn và được chia sẻ. Ngày nay, đồng hành với trẻ em và người trẻ trong việc sử dụng công nghệ để phát triển các tương quan có trách nhiệm, giúp họ nhận ra các nguy cơ và chọn điều nuôi dưỡng tự do nội tâm, là một hình thức bác ái cụ thể và sẽ bảo vệ phẩm giá của họ. Dạy cho các thế hệ mới biết rằng tiến hóa công nghệ không đi theo một lộ trình đã được định sẵn, nhưng có thể được hướng dẫn bởi trách nhiệm cá nhân và tập thể, chính là một trong những phục vụ quý giá nhất dành cho công ích.
239. Chúng ta hãy vun trồng các tương quan! Trong một thời đại đề cao tốc độ và sự phân mảnh, con người vẫn khao khát được chăm sóc và được nhìn nhận bởi những tâm trí biết lưu tâm, những lời nói nhân hậu và những đôi tay có khả năng dịu dàng. Văn hóa kỹ thuật số nhân lên các kết nối và mở ra những cơ hội mới cho tương tác; tuy nhiên, trái tim con người vẫn giữ một nhu cầu không thể hủy bỏ về sự gần gũi đích thực. Tôi mời gọi mọi người trân quý những nơi chốn và thời gian mà sự hiện diện thể lý vẫn mang tính quyết định, như các bữa ăn chung, các buổi gặp gỡ cộng đoàn Kitô hữu, thời gian dành cho người cô đơn và việc phục vụ người nghèo. Đó là những dấu chỉ của một nhân loại vẫn tin rằng thân xác của mỗi con người là nơi Thiên Chúa cư ngụ và là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Chính giao ước giữa vinh quang và mong manh ấy trở thành tiêu chuẩn để đánh giá các mô hình nhân học do văn hóa đương đại đưa ra.
240. Chúng ta hãy yêu mến công lý và hòa bình! Những công nghệ giúp truyền thông và tiếp cận tài nguyên dễ dàng hơn cũng có thể hậu thuẫn các mô hình khai thác những người dễ bị tổn thương nhất, tạo ra những hình thức nô lệ mới và thu lợi từ xung đột. Mỗi quyết định kỹ thuật hay kinh tế phải bao hàm sự phân định thiêng liêng và trở thành cơ hội để đánh giá xem các tiến bộ trong AI có đang cổ võ công lý và sự tham gia, hay đang tập trung của cải và quyền lực vào tay một thiểu số. Tôi khuyến khích việc xem xét cẩn trọng các chuỗi cung ứng của sản xuất kỹ thuật số, các điều kiện lao động bị che giấu đằng sau những thiết bị của chúng ta, và các cơ chế thu lợi từ thao túng và chiến tranh. Đồng thời, cần tìm ra những con đường thực tiễn để cổ võ công bằng, sự tham gia và chăm sóc công trình tạo dựng. Chúng ta công bố một niềm hy vọng bắt nguồn nơi Đấng đã từ trời xuống để “tạo nên một câu chuyện mới ở dưới trần.” Vì thế, những người tin được mời gọi dấn thân để một công lý cao cả hơn thay thế bất bình đẳng, và để kỹ nghệ chiến tranh được thay bằng nghệ thuật kiến tạo hòa bình.[17]
241. Khi nhìn về tương lai, tôi muốn nhắc lại hình ảnh Nơkhêmia, người mà chúng ta đã chọn làm bạn đồng hành và người hướng dẫn ngay từ đầu. Nơkhêmia đã nghe tiếng kêu của một thành phố bị tàn phá, mang nỗi đau ấy vào lời cầu nguyện, phân định trước mặt Thiên Chúa, xin sự trợ giúp, được phép trở về, tổ chức công việc, đối diện với sự chống đối bên trong lẫn bên ngoài, và tái thiết tường thành Giêrusalem với sự trợ giúp của dân chúng, từng viên gạch một. Trong thời đại chuyển đổi kỹ thuật số này, tôi thấy nơi ông một dụ ngôn rất sống động về ơn gọi của chúng ta: không phải là những khán giả thụ động trước những rạn nứt xã hội và văn hóa, cũng không chỉ là những người bình luận về điều đang sụp đổ, nhưng là những người nam nữ sẵn sàng bước vào các công trường của lịch sử - các phòng thí nghiệm nghiên cứu, các công ty công nghệ, trường học, truyền thông, các định chế và cộng đồng địa phương - để tái thiết điều đã sụp đổ và bảo vệ điều đang bị đe dọa. Như Nơkhêmia, chúng ta cũng được mời gọi kết hợp lắng nghe với can đảm, cầu nguyện với trách nhiệm, để ngay cả khi não trạng kỹ trị hay các lợi ích phe phái dường như thắng thế, thành trì nhân loại vẫn có thể trở thành một nơi đáng sống hơn.
