Lời giới thiệu

Ngày 25 tháng 5 năm 2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã công bố thông điệp đầu tiên của ngài mang tựa đề Magnifica humanitasNhân loại kỳ diệu. Văn kiện được ban hành trong bối cảnh nhân loại đang bước vào một kỷ nguyên mới của trí tuệ nhân tạo (AI), nơi những tiến bộ công nghệ vừa mở ra nhiều cơ hội lớn lao, vừa đặt ra những vấn nạn sâu xa về phẩm giá con người, tự do, công bằng và hòa bình.

Trong thông điệp này, Đức Thánh Cha khẳng định rằng con người phải luôn giữ vị trí trung tâm của mọi tiến bộ kỹ thuật. Công nghệ tự nó không phải là điều xấu; trái lại, AI có thể mang lại nhiều lợi ích cho y học, giáo dục, nghiên cứu khoa học và sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, khi công nghệ bị chi phối bởi quyền lực, lợi nhuận hoặc những tham vọng thống trị, nó có nguy cơ làm suy giảm nhân tính, gia tăng bất bình đẳng và biến con người thành đối tượng bị khai thác.

Từ nền tảng của Học thuyết xã hội Công giáo, Đức Lêô XIV tiếp nối đường hướng của thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII để đối diện với cuộc “cách mạng công nghiệp kỹ thuật số” hôm nay. Ngài đặc biệt nhấn mạnh đến việc bảo vệ phẩm giá người lao động, chống lại các hình thức bóc lột mới do tự động hóa và AI gây ra, đồng thời kêu gọi xây dựng một nền kinh tế đặt con người lên trên lợi nhuận.

Thông điệp cũng đặt ra những vấn đề luân lý và thiêng liêng nền tảng của thời đại kỹ thuật số: chân lý, lương tâm, tự do, khả năng tương quan và ý nghĩa đích thực của nhân tính. Đức Thánh Cha cảnh báo trước nguy cơ sử dụng AI trong chiến tranh, giám sát xã hội và các hệ thống phi nhân hóa, nơi con người bị tách khỏi trách nhiệm đạo đức đối với bạo lực và sự dữ.

Vì thế, Đức Lêô XIV tha thiết kêu gọi cộng đồng quốc tế thiết lập những quy chuẩn đạo đức chung cho việc phát triển và sử dụng AI, nhằm bảo vệ nhân quyền, công ích, hòa bình và sự thật. Theo ngài, tiến bộ công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi phục vụ con người và giúp con người sống xứng đáng hơn với phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban tặng.

Thông điệp Magnifica humanitas nhắc nhớ rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa; vì thế, họ không bao giờ được phép trở thành nô lệ của máy móc, các hệ thống kinh tế hay quyền lực công nghệ. Trái lại, mọi tiến bộ phải hướng đến việc xây dựng một nền văn minh nhân bản hơn, huynh đệ hơn và thấm đẫm Tin Mừng hơn.

Sau đây là bản chuyển ngữ tiếng Việt do linh mục Antôn Trần Xuân Sang, S.V.D. thực hiện từ bản Tây Ban Nha:


THÔNG ĐIỆP

MAGNIFICA HUMANITAS
CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
VỀ VIỆC GÌN GIỮ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO



DẪN NHẬP

1. "MAGNIFICA HUMANITAS - NHÂN LOẠI KỲ DIỆU" mà Thiên Chúa đã tạo dựng hôm nay đang đứng trước một chọn lựa mang tính quyết định: dựng nên một tháp Babel mới, hoặc xây dựng một thành đô nơi Thiên Chúa và con người cùng cư ngụ với nhau. Mỗi thế hệ đều lãnh nhận như một gia sản nhiệm vụ phải định hình thời đại của mình: làm cho lịch sử trưởng thành như một không gian trong đó phẩm giá của mỗi con người được bảo vệ, công lý được thăng tiến và tình huynh đệ trở nên khả thể. Tuy nhiên, trong mọi thời đại luôn tiềm ẩn nguy cơ xây dựng một thế giới phi nhân và bất công hơn. Chính ở nơi mà nhân loại có nguy cơ đánh mất khuôn mặt của mình, chúng ta, những Kitô hữu, lại hướng mắt nhìn lên Thiên Chúa đã trở nên xác phàm, với xác tín rằng: «mầu nhiệm con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể».[1] Nơi Đức Giêsu Kitô, “nhân loại kỳ diệu” ấy tìm thấy con đường, sự thật và sự sống, đồng thời mở ra cho mỗi người chúng ta lối đi dẫn tới sự viên mãn.

2. Được xây dựng trên nền tảng là Đức Kitô, viên đá sống động, chúng ta cảm nghiệm được hoạt động quyền năng và huyền nhiệm của Chúa Thánh Thần, đồng thời tin tưởng rằng mọi nỗ lực chân chính của con người nhằm cộng tác với Người để thực thi điều thiện hảo đều sẽ được Chúa Cha trên trời chúc lành, Đấng nơi Người chúng ta đặt trọn niềm hy vọng. Chính vì thế, chúng ta có thể dấn thân cách kiên vững vào mọi sáng kiến góp phần xây dựng một thế giới công bằng hơn, đồng thời mời gọi người khác cùng cộng tác với chúng ta trong việc thăng tiến sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Chúng ta mong muốn bước vào cuộc đối thoại với tất cả những con người nam nữ của thời đại hôm nay, những người cùng chia sẻ với chúng ta các biến cố, thao thức và khát vọng của nhân loại. [2] Cùng với họ, chúng ta muốn khám phá những con đường mới hướng tới công ích và việc thăng tiến một đời sống xứng hợp với phẩm giá con người cho tất cả mọi người. Thái độ đối thoại ấy là một phần cấu thành căn tính và ơn gọi của Giáo Hội, bởi lẽ Giáo Hội, được thiết lập «trong Đức Kitô như một bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại», [3] nhận ra nơi dòng lịch sử chính là không gian mà Tin Mừng không ngừng chất vấn và đồng hành với kinh nghiệm nhân loại.

3.Trong tinh thần ấy, vào năm 1891, Đức Lêô XIII đã công bố Thông điệp Rerum novarum, văn kiện mà năm nay chúng ta long trọng kỷ niệm 135 năm ban hành với tâm tình tri ân sâu xa. Qua văn kiện này, vị Tiền nhiệm đáng kính của tôi đã khởi xướng sự suy tư về xã hội, kinh tế và chính trị mà ngày nay chúng ta gọi là “Học thuyết Xã hội của Giáo Hội”. Và khi có người phản đối rằng Giáo Hội không nên lãng phí năng lực vào những vấn đề trần thế, nhưng chỉ nên quan tâm đến việc loan báo sứ điệp sự sống đời đời, ngài đã đáp lại với tất cả sự thực tế và khôn ngoan rằng việc loan báo Tin Mừng không thể quên đi đời sống cụ thể của các dân tộc. [4]  Kể từ đó đến nay đã trải qua nhiều thập niên, và Huấn quyền, các mục tử, các nhà thần học cũng như các tín hữu tiếp tục suy tư về những vấn đề xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng. Ngày nay, Học thuyết Xã hội của Giáo Hội đã trở thành một gia sản khôn ngoan phong phú, trong đó chúng ta tìm thấy những nguyên tắc để suy tư, những tiêu chuẩn để phân định và phán đoán, cũng như những định hướng cụ thể cho hành động. Học thuyết ấy được đặt nền trên Kinh Thánh và Thánh Truyền, đồng thời trong cuộc đối thoại với các ngành khoa học, giúp chúng ta đọc được cách sáng suốt những thách đố của thời đại hôm nay, để nhận ra những con đường thích hợp nhằm sống chứng tá Kitô giáo cách tinh tuyền, trong niềm vui và phục vụ thế giới. Đó không phải là một tập hợp tĩnh tại của các khái niệm, nhưng là một kho tàng sống động của chân lý, gìn giữ và diễn giải ơn gọi của nhân loại hướng tới một đời sống viên mãn và công chính. Vì thế, tôi cũng muốn góp thêm tiếng nói của mình vào truyền thống sống động ấy, đồng thời khẩn cầu sự trợ giúp của Thần Khí Khôn Ngoan, Đấng hiện diện trong thế giới ngay từ thuở tạo thành (x. Cn 8,22-31).

Những “thực tại mới” (res novae) của thời đại chúng ta

4. Nếu trước đây Đức Lêô XIII nói đến những “sự việc mới” (rerum novarum), thì hôm nay chúng ta không thể chỉ đơn thuần lặp lại những giáo huấn quý giá của ngài, nhưng còn phải cầu xin Thiên Chúa ban cho sự khôn ngoan để giải thích những xu hướng lớn của thời đại, đặc biệt là các tiến bộ của kỹ thuật. Trong những năm gần đây, ngày càng trở nên rõ ràng rằng tốc độ và chiều sâu của quá trình số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot học đang biến đổi thế giới chúng ta như thế nào. Kỹ thuật tự bản chất không phải là một sức mạnh đối kháng với con người; trái lại, nó bén rễ trong chính lịch sử của chúng ta ngay từ thuở ban đầu, bởi lẽ đó là “một thực tại mang tính nhân linh sâu xa, gắn liền với tính tự chủ và tự do của con người.” [5] Suốt nhiều thế kỷ, sự phát triển công nghệ đã góp phần cải thiện đáng kể các điều kiện sống của nhân loại; tuy nhiên, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng đồng thời cho thấy mặt nước đôi của những công cụ có thể gây tổn hại khi không được định hướng về điều thiện. Nhưng hôm nay chúng ta đang đứng trước một hoàn cảnh mới, trong đó quyền lực và sự hiện diện khắp nơi của các công nghệ mới nổi đang đan xen vào chính kết cấu của đời sống thường nhật, định hình các tiến trình đưa ra quyết định và tác động sâu xa lên trí tưởng tượng tập thể: “Chưa bao giờ nhân loại có nhiều quyền lực trên chính mình đến thế.” [6] Các công nghệ mới mở ra một chân trời trải rộng theo những hướng mà dù có thể phần nào linh cảm, chúng ta vẫn chưa thể tiên liệu trọn vẹn. Điều đó làm cho việc đánh giá tác động và những hệ quả dài hạn của chúng trên phẩm giá con người và công ích trở nên phức tạp hơn.

5. Giờ đây, chúng ta được mời gọi đảm nhận các thách đố của thời đại mình với sự sáng suốt và tinh thần trách nhiệm. Cần phải thiết lập những công cụ quy phạm thích hợp, có khả năng bảo vệ công lý và hạn chế những tác động méo mó của quyền lực công nghệ. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc điều tiết. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã cảnh báo, chúng ta phải thực tế đặt câu hỏi: ngày nay ai đang nắm giữ quyền lực ấy và họ hướng nó tới những mục đích nào? “Chúng ta không thể làm ngơ trước thực tế rằng năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, tin học, sự hiểu biết về chính ADN của chúng ta và những khả năng khác mà chúng ta đã đạt được […] trao cho những ai sở hữu tri thức ấy, và nhất là quyền lực kinh tế để khai thác nó, một sự thống trị đầy kinh ngạc trên toàn thể nhân loại và cả thế giới.” [7] Trước đây, các quốc gia chủ yếu là những chủ thể thúc đẩy và định hướng đổi mới. Ngày nay, trái lại, các động lực chính của sự phát triển lại là những tác nhân tư nhân, thường mang tính xuyên quốc gia, được trang bị nguồn lực và khả năng hành động vượt trội hơn nhiều chính phủ. Vì thế, quyền lực công nghệ mang lấy một diện mạo chưa từng có, chủ yếu mang tính “tư nhân”, và do đó càng khó phân định, quản trị và định hướng về công ích hơn nữa.

6. Vì lý do đó, cần phải khởi sự một tiến trình phân định chung, có khả năng đào sâu những căn nguyên thiêng liêng và văn hóa của các biến đổi đang diễn ra. Nếu chúng ta chỉ dừng lại ở những hoàn cảnh nhất thời, chúng ta có nguy cơ để cho chuỗi những tình trạng khẩn cấp quyết định thay chúng ta hướng đi của hành trình. Hiện nay, chúng ta đang sống trong một giai đoạn chuyển tiếp mau lẹ, một “sự thay đổi thời đại”, trong đó - trong khi một số người tranh giành tương lai của các công nghệ mới và những người khác chuyên tâm suy tư về chúng - thì phần lớn nhân loại vẫn đứng chờ đợi, quan sát từ xa và đơn giản chỉ mong rằng mọi sự sẽ diễn ra tốt đẹp. Chính vì thế, những câu hỏi mang tính quyết định đang vang lên trong lương tâm chúng ta, những câu hỏi không thể tiếp tục né tránh: Chúng ta đang đi về đâu? Chúng ta mong muốn hướng đến mục tiêu nào? Với tư cách là cộng đồng nhân loại và như những dân tộc, chúng ta phải chọn hướng đi nào?

Hai hình ảnh Kinh Thánh

7. Để trả lời những câu hỏi ấy và phân định cách sống có trách nhiệm trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, tôi muốn gợi lại hai hình ảnh Kinh Thánh: việc xây dựng tháp Babel (x. St 11,1-9) và việc tái thiết các bức tường thành Giêrusalem (x. Nkm 2-6). Trong sách Sáng Thế, trình thuật Babel được đặt vào thời kỳ khởi nguyên của nhân loại, ngay sau các gia phả của con cháu ông Nôê. Con người, sau khi định cư tại đồng bằng Sennaar, đã quyết định xây dựng một thành phố và một ngọn tháp “có đỉnh chạm tới trời” (St 11,4). Họ muốn bảo đảm cho mình sự ổn định và quyền lực, và trên hết là “lưu danh muôn thuở”, vì sợ bị phân tán khắp mặt đất. Công trình ấy xem ra thật hùng vĩ: một ngôn ngữ duy nhất, một công nghệ duy nhất, một định hướng duy nhất. Tuy nhiên, dự án ấy lại che giấu một sự lừa dối sâu xa: đó là một công trình được hình thành mà không quy chiếu về Thiên Chúa, được nâng đỡ bởi một thứ đồng nhất hóa loại trừ sự đa dạng và, thay vì hiệp thông, lại chọn sự đồng dạng hóa. Khi thành phố được xây dựng trên lòng kiêu ngạo và tham vọng tự đủ cho chính mình, sự truyền thông bị đổ vỡ, các ngôn ngữ trở nên hỗn loạn và con người không còn hiểu nhau nữa. Kết quả không phải là hiệp nhất, nhưng là phân tán. Như thế, Babel cho thấy giới hạn của mọi công trình mà, dù có vĩ đại đến đâu, vẫn phát sinh từ việc tuyệt đối hóa con người và từ tham vọng tự mãn của nó; công trình ấy hy sinh phẩm giá con người vì hiệu năng và muốn đạt tới trời cao mà không cần đến phúc lành của Thiên Chúa.

8. Sách Nơkhemia, trái lại, khởi đầu trong một thời điểm hết sức mong manh của lịch sử Israel cổ đại. Sau cuộc lưu đày Babylon, một phần dân chúng đã trở về Giêrusalem, nhưng thành thánh vẫn còn hoang tàn, tường thành đã sụp đổ và các cổng thành đã bị thiêu rụi (x. Nkm 1-2). Nơkhemia, một người Do Thái phục vụ dưới triều vua Ba Tư Artaxerxes, nhận được tin về tình trạng thảm hại của thành phố tổ tiên mình. Trước khi hành động, ông ăn chay, cầu nguyện và chuyển cầu cho dân; rồi ông xin phép nhà vua để trở về Giêrusalem, và khi đến nơi, ông âm thầm khảo sát những nơi bị tàn phá. Ông không áp đặt các giải pháp từ trên xuống. Ông quy tụ các gia đình, giao cho mỗi gia đình một đoạn tường thành để tái thiết, lắng nghe những nỗi lo sợ, phối hợp các nỗ lực và đối diện với những chống đối. Trình thuật cho thấy thành phố được hồi sinh không phải nhờ sáng kiến của riêng một cá nhân, nhưng nhờ trách nhiệm chung của toàn dân: các tư tế, thợ thủ công, gia trưởng, phụ nữ và giới trẻ. Đó là một công trình đặt Thiên Chúa ở trung tâm và tái thiết các mối dây liên kết còn trước cả những viên đá. Nhờ đó, Giêrusalem xưa tìm lại được một ngôn ngữ chung, không phải ngôn ngữ của sự đồng nhất, nhưng là ngôn ngữ của hiệp thông: sự hòa điệu phát sinh khi mỗi người đảm nhận phần việc của mình và toàn dân nhận biết rằng sức mạnh của họ đến từ Đức Chúa.

9. Dưới ánh sáng của hai hình ảnh ấy, hôm nay Chúa Thánh Thần đang chất vấn chúng ta về mối tương quan của chúng ta với công nghệ và với cuộc cách mạng kỹ thuật số đang diễn ra. Những khám phá khoa học là một nén bạc được trao cho nhân loại để sinh hoa kết quả (x. Mt 25,14-30). Công nghệ có thể chữa lành, kết nối, giáo dục, chăm sóc Ngôi Nhà Chung; nhưng nó cũng có thể gây chia rẽ, loại trừ và tạo ra những bất công mới. Xét cách trừu tượng, tự nó công nghệ không phải là giải pháp cho các vấn đề của nhân loại, cũng không phải tự nó là điều xấu; nhưng cách cụ thể, nó không hề trung lập, bởi vì nó mang khuôn mặt của những ai tạo ra nó, tài trợ cho nó, điều hành nó và sử dụng nó. Vì thế, sự chọn lựa đầu tiên không phải là giữa một tiếng “có” hay “không” đối với công nghệ, nhưng là giữa việc xây dựng Babel hay tái thiết Giêrusalem: giữa một quyền lực muốn thống trị trời cao và một dân tộc, trong sự hiện diện của Thiên Chúa, cùng nhau bắt tay lao động để dựng lại những bức tường của đời sống huynh đệ.

10. Vì thế, chúng ta hãy tránh “hội chứng Babel”: thứ ngẫu tượng của lợi nhuận hy sinh những người yếu thế, sự đồng nhất hóa làm phẳng mọi khác biệt, và tham vọng về một ngôn ngữ duy nhất - kể cả ngôn ngữ kỹ thuật số - có khả năng chuyển dịch mọi sự, ngay cả mầu nhiệm của con người, thành dữ liệu và hiệu suất. Đó chính là nguy cơ của sự phi nhân hóa - xây dựng tương lai bằng cách loại trừ Thiên Chúa và biến tha nhân thành phương tiện - một cơn cám dỗ xưa cũ mà luôn mới mẻ, ngày nay còn mang lấy diện mạo kỹ thuật. Trái lại, chúng ta hãy chọn “con đường của Nơkhemia”, con đường làm nổi bật giá trị của lao động chung nhằm biến thành đô của Thiên Chúa thành nơi an toàn cho những người lưu đày trở về. Ngày nay, tái thiết có nghĩa là nhìn nhận rằng, giữa sự đa dạng của những tiếng nói và những nhãn quan đôi khi gợi nhớ đến sự phân tán ngôn ngữ, vẫn tồn tại một khả thể đầy ánh sáng: khả thể cùng nhau xây dựng, biến sự khác biệt thành một nguồn lực, và làm cho việc lắng nghe cũng như đối thoại trở thành nền tảng chung để phát triển công lý và tình huynh đệ. Và trong công trình chung ấy, các Kitô hữu tìm thấy cách thế riêng của mình để xây dựng: hướng hành động về Thiên Chúa, để dưới ánh sáng của Người, tính đa nguyên không tan biến trong hỗn loạn, nhưng qua việc thực hành tính hiệp hành, trở thành không gian nơi nhân loại tìm lại được những nền tảng vững chắc và cùng đích tối hậu của mình. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan thấy Giêrusalem mới “từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống” (Kh 21,2) như một quà tặng dành cho toàn thể nhân loại. Và thị kiến đầy ân sủng ấy, đối với chúng ta là những Kitô hữu, là lời mời gọi cùng nhau cộng tác để vun trồng một đời sống chung hòa bình, công chính và xứng hợp với phẩm giá con người trong các “thành phố” của thời đại hôm nay.

Xây dựng trong sự thiện hảo

11. Xây dựng một thành đô đặt nền tảng trên công ích, trước hết, đòi phải xây dựng trên tảng đá của mối tương quan với Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa là nhận ra rằng chân lý của tình yêu Người mời gọi chúng ta bước vào một đời sống “dồi dào” (Ga 10,10) và vào sự hiệp thông với Người. Cùng với thánh Augustinô, cả chúng ta nữa cũng có thể nói rằng: “Vì Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, nên lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”. [8] Quả thật, Thiên Chúa đã ghi khắc nơi tâm hồn con người một khát vọng hạnh phúc bao trùm mọi chiều kích của đời sống; và Giáo Hội, trong cuộc đối thoại với những con người nam nữ của thời đại hôm nay, cảm nhận tính cấp thiết của việc gìn giữ và hướng dẫn khát vọng ấy đến với chân lý sâu xa nhất của nó.

12. Thứ đến, xây dựng trong sự thiện hảo có nghĩa là chấp nhận những giới hạn và sự mong manh của con người mà không xem đó như một sai lầm cần phải sửa chữa. Ngày nay, khát vọng đạt tới sự viên mãn của con người có nguy cơ bị lệch hướng sang những mục tiêu đánh lừa: ảo tưởng về một công nghệ hứa hẹn giải thoát chúng ta khỏi mọi yếu đuối, hoặc những mô hình phúc lợi “bỏ lại phía sau” cả những dân tộc. Không hiếm khi chúng ta đặt hy vọng nơi một tiềm năng vô hạn, nơi những hình thức tiến bộ có thể làm gia tăng bất bình đẳng, nơi các giải pháp tức thời không có khả năng chữa lành những thương tích của các dân tộc. Như thế, trong khi một số người theo đuổi ảo vọng về một sự tự khẳng định vô giới hạn, thì nhiều người khác lại thiếu thốn cả những điều cần thiết. Giáo Hội, với tiếng nói khiêm tốn nhưng vững vàng, nhắc nhớ rằng sự phát triển đích thực không phát sinh từ việc loại bỏ những mong manh yếu đuối, nhưng từ một sự tăng trưởng hài hòa: nơi mà tự do và trách nhiệm đan kết với sự chăm sóc lẫn nhau và tình liên đới đích thực, và nơi mà tiến bộ được đo lường bằng phẩm giá của từng con người cũng như thiện ích của các dân tộc.

13. Thứ ba, xây dựng một thế giới trong đó mọi người đều có thể “triển nở” đòi hỏi một tinh thần đồng trách nhiệm đầy can đảm. Không một bàn tay nào, tự riêng mình, có thể gánh nổi sức nặng của những thách đố mà thế giới đang trải qua; nhưng cũng không có bàn tay nào quá yếu đến mức không thể đóng góp phần mình: “Ơn Ta đủ cho con, vì sức mạnh của Ta biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Mỗi người đều có phần tường thành của mình để xây dựng: các nhà khoa học và giới nghiên cứu, doanh nhân và người lao động, các nhà giáo dục và lập pháp, xã hội dân sự, các phong trào quần chúng và các cộng đoàn đức tin. Đó chính là luận lý của nguyên tắc bổ trợ, nguyên tắc đề cao sự cộng tác giữa các thế hệ, giữa các dân tộc, giữa các ngành tri thức và các nền văn hóa như con đường ưu tiên để làm phát triển sự ổn định, thịnh vượng và hòa bình. Những căng thẳng và khác biệt không được làm chúng ta sợ hãi; chúng có thể trở thành những năng lực sáng tạo khi được định hướng bởi một trách nhiệm chung.

14. Sau cùng, xây dựng trong sự thiện hảo đòi hỏi một ngôn ngữ mang tính Tin Mừng. Chúng ta hãy tránh những lời nói hạ nhục hoặc đối đầu. Hãy chọn sự rõ ràng giúp soi sáng và sự chân thành mở ra những con đường mới. Đừng chúc lành cho những nhiệt tình ngây thơ, cũng đừng nuôi dưỡng những nỗi sợ hãi vô ích. Trái lại, hãy chỉ ra những tiêu chuẩn phân định - phẩm giá con người, định hướng phổ quát của cải, chọn lựa ưu tiên cho người nghèo, việc chăm sóc Ngôi Nhà Chung, hòa bình - và chuyển hóa chúng thành những thực hành cụ thể: hoạch định có trách nhiệm, lượng giá tác động nhân bản và xã hội, bao gồm những người dễ bị tổn thương nhất, giáo dục kỹ năng số, nghiên cứu và công nghiệp được định hướng theo công lý và hòa bình.

Vẫn mãi là con người

15. Trong Năm Thánh Thông Thường 2025 vừa qua, chúng ta đã bước đi như những người hành hương của niềm hy vọng và đã được tràn đầy ân sủng. Được củng cố nhờ những hồng ân ấy, chúng ta có thể tiến bước với lòng tín thác trước những công việc khó khăn và những thách đố khẩn thiết đang hiện ra trong tương lai. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, khi phẩm giá con người có nguy cơ bị che khuất bởi những hình thức phi nhân hóa mới, chúng ta có bổn phận khẩn thiết phải tiếp tục là những con người đích thực, gìn giữ với tình yêu thương nhân tính cao quý đã được ban cho chúng ta và được mạc khải cách viên mãn nơi Đức Kitô, một nhân tính mà không một cỗ máy nào có thể thay thế trong vẻ huy hoàng của nó. Tiến bộ đích thực luôn phát sinh từ một con tim mở ra với tha nhân, từ một trí tuệ sẵn sàng lắng nghe, từ một ý chí tìm kiếm điều hiệp nhất hơn là điều chia rẽ.

16. Tôi gửi đến mọi tín hữu Công giáo, mọi Kitô hữu, và mọi người nam nữ thiện chí một lời kêu gọi tha thiết: đừng sợ phải dấn thân vào công trình của thời đại chúng ta. Như Nơkhemia, chúng ta hãy cầu nguyện, hoạch định với sự khôn ngoan và lao động với lòng kiên trì, đặt Thiên Chúa nơi chân trời của mọi hành động và đặt con người ở trung tâm các quyết định của mình. Khi ấy, những viên đá bị loại bỏ - người nghèo, người đau yếu, người di dân, những kẻ bé nhỏ - sẽ trở nên những viên đá góc tường, và trên mặt đất này sẽ xuất hiện một ngôi nhà chung vững bền và hiếu khách, nơi mà tình yêu và chân lý cuối cùng gặp gỡ nhau, và công lý cùng hòa bình hôn chào nhau (x. Tv 85,11). Đó là phúc lành chúng ta khẩn cầu Thiên Chúa ban tặng, đồng thời cũng là sứ mạng đang ở trước mắt chúng ta: trở nên những người kiến tạo hiệp thông, chứ không phải những kiến trúc sư của Babel; trở nên những tôi tớ của Nước Trời đang đến, chứ không phải những chủ nhân của các ngọn tháp được định sẵn để sụp đổ. Và với tâm tình của một mục tử và người cha, tôi khẩn thiết kêu gọi mọi người hãy dừng lại việc xây dựng thêm một Babel mới nữa, và hãy hiệp lực để xây dựng trong sự thiện hảo, để nhân loại không bao giờ đánh mất vẻ đẹp đích thực của mình và để thế giới có thể một lần nữa nhận ra, nơi trái tim con người, chính nơi Thiên Chúa mong muốn ngự trị.


CHƯƠNG I: MỘT TƯ DUY NĂNG ĐỘNG TRUNG THÀNH VỚI TIN MỪNG

17. Trong chương đầu tiên này, mục đích của tôi là trình bày cách khái quát hành trình qua đó Học thuyết Xã hội của Giáo Hội đã dần hình thành trong Huấn quyền gần đây của các Đức Giáo hoàng và của Công đồng Vaticanô II, nhằm làm nổi bật đặc tính năng động của học thuyết ấy. Thật vậy, trong mỗi thời đại, những res novae (thực tại mới) thúc đẩy giáo huấn này phải đối diện với những vấn nạn của lịch sử dưới ánh sáng của Chân lý mạc khải. Vì thế, trí tuệ nhân tạo cũng không được hiểu như một chủ đề phụ thuộc hay như một tình trạng khẩn cấp cần quản lý, nhưng như một cuộc biến đổi chất vấn từ bên trong các phạm trù của Học thuyết Xã hội và đòi hỏi học thuyết ấy phải được phát triển sâu xa hơn nữa trong sự trung thành với Tin Mừng.

18. Tuy nhiên, hành trình này sẽ không thể được hiểu một cách thực sự nếu, trước khi dừng lại nơi đóng góp của từng vị Giáo hoàng và những văn kiện quan trọng nhất, chúng ta không làm sáng tỏ một vài xác tín nền tảng liên quan đến cách thức Giáo Hội hiện diện trong lịch sử và tương quan với thế giới. Nếu không có sự minh định này, Học thuyết Xã hội có nguy cơ bị xem như một sự can thiệp không thích đáng vào các thực tại trần thế hoặc như một bộ quy tắc luân lý bên ngoài được áp đặt cách tùy tiện. Thực ra, học thuyết ấy phát sinh từ một Giáo Hội đang đồng hành với nhân loại, nhìn nhận tính tự trị của các thực tại trần thế và sự phân biệt giữa cộng đồng Giáo Hội với cộng đồng chính trị, và chính vì thế, khát vọng của Giáo Hội là phục vụ công ích.

Một Giáo Hội đồng hành trong lịch sử nhân loại

19. Giáo Hội, hiện diện trong thế giới như dấu chỉ của sự hiệp nhất cho toàn thể gia đình nhân loại, nhận ra nơi những vấn nạn và thách đố của thời đại hôm nay chính là môi trường để thi hành ơn gọi lắng nghe, đối thoại và phục vụ, bằng cách để mình được chất vấn bởi tất cả những gì liên hệ đến đời sống của con người trong thời đại này. Sự gắn kết đời sống với các dân tộc giúp Giáo Hội ngày càng hiểu rõ rằng sứ mạng của mình mang chiều kích lịch sử và bao hàm một trách nhiệm đối với cách thức các tương quan xã hội được hình thành. Vì thế, Giáo Hội không thể xem mình như xa lạ trước những năng động đang định hình diện mạo xã hội. Trái lại, Giáo Hội dấn thân tích cực vào những con đường qua đó chính xã hội phát triển và tổ chức chính mình, đồng thời cống hiến phần đóng góp của mình cho việc đạt tới một đời sống chung công bằng và huynh đệ hơn. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã mạnh mẽ nhắc lại chiều kích lịch sử này của sứ mạng Giáo Hội khi khẳng định rằng: “Không ai có thể đòi buộc chúng ta phải đẩy tôn giáo vào lãnh vực riêng tư kín đáo của cá nhân, không có bất cứ ảnh hưởng nào trên đời sống xã hội và quốc gia, không được quan tâm đến sự lành mạnh của các định chế thuộc xã hội dân sự, cũng không được lên tiếng về những biến cố tác động đến người dân”. [9]

20. Lời mời gọi và sự dấn thân đồng hành với nhân loại trong tính cụ thể của lịch sử dẫn Giáo Hội đến chỗ nhìn nhận rằng các thực tại trần thế có một tính nhất quán và một trật tự riêng của chúng. Công đồng Vaticanô II đã diễn tả nguyên tắc này cách đặc biệt chính xác trong Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, mà chúng ta đã vui mừng kỷ niệm 60 năm ban hành vào ngày 7 tháng 12 năm 2025 vừa qua: “Nếu bởi tính tự trị của thực tại mà người ta muốn nói rằng các thụ tạo và chính xã hội được hưởng những quy luật và giá trị riêng của mình […], thì đòi hỏi về tính tự trị ấy hoàn toàn chính đáng”. [10] Sự nhấn mạnh này cho thấy rằng công trình tạo dựng mang trong mình một sự thiện hảo nguyên thủy mà cái nhìn của con người phải gìn giữ, vun trồng và làm cho triển nở. Trong viễn tượng ấy, Giáo Hội tự giới thiệu như một sự hiện diện giúp đọc hiểu thực tại cách sâu xa, nâng đỡ bằng một sự kiên định khiêm tốn những chọn lựa nhằm thăng tiến phẩm giá của mỗi con người, sự gắn kết của các cộng đoàn và thiện ích của mọi người. Như thế, Giáo Hội đứng bên cạnh thế giới chứ không áp đặt trên thế giới, để trong mọi biến cố nhân loại, lời hứa về công lý và hòa bình mà Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục khơi dậy trong lòng nhân loại có thể nảy mầm.

21. Khi nhìn nhận rằng Thiên Chúa đồng hành với tự do của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử, Công đồng Vaticanô II đã khẳng định sự phân biệt giữa cộng đồng Giáo Hội và cộng đồng chính trị, đồng thời nhấn mạnh rằng mỗi cộng đồng phải hành động với sự tự trị đầy đủ nhất. Vì thế, sự hiện diện của Giáo Hội trong thế giới còn được biểu lộ qua tương quan của Giáo Hội với xã hội dân sự và các thiết chế công quyền. Khi đối thoại với họ, Giáo Hội nhìn nhận giá trị của các thực tại xã hội và chính trị và tôn trọng trách nhiệm riêng của họ, bằng cách nâng đỡ mọi điều bảo vệ sự sống con người và củng cố nền tảng của cơ cấu xã hội. Giáo Hội không tìm cách đảm nhận những chức năng thuộc về Nhà nước; trái lại, Giáo Hội đánh giá cao việc Nhà nước phục vụ công ích và xác tín nhìn nhận trách nhiệm mà các định chế dân sự thi hành trong xã hội. Đồng thời, sứ mạng được trao phó cho Giáo Hội cũng khiến Giáo Hội không thể đứng xa trước những đau khổ cụ thể của con người thời đại hôm nay. Sự gần gũi ấy không phát sinh từ ý định thay thế các định chế, càng không phải từ một sự phê phán ngấm ngầm đối với công việc của họ, nhưng từ chính đức ái Tin Mừng thúc đẩy Giáo Hội tiến đến gần những vết thương của nhân loại trong những lúc chúng biểu lộ cách nghiêm trọng nhất. Khi can thiệp, Giáo Hội hành động theo gương người Samari nhân hậu, với sự kín đáo và gần gũi, ý thức rằng điều phát sinh từ một nhu cầu cấp bách không thể trở thành chuẩn mực, cũng không thể thay thế những trách nhiệm mang tính định chế vốn thuộc về cộng đồng dân sự.

22. Khởi đi từ sự nhìn nhận kép này - tính tự trị của các thực tại trần thế và sự phân biệt thẩm quyền giữa cộng đồng Giáo Hội với cộng đồng chính trị - người ta hiểu rõ hơn định hướng mà Công đồng Vaticanô II đã trao cho Giáo Hội trong tương quan với thế giới. Hiến chế Gaudium et spes nhắc lại rằng: “Bổn phận của toàn thể Dân Thiên Chúa, nhưng đặc biệt là của các mục tử và các nhà thần học, là lắng nghe, phân định và giải thích, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, những tiếng nói đa dạng của thời đại chúng ta và lượng giá chúng dưới ánh sáng của Lời Thiên Chúa, để Chân lý mạc khải có thể được nhận thức sâu xa hơn, hiểu biết đầy đủ hơn và trình bày thích hợp hơn”. [11] Việc lắng nghe “những ngôn ngữ khác nhau” không chỉ đơn thuần là một sự chú ý mang tính xã hội học, nhưng còn bao hàm một sự phân định thiêng liêng, trong đó, nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Dân Thiên Chúa nhận ra nơi những biến đổi văn hóa và xã hội vừa các dấu chỉ của sự hiện diện Đức Kitô, Đấng đang đến và hướng dẫn lịch sử đến chỗ viên mãn của nó, vừa những lệch hướng làm lu mờ dung mạo Người. Như thế, Chân lý mạc khải không thay đổi trong cốt lõi thiết yếu của mình, nhưng được triển khai và đón nhận như tiêu chuẩn sống động để định hướng những chọn lựa cụ thể, khơi nguồn cho những hành trình hoán cải cá nhân và cộng đoàn, thúc đẩy việc cải tổ các cơ cấu và nâng đỡ những hình thức làm chứng mới mẻ cho Tin Mừng trong đời sống công cộng. Vì vậy, lịch sử là một trong những nơi chốn mà Giáo Hội để cho Chúa Thánh Thần giáo huấn mình về sức mạnh nhân bản hóa của Tin Mừng và học biết thích nghi giáo huấn của mình nhằm phục vụ phẩm giá của mỗi con người cũng như thiện ích của các dân tộc.

Sự khôn ngoan của Lời Chúa và cuộc đối thoại với các khoa học nhân văn

23. Giáo Hội xem như bạn đồng hành tất cả những ai chân thành tìm kiếm “chân lý, sự thiện và vẻ đẹp”, đồng thời coi họ là “những đồng minh quý giá” [12] trong việc bảo vệ phẩm giá của mỗi con người và gìn giữ công trình tạo dựng. Đón nhận phong cách mục vụ của Công đồng Vaticanô II - vốn mời gọi lắng nghe, phân định và giải thích các dấu chỉ thời đại - Giáo Hội, được soi sáng bởi sự khôn ngoan của Lời Chúa, không sợ hãi cuộc gặp gỡ với tri thức nhân loại. Lời Thiên Chúa cung cấp những tiêu chuẩn đáng tin cậy để định hướng các nẻo đường công lý và mở ra những lối đi của hòa giải và hòa bình giữa con người với nhau. Khi cần áp dụng những tiêu chuẩn ấy vào các hoàn cảnh phức tạp của thời đại hôm nay, sự đóng góp của triết học và các khoa học nhân văn, xã hội trở nên hết sức thiết yếu, vì chúng giúp hiểu biết và phân tích sâu xa hơn các năng động văn hóa, kinh tế và chính trị. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng Giáo Hội đón nhận sự đóng góp của các khoa học xã hội “để rút ra những chỉ dẫn cụ thể giúp mình thi hành sứ mạng Huấn quyền”. [13] Cuộc đối thoại với các ngành tri thức ấy không làm suy giảm sức mạnh của Tin Mừng; trái lại, nó cho phép nhận ra rõ ràng hơn những gì thực sự thăng tiến đời sống của con người và các cộng đoàn. Đức Giáo hoàng Phanxicô, trong cùng một viễn tượng ấy, nhấn mạnh rằng trong nhiều vấn đề cụ thể, Giáo Hội không có tham vọng đưa ra “một lời nói chung quyết”, [14] nhưng nhìn nhận tầm quan trọng của việc chú ý đến nghiên cứu khoa học và cổ võ một cuộc đối thoại nghiêm túc, trung thành giữa các học giả, chấp nhận sự đa dạng của các quan điểm.

24. Được nuôi dưỡng bởi cuộc đối thoại phong phú giữa Tin Mừng và tri thức nhân loại ấy, Giáo Hội đã dần đào sâu Học thuyết Xã hội của mình, làm trưởng thành theo thời gian một gia sản khôn ngoan có tính nhất quán thần học và nhân học, bén rễ trong cái nhìn Kitô giáo về con người. Chính vì phát xuất từ đức tin và từ sự hiểu biết thực tại dưới ánh sáng đức tin, gia sản ấy không được chuyển thành một kho giải pháp kỹ thuật hay thành một mô hình kinh tế hoặc chính trị đối lập với các mô hình khác: nó mang một phạm trù riêng, [15] tức là phạm trù của những nguyên tắc định hướng việc đọc hiểu các biến cố và nâng đỡ một sự giải thích mang tính Tin Mừng đối với các tiến trình lịch sử cũng như các quyết định phát sinh từ đó. Từ đây xuất hiện chức năng riêng của Học thuyết Xã hội, vốn không nhằm thay thế trách nhiệm của chính trị và các định chế, nhưng tự hiến như một sự nâng đỡ cho việc phân định chung, giúp nhận ra và cổ võ những gì góp phần vào phẩm giá con người, sức sống của các cộng đoàn và thiện ích của mọi người.

Học thuyết Xã hội của Giáo hội như một tiến trình phân định cộng đoàn

25. Việc hiểu chân lý như một hồng ân cần được chia sẻ chứ không phải như một sở hữu cần được khẳng định, giải thoát Giáo Hội khỏi cám dỗ hoài niệm những hình thức hiện diện dựa trên quyền lực. Thánh Gioan Phaolô II mời gọi nhìn lại cách chân thành những thời kỳ mà người ta đã nhượng bộ trước “những phương pháp bất khoan dung và thậm chí bạo lực để phục vụ chân lý”, [16] nhằm tái khám phá con đường Tin Mừng của việc loan báo hiền hòa và của một chân lý không áp đặt. Trong cùng chiều hướng ấy, tôi đã nhắc lại rằng Giáo Hội “không muốn giương cao lá cờ của việc sở hữu chân lý”, [17] bởi chân lý không phải là một lãnh thổ cần bảo vệ, nhưng là một thiện ích cần được chia sẻ. Chính viễn tượng này đã được Đức Giáo hoàng Phanxicô tóm kết trong câu nói nổi tiếng của ngài: “thời gian lớn hơn không gian”; [18] điều quan trọng trước tiên không phải là chiếm giữ những vị trí quyền lực hay kiểm soát các pháo đài văn hóa, nhưng là khởi sự những tiến trình thiện hảo và để cho chúng trưởng thành; nhờ đó, chân lý Tin Mừng không được áp đặt từ trên xuống, nhưng lớn lên theo thời gian, trong chính mạng lưới cụ thể của đời sống, các cộng đoàn và các nền văn hóa. Đó là một chân lý không sợ hãi sự khác biệt, nhưng đón nhận và sắp xếp chúng; không loại bỏ các xung đột, nhưng biến đổi chúng; tái liên kết những gì mà lịch sử có khuynh hướng phân tán. Từ đó cũng xuất hiện hình ảnh khối đa diện (polyhedron), một hình thể có nhiều mặt, nơi cùng một chân lý Tin Mừng được phản chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau. [19]

26. Thái độ cởi mở đối với chân lý - vừa duy nhất vừa phong phú trong nhiều chiều kích - diễn tả cách sâu xa nhất tính công giáo của Giáo Hội. Tính công giáo ấy vừa ôm trọn toàn thể gia đình nhân loại, vừa sống và hiện diện giữa những hoàn cảnh cụ thể của các dân tộc và các nền văn hóa. Công đồng Vaticanô II nhắc nhở rằng, chính nhờ tính công giáo này mà: «mỗi thành phần đóng góp những ân huệ riêng của mình cho các thành phần khác và cho toàn thể Giáo Hội», [20] và nhờ đó, cả toàn thể Giáo Hội lẫn từng cộng đoàn riêng lẻ đều được tăng trưởng qua sự trao đổi hỗ tương và qua nỗ lực chung hướng tới một sự hiệp thông ngày càng viên mãn hơn. Từ đó có thể thấy rằng Dân Thiên Chúa không chỉ được cấu thành bởi nhiều dân tộc khác nhau, nhưng ngay trong lòng mình còn được dệt nên bởi những chức vụ, ơn gọi, nền văn hóa và truyền thống đa dạng, tất cả đều được mời gọi nâng đỡ và làm phong phú cho nhau. Trong viễn tượng này, thánh Phaolô VI nhìn nhận rằng, trước sự đa dạng rất lớn của các hoàn cảnh lịch sử, sẽ không thực tế nếu nghĩ rằng Học thuyết Xã hội của Giáo Hội có thể «đưa ra một lời giải đáp duy nhất», [21] tức là một câu trả lời độc nhất và có giá trị cho mọi hoàn cảnh. Vì thế, ngài mời gọi mỗi cộng đoàn Kitô hữu đọc các thực tại của chính đất nước mình với sự sáng suốt và tinh thần trách nhiệm. Sự căng thẳng phong phú giữa tính phổ quát của sứ mạng và sự bén rễ trong bối cảnh địa phương là một phần thiết yếu trong đời sống của Giáo Hội. Giáo Hội mang trong mình hơi thở của toàn thế giới, nhưng đồng thời đón nhận những thao thức và vấn nạn của từng bối cảnh cụ thể như chính nơi mà Tin Mừng được thể hiện cách sống động và trở thành hiện thực.

27. Dưới ánh sáng của những điều vừa được trình bày, Học thuyết Xã hội của Giáo Hội bộc lộ khuôn mặt chân thực nhất của mình: đó không phải là một cẩm nang gồm những nguyên tắc và quy phạm cần được áp dụng cách máy móc, nhưng là một tiến trình phân định cộng đoàn. Học thuyết ấy phát sinh từ cuộc gặp gỡ giữa chân lý vĩnh cửu của Tin Mừng và những vấn nạn của lịch sử; biết để cho mình được chất vấn bởi các dấu chỉ thời đại; đồng thời được nuôi dưỡng nhờ những đóng góp của các ngành khoa học, các nền văn hóa và các kinh nghiệm nhân loại. Chính vì thế, khi phẩm giá của anh chị em mình bị bóp méo và xúc phạm, khi chính trị không còn đáp ứng được trước những thảm trạng của nhân loại, khi nền kinh tế quay lưng chống lại con người, hoặc khi khoa học vượt quá những giới hạn chính đáng của phương pháp riêng mình, [22] thì Giáo Hội - cùng với các hệ phái Kitô giáo khác và các tín hữu thuộc những tôn giáo khác - phải cất lên tiếng nói của mình, không phải để thống trị nhưng để phục vụ sự hiệp thông. Được hiểu theo cách đó, Học thuyết Xã hội của Giáo Hội trở thành một nền thần học về sự hiệp thông; một không gian trong đó Ngôi Lời đã trở nên xác phàm tiếp tục trở thành cuộc đối thoại, ký ức sống động và lời ngôn sứ cho thời đại hôm nay.