242. Hình ảnh tái thiết Giêrusalem gợi lên lời hứa Tân Ước về thành thánh, trước hết được ban cho chúng ta như một hồng ân. Trong Sách Khải Huyền, Giêrusalem mới từ trời xuống như quà tặng dành cho toàn thể Dân Thiên Chúa, “sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang” (Kh 21,2). Các tường thành Giêrusalem không còn là những công sự phòng vệ, nhưng là những trang sức quý giá của Hiền Thê của Con Chiên. Các cổng thành, mà Nơkhêmia đã chăm sóc cách cần mẫn, nay luôn rộng mở cho mọi dân tộc. Sự hiện diện của Thiên Chúa đem lại ánh sáng và sự sống cho mọi người. Thành ấy là một Êđen mới, với dòng nước hằng sống được ban cho người khát, và cây sự sống có lá “dùng để chữa lành các dân tộc” (Kh 22,2). Khi chờ đợi sự viên mãn của thành ấy, thị kiến này được đặt trước mắt chúng ta như một lời khích lệ - một lời mời gọi vượt qua chia rẽ và cùng nhau làm việc - bởi đó là con đường của Đức Giêsu Kitô, hôm qua, hôm nay và mãi mãi.
Bài ca hy vọng: Kinh Magnificat
243. Sau khi đã suy tư về đức tin, vốn chiêm ngắm kế hoạch yêu thương của Chúa Cha; về đức ái, vốn hiệp nhất chúng ta trong một thân mình Giáo Hội; và về đức cậy, vốn nâng đỡ các hành động của chúng ta trong thế giới, trụ cột thứ tư của chương trình sống Kitô hữu này là cầu nguyện. Bài ca của Đức Maria đồng hành với sự dấn thân của chúng ta. Trước bà Êlisabét, người công bố rằng Mẹ đã trở thành Mẹ của Chúa, Đức Maria cất lên bài ca ngợi khen và vui mừng. Linh hồn Mẹ ngợi khen Đức Chúa, và thần trí Mẹ hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ của Mẹ, vì Người đã chọn một thiếu nữ trẻ trung, nghèo khó và khiêm hạ cho kế hoạch cứu độ của Người. Bỗng nhiên, Đức Maria nhìn thấy toàn bộ lịch sử dưới ánh sáng của mặc khải này. Không có gì thay đổi quanh Mẹ; hoàn cảnh xã hội - chính trị thời Mẹ vẫn như cũ. Người Rôma vẫn kiểm soát quê hương Mẹ, và dân Mẹ vẫn bị khuất phục và sỉ nhục. Tuy nhiên, mọi sự đã thay đổi bên trong Mẹ, và điều ấy cho phép Mẹ thấy điều vô hình. Thiên Chúa đã biểu dương sức mạnh cánh tay Người; Người đã phân tán những kẻ kiêu căng, hạ bệ những người quyền thế, nâng cao những kẻ khiêm nhường, ban đầy dư cho người đói khát và để người giàu có trở về tay trắng. Người đã độ trì Israel, tôi tớ của Người. Thiên Chúa “đứng về phía những người thấp bé. Kế hoạch của Người thường ẩn giấu bên dưới bối cảnh mơ hồ của các biến cố nhân loại, nơi ‘những kẻ kiêu căng, quyền thế và giàu có’ xem ra đang chiến thắng. Tuy nhiên, sức mạnh âm thầm của Người cuối cùng sẽ được tỏ lộ.”[18]
244. Đức Trinh Nữ Maria không chỉ dạy chúng ta nhận ra công trình vô hình của Thiên Chúa, nhưng còn hướng cái nhìn của chúng ta đến “những điểm nơi nhân loại bị đổ vỡ và thế giới bị méo mó: sự đối nghịch giữa người khiêm nhường và kẻ quyền thế, người nghèo và người giàu, người no đủ và người đói khát,” dạy chúng ta “nhìn thế giới từ vị trí thấp bé: qua đôi mắt của những người đau khổ chứ không phải những kẻ quyền lực; nhìn lịch sử bằng đôi mắt của những người bé mọn, chứ không phải từ quan điểm của những người mạnh thế; giải thích các biến cố lịch sử từ góc nhìn của người góa phụ, trẻ mồ côi, khách lạ, trẻ em bị thương tích, người lưu đày và người phải trốn chạy.”[19] Như thế, Đức Trinh Nữ trở thành “thi sĩ và nữ ngôn sứ của Ơn Cứu Chuộc,” bởi trên môi Mẹ vang lên “bài thánh ca mạnh mẽ và đổi mới nhất từng được cất lên, kinh Magnificat; chính Mẹ mặc khải viễn tượng biến đổi của nền kinh tế Kitô giáo, hoa trái lịch sử và xã hội vẫn tiếp tục bắt nguồn và nhận sức mạnh từ Kitô giáo.”[20]