Sự phát triển của Huấn quyền xã hội từ Đức Lêô XIII đến ngày nay

28. Sau khi đã nhắc lại cách thức Giáo Hội hiện diện trong lịch sử và bước vào cuộc đối thoại với thế giới, giờ đây tôi muốn dừng lại nơi sự phát triển của Học thuyết Xã hội trong Huấn quyền, vốn từ thế kỷ XIX cho đến thời đại chúng ta đã đồng hành với những biến chuyển lớn lao của xã hội. Hiển nhiên, tôi sẽ không thể trình bày toàn bộ sự phong phú của giáo huấn này, mà các nguyên tắc nền tảng của nó được trình bày trong Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội và còn được đào sâu thêm trong Huấn quyền gần đây. Tôi cũng không thể hệ thống hóa lại những gì đã được triển khai trong các Thông điệp của những vị Tiền nhiệm đáng kính gần đây của tôi, đặc biệt trong Laudato si’Fratelli tutti. Tuy nhiên, tôi muốn nhắc lại một vài đường hướng cốt yếu, để cho thấy rằng điều tôi viết ở đây được đặt trong sự liên tục với truyền thống ấy, đồng thời làm nổi bật cách thức mà trong truyền thống đó, hạt nhân bền vững của các chân lý mạc khải về con người và đời sống chung của nhân loại được đan kết với một khả năng luôn được canh tân trong việc lắng nghe các hoàn cảnh lịch sử và để mình được chất vấn bởi những vấn nạn phát sinh từ hiện tại. Vì thế, tôi sẽ lần lượt điểm qua một vài giai đoạn quyết định của tiến trình phát triển này, khởi đầu từ giai đoạn được khai mở bởi Thông điệp Rerum novarum.

Những bước đầu của Học thuyết Xã hội của Giáo hội

29. Điều mà ngày nay chúng ta gọi là “Học thuyết Xã hội của Giáo Hội” không xuất hiện đột ngột trong thời hiện đại, nhưng thu thập và hệ thống hóa một truyền thống lâu dài của suy tư Giáo Hội về đời sống xã hội, vốn bén rễ trong Thánh Kinh, nơi các Giáo phụ, cũng như trong những khai triển thần học và pháp lý của thời Trung Cổ và Cận Đại. Cụm từ “Học thuyết Xã hội của Giáo Hội” được Đức Piô XII sử dụng lần đầu tiên vào năm 1950, [23] nhưng nội dung mà cụm từ ấy hàm chứa - được hiểu như một tổng thể hữu cơ của giáo huấn xã hội - đã bắt đầu được định hình với Thông điệp Rerum novarum của Đức Lêô XIII. Đứng trước những “vấn đề mới” của thời đại mình - cuộc xung đột giữa tư bản và lao động, vấn đề công nhân, các biến đổi kinh tế và xã hội - Đức Lêô XIII không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận tình trạng bất ổn, nhưng đã đón nhận các thực trạng ấy như lãnh vực thuộc sứ mạng mục vụ của Giáo Hội; ngài đặt chúng dưới một tiến trình phân định nghiêm túc và soi sáng nguyên nhân cũng như những con đường khả dĩ để thoát ra khỏi chúng dưới ánh sáng Tin Mừng và một cái nhìn toàn diện về con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Thánh Gioan Phaolô II nhận thấy trong cách thức hành động ấy một “mô hình trường tồn” [24] của Học thuyết Xã hội: một thực hành gương mẫu nhờ đó Giáo Hội, trước các hoàn cảnh lịch sử cụ thể, thi hành quyền và bổn phận của mình trong việc khảo sát các thực tại xã hội, đưa ra nhận định về chúng và chỉ dẫn những con đường dẫn đến một giải pháp công bằng. Nhờ đó, những nội dung trường tồn của đức tin và của sự khôn ngoan cổ truyền trong Giáo Hội được diễn đạt thành một học thuyết sống động, học thuyết ấy, trong khi vẫn trung thành với Tin Mừng, tiếp tục phát triển qua cuộc đối thoại với các “vấn đề mới” của mỗi thời đại.

30. Thông điệp Rerum novarum của Đức Lêô XIII đánh dấu một cột mốc trong tiến trình phát triển của Huấn quyền xã hội. Văn kiện đặt phẩm giá của lao động và của người lao động ở trung tâm suy tư của mình; khẳng định quyền được hưởng một mức lương công bằng cho bản thân và cho gia đình; nhìn nhận nơi con người một giá trị căn bản vượt trên tư bản và lợi nhuận; bảo vệ quyền sở hữu tư nhân đồng thời nhấn mạnh đến chức năng xã hội thiết yếu của nó; đánh giá cao các hiệp hội của người lao động; và đề xuất những hình thức cộng tác giữa các thành phần khác nhau trong xã hội như một giải pháp thay thế cho luận lý của “đấu tranh giai cấp”. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi Đức Piô XI đã gọi văn kiện này là “Đại Hiến chương” (Magna Charta) [25] của hoạt động xã hội Kitô giáo: trong Rerum novarum, sự khôn ngoan ngàn đời của Giáo Hội về con người và đời sống xã hội đã mang lấy một hình thức mới, có khả năng đối diện với thời đại công nghiệp và cung cấp khuôn khổ hệ thống lớn đầu tiên cho Học thuyết Xã hội mà các thập niên sau đó sẽ tiếp tục triển khai sâu rộng hơn. Dù nhiều điều kiện lịch sử được Đức Lêô XIII mô tả đã thay đổi, ít nhất hai nguyên tắc của ngài vẫn còn mang tính thời sự sâu sắc: sự ưu tiên của lao động con người trên mọi luận lý thuần túy sản xuất hay tài chính, kéo theo sự quan tâm đặc biệt đến những con người và gia đình dễ bị khai thác nhất; và mối liên kết bất khả phân ly giữa việc loan báo Tin Mừng với việc tìm kiếm một trật tự xã hội công bằng hơn. Như thế, Rerum novarum vẫn tiếp tục nhắc nhớ chúng ta rằng không có việc loan báo Tin Mừng đích thực nào lại không chạm đến cả những cơ cấu của đời sống chung nhân loại.

31. Thông điệp Quadragesimo anno của Đức Piô XI, được công bố năm 1931 nhân dịp kỷ niệm 40 năm Rerum novarum và trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang lên đến cao điểm, đã đưa Huấn quyền xã hội tiến thêm một bước nữa. Văn kiện không chỉ giới hạn ở việc nhắc lại “vấn đề công nhân”, nhưng mở rộng cái nhìn đến toàn bộ cấu trúc của trật tự kinh tế và chính trị. Văn kiện lên án sự tập trung quyền lực kinh tế vào tay một thiểu số; phê phán cả sự cạnh tranh vô giới hạn lẫn những dự án tập thể chủ nghĩa triệt tiêu tự do và trách nhiệm của con người; mạnh mẽ khẳng định quyền liên kết của người lao động; đồng thời tái nhấn mạnh đòi hỏi rằng tiền lương phải tương xứng không chỉ với năng suất lao động, nhưng còn với nhu cầu của người lao động và gia đình họ. Trong khuôn khổ ấy, Đức Piô XI đã trình bày cách có hệ thống nguyên tắc bổ trợ, nguyên tắc sẽ trở thành một trong những quy chiếu nền tảng của Học thuyết Xã hội, theo đó những gì các cá nhân, gia đình, các tổ chức trung gian và các cộng đồng địa phương có thể thực hiện thì không được bị các cấp cao hơn thu hút hoặc thay thế. Cùng với những đóng góp ấy, Đức Piô XI còn nhắc lại rõ ràng chức năng xã hội của quyền sở hữu, và qua nhiều can thiệp khác nhau trong Huấn quyền của mình - từ các Thông điệp Non abbiamo bisognoMit brennender Sorge cho đến Divini Redemptoris - ngài lên án các chế độ toàn trị chà đạp phẩm giá con người, bóp nghẹt đời sống xã hội, tôn thờ Nhà nước vượt quá giá trị chính đáng của nó và sử dụng phạm trù phân biệt chủng tộc. Đối với thời đại chúng ta, ít nhất ba trực giác trong giáo huấn xã hội của ngài vẫn còn mang tính thời sự đặc biệt: ý thức rằng bất công không chỉ liên quan đến các hành vi cá nhân nhưng còn gắn với các cơ cấu kinh tế và thể chế; giá trị của nguyên tắc bổ trợ, vốn mời gọi củng cố mạng lưới liên kết cộng đồng và hiệp hội nhằm tránh những sự tập trung quyền lực mới; và mối liên hệ giữa phẩm giá của lao động, tiền lương công bằng và khả năng thực sự để các gia đình có thể sống một đời sống xứng hợp với phẩm giá con người.

32. Trong bối cảnh bi thảm của Thế Chiến Thứ Hai và những năm tái thiết hậu chiến, Huấn quyền của Đức Piô XII đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Học thuyết Xã hội, đặc biệt qua các Sứ điệp Giáng Sinh phát thanh, trong đó ngài phác họa những đường nét tổng quát của một trật tự quốc tế được đặt nền trên việc nhìn nhận phẩm giá con người, công lý và hòa bình. Trong các dịp ấy, Đức Giáo hoàng đề xuất một cuộc đối thoại với xã hội dựa trên một quy chiếu đòi hỏi đối với luật tự nhiên, được hiểu như một tổng thể những nguyên tắc khách quan có trước các lợi ích của cá nhân và quốc gia, đồng thời phải điều chỉnh đời sống nội bộ của các dân tộc cũng như các tương quan hỗ tương giữa họ. Đức Piô XII cũng dành một vai trò quyết định cho các hiệp hội nghề nghiệp, các nghiệp đoàn lao động và các tổ chức trung gian khác trong đời sống kinh tế và xã hội, nhìn nhận nơi các hình thức tổ chức ấy của xã hội một thành trì thiết yếu cho sự quân bình dân sự và cho việc bảo vệ công ích. Ngài khẳng định sự cần thiết của một nhà nước pháp quyền vững chắc nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực, đồng thời nhìn nhận nền dân chủ như một công cụ thích hợp để cổ võ việc thi hành đúng đắn quyền bính. Đồng thời, ngài cảnh báo chống lại mọi tham vọng xây dựng luật pháp trên lợi ích hay sức mạnh, nhắc nhớ rằng một trật tự quốc tế bị chi phối bởi lợi ích của kẻ mạnh sẽ phơi bày các dân tộc yếu thế trước áp bức và phá hủy tận gốc niềm tin giữa các quốc gia. Sau cùng, ngài nhận diện nơi những mất cân đối kinh tế sâu xa giữa các quốc gia một trong những yếu tố nuôi dưỡng các xung đột. [26] Trong thời đại hôm nay, vốn bị đánh dấu bởi những hình thức quyền lực toàn cầu mới và bởi những bất bình đẳng ngày càng gia tăng, ít nhất ba nguyên tắc sau đây vẫn giữ nguyên giá trị đặc biệt: đòi hỏi rằng luật pháp phải vượt trên lợi ích; ý thức rằng bất bình đẳng kinh tế là mảnh đất màu mỡ cho căng thẳng và bạo lực; và giá trị của một mạng lưới liên kết xã hội có khả năng trung gian giữa cá nhân và Nhà nước. Những nguyên tắc ấy tiếp tục cung cấp cho Học thuyết Xã hội những tiêu chuẩn quan trọng để giải thích các năng động của toàn cầu hóa và để cổ võ một trật tự quốc tế công bằng và hòa bình hơn.

Thời kỳ Công đồng Vaticanô II

33. Với thánh Gioan XXIII, một giai đoạn mới của Huấn quyền xã hội được khai mở, được đánh dấu bởi sự chú ý minh nhiên hơn đến chiều kích hoàn cầu của các vấn đề xã hội và đến ngôn ngữ của các quyền con người. Trong Mater et magistra, ngài trình bày đức tin Kitô giáo như một ánh sáng có khả năng nối kết trời với đất, đồng thời nhắc lại rằng Giáo Hội, dù có sứ mạng chính yếu là thánh hóa và loan báo các thiện ích vĩnh cửu, vẫn không vì thế mà xao lãng những nhu cầu cụ thể của đời sống thường nhật con người, nhưng quan tâm đến mọi thiện ích nhân bản đích thực. [27] Khởi đi từ cái nhìn hợp nhất ấy về con người, ngài nhấn mạnh rằng đời sống xã hội đòi hỏi một sự quân bình giữa sáng kiến của các công dân và các nhóm xã hội - những chủ thể được mời gọi tự tổ chức và cộng tác - với hoạt động của Nhà nước, vốn phải điều phối và nâng đỡ mà không bóp nghẹt tự do và trách nhiệm của các chủ thể; vì thế, ngài đặc biệt lưu tâm đến việc trả công lao động cách công bằng, đến sự tham gia của người lao động và đến những bất bình đẳng ngày càng gia tăng giữa các quốc gia. Ít năm sau đó, với Pacem in terris, lần đầu tiên không chỉ gửi đến các tín hữu nhưng đến mọi người thiện chí, thánh Gioan XXIII đã nối kết cách hữu cơ phẩm giá con người với việc nhìn nhận các quyền và bổn phận căn bản, đồng thời đề xuất một trật tự chung sống - kể cả ở bình diện quốc tế - được xây dựng trên chân lý, công lý, tình yêu và tự do. [28] Trong thời đại hôm nay, vốn bị đánh dấu bởi những xung đột lan rộng và những hình thức lệ thuộc hỗ tương mới trên bình diện toàn cầu, tính phổ quát trong lời kêu gọi của ngài, việc quy chiếu đến nhân quyền như một ngôn ngữ chung, và xác tín rằng một nền hòa bình bền vững đòi hỏi các định chế cũng như các tương quan giữa các dân tộc phải được khơi hứng từ phẩm giá của mỗi con người, vẫn tiếp tục mang ý nghĩa đặc biệt.

34. Công đồng Vaticanô II đã đánh dấu một bước ngoặt trong cách thức Giáo Hội hiểu chính mình giữa thế giới đương đại. Trong Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, Công đồng trình bày hình ảnh một Giáo Hội gần gũi với nhân loại, dấn thân với thế giới và chuyên chăm suy tư không phải từ những lược đồ trừu tượng, nhưng từ thực tại cụ thể của các hoàn cảnh lịch sử. Văn kiện đề cập đến những vấn đề lớn của hôn nhân và gia đình, của đời sống kinh tế và xã hội, của cộng đồng chính trị, của chiến tranh và hòa bình, đồng thời nhấn mạnh rằng các cơ cấu kinh tế và thể chế chỉ công bằng khi chúng phục vụ sự phát triển toàn diện của con người và cổ võ sự tham gia có trách nhiệm của mọi người. [29] Tầm quan trọng của văn kiện Công đồng này đối với Học thuyết Xã hội của Giáo Hội không chỉ hệ tại ở việc mở ra những viễn tượng suy tư theo chủ đề, nhưng còn ở chỗ đã cung cấp một phương pháp phân định mời gọi giải thích các biến chuyển lịch sử bằng một cái nhìn Tin Mừng cùng với năng lực chuyên môn nhân bản. Phong cách ấy cho thấy rằng cuộc đối thoại với thế giới không phải là một chọn lựa mang tính chiến thuật đối với Giáo Hội, nhưng là một hình thức cụ thể của chính sứ mạng Giáo Hội, bởi Tin Mừng, như men trong bột, có thể biến đổi từ bên trong các cơ cấu của đời sống chung và mở ra những con đường dẫn tới một nhân tính sâu xa hơn. Trong cùng viễn tượng ấy còn có Tuyên ngôn Dignitatis humanae, trong đó Công đồng nhìn nhận rằng tự do tôn giáo là một quyền căn bản bén rễ trong phẩm giá con người, và phải được bảo đảm bởi trật tự pháp lý để không ai bị buộc hành động trái với lương tâm mình hoặc bị ngăn cản trong việc tìm kiếm và tuyên xưng chân lý cả nơi riêng tư lẫn nơi công cộng. [30] Nguyên tắc này, có tầm quan trọng lớn lao đối với thời đại chúng ta, tiếp tục cung cấp cho Học thuyết Xã hội những tiêu chuẩn quyết định nhằm bảo vệ con người và xây dựng các xã hội đa nguyên, hòa bình.

35. Trong triều đại giáo hoàng của thánh Phaolô VI, xuất hiện một quan niệm về hòa bình không chỉ được hiểu như sự vắng bóng chiến tranh, nhưng được cụ thể hóa như con đường hướng tới sự phát triển nhân bản toàn diện. Trong Populorum progressio, ngài mô tả sự phát triển như việc chuyển từ những điều kiện sống kém nhân bản sang những điều kiện sống nhân bản hơn, đồng thời hiểu sự phát triển ấy như một tiến trình liên hệ đến “mọi người và toàn thể con người”, [31] nghĩa là liên hệ đến mọi chiều kích của con người và mọi dân tộc không trừ ai. Trên nền tảng ấy, Đức Phaolô VI có thể khẳng định rằng một sự phát triển được hiểu như thế thực sự là “tên gọi mới của hòa bình”, [32] bởi mục tiêu của nó là loại bỏ những căn nguyên của bất công và xung đột, đồng thời mở ra những không gian cho một đời sống xứng hợp hơn với phẩm giá con người dành cho mọi người. Cũng theo chiều hướng này, việc thành lập Ủy ban Giáo hoàng Iustitia et Pax phải được hiểu như một nỗ lực nhằm trao cho trực giác ấy một hình thức bền vững ở cấp độ Giáo Hội và quốc tế, bằng cách duy trì sự nhạy bén trước khoảng cách ngày càng gia tăng giữa các quốc gia giàu và nghèo, cũng như trước nhu cầu về những chính sách có khả năng cổ võ những điều kiện sống thực sự nhân bản hơn cho tất cả mọi người.

36. Với Octogesima adveniens, được viết nhân dịp kỷ niệm 80 năm Rerum novarum, Đức Phaolô VI chuyển viễn tượng ấy sang xã hội hậu công nghiệp, vốn được đánh dấu bởi các biến đổi đô thị, những hình thức nghèo đói mới, các thay đổi trong thế giới lao động và những biến chuyển văn hóa mau lẹ đặt tương lai của con người và các cộng đồng trước nhiều vấn nạn. Đối với Đức Phaolô VI, Tin Mừng - dù đã được loan báo, được viết ra và được sống trong một bối cảnh lịch sử-văn hóa rất khác với thời đại chúng ta - không phải là một sứ điệp “lỗi thời”, nhưng là một cái nhìn về con người, về các tương quan, về quyền bính và về công ích có khả năng định hướng cả hôm nay cho các quyết định kinh tế, chính trị và văn hóa. [33] Nói cách khác, Tin Mừng vẫn luôn mang tính thời sự bởi nó cung cấp những tiêu chuẩn để nhận ra điều gì nhân bản hóa hay phi nhân hóa, điều gì giải phóng hay áp bức trong những hoàn cảnh luôn mới mẻ. Đối với Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, di sản đòi hỏi nhất nơi Đức Phaolô VI chính là điều này: bao lâu trên thế giới vẫn còn những dân tộc bị loại trừ khỏi một sự phát triển xứng hợp với phẩm giá con người, thì cộng đồng Kitô hữu không thể bằng lòng với việc công bố hòa bình một cách trừu tượng, nhưng phải để cho Tin Mừng xét xử, khởi đi từ những người bị đẩy ra bên lề, các cơ cấu kinh tế và chính trị vốn, như Đức Gioan Phaolô II sau này nhắc lại, có thể trở thành những “cơ cấu tội lỗi” đích thực, [34] để không một cá nhân hay dân tộc nào bị xem là có thể loại bỏ trong các tiến trình phát triển.

Huấn quyền gần đây

37. Huấn quyền xã hội phong phú của thánh Gioan Phaolô II được đặt tại giao điểm giữa cuộc khủng hoảng của các hệ thống ý thức hệ lớn trong thế kỷ XX và sự khởi đầu của tiến trình toàn cầu hóa kinh tế. Trong Thông điệp Laborem exercens, được viết chín mươi năm sau khi Rerum novarum được công bố, một hướng suy tư mới về lao động đã được mở ra. Trong văn kiện ấy, tiền lương công bằng được trình bày như một bằng chứng cụ thể về tính công chính của toàn bộ hệ thống kinh tế-xã hội, bởi nó cho thấy liệu người lao động có được đối xử như một nhân vị hay chỉ như một chi phí sản xuất đơn thuần. [35] Lao động không chỉ được xem như một vấn đề cần quản lý hay như một phương tiện để kiếm thu nhập, nhưng là một thiện ích nền tảng của con người, là nguyên lý của hoạt động kinh tế và là chìa khóa của toàn bộ vấn đề xã hội. Nơi lao động, con người vận dụng tự do, óc sáng tạo và khả năng cộng tác của mình, qua đó góp phần vào sự thăng tiến văn hóa và luân lý của xã hội. [36] Vì thế, các hình thức bấp bênh trong lao động, sự phân mảnh của các lộ trình nghề nghiệp và tiến trình tự động hóa không thể chỉ được đánh giá theo tiêu chuẩn hiệu quả, nhưng phải được xem xét khởi đi từ phẩm giá của người lao động, quyền được hưởng một mức thù lao đủ sống và khả năng thực sự để tham gia vào đời sống xã hội.

38. Nhân dịp kỷ niệm 20 năm Thông điệp Populorum progressio, với Thông điệp Sollicitudo rei socialis, Đức Gioan Phaolô II một lần nữa đề cập đến tai họa của tình trạng chậm phát triển và nhìn nhận sự thất bại của nhiều nỗ lực nhằm giảm bớt sự tụt hậu kinh tế của các dân tộc nghèo cũng như hỗ trợ tiến trình công nghiệp hóa của họ, đồng thời ghi nhận sự tồn tại dai dẳng và đôi khi còn gia tăng của khoảng cách giữa Bắc bán cầu và Nam bán cầu. [37] Ngài cũng lên án các cơ chế kinh tế, tài chính và thương mại mà, khi được điều hành bởi các quốc gia hùng mạnh hơn, đã mang tính cơ cấu trong việc ưu tiên lợi ích của họ và bóp nghẹt các nền kinh tế yếu kém hơn; đồng thời ngài yêu cầu các cơ chế ấy cũng phải được đặt dưới một sự phán xét luân lý nghiêm túc chứ không chỉ đơn thuần kỹ thuật. [38] Trong bối cảnh này, tình liên đới được hiểu như một sự đồng trách nhiệm cụ thể giữa các cá nhân, các dân tộc và các quốc gia, như một hình thức tình bằng hữu xã hội hay bác ái chính trị hướng đến “nền văn minh tình thương” mà Đức Phaolô VI đã kêu gọi. [39]

39. Nhân kỷ niệm một trăm năm Rerum novarum, Thông điệp Centesimus annus sau cùng đã đưa ra một suy tư về sự sụp đổ của hệ thống Xô viết và sự củng cố của nền dân chủ cũng như kinh tế thị trường. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại giáo huấn của Đức Piô XII rằng Giáo Hội có thể đánh giá tích cực nền dân chủ trong mức độ nền dân chủ ấy bảo đảm sự tham gia thực sự của công dân, cho phép tuyển chọn và thay thế các nhà cầm quyền bằng con đường hòa bình, đồng thời ngăn cản việc quyền lực bị độc quyền bởi những nhóm thiểu số bị thúc đẩy bởi các lợi ích riêng tư hay ý thức hệ. [40] Tương tự như thế, ngài nhìn nhận tiềm năng tích cực của thị trường và sáng kiến tư nhân, nhưng chỉ khi chúng vẫn được đặt dưới luật luân lý và được hướng dẫn bởi nguyên tắc liên đới, không hy sinh những người yếu thế cho luận lý lợi nhuận. [41] Đối với Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, đây là một di sản đặc biệt mang tính thời sự: việc khẳng định mối liên hệ giữa phẩm giá của lao động, tình liên đới giữa các dân tộc và sự đánh giá phê bình đối với nền dân chủ cũng như kinh tế thị trường tiếp tục cung cấp những tiêu chuẩn để phán định các hình thức mới của bóc lột, loại trừ và khủng hoảng trong việc đại diện chính trị.

40. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, trong Thông điệp xã hội Caritas in veritate, đã muốn tiếp nhận và đào sâu khái niệm phát triển được trình bày trong Populorum progressio, bằng cách tái diễn giải khái niệm ấy trong bối cảnh toàn cầu hóa. Ngài nhắc lại rằng sự phát triển ấy phải được chuyển thành “một sự tăng trưởng thực sự, có thể mở rộng cho mọi người và bền vững cách cụ thể”, [42] nghĩa là một tiến bộ kinh tế thực sự bao gồm mọi người và tôn trọng các giới hạn của công trình tạo dựng. Tuy nhiên, ngài nhận thấy rằng tại các quốc gia giàu có xuất hiện những tầng lớp người nghèo mới và gia tăng những hình thức loại trừ chưa từng có, trong khi tại các vùng nghèo hơn, những nhóm nhỏ sống trong sự sung túc tiêu thụ lại cùng tồn tại với những hoàn cảnh khốn cùng phi nhân hóa. [43] Hơn nữa, ngài nhận định rằng hệ thống kinh tế-tài chính toàn cầu mới, được đặc trưng bởi sự lưu chuyển rất lớn của tư bản và các phương tiện sản xuất, đã làm suy giảm quyền lực chính trị của các quốc gia và khả năng của họ trong việc định hướng các tiến trình kinh tế. [44] Vì thế, ngài tái khẳng định rằng hoạt động kinh tế không thể tự cho mình khả năng giải quyết các vấn đề xã hội chỉ bằng cách mở rộng luận lý của thị trường, nhưng phải được định hướng về công ích, đối với công ích ấy cộng đồng chính trị có một trách nhiệm riêng và không thể thay thế. [45]

41. Ở trung tâm của sự tái diễn giải này, Đức Bênêđictô XVI đặt bác ái vào vị trí cốt lõi, khi khẳng định rằng bác ái “là con đường ưu việt của Học thuyết Xã hội của Giáo Hội”, [46] với điều kiện nó luôn được kết hợp với chân lý; đồng thời ngài lo ngại nhận thấy rằng, chính trong các lãnh vực xã hội, pháp lý, chính trị và kinh tế, người ta ngày càng có xu hướng tuyên bố rằng bác ái không còn mang ý nghĩa luân lý. Điểm mới mẻ trong đóng góp của ngài nằm ở việc cho thấy rằng phát triển, công lý, các định chế và thị trường không phải là những thực tại trung tính, nhưng là những không gian trong đó bác ái trong chân lý phải mang lấy hình thức lịch sử cụ thể. Trong thời đại hôm nay - bị đánh dấu bởi những bất bình đẳng ngày càng gia tăng, áp lực của các thị trường tài chính, khủng hoảng môi trường và sự mất lòng tin vào chính trị - giáo huấn này vẫn còn nguyên giá trị, bởi nó đòi hỏi phải phán xét mọi mô hình phát triển dựa trên khả năng bao gồm mọi người và tính bền vững của nó, tái lập mối tương quan giữa kinh tế và chính trị quanh công ích, đồng thời nhìn nhận nơi bác ái một vai trò vừa phê bình vừa sáng tạo trong đời sống công cộng.

42. Huấn quyền xã hội của Đức Giáo hoàng Phanxicô được triển khai trong đường hướng của Gaudium et spes, vốn mời gọi chiêm ngắm lịch sử khởi đi từ những thương tích và hy vọng của con người, đồng thời đặt chúng trong cuộc đối thoại với Tin Mừng. Định hướng ấy được biểu lộ đặc biệt rõ ràng trong Evangelii gaudium, nơi khẳng định rằng việc loan báo Kitô giáo mang một chiều kích xã hội nội tại và hướng tới một Giáo Hội có khả năng lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, người di dân và các nạn nhân của những hình thức nô lệ mới. Trong cùng viễn tượng ấy cũng cần hiểu sự nhấn mạnh của Đức Phanxicô về một Giáo Hội hiệp hành, một Giáo Hội trong đó người ta “cùng nhau bước đi”, tìm cách đọc các dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng Tin Mừng và để mình được Tin Mừng hóa bởi chính những người nghèo mà Giáo Hội đang cùng chia sẻ lịch sử với họ. [47]

43. Trong Laudato si’, Đức Phanxicô đưa ra cuộc phân tích hệ thống lớn đầu tiên về cuộc khủng hoảng môi trường trong một Thông điệp xã hội, cho thấy rằng đây không phải là một vấn đề cục bộ, nhưng là chiều kích sinh thái của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội đương đại. Đề nghị của ngài về một “sinh thái toàn diện” kết hợp việc chăm sóc Ngôi Nhà Chung với sự chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo, đồng thời mạnh mẽ khẳng định rằng “tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo” [48] không thể bị tách rời. Theo nghĩa này, các chủ đề như định hướng phổ quát của cải, sự phê phán đối với mô hình kỹ trị vốn muốn giản lược mọi sự thành đối tượng thống trị, việc bảo vệ lao động con người đang bị đe dọa bởi luận lý loại bỏ, đòi hỏi về công bằng liên thế hệ và lời kêu gọi đối thoại đích thực giữa chính trị và kinh tế - để không bên nào tự khép kín trong tính quy chiếu vào chính mình - lại trở thành trung tâm.

44. Trước sự tan rã của cơ cấu xã hội, “cuộc chiến tranh thế giới từng mảnh”, tình trạng toàn cầu hóa mang tính cá nhân chủ nghĩa và những hậu quả của đại dịch đối với các mối dây liên đới cộng đồng, Đức Phanxicô trong Fratelli tutti đã tái khởi động giấc mơ về một nhân loại có khả năng chọn lựa tình bằng hữu xã hội và tình huynh đệ phổ quát. Ngài đề xuất văn hóa gặp gỡ, một “nền chính trị tốt đẹp hơn” có khả năng tìm kiếm công ích, những con đường hòa giải và một thế giới bảo đảm “đất đai, mái nhà và việc làm cho tất cả mọi người”. [49] Sau cùng, với Dilexit nos, ngài cho thấy rằng những dấn thân xã hội lớn lao ấy không thể tách rời khỏi mối tương quan cá vị với Đức Kitô: khi trở về với Lời Chúa, ngài nhắc lại rằng câu trả lời chân thực nhất đối với tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu chính là tình yêu cụ thể dành cho anh chị em mình, và khẳng định rằng “không có cử chỉ nào lớn lao hơn mà chúng ta có thể dâng lên Người để đáp lại tình yêu bằng tình yêu”. [50]

Đọc lịch sử dưới ánh sáng đức tin

45. Khi chiêm ngắm toàn bộ hành trình này, người ta hiểu rằng Học thuyết Xã hội của Giáo Hội không phải là kết quả của một dự án được soạn thảo nơi bàn giấy, nhưng là thành quả của một tiến trình kiên trì, trong đó mỗi vị Giáo hoàng - cùng với Công đồng Vaticanô II - đã đóng góp một phần độc đáo dưới ánh sáng của những “vấn đề mới” trong thời đại của mình. Mỗi vị, khi đón nhận các thách đố của thời đại và giải thích các biến chuyển lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng, đã làm nổi bật những khía cạnh khác nhau của cùng một gia sản duy nhất: phẩm giá con người, giá trị của lao động, định hướng phổ quát của cải, tình liên đới và nguyên tắc bổ trợ, việc chăm sóc công trình tạo dựng, tính trung tâm của hòa bình và tình huynh đệ. Thành quả là một tiến trình phát triển hài hòa, dù không phải lúc nào cũng tuyến tính, được ghi dấu bởi những điểm nhấn khác nhau, bởi những đào sâu tiệm tiến và đôi khi bởi những thay đổi trong cách tiếp cận; tuy nhiên, những điều ấy không đoạn tuyệt với truyền thống trước đó, nhưng làm cho các hệ luận của truyền thống ấy được trưởng thành hơn. Nếu ngày nay chúng ta có thể nói đến một tổng thể các nguyên tắc và tiêu chuẩn được chia sẻ chung, thì đó là vì cách đọc lịch sử dưới ánh sáng đức tin này chưa bao giờ bị gián đoạn và luôn biết để mình được chất vấn bởi những vấn nạn của từng thế hệ. Chính về hạt nhân nền tảng ấy - tức là những nguyên tắc lớn của Học thuyết Xã hội định hướng sự phân định của các tín hữu trong đời sống cá nhân và công cộng - mà giờ đây tôi muốn hướng sự chú ý tới, để có thể nắm bắt rõ hơn tính nhất quán nội tại cũng như sức mạnh sinh thành của chúng đối với thời đại hôm nay.


CHƯƠNG II: NHỮNG NỀN TẢNG VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI

46. Học thuyết Xã hội của Giáo Hội là một thực tại sống động, luôn đối thoại với lịch sử, các nền văn hóa và các ngành khoa học, đồng thời vẫn gìn giữ một hạt nhân chân lý không hề suy giảm. Vì thế, học thuyết ấy có thể được xem như một hình thức khôn ngoan vẫn còn khả năng định hướng đời sống cá nhân và xã hội của các tín hữu trong thời đại hôm nay. Trong chương thứ hai này, tôi muốn dừng lại nơi một vài nền tảng và nguyên tắc của Học thuyết Xã hội, những yếu tố giúp đọc hiểu các “vấn đề mới” của thời đại chúng ta dưới ánh sáng phẩm giá nền tảng của con người. Tôi nghĩ rằng hiện nay, để bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo, chúng ta cần phải suy tư trở lại về công ích, định hướng phổ quát của cải, nguyên tắc bổ trợ và công bằng xã hội. Tôi xác tín rằng mối tương quan hài hòa giữa các nguyên tắc ấy đòi hỏi chúng phải được phân tích trong sự liên kết với nhau, để có thể làm nổi bật cách rõ ràng việc chúng đòi hỏi và soi sáng lẫn nhau.

47. Khi đưa ra những suy tư này, trên hết tôi mong muốn giúp các giáo dân tín hữu và mọi người nam nữ thiện chí tái khám phá nhiệm vụ của mình trong việc hiện diện các nguyên tắc mà tôi sắp trình bày vào trong đời sống thường nhật - nơi các tương quan gia đình, trong công việc và trong sự tham gia xã hội - bằng cách để mình được thúc đẩy bởi ước muốn nhập thể tình yêu Thiên Chúa vào chính mạng lưới cụ thể của lịch sử. Đồng thời, tôi cũng muốn khích lệ các học viện và đại học làm sống lại những nguyên tắc ấy, bằng cách suy xét lại chúng sao cho thích hợp với thời đại hôm nay và hữu hiệu trong việc đối diện với cuộc cách mạng kỹ thuật số. Nhờ đó, việc nghiên cứu thần học và triết học sẽ có thể đào sâu và nâng đỡ hành trình mục vụ của Giáo Hội, góp phần vào sứ mạng của Huấn quyền trong việc soi sáng lương tâm các tín hữu và định hướng sự dấn thân của họ nhằm làm cho đời sống xã hội của chúng ta trở nên công bằng và huynh đệ hơn.

Những nền tảng của Học thuyết Xã hội

Con người là hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi

48. Học thuyết Xã hội của Giáo Hội dẫn chúng ta đến chính trung tâm của đức tin chúng ta: mầu nhiệm Thiên Chúa hằng sống, được mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô như sự hiệp thông các Ngôi vị - Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần: tình yêu trong tương quan, tự hiến cho nhau và thông ban chính mình cho thế giới. [51] Như Công đồng nhắc lại, con người được mời gọi bước vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và “chỉ có thể đạt tới sự viên mãn của mình trong việc chân thành hiến thân”; [52] ơn gọi sâu xa nhất của con người là đi vào chuyển động Ba Ngôi của tình yêu được lãnh nhận và được trao ban.

49. Nếu mầu nhiệm Thiên Chúa-Tình Yêu là nguồn mạch của Học thuyết Xã hội, thì dung mạo cụ thể nhất của mầu nhiệm ấy được chiêm ngắm nơi Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể. Khi trở nên người phàm, Con Thiên Chúa bước vào lịch sử và vào chính xác phàm của chúng ta, mang đến cho chúng ta tình yêu kết hiệp Người với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. “Mầu nhiệm con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể”, [53] bởi vì nhân tính của Người hoàn toàn tự do, rộng mở với tha nhân, có khả năng xây dựng những tương quan liên đới và quý giá, đồng thời hiến trao trọn vẹn chính mình. Ai tin vào Người thì được tham dự vào công trình lớn lao của sự đổi mới được khai mở bởi mầu nhiệm cuộc thương khó, sự chết và phục sinh của Người, đồng thời cộng tác vào việc xây dựng Nước Thiên Chúa bằng cách học biết đón nhận mọi người nữ như chị em và mọi người nam như anh em, là con cái của cùng một Cha. Như thế, cả việc loan báo lẫn kinh nghiệm Kitô giáo, được hướng dẫn bởi hoạt động của Chúa Thánh Thần, đều hướng tới việc phát sinh những hệ quả xã hội trong thế giới. [54]

50. Ở trung tâm của cái nhìn Kitô giáo về con người là khẳng định trọng đại rằng người nam và người nữ được tạo dựng “theo hình ảnh và họa ảnh” (x. St 1,26-27) của Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi con người, tự bản chất được dựng nên cho tương quan, đều được Thiên Chúa nghĩ đến và yêu thương để bước vào một lịch sử hiệp thông với Người, với tha nhân và với công trình tạo dựng. Phẩm giá của họ không tùy thuộc vào những khả năng họ sở hữu, vào của cải hay vai trò họ đảm nhận, cũng không tùy thuộc vào những chọn lựa đúng hay sai mà họ thực hiện, nhưng là một hồng ân có trước và vượt trên họ, được Thiên Chúa trao ban như biểu hiện của tình yêu không bao giờ suy giảm của Người. Vì thế, con người luôn mãi là “con đường đầu tiên và căn bản của Giáo Hội” [55] và là trung tâm của mọi con đường phát triển nhân bản toàn diện đích thực. [56]

Phẩm giá bình đẳng của mọi con người

51. Thánh Gioan Phaolô II khẳng định rằng “ý thức sâu xa nhất về phẩm giá của con người và tính độc nhất của họ, cũng như về sự tôn trọng phải có đối với hành trình của lương tâm, chắc chắn là một thành tựu tích cực của nền văn hóa hiện đại”. [57] Khẳng định này tiếp nối những đường hướng mà Công đồng Vaticanô II đã vạch ra, khi ghi nhận sự gia tăng trong ý thức về phẩm giá cao quý của mọi con người, về giá trị vượt trên mọi sự vật của họ, cũng như về các quyền và bổn phận phổ quát và bất khả xâm phạm của họ. [58] Điều quan trọng là phải cảnh giác để sự phát triển trong ý thức về phẩm giá con người không bị lu mờ dưới áp lực của những ý thức hệ mới hoặc của những lợi ích đầy quyền lực trong thế giới hôm nay. Trong số các ý thức hệ ấy, tôi xem là đặc biệt nguy hiểm ý thức hệ cho rằng mỗi người phải tự kiếm lấy hoặc biện minh cho giá trị của chính mình, đến mức gán giá trị cao hơn cho những ai hiệu quả và năng suất hơn. Trong một viễn tượng như thế, con người cuối cùng bị giản lược thành phương tiện để đạt kết quả, thành một nguồn lực để sử dụng và khai thác, chứ không còn được nhìn nhận như mục đích tự thân, không bao giờ được phép bị công cụ hóa. Nhưng giá trị của con người không tùy thuộc vào những gì họ thực hiện hay sản xuất; có những quyền thuộc về mọi người chỉ vì họ là con người. Không một quyền lực nhân loại nào có thể hợp pháp phủ nhận hoặc giới hạn cách tùy tiện những quyền ấy. [59]

52. Khi nói về phẩm giá, chúng ta không phải lúc nào cũng sử dụng từ ngữ ấy theo cùng một nghĩa; đôi khi chúng ta muốn nói đến phẩm giá luân lý, tức là cách thức con người định hướng các chọn lựa và hành động của mình; những lúc khác chúng ta nghĩ đến phẩm giá xã hội, tức là các điều kiện sống của con người và sự tôn trọng cụ thể mà xã hội dành cho họ; trong những trường hợp khác nữa, chúng ta nói đến phẩm giá hiện sinh, liên quan đến cách thức một người cảm nhận giá trị của chính mình và của cuộc đời mình. Những chiều kích này của phẩm giá có thể gia tăng hoặc suy giảm. Tuy nhiên, vượt trên những ý nghĩa ấy còn có một cấp độ sâu xa hơn, quan trọng nhất, đó là phẩm giá hữu thể học. Đây là phẩm giá thuộc về mọi con người chỉ đơn giản vì họ hiện hữu, vì họ đã được Thiên Chúa muốn có, tạo dựng và yêu thương; [60] không một tội lỗi nào, không một thất bại nào, không một sự hạ nhục nào hay sự loại trừ nào có thể chạm đến giá trị sâu xa của một đời người mà Thiên Chúa đã muốn và gọi vào hiện hữu. [61]

53. Do đó, phẩm giá nền tảng của mỗi con người không phải là điều có được, không phải điều cần phải giành lấy hay cần được chứng minh. Tuyên ngôn gần đây Dignitas infinita đã trình bày một tổng hợp về xác tín của Giáo Hội trong vấn đề này: “Một phẩm giá vô hạn, được đặt nền cách bất khả chuyển nhượng nơi chính hữu thể của mình, thuộc về mỗi con người, vượt trên mọi hoàn cảnh và trong bất cứ trạng huống hay điều kiện nào mà họ đang sống”, [62] nghĩa là luôn luôn và không thể tước bỏ. Phẩm giá của mọi con người có thể được gọi là vô hạn, như thánh Gioan Phaolô II đã nói, [63] vì hai lý do: trước hết, bởi tình yêu của Thiên Chúa - Đấng kêu gọi con người bước vào tình bằng hữu với Người - là vô hạn; và thứ đến, bởi phẩm giá ấy hoàn toàn vô điều kiện, theo nghĩa rằng dù người ta có tìm kiếm đến vô tận cũng sẽ không bao giờ tìm thấy điều gì có thể hủy bỏ hoặc phủ nhận phẩm giá ấy.

Giá trị tối thượng của các quyền con người

54. Giáo Hội ghi nhận với lòng biết ơn rằng “phong trào hướng đến việc nhận diện và công bố các quyền con người là một trong những nỗ lực quan trọng nhất nhằm đáp ứng cách hữu hiệu những đòi hỏi thiết yếu của phẩm giá con người”. [64] Và như thánh Gioan Phaolô II đã khẳng định, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được Liên Hiệp Quốc công bố ngày 10 tháng 12 năm 1948, cho đến hôm nay vẫn tiếp tục là một trong những biểu hiện cao quý nhất của lương tâm nhân loại. [65] Đây là “một cột mốc trên con đường tiến bộ luân lý của nhân loại”. [66] Vì thế, trong viễn tượng Kitô giáo, các quyền con người không phải là một yếu tố thêm vào từ bên ngoài đối với con người, nhưng là sự diễn tả trong lịch sử của phẩm giá nội tại nơi họ, phẩm giá mà cộng đồng quốc tế được mời gọi bảo vệ và thăng tiến.

55. Các quyền con người là bất khả xâm phạm, bởi chúng “gắn liền với chính con người và với phẩm giá của họ”. [67] Hệ quả là các quyền ấy mang tính phổ quát và bất khả chuyển nhượng. [68] Chính vì được đặt nền trên phẩm giá chung của mọi người nam và mọi người nữ, các quyền ấy kéo theo những hệ quả thực tiễn và hiệu lực pháp lý, bởi “sẽ là vô ích nếu công bố các quyền mà đồng thời không thực hiện mọi điều cần thiết để bảo đảm nghĩa vụ tôn trọng các quyền ấy, cho mọi người, ở mọi nơi và đối với tất cả mọi người”. [69] Trong số các quyền ấy, quyền con người đầu tiên là quyền được sống, từ lúc thụ thai cho đến khi kết thúc tự nhiên, [70] bởi nếu không có quyền này thì không thể thực thi bất kỳ quyền nào khác. Khi quyền nền tảng ấy bị phủ nhận - như xảy ra trong việc phá thai cố ý, sát hại người vô tội và trợ tử - chúng ta đứng trước những quyết định mà Giáo Hội phán định là hết sức bất hợp pháp về mặt luân lý. [71]

56. Khi quan sát thời đại hôm nay, chúng ta không thể làm ngơ trước thực tế rằng việc bảo vệ các quyền con người hiện đang bị đe dọa bởi hai nguy cơ đặc biệt nghiêm trọng. Nguy cơ thứ nhất là việc công bố các quyền chỉ còn mang tính hình thức, trong khi song song với tiến bộ công nghệ, những sự vi phạm phẩm giá con người vẫn tiếp tục gia tăng cách kín đáo hoặc công khai. Nguy cơ thứ hai - vốn thực ra là nền tảng của nguy cơ thứ nhất - là việc không còn khả năng nhận ra nền tảng của tính phổ quát nơi các quyền ấy, bởi người ta đã từ bỏ “việc tìm kiếm những nền tảng vững chắc hơn nằm phía sau các chọn lựa cũng như các luật pháp của chúng ta”. [72] Đức Giáo hoàng Phanxicô đã mời gọi đừng xem nhẹ vấn đề thứ hai này. Ngài nhắc lại rằng, khi lý trí để cho mình được chất vấn cách nghiêm túc về bản tính con người, nó có khả năng khám phá ra những giá trị có thể áp dụng cho mọi người, bởi các giá trị ấy phát sinh từ chính bản tính ấy. Nếu công việc tìm kiếm này bị từ bỏ, thì có thể xảy ra trường hợp những quyền hôm nay được xem là bất khả xâm phạm, trong tương lai lại bị đặt lại vấn đề hoặc bị phủ nhận bởi những người nắm quyền lực, có lẽ sau khi đã đạt được một sự đồng thuận chỉ có vẻ bề ngoài từ phía những quần chúng bị gieo rắc sợ hãi hoặc bị thao túng. [73]

57. Cùng với sự gia tăng trong ý thức về giá trị của mọi con người và các quyền của họ, sự nhìn nhận các quyền của các nhóm thiểu số cũng được phát triển. Tuy nhiên, vẫn còn một chặng đường rất dài phải đi để các quyền của một bộ phận lớn nhân loại - chẳng hạn các quyền của phụ nữ - thực sự được bảo đảm trên toàn thế giới. Thực tế cho thấy rằng “những phụ nữ chịu cảnh bị loại trừ, ngược đãi và bạo lực là những người nghèo theo nghĩa kép, bởi họ thường có ít khả năng hơn để bảo vệ các quyền của mình”. [74] Vì thế, không đủ chỉ tuyên bố bằng lời rằng nam giới và nữ giới có cùng phẩm giá và cùng các quyền như nhau; điều cần thiết là điều ấy phải được chuyển thành những quyết định cụ thể, thành luật pháp, thành khả năng tiếp cận công việc, giáo dục và các trách nhiệm xã hội cũng như chính trị, cũng như trong chính cách thức xã hội lắng nghe và trân trọng đóng góp của phụ nữ. Bao lâu sự bất bình đẳng này còn tồn tại, chúng ta chưa thể nói rằng xã hội thực sự và sâu xa nhìn nhận phụ nữ có cùng phẩm giá như nam giới.

58. Điều quan trọng là những con người cụ thể, từng người một cùng với gia đình của họ. Các phong trào xã hội, những tuyên bố chính trị lớn lao nhân danh quần chúng và các ý thức hệ cộng đồng sẽ chẳng mang lại ích lợi gì nếu chúng không được định hướng tới việc thăng tiến con người - nam giới cũng như nữ giới - cùng với các quyền bất khả chuyển nhượng của họ. Tương tự như vậy, việc đề cao tự do cá nhân hay sáng kiến tư nhân cũng không đủ, nếu sau đó người ta vẫn chấp nhận để vô số con người tiếp tục sống mà không có công việc xứng hợp với phẩm giá, không được bảo vệ và không có khả năng tiếp cận những thiện ích căn bản.

Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội

Nguyên tắc công ích

59. Việc nhìn nhận rằng mọi người đều sở hữu một phẩm giá bất khả chuyển nhượng cùng những quyền mà không một quyền lực nhân loại nào có thể làm tổn hại hay tước bỏ, đòi buộc phải định hình cách thức chúng ta cùng chung sống, các quyết định kinh tế và chính trị của chúng ta, cũng như diện mạo cụ thể của các thành phố chúng ta. Từ đây phát sinh nguyên tắc lớn đầu tiên của Học thuyết Xã hội mà tôi muốn đề cập đến: công ích. Chúng ta có thể mô tả công ích như hình thức xã hội của phẩm giá được nhìn nhận nơi mỗi con người. Khi Đức Bênêđictô XVI nhắc đến những giá trị bất khả thương lượng mà Giáo Hội luôn phải bảo vệ, ngài đã bao gồm trong đó “việc cổ võ công ích”. [75] Thật vậy, đối với một Kitô hữu, việc bước ra khỏi thế giới nhỏ bé của những lợi ích riêng tư để dấn thân cho công ích - trong giới hạn khả năng của mình - là một giá trị bất khả thương lượng, cũng như việc bảo vệ sự sống vậy.

60. Công đồng Vaticanô II đã khẳng định rằng công ích hệ tại ở “toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép các tập thể cũng như từng thành viên của mình đạt tới sự hoàn thiện riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn”. [76] Định nghĩa này đem lại cho chúng ta một định hướng quý giá đầu tiên, bởi công ích không thể bị giản lược thành một danh sách đơn thuần các điều kiện hay các định chế. Công ích không đồng nhất với tổng số các công trạng của các cá nhân, cũng không phải là sự cộng gộp các lợi ích riêng tư của họ; đó là một thiện ích cao hơn, thuộc về tất cả mọi người, và chỉ cùng nhau chúng ta mới có thể xây dựng, phát triển và gìn giữ. Chúng ta có thể nói rằng hoạt động xã hội đạt tới sự viên mãn của mình khi hướng đến thiện ích chung ấy, cũng như hành động luân lý của con người đạt tới sự hoàn thành nơi việc lựa chọn điều thiện đích thực. [77]

61. Theo nghĩa này, chúng ta có thể khẳng định rằng “toàn thể lớn hơn các phần tử” [78] và chính vì thế “chỉ riêng tổng số các lợi ích cá nhân cũng không đủ khả năng tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn cho toàn thể nhân loại”. [79] Thật là một ảo tưởng khi nghĩ rằng chỉ cần tìm kiếm sự tiến bộ riêng của mình là đã góp phần vào thiện ích của mọi người mà không cần thực sự quan tâm đến tha nhân. Cái nhìn ấy không nhận ra giá trị riêng biệt và đặc thù của công ích; công ích là thành quả của “sự liên đới hỗ tương” [80] vốn tạo nên một mạng lưới thiện ích xã hội lan tỏa và tác động trên con người. Công ích là một giá trị cộng thêm (plus), phát sinh từ sự tương tác và ảnh hưởng hỗ tương liên kết các hành động, sáng kiến, nỗ lực và quyết định khác nhau. Nếu chỉ đơn thuần cộng các lợi ích cá nhân lại với nhau, người ta sẽ không thể giải thích được sự hiện hữu của giá trị cộng thêm ấy - một giá trị vừa vượt trên vừa làm phong phú chính các lợi ích riêng lẻ.

62. Việc tìm kiếm công ích chính là điều làm cho một dân tộc có sức sống, được hiểu không phải như một tập hợp đơn thuần của các cá nhân, nhưng như một thực tại sống động, nơi con người học biết nhìn nhận mình được liên kết với nhau và cùng có trách nhiệm đối với res publica (công ích xã hội). Theo nghĩa này, mỗi người góp phần xây dựng chính dân tộc của mình bằng “một công việc chậm rãi và nhọc nhằn, đòi hỏi phải muốn hội nhập và học biết thực hiện điều đó cho đến khi phát triển được một nền văn hóa gặp gỡ trong một sự hòa điệu đa dạng”. [81] Cùng nhau làm việc vì thiện ích của mọi người có nghĩa là cùng chia sẻ một dự án chung. Hiển nhiên là giữa những con người khác nhau luôn tồn tại nhiều khác biệt về ý thức hệ và thực hành, có sự đa dạng về lợi ích và thường xuyên có những đối kháng; tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là một tiến trình đối thoại nhằm hình thành một nền tảng đồng thuận, cho phép xây dựng một dự án cho tất cả mọi người và cùng nhau bước đi, lại là điều bất khả.

63. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm sự gắn kết, hiệp nhất và tổ chức cách công bằng xã hội dân sự, để công ích thực sự có thể được theo đuổi với sự đóng góp của mọi người. Điều này, một cách cụ thể, có nghĩa là quyền bính công cộng có nhiệm vụ tế nhị là “điều hòa cách công bằng” [82] các lợi ích khác nhau đang hiện diện, bằng cách tìm kiếm sự quân bình giữa các lợi ích riêng lẻ và các thiện ích chung, mà không bỏ rơi những người yếu thế nhất. Khi chính trị từ bỏ một viễn tượng dài hạn và bị giản lược thành những tính toán ngắn hạn hay những sự phân cực vô ích, thì các diễn ngôn về công ích sẽ đánh mất tính khả tín của mình, đồng thời những bất bình đẳng và rạn nứt xã hội cũng gia tăng.

64. Điều này cũng đúng đối với chính trị quốc tế. Khi khoảng cách giữa các dân tộc ngày càng gia tăng, các luận lý đối đầu và gây hấn sẽ dần thắng thế, và hành trình khó khăn hướng tới một thế giới hiệp nhất và huynh đệ hơn sẽ phải chịu thêm những bước thụt lùi mới đầy đau đớn. Trong bối cảnh ấy, việc nói đến một hành trình chung hướng tới một sự phát triển công bằng hơn cho toàn thể gia đình nhân loại “nghe như một điều điên rồ”. [83] Tuy nhiên, chúng ta không được đánh mất niềm hy vọng. Tôi mời gọi mọi người suy nghĩ về những hình thức cộng tác và những định chế quốc tế hữu hiệu hơn, có khả năng chăm lo cho công ích toàn cầu mà không xóa bỏ tính đa dạng chính đáng của các dân tộc và quốc gia. Thật vậy, việc cổ võ công ích không bao giờ có thể tách rời khỏi sự tôn trọng quyền của các dân tộc được hiện hữu, được gìn giữ bản sắc riêng của mình và được đóng góp bằng nét độc đáo riêng cho gia đình các quốc gia. [84] Bất cứ nỗ lực hay dự án nào nhằm loại bỏ hoặc khuất phục một quốc gia đều là điều hết sức phi luân và vì thế không thể chấp nhận được.

Nguyên tắc định hướng phổ quát của cải

65. “Trong nhiều hệ luận của công ích, nguyên tắc định hướng phổ quát của cải nổi bật lên cách trực tiếp”. [85] Nguyên tắc này trước hết nhắc nhở chúng ta rằng các của cải của trái đất - đất đai, nước, không khí và các tài nguyên thiên nhiên - đã được Thiên Chúa ban cho toàn thể gia đình nhân loại để nâng đỡ sự sống của mọi người, hôm nay cũng như cho các thế hệ tương lai, và rằng mọi người đều có một quyền nguyên thủy đối với việc sử dụng các của cải ấy. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng “Thiên Chúa đã ban trái đất cho toàn thể nhân loại để trái đất nuôi sống mọi cư dân của mình, không loại trừ ai và cũng không ưu đãi riêng ai”. [86] Vì thế, “không phù hợp với ý định của Thiên Chúa khi sử dụng hồng ân này theo cách mà những lợi ích của nó chỉ phục vụ cho một số ít người”. [87] Ngày nay, chúng ta được mời gọi nhận ra rằng định hướng phổ quát ấy không chỉ liên hệ đến các của cải vật chất, nhưng còn cả các của cải phi vật chất và văn hóa nữa.

66. Quyền tư hữu là một quyền chính đáng, có ý nghĩa và chức năng riêng của nó, nhưng luôn phải lệ thuộc vào nguyên tắc định hướng phổ quát của cải. Theo thánh Gioan Phaolô II, sự lệ thuộc ấy là quy luật vàng của đời sống xã hội và là “nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự luân lý-xã hội”. [88] Truyền thống của Giáo Hội luôn nhìn nhận quyền sở hữu như một phương thế để gìn giữ và quản trị các của cải sao cho chúng có thể phục vụ công ích cách hữu hiệu hơn. Bởi vì “truyền thống Kitô giáo chưa bao giờ nhìn nhận quyền tư hữu như một quyền tuyệt đối hay bất khả xâm phạm”, [89] nên chức năng xã hội của quyền sở hữu không được xem chỉ như một ý kiến thần học, nhưng như một giáo huấn chắc chắn của Giáo Hội, vốn đã hiện diện trong Thánh Kinh và nơi các Giáo phụ. Vì thế, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhắc lại rằng tình liên đới, khi được sống cách sâu xa, cũng có nghĩa là “trả lại cho người nghèo điều vốn thuộc về họ”. [90]

67. Ngày nay, trong số những của cải được định hướng phổ quát cho mọi người, chúng ta cũng phải bao gồm cả những hình thức sở hữu mới: bằng sáng chế, thuật toán, các nền tảng kỹ thuật số, hạ tầng công nghệ và dữ liệu. Trong một bối cảnh mà sự giàu mạnh của các quốc gia ngày càng tùy thuộc vào tri thức và công nghệ, khi những của cải ấy bị tập trung trong tay một số ít người mà không có những hình thức chia sẻ và tiếp cận thích đáng, thì sẽ phát sinh một sự mất quân bình mới đi ngược lại nguyên tắc định hướng phổ quát của cải và làm gia tăng khoảng cách giữa những người được bao gồm và những người bị loại trừ, giữa những ai có thể tham gia vào cuộc cách mạng kỹ thuật số và những ai bị bỏ lại bên lề. Hơn nữa, việc chăm sóc Ngôi Nhà Chung và trách nhiệm đối với người nghèo cũng như các thế hệ tương lai đòi hỏi rằng việc sử dụng các của cải của công trình tạo dựng và những khả thể mới do kỹ thuật mang lại phải được điều chỉnh sao cho tôn trọng môi trường và tránh sự phung phí cũng như những hình thức lừa đảo mới.

Nguyên tắc bổ trợ

68. Nguyên tắc bổ trợ phát sinh từ chính cái nhìn về con người đã hướng dẫn suy tư của chúng ta về phẩm giá và công ích. Nếu mọi người nam và mọi người nữ đều được mời gọi trở thành chủ thể của chính đời mình và tham gia vào việc xây dựng xã hội, thì tổ chức xã hội cũng phải tôn trọng và nâng đỡ trách nhiệm ấy. Học thuyết Xã hội của Giáo Hội gọi là “bổ trợ” nguyên tắc theo đó những gì các cá nhân, gia đình, cộng đồng địa phương và các tổ chức trung gian có thể thực hiện thì không được bị các cấp cao hơn hấp thụ mất. Các định chế ở cấp cao hơn phải nhìn nhận, bảo vệ và cổ võ tự do cũng như tính sáng tạo của các cấp thấp hơn, đồng thời điều phối những đóng góp của họ để họ có thể cộng tác hữu hiệu vào công ích. [91]

69. Ngay từ những khởi đầu của Huấn quyền xã hội hiện đại dưới thời Đức Lêô XIII, Giáo Hội đã luôn nhấn mạnh rằng không cá nhân nào cũng như không gia đình nào được phép bị Nhà nước thâu tóm hay hấp thụ, nhưng phải được hành động cách tự do trong mức độ có thể, miễn là không gây phương hại đến công ích. [92] Thánh Gioan Phaolô II đã tiếp tục và đào sâu quan điểm này khi nhắc lại rằng cộng đồng chính trị hiện hữu để phục vụ xã hội dân sự, và Nhà nước có trách nhiệm chăm lo cho công ích, bằng cách can thiệp khi cần thiết, nhưng không được thay thế một cách thường xuyên và lâu dài trách nhiệm của các tổ chức trung gian và các thực thể xã hội. [93] Nguyên tắc bổ trợ không phải là sự biện minh cho thái độ thờ ơ hay thoái thác trách nhiệm của Nhà nước, nhưng là nguyên tắc định hướng cho hoạt động của Nhà nước. Chính sự can thiệp của công quyền được đòi hỏi nhằm tạo điều kiện để mọi chủ thể xã hội có thể chu toàn sứ mạng của mình mà không bị đè bẹp hay loại trừ. Do đó, cộng đồng chính trị có trách nhiệm kiến tạo những điều kiện cần thiết để các cá nhân, gia đình, các hiệp hội và các tổ chức trung gian có thể thực hiện ơn gọi xã hội riêng của mình, mà không bị thay thế hoặc bị hạ thấp thành những người chỉ đơn thuần thi hành mệnh lệnh. [94]

70. Nguyên tắc này khuyến khích vượt thắng mọi hình thức quản lý xã hội theo kiểu gia trưởng hay ban phát, bằng cách cổ võ một lối sống đồng trách nhiệm: một Nhà nước biết trân trọng sáng kiến của công dân và một xã hội dân sự có khả năng tạo nên những mối dây liên kết và khơi dậy những năng lực phục vụ công ích. Theo luận lý của nguyên tắc bổ trợ, các quyết định phải được thực hiện ở cấp độ gần với những người liên hệ nhất, bằng cách đề cao đời sống hiệp hội, để dân chúng không phải đứng trước những quyết định đã được định đoạt sẵn, nhưng có thể tham gia vào chính tiến trình xây dựng chúng. Ở những nơi mà gia đình, các hiệp hội, cộng đồng địa phương, các tổ chức thiện nguyện và cái gọi là “khu vực thứ ba” được nhìn nhận và nâng đỡ, đời sống xã hội sẽ trở nên gần gũi hơn với con người, các dịch vụ được cung cấp với sự quan tâm lớn hơn đến các nhu cầu thực sự, và những giải pháp đưa ra cũng sáng tạo hơn cũng như tôn trọng phẩm giá của mỗi người hơn. [95]

71. Nguyên tắc bổ trợ mang một giá trị đặc biệt trong bối cảnh của cuộc cách mạng kỹ thuật số. Ở đây, cấp độ cao hơn không còn là Nhà nước, nhưng là những chủ thể kinh tế và công nghệ lớn đang nắm giữ một quyền lực thực tế trên các điều kiện của đời sống chung. Cấp độ hấp thụ năng lực, dữ liệu và khả năng quyết định được cấu thành bởi các doanh nghiệp và các nền tảng kỹ thuật số, vốn xác định các điều kiện tiếp cận, những quy tắc hiển thị, các hình thức tương quan và thậm chí cả những cơ hội kinh tế. Nguyên tắc bổ trợ đòi hỏi rằng các tiến trình ấy không được áp đặt từ trên xuống theo cách mờ ám và đơn phương, nhưng phải được định hướng về công ích thông qua tính minh bạch, trách nhiệm và những hình thức tham gia thực sự (các cuộc kiểm toán độc lập, tính minh bạch của các thuật toán, quyền tiếp cận công bằng đối với dữ liệu và các cơ chế kháng nghị). [96]

72. Trong bối cảnh ấy, các quốc gia và các định chế siêu quốc gia được mời gọi bảo đảm những quy tắc công bằng và các cơ chế bảo vệ hữu hiệu, để các cộng đồng địa phương, các tổ chức trung gian, các trường học và đại học, cũng như các thực thể Giáo Hội và các hiệp hội có thể có tiếng nói và góp phần vào việc phân định các quyết định ảnh hưởng đến đời sống con người: lao động, việc tiếp cận các dịch vụ, quản lý dữ liệu và các môi trường kỹ thuật số. Trong những quyết định liên quan đến các dòng lưu chuyển kinh tế, các nền tảng kỹ thuật số, việc quản lý dữ liệu và các thuật toán, không thể để cho một số ít chủ thể tự mình định hướng các tiến trình, nhưng cần phải xây dựng những hình thức cộng tác tôn trọng các cấp độ khác nhau của cộng đồng thế giới và làm cho họ trở nên đồng trách nhiệm đối với công ích. [97]

Nguyên tắc liên đới

73. Sau khi đã xem xét công ích và nguyên tắc bổ trợ, giờ đây tôi muốn dừng lại nơi nguyên tắc liên đới. Nguyên tắc này phát sinh từ cái nhìn về con người được đức tin soi sáng; mọi con người đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được đặt vào trong một mạng lưới các tương quan nối kết họ với tha nhân, với các dân tộc và với công trình tạo dựng. Thánh Phaolô VI nhắc lại rằng các bổn phận liên đới, công bằng và bác ái bén rễ trong tình huynh đệ nhân loại và siêu nhiên vốn liên kết con người và các dân tộc với nhau. [98] Tình huynh đệ không chỉ là một khát vọng nội tâm của người tín hữu, nhưng còn là một hình thức xã hội và chính trị cần được nhập thể trong các quyết định và hành trình chung. Vì thế, tình liên đới là sự nhìn nhận cụ thể rằng vận mệnh của mỗi người gắn liền với vận mệnh của tất cả mọi người; thật vậy, “không ai được cứu một mình”. [99] Từ đây cũng cho thấy cách rõ ràng mối liên hệ chặt chẽ giữa nguyên tắc bổ trợ và tình liên đới. Khi nguyên tắc bổ trợ không đi kèm với tình liên đới, nó sẽ trở thành sự bảo vệ đơn thuần các lợi ích riêng tư; còn khi tình liên đới không được nâng đỡ bởi nguyên tắc bổ trợ, nó sẽ thoái hóa thành một hình thức trợ giúp mang tính ban phát, không cổ võ trách nhiệm. [100] Mối tương quan ấy cũng dẫn tới trách nhiệm về một sự tham gia đích thực; tình liên đới được biểu lộ khi mỗi người, cá nhân cũng như cùng với người khác, tham dự vào đời sống cộng đồng - tìm hiểu thông tin, tham gia hiệp hội, cất lên tiếng nói của mình, đóng góp vào các quyết định và các chọn lựa công cộng - bằng cách đảm nhận những trách nhiệm thực sự để công ích được cụ thể hóa trong những quyết định chung.

74. Trong nhiều lãnh vực, chúng ta đã trải nghiệm một dạng “liên đới trên thực tế”; đời sống của chúng ta được đan kết với nhau, các nền kinh tế và truyền thông toàn cầu khiến những gì xảy ra tại một nơi có thể tạo nên những tác động ở rất xa, và các mạng lưới kỹ thuật số kết nối theo thời gian thực con người cũng như các cộng đồng trên khắp thế giới. Tuy nhiên, mạng lưới các tương quan ấy vẫn chưa phải là tình liên đới theo nghĩa trọn vẹn nếu nó không trở thành một chọn lựa có ý thức. Đức tin mời gọi chúng ta đọc thực tại này như một lời mời gọi: chúng ta không chỉ đơn thuần là những người láng giềng của nhau, nhưng còn được trao phó cho nhau, để mỗi người chăm lo, trong mức độ có thể, cho cuộc sống và những thương tích của anh chị em mình. Tình liên đới phát sinh chính khi chúng ta quyết định không dửng dưng trước những gì xảy đến với người thân cận và biến những mối dây liên kết tất yếu - kinh tế, văn hóa và công nghệ - thành những hành trình trao đổi, cộng tác và chăm sóc lẫn nhau, bằng cách học biết “suy nghĩ và hành động theo chiều hướng cộng đồng”. [101]

75. Huấn quyền xã hội đã nhấn mạnh rằng tình liên đới vừa là một nguyên tắc vừa là một nhân đức. Với tư cách là nguyên tắc, nó diễn tả trật tự khách quan của các tương quan giữa con người, các nhóm và các dân tộc, đồng thời nói lên ý thức về sự lệ thuộc hỗ tương, theo đó thiện ích của mỗi người được thực hiện ngang qua thiện ích của tha nhân. Với tư cách là nhân đức, trái lại, nó đòi hỏi một “quyết tâm kiên vững và bền bỉ” [102] nhằm hoạt động cho công ích, với sự quan tâm đặc biệt đối với những người yếu thế nhất. Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc lại rằng tình liên đới là “một cách thức làm nên lịch sử” [103] vốn xây dựng các dân tộc chứ không chỉ tạo nên những đám đông cá nhân rời rạc. Vì thế, tình liên đới bao hàm những lối sống tiết độ và chia sẻ, khả năng từ bỏ những lợi ích trước mắt để mở ra tương lai cho tha nhân, cũng như sự sẵn sàng chất vấn các thói quen và đặc quyền - kể cả những đặc quyền gắn liền với tiêu thụ kỹ thuật số và việc sử dụng công nghệ - khi chúng ngăn cản người khác được sống xứng hợp với phẩm giá con người.