245. Với cùng một đức tin như Đức Maria, chúng ta hãy trở nên “những người dệt nên hy vọng” trong thế giới của mình, biết chia sẻ điều ta là và điều ta có, để sự hiện diện của Chúa Giêsu lớn lên giữa chúng ta và Nước Trời được thành hình. Trong sự trung tín khiêm nhường của đời sống hằng ngày, ngay cả thời đại AI cũng có thể trở thành một thời điểm trong đó Chúa Thánh Thần làm phát sinh nền văn minh tình thương trong đời sống chúng ta. Thật vậy, Chúa vẫn tiếp tục làm cho mọi sự nên mới và ban cho mỗi thời đại khả năng trở thành một phần của lịch sử cứu độ dưới ánh sáng mầu nhiệm Nhập Thể. Tôi phó thác ước muốn của chúng ta cho Mẹ Đức Kitô, Người Nữ của kinh Magnificat, xin Mẹ hướng dẫn bước chân chúng ta trong thời kỳ biến đổi này và gìn giữ nơi mỗi người chúng ta đức tin chân thật vào Tin Mừng, để chúng ta làm chứng cho sự cao quý của nhân tính, mà Thiên Chúa đã chọn làm nơi cư ngụ.
Ban hành tại Rôma, bên Đền thờ Thánh Phêrô, ngày 15 tháng 5 năm 2026, năm thứ hai triều đại Giáo hoàng của tôi.
Giáo Hoàng Lêô XIV
______________
[1] Cf. Homily at First Vespers on the Solemnity of Mary the Most Holy Mother of God (31 December 2025): L’Osservatore Romano, 2 January 2026, 1-2.
[2] Cf. Homily of the Mass during the Day (25 December 2025): L’Osservatore Romano, 27 December 2025, 3.
[4] Cf. Angelus on the Solemnity of the Epiphany (6 January 2026): L’Osservatore Romano, 7 January 2026, 3.
[5] Cf. Homily of the Mass during the Night (24 December 2025): L’Osservatore Romano, 27 December 2025, 2.
[6] P. de Bérulle, Discours de l’état et des grandeurs de Jésus, Discours IV, Unité de Dieu en l’incarnation: Œuvres complètes, Paris 1856, col. 218.
[7] Ibid .
[9] Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est (25 December 2005), 14: AAS 98 (2006), 228.
[10] Saint Augustine, Sermons, 272: In die Pentecostes ad infantes de sacramento: PL 38, Paris 1865, col. 1247.
[11] Benedict XVI, Homily at the Mass of the Lord’s Supper (21 April 2011): AAS 103 (2011), 321.
[12] Address to the Roma Curia for the Exchange of Christmas Greetings (22 December 2025): L’Osservatore Romano, 22 December 2025, 6-7.
[13] Cf. above, nos. 11-14.
[14] Cf. Address to the Conference “The Dignity of Children and Adolescents in the Age of Artificial Intelligence” (13 November 2025): L’Osservatore Romano, 13 November 2025, 3.
[15] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 34: AAS 101 (2009), 668-670.
[16] Francis, Apostolic Exhortation Laudate Deum (4 October 2023), 67: AAS 115 (2023), 1059.
[17] Cf. Angelus on the Solemnity of the Epiphany (6 January 2026): L’Osservatore Romano, 7 January 2026, 3.
[18] Benedict XVI, General Audience (15 February 2006): L’Osservatore Romano, 16 February 2006, 4.
[19]Meditation on the occasion of the Prayer Vigil and Rosary for Peace (11 October 2025): L’Osservatore Romano, 13 October 2025, 2.
[20] Saint Paul VI, Homily at the Marian Shrine of Our Lady of Bonaria, (24 April 1970): AAS 62 (1970), 301.