76. Trong một thế giới được đánh dấu bởi những mối tương quan ngày càng chặt chẽ giữa các cá nhân, cộng đồng và quốc gia, tình liên đới cũng mang lấy một chiều kích toàn cầu. Đức Bênêđictô XVI đã mạnh mẽ nhấn mạnh mối liên hệ giữa phát triển, công bằng và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai, khi nhắc lại rằng sự phát triển đích thực đòi hỏi một tình liên đới liên thế hệ [104] và một sự quan tâm đến những mối dây liên kết chúng ta với môi trường tự nhiên. Ngày nay, trách nhiệm ấy còn mở rộng tới các hạ tầng kỹ thuật số và thông tin; cũng như môi trường tự nhiên, “hệ sinh thái kỹ thuật số” cũng có thể được chăm sóc hoặc bị khai thác, được chia sẻ hoặc bị độc chiếm. Tình liên đới đòi hỏi rằng những quyết định liên quan đến dữ liệu, thuật toán, các nền tảng kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo phải lưu tâm không chỉ đến lợi ích tức thời của một số ít người, nhưng còn đến tác động trên mọi dân tộc và các thế hệ tương lai.

Nguyên tắc công bằng xã hội

77. Đối với cộng đồng Kitô hữu, công bằng xã hội là một hình thức cụ thể của việc bước theo Đức Giêsu và trung thành với Tin Mừng của Người. Trong Tân Ước, Đức Giêsu loan báo “Tin Mừng cho người nghèo” (Lc 4,18) và đồng hóa mình với những kẻ bé nhỏ, đau yếu, tù đày và ngoại kiều (x. Mt 25,31-46). Qua đó, Người dạy chúng ta rằng công bằng phát sinh và được thực hiện trong tình huynh đệ, bởi cách thức chúng ta đến gần và tương quan với những người bé mọn nhất, trên thực tế, trở thành thước đo cho mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa và với anh chị em mình. Tuy nhiên, công bằng không chỉ liên hệ đến hành vi của các cá nhân, nhưng còn đến chính cách thức các cơ cấu của đời sống chung được quan niệm và tổ chức. Về điểm này, Công đồng Vaticanô II nhắc lại rằng mọi định chế đều được mời gọi phục vụ con người và phẩm giá của họ. [105] Vì thế, công bằng xã hội được nhận ra qua khả năng của một trật tự xã hội, kinh tế và chính trị trong việc cho phép mọi người - đặc biệt là những người mong manh yếu đuối nhất - được sống cách thực sự nhân bản, mà không ai bị bỏ lại phía sau.

78. Huấn quyền gần đây đã nhấn mạnh rằng công bằng xã hội đòi hỏi một cái nhìn lấy những người bé mọn nhất làm điểm khởi đầu. Thánh Gioan Phaolô II đã nói đến một sự chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo [106] phải định hướng các quyết định cá nhân cũng như xã hội, trong khi Đức Giáo hoàng Phanxicô lên án một “nền văn hóa loại bỏ” [107] vốn ngày càng tạo ra những hình thức loại trừ mới. Trong viễn tượng ấy, công bằng xã hội đòi hỏi phải nhìn đến con người và các dân tộc bắt đầu từ những người dễ bị tổn thương nhất: người nghèo, người di dân, người tị nạn, những người phải di dời trong nội địa, các nạn nhân của bạo lực, những người sống nơi các vùng ngoại vi đô thị hay ngoại vi hiện sinh.

79. Ý niệm “công bằng xã hội” giúp nhận ra rằng bất công không chỉ phát sinh từ những quyết định sai lầm của các cá nhân, nhưng còn từ các cơ cấu, cơ chế, hệ thống kinh tế và văn hóa vốn gần như tự động tạo ra bất bình đẳng. Thánh Gioan Phaolô II đã nói đến những “cơ cấu tội lỗi” [108] chống lại ý muốn của Thiên Chúa và đòi hỏi một nỗ lực hoán cải cả cá nhân lẫn xã hội. Trong viễn tượng này, công bằng không chỉ liên hệ đến việc phân phối công bằng các của cải hay sửa chữa những bất công hiện tại, nhưng còn mang lấy một chiều kích phục hồi. Công bằng hướng đến việc tái lập những mối dây liên kết đã bị phá vỡ và tái hội nhập những người đã bị loại trừ, bằng cách lưu tâm đến các thương tích do bất công gây ra: chiến tranh, chủ nghĩa thực dân, các hình thức phân biệt chủng tộc hoặc giới tính, bạo lực chống lại toàn thể các dân tộc và sự bóc lột. Điều đó có thể có nghĩa là trả lại phẩm giá và tiếng nói cho những người đã bị phớt lờ, cổ võ những tiến trình chữa lành ký ức tập thể, đấu tranh chống lại các luật lệ và thực hành mang tính kỳ thị, cũng như nâng đỡ cụ thể những người vẫn còn đang mang hậu quả của các bất công trong quá khứ.

80. Trong thời đại hôm nay, công bằng xã hội còn phải đối diện với môi trường được tạo nên bởi các công nghệ kỹ thuật số. Sự lan rộng của các mạng lưới toàn cầu, các nền tảng kỹ thuật số và các hệ thống trí tuệ nhân tạo đang thay đổi cách thức con người tiếp nhận thông tin, truyền thông và tiếp cận các dịch vụ. Công bằng đòi hỏi phải ngăn chặn sự xuất hiện của những hình thức loại trừ và tước đoạt tự do mới: những cá nhân và dân tộc bị từ chối hoặc bị hạn chế khả năng tiếp cận các công nghệ căn bản; những cộng đồng bị đặt dưới sự giám sát xâm phạm; và những nhóm xã hội bị thiệt hại bởi các thuật toán thiếu minh bạch vốn tái tạo các thành kiến và sự phân biệt đối xử. Một trật tự xã hội công bằng trong thời đại kỹ thuật số là trật tự bảo đảm cho mọi người một sự tiếp cận bình đẳng đối với các cơ hội, bảo vệ những người bé nhỏ và mong manh nhất, chống lại hận thù và sự sai lệch thông tin, đồng thời đặt việc sử dụng dữ liệu và công nghệ dưới sự kiểm soát công cộng, để tiêu chuẩn hướng dẫn không chỉ là lợi nhuận, nhưng là phẩm giá của mỗi con người và thiện ích của các dân tộc.

81. Một sự khảo nghiệm mang tính quyết định đối với công bằng xã hội ngày nay được thể hiện qua hoàn cảnh của người di dân, người tị nạn và tất cả những ai buộc phải rời bỏ quê hương vì nghèo đói, bạo lực, biến đổi khí hậu và các thảm họa thiên nhiên. Cách thức mà một xã hội đối xử với họ cho thấy liệu quan niệm công bằng của xã hội ấy được hướng dẫn bởi sợ hãi hay bởi tình huynh đệ. Đức Giáo hoàng Phanxicô mời gọi nhìn nhận nơi những người di dân không chỉ đơn thuần là một vấn đề cần giải quyết, nhưng là “một hình ảnh sống động của Dân Thiên Chúa đang lữ hành”; [109] những con người có phẩm giá, khả năng và ước mơ, có quyền được đối xử với sự tôn trọng và mong muốn có cơ hội trở thành phần tử tích cực của các xã hội đón nhận họ. Công bằng xã hội, trong lãnh vực này, bao hàm ít là hai cam kết bổ túc cho nhau. Một mặt, bảo vệ quyền được hy vọng của những người buộc phải ra đi, bằng cách bảo đảm cho họ những con đường an toàn và hợp pháp, những điều kiện tiếp đón xứng hợp với phẩm giá và những tiến trình hội nhập thực sự. Mặt khác, cũng phải cổ võ quyền được ở lại trên chính quê hương mình trong hòa bình và an ninh, bằng cách giải quyết những nguyên nhân sâu xa buộc con người phải di cư, kể cả các nguyên nhân liên hệ đến bất công kinh tế và cuộc khủng hoảng khí hậu. Khi các quyền ấy được tôn trọng, việc di cư có thể trở thành cơ hội gặp gỡ và làm phong phú lẫn nhau giữa các dân tộc.

Sự phát triển con người toàn diện

82. Trong Thông điệp Populorum progressio, thánh Phaolô VI khẳng định rằng sự phát triển chỉ đích thực khi mang tính “toàn diện”, nghĩa là nhằm “thăng tiến mọi người và toàn thể con người”. [110] Trong những thập niên tiếp theo, Học thuyết Xã hội của Giáo Hội đã tiếp nhận và đào sâu cách diễn tả ấy để chỉ ra phương thức cụ thể mà các nguyên tắc lớn - phẩm giá, công ích, định hướng phổ quát của cải, nguyên tắc bổ trợ, tình liên đới và công bằng xã hội - được áp dụng trong lịch sử. “Sự phát triển con người toàn diện” được hiểu như một tiến trình trong đó sự tăng trưởng của con người và các dân tộc bao trùm mọi chiều kích của đời sống và mở ra tương lai cho cả các thế hệ mai sau.

83. Sự phát triển, đối với cả cá nhân lẫn các quốc gia, vừa là một nhiệm vụ vừa là một quyền; nó đòi hỏi những điều kiện tối thiểu giúp mỗi người và mỗi dân tộc có thể trưởng thành theo phẩm giá riêng của mình, mà không bị duy trì trong tình trạng lệ thuộc hoặc bị loại trừ khỏi việc tiếp cận các thiện ích cần thiết. Sự phát triển mang tính nhân bản khi đặt con người ở vị trí trung tâm chứ không phải sự tích lũy của cải, và khi hướng tới cả các dân tộc chứ không chỉ các cá nhân. Công bằng đòi phải nhìn nhận các quyền xã hội và quyền của các dân tộc, đồng thời bao hàm trách nhiệm đối với những người sẽ đến sau chúng ta. Vì thế, không thể gọi là nhân bản một sự phát triển làm gia tăng tiêu dùng của một số người với giá phải trả là những tổn thất và thương tích nơi người khác, hoặc đẩy toàn bộ các vùng lãnh thổ vào những vai trò lệ thuộc khiến họ không thể phát huy chính tiềm năng của mình. [111] Sự phát triển mang tính toàn diện khi không bị thu hẹp vào lãnh vực kinh tế, nhưng thăng tiến phẩm chất đời sống trong các chiều kích thiêng liêng, văn hóa, luân lý và tương quan, trong sự tôn trọng Ngôi Nhà Chung, sự đa dạng của các dân tộc và các lối sống của họ. [112]

84. Ngày nay, ý niệm về sự phát triển con người toàn diện tìm thấy một tiêu chuẩn kiểm chứng mang tính quyết định nơi sinh thái toàn diện, vốn đã trở thành một chiều kích không thể thiếu của Học thuyết Xã hội của Giáo Hội. Thật vậy, phẩm chất của sự phát triển được đo bằng khả năng giữ cho công lý đối với con người và việc gìn giữ Ngôi Nhà Chung luôn gắn kết với nhau, không tách rời nhau, bằng cách cổ võ những điều kiện sống xứng hợp với phẩm giá, khả năng tiếp cận các thiện ích cần thiết, những tương quan xã hội công bằng, việc chăm sóc công trình tạo dựng và sự quan tâm đối với các thế hệ tương lai. Từ đó suy ra rằng không thể gọi là tiến bộ đích thực một tiến trình làm gia tăng phúc lợi cho một số người nhưng lại hủy hoại các hệ sinh thái, đổ gánh nặng lên các cộng đồng dễ tổn thương nhất hoặc làm tổn hại các điều kiện sống của những người sẽ đến sau chúng ta.

85. Được hiểu theo cách ấy, sự phát triển con người toàn diện chính là chân trời mà trong đó cần phải đọc hiểu những biến đổi của thời đại hôm nay, kể cả các biến đổi do cuộc cách mạng kỹ thuật số mang lại. Các đổi mới công nghệ - bao gồm trí tuệ nhân tạo - không hề trung lập; chúng có thể gia tăng sự tham gia và công bằng, hoặc làm trầm trọng thêm bất bình đẳng, sự kiểm soát và loại trừ. Vì thế, cần phải thẩm định chúng bằng một câu hỏi mang tính quyết định: liệu chúng có thực sự góp phần giúp con người và các dân tộc tăng trưởng trong nhân tính và tình huynh đệ, trong sự tôn trọng Ngôi Nhà Chung và các thế hệ tương lai hay không? Chính tại đây, các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội trở thành những tiêu chuẩn phân định cụ thể đối với các lãnh vực mà chúng ta sẽ đề cập trong những chương tiếp theo.

Một cuộc xét mình dành cho Giáo Hội

86. Sau cùng, tôi muốn đề cập đến một điểm khiến tôi đặc biệt quan tâm. Học thuyết Xã hội không chỉ là một lời nói hướng đến xã hội; đó còn là một cuộc xét mình dành cho Giáo Hội, là nhà và trường học của sự hiệp thông, luôn được mời gọi kiểm chứng xem những nguyên tắc được trình bày trong chương này có được sống trước hết ngay trong lòng mình hay không. Công ích, trong lãnh vực Giáo Hội, mang khuôn mặt của một phong cách hiệp hành hướng tới sứ mạng phục vụ Nước Trời. Thật vậy, Giáo Hội là “chủ thể cộng đoàn và lịch sử của tính hiệp hành và của sứ mạng”. [113] Điều này đòi hỏi phải lưu tâm đến cách thức đưa ra các quyết định và thi hành trách nhiệm. Tài liệu Chung kết của Thượng Hội đồng xác định rằng, trong số những thực hành mang tính quyết định cho sự hoán cải truyền giáo, có văn hóa minh bạch, tinh thần trách nhiệm giải trình và việc lượng giá. [114]

87. Trong viễn tượng ấy, nguyên tắc bổ trợ trở thành một tiêu chuẩn cho việc quản trị và đời sống mục vụ, nhờ đó nhìn nhận và nâng đỡ trách nhiệm của các tín hữu cũng như của các cơ cấu trung gian trong Giáo Hội, bằng cách đề cao các đặc sủng và năng lực chuyên môn, đồng thời tránh mọi hình thức gia trưởng làm nghẹt thở tự do Tin Mừng. Một cách cụ thể, sự tham gia của các tín hữu đã lãnh nhận bí tích Rửa tội vào các tiến trình quyết định và sự đồng trách nhiệm trong sứ mạng được thực hiện ngang qua những cơ cấu tham gia thực sự chứ không chỉ trên danh nghĩa. [115]

88. Đối với cộng đồng Kitô hữu, tình liên đới bắt nguồn từ chính mầu nhiệm Đức Kitô và được nuôi dưỡng bởi bí tích Thánh Thể. Tình liên đới ấy phát sinh từ sự hiệp thông trong đức tin và các bí tích: bí tích Rửa tội và Thêm sức kết hợp chúng ta trong Đức Kitô, để chúng ta trở nên một thân thể và một thần khí, một lòng một ý (x. Ep 4,4; Cv 4,32). Bí tích Thánh Thể, bí tích của sự hiệp nhất, nuôi dưỡng sự thuộc về của chúng ta đối với thân thể Đức Kitô và dạy chúng ta biết chia sẻ. Những nhạy cảm khác nhau hiện diện trong Giáo Hội, những xác tín mạnh mẽ thúc đẩy mỗi người, là một sự phong phú nếu chúng vẫn được neo giữ trong xác tín rằng sự hiệp nhất là một hồng ân đã lãnh nhận và đồng thời là một nhiệm vụ phải đảm nhận.

89. Sống công bằng trong Giáo Hội có nghĩa là chữa lành các tương quan và các cơ cấu Giáo Hội khỏi những lệch lạc gây nên bất bình đẳng, thiếu minh bạch và những lạm dụng. Về điểm này, việc lắng nghe các nạn nhân của những lạm dụng thiêng liêng, kinh tế, thể chế, tính dục, quyền lực và lương tâm là một phần không thể tách rời của hành trình công lý, hành trình bao gồm việc nhìn nhận tổn hại, bồi thường cách công chính và phòng ngừa. Mọi quyền bính đều phục vụ sự hiệp thông và sứ mạng. Mọi thẩm quyền đều phục vụ Dân Thiên Chúa. Sự phục vụ (diaconia) này được biểu lộ không chỉ trong đức tin được cử hành và sống trong các bí tích, cũng như trong việc thực hành một phong cách hiệp hành, nhưng còn trong việc cụ thể chia sẻ của cải vật chất. Theo gương Giáo Hội tiên khởi, các nguồn lực của Giáo Hội được mời gọi thực sự trở thành của chung, để giữa chúng ta không còn ai thiếu thốn (x. Cv 4,34) và để việc quản trị các nguồn lực ấy nâng đỡ sứ mạng loan báo Tin Mừng cho những người nghèo nhất. Cần phải cổ võ những hình thức lượng giá định kỳ việc thi hành các trách vụ thừa tác, không phải như một sự phán xét con người, nhưng như những phương thế đào luyện và sửa chữa hướng về sứ mạng. [116] Những nguyên tắc này của Học thuyết Xã hội được nhập thể trong đời sống Giáo Hội trong mức độ chúng ta mở lòng cho hoạt động của Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, Giáo Hội có khả năng trao ban cho xã hội một dấu chỉ khả tín: bởi vì việc cùng nhau tìm kiếm thiện ích của mọi người, trong tinh thần đồng trách nhiệm và tình huynh đệ, không phải là một điều không tưởng, nhưng là một khả thể thực sự. [117]

 

CHƯƠNG III: KỸ THUẬT VÀ SỰ THỐNG TRỊ.

SỰ CAO CẢ CỦA CON NGƯỜI TRƯỚC NHỮNG HỨA HẸN CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

90. Sau khi nhắc lại các nguyên tắc soi sáng Học thuyết Xã hội, giờ đây tôi muốn hướng cái nhìn đến một vài thách đố đang tác động đến cách thức chúng ta sống trong thời đại này. Hình ảnh Kinh Thánh đồng hành với những trang này là hình ảnh của một công trình xây dựng: một bên là tháp Babel, nơi công trình chung được dẫn dắt bởi một dự án thống trị và cuối cùng dẫn tới sự phi nhân hóa (x. St 11,1-9); bên kia là những đổ nát của Giêrusalem, được tái thiết từng phần một cùng với Nơkhemia, như một công việc của trách nhiệm chung (x. Nkm 2–6). Chúng ta được mời gọi tự vấn về dự án lớn lao của thời đại mình: chúng ta đang xây dựng điều gì? Trong khi sự phát triển công nghệ đang nhanh chóng làm thay đổi ngôn ngữ, các tương quan, các định chế và các hình thức quyền lực, thì chúng ta, những người tín hữu, phải và có thể chọn lựa mình muốn cộng tác vào công trình nào và với phong cách nào, để gìn giữ và phát huy nhân tính cao quý đã được trao ban cho chúng ta như một hồng ân. Đây không chỉ là một quyết định liên quan đến tương lai của chúng ta, nhưng còn liên quan đến hiện tại của chúng ta, bởi vì trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới nổi khác đã trở thành một phần của đời sống thường nhật.

91. Tôi luôn mang trong mình xác tín rằng cách thức cụ thể để sống các tương quan xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng không phải là điều đã được xác định một lần thay cho mãi mãi, nhưng vẫn luôn là một nhiệm vụ được trao phó từ thế hệ này sang thế hệ khác cho cộng đồng Kitô hữu. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội để cho mình được soi sáng bởi Lời Chúa, để đọc các dấu chỉ thời đại và với sự sáng tạo tìm kiếm những con đường mới, nhờ đó các tương quan giữa con người và các dân tộc ngày càng phù hợp hơn với những đòi hỏi của Nước Thiên Chúa. [118] Vì thế, tôi khích lệ mọi người, đặc biệt là các giáo dân tín hữu, đừng sợ để cho thực tại chất vấn mình, biết lắng nghe lẫn nhau và mạnh mẽ đảm nhận trách nhiệm riêng trong việc xây dựng một xã hội nhân bản và huynh đệ hơn.

Mô hình kỹ trị và quyền lực kỹ thuật số

92. Trong Thông điệp Laudato si’, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã lên án sự củng cố ngày càng mạnh mẽ của một mô hình kỹ trị [119] trong thế giới toàn cầu hóa: khuynh hướng để cho luận lý của hiệu quả, kiểm soát và lợi nhuận tự mình thống trị các quyết định cá nhân, xã hội và kinh tế. Qua đó, ngày càng hiển nhiên rằng kỹ thuật không phải chỉ là một công cụ đơn thuần; và khi nó trở thành tiêu chuẩn tối hậu, nó sẽ quyết định điều gì được coi là quan trọng và điều gì có thể bị loại bỏ, giản lược công trình tạo dựng thành đối tượng để khai thác và con người thành những bánh răng của một hệ thống ngày càng phải vận hành hữu hiệu hơn.

93. Mô hình này đã lan rộng nhanh chóng trong những năm gần đây, cũng như hệ quả của sự phổ biến của trí tuệ nhân tạo, các khoa học nhận thức, công nghệ nano, robot học và công nghệ sinh học. Tự chúng, các đổi mới ấy có thể là một trợ giúp lớn lao cho sự phát triển con người toàn diện và việc chăm sóc Ngôi Nhà Chung. Nhưng chính vì quyền năng của chúng, chúng cũng có thể hoạt động như một yếu tố gia tốc cho mô hình kỹ trị, và vì thế đòi hỏi một khuôn khổ mới về thiêng liêng, luân lý và chính trị. Quyền năng lớn hơn không nhất thiết có nghĩa là tốt đẹp hơn. Về điểm này, những lời của Romano Guardini vẫn còn nguyên giá trị: “Con người hiện đại chưa sẵn sàng để sử dụng quyền lực một cách đúng đắn”. [120]

94. Nguy cơ nhân loại trở thành nạn nhân của chính những thành tựu mình đã đạt được đã được thánh Phaolô VI nhận ra cách sáng suốt từ lâu, khi ngài cảnh báo rằng “những tiến bộ khoa học phi thường nhất, những thành tựu kỹ thuật đáng kinh ngạc nhất, sự tăng trưởng kinh tế kỳ vĩ nhất, nếu không đi kèm với một sự tiến bộ xã hội và luân lý đích thực, thì cuối cùng sẽ quay lại chống lại chính con người”. [121] Vì thế, tiến bộ kỹ thuật, dù tự nó rất quý giá, vẫn đòi hỏi một sự phân định về nhãn quan nhân học đang hướng dẫn nó và về những mục tiêu mà nó theo đuổi. Nếu sự phát triển công nghệ tiến tới mà không có một sự trưởng thành luân lý và xã hội tương xứng, thì có thể xảy ra tình trạng các phương tiện gia tăng nhưng nhân tính lại không tăng trưởng tương ứng: người ta “có nhiều hơn”, nhưng không “trở nên hơn”, và con người có nguy cơ bị đánh giá chủ yếu dựa trên hiệu suất mà họ tạo ra. [122]

95. Ở đây cần phải nhìn nhận một khía cạnh mang tính quyết định mà tôi đã nhắc đến trước đó: trong nhiều trường hợp, trong bối cảnh kỹ thuật số, việc kiểm soát các nền tảng, hạ tầng, dữ liệu và năng lực tính toán không còn là đặc quyền của các quốc gia, nhưng thuộc về các chủ thể kinh tế và công nghệ lớn, những chủ thể trên thực tế quyết định các điều kiện tiếp cận, các quy tắc hiển thị và chính những khả thể tham gia. Khi một quyền lực có tầm mức như thế tập trung trong tay một số ít người, nó có khuynh hướng trở nên thiếu minh bạch và né tránh sự kiểm soát công cộng; đồng thời, nguy cơ về một sự phát triển méo mó cũng gia tăng, kéo theo những hình thức lệ thuộc, loại trừ, thao túng và bất bình đẳng mới.

96. Trước sự tập trung quyền lực trong thế giới kỹ thuật số ấy, các nguyên tắc lớn của Học thuyết Xã hội trở thành những tiêu chuẩn để phán định và phân định bối cảnh mới: phẩm giá bất khả chuyển nhượng của con người, công ích, định hướng phổ quát của cải, nguyên tắc bổ trợ, tình liên đới và công bằng xã hội. Những nguyên tắc ấy đòi hỏi phải kiểm chứng xem quyền lực của các hạ tầng kỹ thuật số và các thuật toán có thực sự cổ võ sự tham gia và trách nhiệm, bảo vệ những người dễ tổn thương nhất, bảo đảm sự tiếp cận công bằng đối với các cơ hội và được định hướng cho thiện ích của mọi người hay không. Với những tiền đề ấy, giờ đây chúng ta có thể xem xét gần hơn trí tuệ nhân tạo là gì, nó mở ra những khả thể nào và kéo theo những nguy cơ gì.

Trí tuệ nhân tạo

97. Ở đây, ý hướng của tôi không phải là trình bày một khảo luận về trí tuệ nhân tạo, cũng không nhằm điểm lại một thư mục tài liệu vốn hiện nay đã rất phong phú; hiện đã có nhiều đóng góp quan trọng, kể cả trong lãnh vực Giáo Hội, mà người ta có thể tham khảo. [123] Tôi chỉ giới hạn trong việc nhắc lại một vài yếu tố cốt yếu cho một sự phân định luân lý và xã hội nhằm bảo vệ tính ưu tiên của con người, để luôn luôn chính trí tuệ nhân loại - với lương tâm và tự do của mình - là chủ thể hướng dẫn các đổi mới kỹ thuật và thiết lập cách có trách nhiệm việc sử dụng cũng như các giới hạn của chúng.

98. Cần phải đặt trước hai nhận định: thứ nhất, bất kỳ khẳng định nào về trí tuệ nhân tạo cũng đều có nguy cơ nhanh chóng trở nên lỗi thời, do tốc độ phát triển đáng kinh ngạc của các hệ thống này. Thứ hai, tất cả chúng ta, kể cả những người thiết kế chúng, vẫn biết rất ít về cách thức hoạt động thực sự của chúng. Các hệ thống trí tuệ nhân tạo hiện đại mang tính “được huấn luyện” hơn là “được xây dựng”: các nhà phát triển không trực tiếp thiết kế từng chi tiết, nhưng tạo nên một cấu trúc nền tảng trên đó trí tuệ nhân tạo “tăng trưởng”. Vì thế, những khía cạnh khoa học nền tảng - chẳng hạn như các biểu diễn nội tại và các tiến trình tính toán của các hệ thống ấy - vẫn còn chưa được biết rõ. Do đó, tính cấp thiết của một cam kết kép trở nên hiển nhiên: một mặt là đào sâu nghiên cứu khoa học; mặt khác là thực hành sự phân định luân lý và thiêng liêng.

99. Không thể đưa ra một định nghĩa duy nhất và đầy đủ về trí tuệ nhân tạo. Điều chúng ta có thể nói là cần phải tránh sự ngộ nhận khi đồng hóa thứ “trí tuệ” này với trí tuệ con người. Các hệ thống ấy mô phỏng một vài chức năng của trí tuệ nhân loại. Khi làm điều đó, nhiều khi chúng vượt trội con người về tốc độ và phạm vi tính toán, mang lại những lợi ích cụ thể trong nhiều lãnh vực. Tuy nhiên, sức mạnh ấy vẫn hoàn toàn gắn với việc xử lý dữ liệu: cái gọi là trí tuệ nhân tạo không sống một kinh nghiệm, không có thân xác, không trải qua niềm vui hay đau khổ, không trưởng thành trong các tương quan và cũng không biết từ bên trong điều mà tình yêu, lao động, tình bạn và trách nhiệm có nghĩa là gì. Chúng cũng không có lương tâm luân lý: chúng không phán định điều thiện và điều ác, không nắm bắt ý nghĩa tối hậu của các hoàn cảnh và cũng không mang lấy sức nặng của các hệ quả. Chúng có thể mô phỏng ngôn ngữ, hành vi, các phán đoán; có thể giả lập sự đồng cảm hoặc thấu hiểu, nhưng chúng không biết điều mình tạo ra, bởi chúng không hiện hữu trong chân trời cảm xúc, tương quan và thiêng liêng nơi con người trở nên khôn ngoan. Ngay cả khi các công cụ ấy được trình bày như có khả năng “học hỏi”, thì cách thức ấy cũng hoàn toàn khác với con người. Đó không phải là kinh nghiệm của một con người để cho đời sống nhào nặn mình và trưởng thành theo thời gian qua những quyết định, sai lầm, tha thứ và trung tín; nhưng đúng hơn là một sự thích nghi mang tính thống kê dựa trên dữ liệu và phản hồi, điều có thể rất hiệu quả nhưng không bao hàm một sự tăng trưởng nội tâm.

Một trợ giúp quý giá cần được lưu tâm

100. Dưới ánh sáng của những điều vừa nói, chúng ta có thể hiểu rõ hơn tại sao trí tuệ nhân tạo vừa có thể là một trợ giúp quý giá, vừa đồng thời đòi hỏi một cách tiếp cận thận trọng và dè dặt. Trong những năm gần đây, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong đời sống cá nhân đã gia tăng đáng kể, và từ nhiều lãnh vực khác nhau người ta đang suy tư về những cơ hội cũng như những nguy cơ gắn liền với sự phổ biến nhanh chóng của nó. Trong việc sử dụng cá nhân, có ba khía cạnh đặc biệt cần được lưu tâm: sự dễ dàng để đạt được kết quả, ấn tượng về tính khách quan và sự mô phỏng giao tiếp nhân loại. Tốc độ và sự đơn giản mà nhờ đó người ta có thể đạt được các chỉ dẫn, những xử lý phức tạp, các nội dung truyền thông và những hình thức hỗ trợ cụ thể giúp đời sống chúng ta dễ dàng hơn, nhưng đồng thời cũng có thể khiến chúng ta quen với việc phó thác quá nhiều và tìm kiếm các câu trả lời tức thời, làm suy yếu khả năng phán đoán cá nhân và tính sáng tạo. Ấn tượng về tính khách quan mà các câu trả lời và đề xuất của các hệ thống này có thể tạo ra mang nguy cơ khiến chúng ta quên rằng chúng phản ánh các tham số văn hóa của những người đã thiết kế và huấn luyện chúng, với tất cả những ưu điểm và giới hạn của họ. Sự mô phỏng nhân tạo của một hình thức giao tiếp nhân bản tích cực - những lời khuyên bảo, đồng cảm, tình bạn hay tình yêu - có thể đem lại cảm giác dễ chịu và thậm chí hữu ích, nhưng nơi những người dùng thiếu ý thức, nó có thể dẫn đến sự lừa dối và tạo nên ảo tưởng sai lầm rằng mình đang ở trong một tương quan với một chủ thể nhân vị đích thực. Khi lời nói chỉ là sự mô phỏng, nó không xây dựng một tương quan, nhưng chỉ là một vẻ bề ngoài của tương quan. Việc mô phỏng nhân tạo một tương quan chăm sóc hay đồng hành có thể trở nên nguy hiểm khi được đưa vào trong một bối cảnh nghèo nàn về các tương quan và tình cảm thực sự; khi ấy, nguy cơ không còn chỉ là việc một người tưởng rằng mình đang nói chuyện với một con người khác, nhưng là việc họ đánh mất chính ước muốn tìm kiếm tha nhân cách thực sự.

101. Mở rộng cái nhìn đến việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong các xã hội của chúng ta, chúng ta nhận thấy rằng nó đã hiện diện trong các tiến trình quyết định thuộc mọi lãnh vực và ở nhiều cấp độ khác nhau: trong truyền thông, quản trị và kiểm soát. Những lợi ích xét về hiệu quả và những khả thể cải thiện một số dịch vụ là điều hiển nhiên; tuy nhiên, việc tiếp nhận nhanh chóng và thiếu phê phán cũng khiến chúng ta đối diện với nhiều nguy cơ, chẳng hạn nguy cơ xem nhẹ tác động môi trường. Các hệ thống trí tuệ nhân tạo hiện nay đòi hỏi một lượng lớn năng lượng và nước, tác động đáng kể đến lượng phát thải khí carbonic và tiêu thụ tài nguyên một cách rất mạnh mẽ. Cùng với sự gia tăng về mức độ phức tạp, đặc biệt nơi các mô hình ngôn ngữ quy mô lớn, nhu cầu về năng lực tính toán và khả năng lưu trữ cũng gia tăng; những nhu cầu này dựa trên cả một hệ thống máy móc, dây cáp, trung tâm dữ liệu và hạ tầng tiêu thụ năng lượng. Vì thế, điều thiết yếu là phải phát triển những giải pháp công nghệ bền vững hơn nhằm giảm thiểu tác động trên môi trường và chăm sóc Ngôi Nhà Chung của chúng ta. [124]

Trách nhiệm, tính minh bạch và việc quản trị trí tuệ nhân tạo

102. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo không bao giờ chỉ đơn thuần là một vấn đề kỹ thuật: khi nó được đưa vào các tiến trình tác động đến đời sống con người, nó sẽ ảnh hưởng đến các quyền lợi, cơ hội, danh dự và tự do của họ. Những quyết định hệ trọng liên quan đến công việc, việc tiếp cận tín dụng và các dịch vụ khác, cũng như danh dự của con người, có nguy cơ bị hoàn toàn giao phó cho các hệ thống tự động vốn không biết đến “lòng trắc ẩn, lòng thương xót, sự tha thứ và trên hết là sự mở lòng cho niềm hy vọng về sự thay đổi nơi con người”, [125] và vì thế có thể tạo ra những hình thức loại bỏ mới. Có thể có những cách sử dụng rõ ràng là phản nhân bản, chẳng hạn thao túng thông tin hoặc vi phạm đời tư; nhưng cũng có thể có một sự lừa dối ít hiển nhiên hơn, khi các hệ thống trí tuệ nhân tạo, trong lúc tự trình bày như trung lập và khách quan, lại phản ánh và củng cố các khuôn mẫu định kiến hoặc các lập trường ý thức hệ của những người đã thiết kế và lập trình chúng.

103. Trên thực tế, việc giao cho một thuật toán quyền quyết định ai là người xứng đáng và ai không xứng đáng, mà không có ai trực tiếp mang lấy trách nhiệm của quyết định ấy, có nghĩa là trao cho thuật toán nhiệm vụ tái xác định các giới hạn của những khả thể nhân loại. Điều bị suy giảm trong tiến trình này không chỉ là lòng cảm thông đối với người bị loại trừ - thứ mà trí tuệ nhân tạo có thể mô phỏng cách giả tạo - nhưng còn là trách nhiệm chính trị, bởi việc loại bỏ những người yếu thế được khoác lên vẻ trung lập và khách quan đến mức người ta không còn khả năng phản kháng. Và như thế, bất công được thực hiện cách âm thầm, còn lòng trắc ẩn, lòng thương xót và sự tha thứ - không phải như những vẻ bề ngoài giả tạo, nhưng như những hành vi chính trị đích thực - dần biến mất khỏi chân trời xã hội.

104. Từ đó phát sinh một hệ luận đơn giản nhưng cấp bách: chúng ta không thể xem trí tuệ nhân tạo như một thực tại trung lập về mặt luân lý. Thật vậy, mọi sản phẩm kỹ thuật đều mang trong mình những quyết định và những ưu tiên: điều nó đo lường, điều nó bỏ qua, điều nó tối ưu hóa và cách thức nó phân loại con người cũng như các hoàn cảnh. Nếu một hệ thống được thiết kế hay được sử dụng theo cách xem một số mạng sống là kém giá trị hơn, hoặc loại trừ họ mà không cho phép kháng nghị, thì đó không còn là một công cụ đơn thuần “cần được sử dụng đúng cách”; nó đã hàm chứa sẵn một tiêu chuẩn đi ngược lại phẩm giá bất khả chuyển nhượng của con người. Vì thế, sự phân định luân lý không thể chỉ giới hạn ở câu hỏi liệu chúng ta có sử dụng một hệ thống nào đó cho mục đích tốt hay xấu hay không, nhưng còn phải tự vấn về chính cách thức hệ thống ấy được thiết kế và về quan niệm con người cũng như xã hội nào đã được ghi khắc vào trong các dữ liệu và mô hình hướng dẫn nó. [126]

105. Để trí tuệ nhân tạo tôn trọng phẩm giá con người và thực sự phục vụ công ích, điều thiết yếu là trách nhiệm phải được xác định rõ ràng trong mọi giai đoạn: từ những người thiết kế và lập trình các hệ thống cho đến những người sử dụng chúng và những người quyết định trao cho chúng quyền xử lý các quyết định cụ thể. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các tiến trình nội tại dẫn đến một kết quả lại thiếu minh bạch, khiến việc quy trách nhiệm và sửa chữa sai sót trở nên khó khăn hơn. Chính ở đây điều mà chúng ta gọi là “trách nhiệm giải trình” trở nên mang tính quyết định: khả năng xác định ai là người phải “chịu trách nhiệm” về các quyết định, giải thích và kiểm soát chúng, và khi cần thiết, có thể đặt lại vấn đề cũng như khắc phục những thiệt hại phát sinh từ chúng. [127]

106. Việc kêu gọi sự thận trọng, những cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt và đôi khi cả việc làm chậm lại quá trình ứng dụng trí tuệ nhân tạo không có nghĩa là chống lại tiến bộ, nhưng là thực thi một sự chăm sóc có trách nhiệm đối với gia đình nhân loại. Đòi hỏi này càng trở nên cấp bách hơn bởi lẽ thường tồn tại một sự mất cân đối giữa tốc độ phát triển công nghệ và nhịp độ trưởng thành của lương tâm, của các chuẩn mực, các cơ chế kiểm soát và các định chế có khả năng quản trị những tác động của nó. Chỉ đơn thuần viện dẫn đạo đức cách chung chung là chưa đủ; cần có những khuôn khổ pháp lý thích hợp, sự giám sát độc lập, việc giáo dục người sử dụng và một nền chính trị không từ bỏ trách nhiệm của mình. Nếu không, sự thay đổi sẽ chỉ được điều hành bởi những luận lý kỹ trị và được trình bày như điều tất yếu, không thể tránh khỏi, để rồi cuối cùng áp đặt các quy tắc do những người sở hữu dữ liệu, hạ tầng và năng lực tính toán quyết định.

107. Chúng ta không thể chỉ dừng lại ở việc kêu gọi “đạo đức hóa” máy móc, tức cái gọi là “sự điều hợp” của trí tuệ nhân tạo với các giá trị nhân bản, mà không đủ can đảm để đặt thêm một điều kiện nữa: khả năng thảo luận về chính bộ quy tắc luân lý sẽ được sử dụng, bằng cách đặt nó dưới những tiêu chuẩn của công bằng xã hội được chia sẻ chung. Nếu không, những ai kiểm soát trí tuệ nhân tạo sẽ áp đặt chính nhãn quan luân lý của mình, và nhãn quan ấy sẽ trở thành hạ tầng vô hình của các hệ thống. Một trí tuệ nhân tạo “đạo đức hơn” sẽ chẳng có ích gì nếu nền luân lý ấy chỉ do một số ít người quyết định. Cần có một nền chính trị hiện diện mạnh mẽ hơn, có khả năng làm chậm lại ở những nơi mọi sự đang tăng tốc và bảo vệ những không gian nơi các cộng đồng vẫn có thể tiếp tục tham gia và cùng nhau chất vấn.

108. Thật vậy, như xảy ra với mọi bước tiến công nghệ lớn lao khác, trí tuệ nhân tạo có xu hướng trước hết làm gia tăng quyền lực của những người vốn đã sở hữu các nguồn lực kinh tế, năng lực chuyên môn và khả năng tiếp cận dữ liệu. Dưới ánh sáng của công ích và nguyên tắc định hướng phổ quát của cải, hiện tượng này làm dấy lên một mối quan ngại nghiêm trọng: những nhóm nhỏ có tầm ảnh hưởng lớn có thể định hướng thông tin và tiêu dùng, tác động lên các tiến trình dân chủ và ảnh hưởng đến các động lực kinh tế vì lợi ích riêng của mình, đi ngược lại công bằng xã hội và tình liên đới giữa các dân tộc. Vì thế, điều không thể thiếu là việc sử dụng trí tuệ nhân tạo - đặc biệt khi liên quan đến các thiện ích công cộng và các quyền căn bản - phải được đi kèm với những tiêu chuẩn rõ ràng và các cơ chế kiểm soát hữu hiệu, được linh hứng bởi sự tham gia và nguyên tắc bổ trợ; các cộng đồng và các cơ cấu trung gian không thể bị giản lược thành những người chỉ tiếp nhận các quyết định đã được đưa ra ở nơi khác, nhưng phải có khả năng góp phần vào việc phân định và giám sát. Hơn nữa, quyền sở hữu dữ liệu không thể chỉ được giao phó cho khu vực tư nhân, nhưng cần phải được điều tiết. Dữ liệu là thành quả từ sự đóng góp của nhiều người và không thể bị bán hoặc trao phó cho một số ít người. Cần có một sự sáng tạo có khả năng quản trị dữ liệu như một trong những công ích hay tài sản tập thể, theo luận lý chia sẻ, như thánh Gioan Phaolô II đã từng gợi ý khi nói về các tài sản tập thể. [128]

109. Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội giúp chúng ta đọc hiểu thực tại mới này. Trong một thế giới nơi một số ít chủ thể tập trung dữ liệu, tư bản tin học và năng lực quy phạm, việc nói đến công ích có nghĩa là vạch trần sự bất đối xứng mới về tri thức, kinh tế và chính trị ấy, bằng cách gọi tên các hình thức độc quyền mới của trí tuệ nhân tạo. Nói đến định hướng phổ quát của cải có nghĩa là tìm kiếm những phương thế để bảo đảm khả năng tiếp cận phổ quát đối với công nghệ và việc đào tạo. Nói đến nguyên tắc bổ trợ đòi hỏi phải bảo vệ khả năng của các cộng đồng trong việc quyết định và sửa chữa, thay vì chỉ relegating họ vào vai trò giám sát hậu kiểm sau khi các tiêu chuẩn đã được thiết lập ở nơi khác. Nói đến tình liên đới buộc chúng ta phải nhìn nhận công việc vô hình - nhiều khi bị khai thác - vốn nuôi dưỡng các mô hình thuật toán. Nói đến công bằng đòi hỏi phải chất vấn những địa lý quyền lực đang quyết định ai có thể lập trình các mô hình và ai chỉ là đối tượng của sự lập trình ấy, đồng thời nhìn nhận rằng công bằng xã hội không chỉ là một mục tiêu cần được bảo vệ sau khi công nghệ đã được triển khai, nhưng là một điều kiện phải được thực thi ngay từ trong quá trình thiết kế chúng.

110. Sau cùng, tôi muốn sử dụng một từ rất quan trọng đối với tôi: “giải trừ”. Giải trừ trí tuệ nhân tạo có nghĩa là tách nó khỏi luận lý của cuộc chạy đua vũ trang, vốn ngày nay không còn chỉ mang tính quân sự mà còn mang tính kinh tế và tri thức. Đó là cuộc chạy đua nhằm sở hữu thuật toán hữu hiệu nhất và kho dữ liệu lớn nhất, để củng cố ưu thế địa chính trị hoặc thương mại trên tất cả những người khác. Giải trừ có nghĩa là phá vỡ sự đồng nhất giữa quyền lực công nghệ và quyền cai trị. Giải trừ không có nghĩa là từ bỏ công nghệ, nhưng là ngăn không cho nó thống trị con người. Điều đó có nghĩa là giải thoát công nghệ khỏi các thế độc quyền, làm cho nó có thể được tranh luận, phản biện, và vì thế trở nên có thể cư ngụ được, bằng cách tái lập nơi nó tính đa dạng của các nền văn hóa nhân loại và các hình thức sống. Nhiệm vụ hôm nay không chỉ là một vấn đề luân lý hay kỹ thuật; đó còn là một nhiệm vụ sinh thái theo nghĩa triệt để nhất, bởi nó chất vấn một chiều kích mới của Ngôi Nhà Chung của chúng ta. Trí tuệ nhân tạo đã trở thành một môi trường mà chúng ta đang sống trong đó và là một quyền lực mà chúng ta phải đối diện. Vì thế, chỉ điều tiết nó thôi thì chưa đủ; cần phải “giải trừ” nó và làm cho nó trở nên đáng đón nhận.

111. Tôi tha thiết kêu gọi những người đang phát triển các hệ thống trí tuệ nhân tạo. Đổi mới công nghệ, trong một nghĩa nào đó, có thể là một hình thức con người tham dự vào hành vi sáng tạo của Thiên Chúa. Vì thế, các nhà phát triển mang lấy một trách nhiệm luân lý và thiêng liêng quan trọng, bởi mỗi chọn lựa trong quá trình thiết kế đều biểu lộ một nhãn quan về con người. Cũng như tác giả của một tác phẩm nghệ thuật hay văn chương buộc phải lưu tâm đến những giá trị mà mình biểu đạt, thì các nhà phát triển cũng được mời gọi nghiêm túc đối diện với những giá trị mà họ đưa vào các dự án của mình: với sự minh bạch, với trách nhiệm đối với các cộng đồng liên hệ và với sự quan tâm kiểm chứng xem điều đang được vun trồng có thực sự là một thiện ích hay không.

Những điều chúng ta không được đánh mất

112. Sau khi đã nhắc lại những vấn đề liên quan đến trách nhiệm và việc quản trị trí tuệ nhân tạo, giờ đây cần trở lại với chủ đề trung tâm của chúng ta: điều gì có nghĩa là gìn giữ nhân tính. Nguy cơ không chỉ nằm ở chỗ một số công nghệ có thể bị sử dụng sai lệch, nhưng còn ở chỗ mô hình kỹ trị mà chúng ta đang sống trong đó - được tăng cường bởi cuộc cách mạng kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo - khiến cho một nhãn quan phản nhân bản trở nên có vẻ chính đáng và bình thường; theo đó, sự viên mãn của đời sống hệ tại ở việc sở hữu nhiều hơn, giảm thiểu sự mong manh yếu đuối, loại bỏ điều bất ngờ và kiểm soát mọi sự. Khi hiệu quả trở thành thước đo của giá trị, con người bị cám dỗ xem chính mình như một dự án cần phải được tối ưu hóa hơn là như một thụ tạo được mời gọi bước vào tương quan và hiệp thông.

113. Thực vậy, việc tuyệt đối hóa một chiều kích duy nhất của con người luôn là điều sai lầm. Quả thế, không chỉ sự thiếu thốn mới gây nên lệch lạc. Ngay cả điều gì phát triển không giới hạn cũng có thể trở thành một hình thức nghèo nàn. Trong một hệ sinh thái, sự hài hòa bị phá vỡ khi chỉ một loài duy nhất phát triển tràn lan làm tổn hại các loài khác; nơi con người cũng vậy, điều ấy xảy ra khi một khả năng nào đó tự cho mình là thước đo của mọi sự. Vì thế, trí tuệ, nếu bị tuyệt đối hóa, sẽ che khuất những chiều kích thiết yếu khác của đời sống: tình cảm, ý chí, sự hiến thân và tương quan. Quyền lực kỹ thuật, nếu không được quân bình, sẽ không làm cho chúng ta có khả năng hơn; trái lại, nó cô lập chúng ta và khiến chúng ta càng dễ bị đặt dưới các luận lý thống trị và loại trừ. Chắc chắn ở đây không phải là chống lại trí tuệ, nhưng là nhắc nhớ rằng khi trí tuệ khép kín trong chính mình, nó quên mất rằng mình đã được tạo dựng để phục vụ sự sống và con người.

114. Phẩm chất của một nền văn minh không được đo bằng quyền lực của các phương tiện mà nó sở hữu, nhưng bằng sự chăm sóc mà nó biết trao ban, bằng khả năng nhận ra nơi tha nhân một khuôn mặt chứ không chỉ một chức năng. Khả năng biết chăm sóc lẫn nhau là một chiều kích quan trọng của nhân tính chúng ta. Khả năng ấy được học hỏi và hoàn thiện nhờ kinh nghiệm. Đọc truyện cho một đứa trẻ, đồng hành với một người cao tuổi hay làm cho một không gian trở nên đón tiếp hơn là những cử chỉ được sống trong môi trường gia đình, nhưng đồng thời giúp chúng ta học biết và nội tâm hóa tầm quan trọng của việc chăm sóc ở bình diện xã hội, đồng thời huấn luyện chúng ta nhận ra tha nhân như một con người xứng đáng được quan tâm. Công nghệ cũng có thể nâng đỡ sự chăm sóc hỗ tương giữa con người, chẳng hạn khi cung cấp những công cụ giúp dự liệu và tổ chức, mà không tước mất nơi con người tự do và khả năng phán đoán của họ, xét như chủ thể của các tương quan và là người chịu trách nhiệm về các quyết định.

Những diễn ngôn nền tảng: chủ nghĩa xuyên nhân loại và hậu nhân loại

115. Trong nỗ lực làm nổi bật những tiền giả định văn hóa đang đồng hành với cuộc cách mạng kỹ thuật số hiện nay, giờ đây tôi muốn hướng sự chú ý đến một vài trào lưu diễn giải tiến bộ như sự vượt thắng chính con người, mà chúng ta có thể xếp dưới các tên gọi là chủ nghĩa xuyên nhân loại và chủ nghĩa hậu nhân loại. Những trào lưu ấy tạo nên nền tảng ý thức hệ hiện diện nơi một số trung tâm quyền lực công nghệ và đang xâm chiếm trí tưởng tượng tập thể theo cách đơn giản hóa, đặc biệt qua các phương tiện truyền thông và mạng xã hội, bằng cách khơi dậy sự hứng khởi đối với các công nghệ mới qua một nhãn quan tương lai về một “nhân loại được tăng cường” hoặc một “con người lai ghép” với máy móc.

116. Chủ nghĩa xuyên nhân loại và chủ nghĩa hậu nhân loại bao hàm trong chính mình nhiều trào lưu và khuynh hướng khác nhau, nên khó có thể mô tả chúng theo một cách hoàn toàn đơn nhất. Chúng có thể được so sánh với một quần đảo gồm nhiều hòn đảo khái niệm khác biệt, nhưng được nối kết bởi cùng một đại dương của những tiền giả định chung: tính trung tâm của kỹ thuật và giấc mơ vượt thắng các giới hạn của thân phận con người. Nói chung, chủ nghĩa xuyên nhân loại hình dung việc tăng cường con người nhờ công nghệ - y sinh học, kỹ nghệ cơ thể, các thiết bị, thuật toán - với khát vọng gia tăng hiệu suất và các năng lực. Chủ nghĩa hậu nhân loại, đặc biệt trong những hình thức cấp tiến nhất, còn đi xa hơn thế: nó phê phán chủ nghĩa lấy con người làm trung tâm và đề xuất một hình thức lai ghép giữa con người, máy móc và môi trường, đến mức hình dung việc nhân loại sẽ vượt qua chính ngưỡng của mình, bước vào một giai đoạn tiến hóa mới. Dù những giả thuyết ấy phần lớn vẫn còn mang tính suy đoán, chúng ngày càng trở nên có ảnh hưởng, bởi chúng đang biến đổi trí tưởng tượng tập thể và, hệ quả là, định hướng các quyết định xã hội, kinh tế và chính trị. [129]

117. Điểm mang tính phê phán, dưới ánh sáng của Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, không phải là việc sử dụng kỹ thuật tự nó, nhưng là nhãn quan nằm phía sau nó; nếu con người bị đối xử như một chất liệu cần được hoàn thiện hoặc vượt thắng, thì người ta sẽ dễ dàng chấp nhận rằng một số người bị xem là kém hữu ích hơn, kém đáng mong muốn hơn, kém xứng đáng hơn. Nhân danh tiến bộ, người ta có thể đi đến chỗ nghĩ tới những “hy sinh cần thiết”, và bắt những người dễ tổn thương nhất phải trả giá cho một sự tối ưu hóa giả định của giống loài. Lời cảnh báo đã được nhắc đến của thánh Phaolô VI vẫn còn là một trực giác lớn lao: thật vậy, những thành tựu của khoa học và kỹ thuật, khi bị tách rời khỏi tiến bộ luân lý và xã hội, cuối cùng sẽ quay lại chống lại chính con người. [130] Vì thế, cần phải phân biệt rõ ràng: một đàng là việc hội nhập công nghệ vào trong một nhãn quan nhân bản và tương quan; đàng khác là để mình bị dẫn dắt bởi một trí tưởng tượng khinh thường giới hạn và hứa hẹn một “ơn cứu độ” thuần túy mang tính kỹ thuật.

Giới hạn, tâm hồn và phẩm giá cao cả của con người

118. Ngày nay, mối tương quan của chúng ta với sự sống dường như đang lâm vào khủng hoảng. Tất cả những gì biểu thị một “giới hạn” - sự bất lực, bệnh tật, tuổi già, đau khổ, sự mong manh yếu đuối - có khuynh hướng bị nhìn chủ yếu như một khuyết điểm cần phải sửa chữa hơn là như một không gian trong đó con người trưởng thành và mở lòng ra cho tương quan. Trái lại, chúng ta phải nhớ rằng con người không phát triển bất chấp giới hạn, nhưng nhiều khi chính nhờ giới hạn mà trưởng thành. Một cái nhìn thực tại dưới ánh sáng đức tin giúp nhận ra điều mà chúng ta gọi là “tính ngẫu hữu” (contingencia) của các sự vật trong thế giới này. Một mặt, dĩ nhiên cần phải cố gắng loại bỏ đau khổ đang ghi dấu cuộc sống con người; nhưng mặt khác, thật khôn ngoan khi nhìn nhận tính hữu hạn cấu thành của chúng ta, đồng thời biết rằng “kinh nghiệm tôn giáo, đặc biệt là đức tin Kitô giáo, đề nghị sống trong sự nhập thể mà không giản lược sự lưỡng diện này giữa sự cao cả và giới hạn của con người, bằng cách giải thích nó dưới ánh sáng của mối tương quan nguyên thủy và nền tảng với Thiên Chúa”. [131]

119. Chính trong thân phận hữu hạn của chúng ta mà lòng trắc ẩn, sự quan tâm chân thành trước nhu cầu của tha nhân, lòng quảng đại gây kinh ngạc ngay giữa bóng tối và thất bại, kinh nghiệm thiêng liêng và sự thờ phượng Thiên Chúa tìm được chỗ đứng. Chúng ta nhận ra điều đó trong biết bao khoảnh khắc mà giới hạn trở nên hữu hình trong cuộc đời mình: khi bị từ chối, khi đau khổ vì bệnh tật hay cái chết của một người thân yêu, khi trải nghiệm sự bất lực hay lỗi lầm. Một cách nhiệm mầu, chính trong những trường hợp ấy mà chúng ta có thể tìm thấy một sự khôn ngoan mới, cảm nhận tình thương của con người và trải nghiệm sự hiện diện của Chúa.

120. Ngay cả khi giới hạn biểu lộ như một nỗi đau nội tâm, sự khôn ngoan nhân bản dạy chúng ta không phủ nhận hay loại bỏ nó, nhưng biết hội nhập nó vào đời sống. Để loại bỏ hoàn toàn đau khổ, cuối cùng người ta cũng sẽ phải dập tắt luôn cả tình yêu và khát vọng. Quả thật, ai yêu thương và khát vọng thì không thể tránh khỏi việc đi qua thử thách và đau khổ; và chính vì thế, qua năm tháng, chúng ta lưu giữ trong mình những bài học được ghi khắc như những vết sẹo, ký ức về hành trình đã đi qua giữa tự do và sa ngã, giữa những giấc mơ và thất vọng. Chỉ nhờ sự đan xen của tất cả những yếu tố ấy mà trong trái tim con người mới diễn ra những kỳ công nội tâm khiến chúng ta cảm nếm được hương vị ngọt ngào nhất của chính nhân tính mình. [132] Từ bỏ cuộc phiêu lưu vừa bi thảm vừa huy hoàng ấy, nhân danh một sự vượt thắng giả định trên mọi giới hạn, có thể là bất cứ điều gì khác, nhưng sẽ không còn mang ý nghĩa là sống như một con người nữa.

121. Sự băng hoại luân lý của giới hạn thụ tạo nơi chúng ta - sự dữ vốn rõ ràng khuấy động trái tim con người - làm hủy hoại xã hội và đời sống, thậm chí dẫn đến những mức độ phi nhân tính cực đoan. Tuy nhiên, ngay cả hình thức đau đớn này của giới hạn cũng vẫn để lại những khe hở cho sự thiện. Dẫu con người có bị phi nhân hóa và gây nên những thảm kịch, một ánh sáng nhỏ bé vẫn tiếp tục bừng cháy trong nhân tính và vẫn có khả năng được khơi lên trở lại nhờ ân sủng Thiên Chúa, bằng cách bước đi trên những con đường hoán cải và hòa giải. Viktor Frankl đã nói rất xác đáng rằng trong những thời khắc kinh hoàng, “chúng ta đã nhận biết con người trong trạng thái thuần túy của nó: con người là hữu thể có khả năng phát minh ra những phòng hơi ngạt ở Auschwitz, nhưng cũng chính là hữu thể đã bước vào những căn phòng ấy với đầu ngẩng cao và kinh Lạy Cha hay kinh Shema Israel trên môi”. [133]

122. Tính hữu hạn, khi được đón nhận trong chân lý, không làm nghèo con người, nhưng mở họ ra cho việc nhận biết dung nhan Thiên Chúa và tha nhân. Hơn nữa, chính vì trải nghiệm giới hạn - sự mong manh, đau khổ và thất bại - mà con người có thể nhìn nhận phẩm giá của mình cũng như của người khác là bất khả xâm phạm. Và ngay trong chính kinh nghiệm về giới hạn ấy, con người vẫn có khả năng linh cảm một tình huynh đệ lớn lao hơn bản thân mình và nhận ra bất công như một điều gây chấn động. Văn hóa và nghệ thuật, khi chân thực, sẽ gìn giữ tia sáng ấy, ngăn cản sự dữ trở nên bình thường hóa. Vì thế, một số tác phẩm đã mang lấy giá trị gần như ngôn sứ: Bản Giao hưởng số Chín của Beethoven như khát vọng hiệp nhất; Guernica như lời tố cáo sự phi nhân hóa; Danh sách của Schindler như một lời mời gọi đừng trao phó quá khứ cho sự lãng quên.

123. Lịch sử không chỉ xuất hiện như một bản liệt kê những hành động bạo lực của chúng ta, nhưng còn như bằng chứng cho thấy con người biết thiết lập những định chế có khả năng bảo vệ đời sống chung. Trong hai thế kỷ gần đây, chúng ta thấy điều ấy nơi một vài biến cố tiêu biểu: sự ra đời của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (1863), mà tính trung lập trong hoạt động của tổ chức này bảo đảm một sự chăm sóc đầy lòng trắc ẩn dành cho mọi người; tiến trình lâu dài dẫn đến việc bãi bỏ chế độ nô lệ, vốn không chỉ là một thay đổi pháp lý đơn thuần nhưng còn là một sự biến đổi của lương tâm; sự thành lập Tổ chức Liên Hiệp Quốc (1945) và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948), những thực tại đã thiết lập một ngôn ngữ chung để khẳng định - ít là như một lý tưởng được chia sẻ - rằng phẩm giá là phổ quát; Công ước về người tị nạn (1951), công nhận nghĩa vụ bảo vệ những người chạy trốn khỏi bách hại và đe dọa. Trong các ví dụ ấy, khát vọng hướng thiện được cụ thể hóa thành những hình thức công khai - các quy phạm, định chế và thực hành - có khả năng giới hạn sức mạnh và bảo vệ những người dễ bị tổn thương. Nhưng không điều gì trong số ấy đã xuất hiện mà không phải đối diện với những kháng cự, những lợi ích hẹp hòi và sự trì trệ văn hóa. Những thành quả luân lý hầu như luôn mang diện mạo của một hành trình dài và gian khó, cũng bị đánh dấu bởi những bước thụt lùi; hãy nghĩ đến những tiến trình hòa bình bị gián đoạn hoặc việc thực thi chậm chạp các cam kết về môi trường. Dẫu vậy, chính sự mong manh của những thành quả ấy lại cho thấy trách nhiệm của những ai khởi xướng và nâng đỡ chúng là quý giá biết bao.

124. Một vài biến cố giúp chúng ta nhận ra rằng lịch sử có thể thay đổi khi chỉ cần một người nam hay một người nữ thực sự nghiêm túc đối với phẩm giá của mọi người: phong trào đòi quyền dân sự tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ gắn liền với chứng tá của Martin Luther King Jr., hay sự chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc tại Nam Phi sau khi Nelson Mandela được trả tự do và quyết định không trao tương lai vào tay hận thù. Trong nhiều bối cảnh khác nhau, còn có biết bao phụ nữ can đảm và quảng đại đã nổi bật như thánh Laura Montoya, Mẹ Têrêsa Calcutta, Dorothy Day, Maria Skłodowska-Curie, Maria Montessori, Elisabeth Elliot, Wangari Maathai, Benazir Bhutto và biết bao người khác thuộc mọi châu lục, những người đã góp phần làm cho lịch sử trở nên nhân bản hơn nhờ chính nỗ lực của mình.

125. Bên cạnh những dấu chỉ công khai ấy, còn tồn tại một mạng lưới kín đáo nhưng mang tính quyết định: những cộng đoàn tu trì chọn sống tại các nơi nghèo khó và nguy hiểm; những vị tử đạo của tình huynh đệ và công lý như thánh Maximilian Maria Kolbe, thánh Óscar Romero và chân phước Enrique Angelelli, cùng với những chứng nhân đã hiện thân cho niềm hy vọng Tin Mừng và phẩm giá con người trong những hoàn cảnh khắc nghiệt và nhiều khi phi nhân, như Đấng Đáng kính Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận. Và trên hết là những “vị tử đạo của đời thường”, những người âm thầm chữa lành, giáo dục, đồng hành và an ủi, như các bậc cha mẹ, các y tá, bác sĩ, những thiện nguyện viên và những người ở bên cạnh người già hay người bị loại trừ. Chứng tá của họ cho thấy rằng sự thiện không tự động tiến triển, nhưng đòi hỏi sự kiên trì, ký ức và một sự hoán cải giúp con người có khả năng bắt đầu lại ngay cả sau những thất bại.

126. Chính sự hội tụ giữa những định chế công bằng, những chứng tá khả tín và sự trung tín trong đời thường ấy duy trì niềm hy vọng sống động và chỉ ra một hướng đi: làm cho kỹ thuật phát triển mà không để trái tim khép kín lại trong chính mình. Vì thế, nhân loại – kỳ diệu nhưng mang thương tích - không được thay thế hay vượt thắng; nhân loại có thể đón nhận những tiến bộ của kỹ thuật để làm vơi bớt đau khổ và mở ra những khả thể mới, miễn là không chối bỏ điều làm cho mình thực sự là chính mình, tức khả năng tương quan và yêu thương. Đến đây, một câu hỏi mang tính quyết định được đặt ra: nếu thực sự có một điều gì đó “vượt trên con người”, thì điều ấy ở đâu? Đức tin Kitô giáo trả lời bằng cách chỉ ra một sự viên mãn không phát sinh từ một sự thần thánh hóa mang tính công nghệ, nhưng từ sự viên mãn do ân sủng Thiên Chúa tạo nên và được lãnh nhận nơi Đức Kitô.

“Điều vượt trên con người” đích thực: ân sủng và chủ nghĩa nhân văn Kitô giáo

127. Cách diễn tả “vượt trên con người” không chỉ thuộc về ngôn ngữ của những lời hứa kỹ thuật. Từ nhiều thế kỷ qua, truyền thống Kitô giáo đã khẳng định rằng con người không bị khép kín trong những giới hạn của bản tính mình, nhưng được mời gọi vượt lên chính mình; không phải để trốn chạy thực tại hay khinh thường giới hạn, nhưng để đạt tới sự viên mãn trong tình yêu. Đức tin nhận biết một “cõi vượt trên” phát sinh từ hồng ân Thiên Chúa. Sự biến đổi này là công trình của Chúa Thánh Thần. Như thánh Tôma Aquinô đã dạy, tiến trình nâng cao và biến đổi này “vượt quá khả năng của bản tính nhân loại” [134], bởi giữa bản tính chúng ta và sự sống của Thiên Chúa tồn tại một khoảng cách vô hạn. [135] Tuy nhiên, con người vẫn có thể được đưa vào trong lòng sự sống bất diệt ấy, ngay cả khi còn đang bước đi giữa những giới hạn của thế gian này. Và Đấng làm cho hành trình ấy trở nên khả thể chỉ có thể là Đấng Vô Hạn tự hiến ban: chính Thiên Chúa vượt thắng sự bất tương xứng “vô hạn” ấy. [136] Chính như thế mà công trình tái tạo con người được thực hiện: “Ai ở trong Đức Kitô thì là thụ tạo mới: cái cũ đã qua đi, và này đây một thực tại mới đã xuất hiện” (2 Cr 5,17).

128. Khi chấp nhận khả thể vượt lên chính mình nhờ ân sủng Thiên Chúa, chúng ta không chối bỏ bản thân mình, cũng không trở nên kém nhân bản hơn. Trái lại, như Đức Giáo hoàng Phanxicô giải thích, “chúng ta trở nên hoàn toàn nhân bản khi chúng ta trở nên hơn cả con người, khi chúng ta để cho Thiên Chúa đưa mình vượt ra ngoài chính mình để đạt tới hữu thể chân thật nhất của mình”. [137] Chính ở đây xuất hiện sự khác biệt tận căn so với những giấc mơ Promêtê: điều cứu độ con người không phải là một sự tự mãn được tăng cường, nhưng là một tương quan giải phóng, một sự hiệp thông biến đổi. Trước điều đó, một công nghệ chỉ biết phân loại và tối ưu hóa những gì đã hiện hữu có thể, dù không chủ ý, trở thành chướng ngại cho sự biến đổi và trưởng thành. Đối với một thuật toán, sai lầm là điều cần phải sửa chữa; còn đối với một con người, sai lầm có thể là khởi điểm của một sự biến đổi sâu xa. Tương lai của một con người không thể bị tính toán, nhưng được trao phó cho tự do của họ - được nâng cao bởi ân sủng thần linh vô tận - và cho những tương quan mà họ vun trồng. 

Hai thành đô và hai tình yêu

129. Chủ nghĩa nhân văn Kitô giáo không khước từ khoa học hay kỹ thuật, nhưng đón nhận chúng với lòng biết ơn và tinh thần thực tế, đồng thời đặt chúng “với đôi chân trên mặt đất” trong một ơn gọi cao cả hơn. Trí tuệ sáng tạo của con người là một hồng ân có thể làm vơi nhẹ đau khổ và mở ra những khả thể mới, nhưng phải luôn được quy hướng về công ích, công lý, việc chăm sóc những người mong manh yếu đuối và công trình tạo dựng. Theo nghĩa ấy, chọn lựa đích thực không nằm giữa sự hứng khởi và nỗi sợ hãi, nhưng giữa hai cách thức xây dựng: một tiến bộ phục vụ con người và các dân tộc, hoặc một tiến bộ khuất phục họ dưới các luận lý quyền lực. Sau cùng, câu hỏi mang tính quyết định vẫn là câu hỏi đã được thánh Gioan Phaolô II nêu lên: trí tuệ nhân tạo có “làm cho cuộc sống con người trên trái đất này, trong mọi chiều kích của nó, trở nên ‘nhân bản hơn’ không? Nó có làm cho cuộc sống ấy trở nên ‘xứng hợp hơn với phẩm giá con người’ không?”. [138] Nếu câu trả lời là “có”, thì chúng ta có thể nhìn nhận nơi đó một khả thể tốt đẹp để sử dụng cách có trách nhiệm, trong một hành trình tái thiết chung và kiên nhẫn, theo mẫu gương công cuộc tái thiết Giêrusalem được thuật lại trong sách Nơkhemia. Nhưng nếu quyền lực gia tăng trong khi trái tim héo úa và các mối dây liên kết bị tan vỡ, thì khi ấy chúng ta đang đứng trước một phiên bản mới của Babel: một công trình vĩ đại nhưng phi nhân.

130. Việc tự vấn về chọn lựa tiến bộ này và về cách thức chúng ta diễn giải cũng như sống nó, rốt cuộc luôn đồng thời là một cuộc xét mình về chính trái tim của chúng ta. Thật vậy, cách thức chúng ta suy nghĩ và tổ chức các tương quan, công việc và các định chế biểu lộ những giá trị nền tảng của mình, và sau cùng phát sinh từ điều chúng ta mang trong trái tim. Chính tình yêu hướng dẫn chúng ta: điều mà chúng ta thực sự yêu mến, xét như cá nhân cũng như như một xã hội, sẽ định hướng đời sống và hành động của chúng ta. Thánh Âugutinô mô tả lịch sử nhân loại như một nơi diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai tình yêu, hai tình yêu đã xây dựng nên hai cách cư ngụ trong thế giới và chung sống với nhau, hai “thành đô”: một bên là tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân; bên kia chỉ là tình yêu đối với chính mình. “Hai tình yêu đã sinh ra hai thành đô: tình yêu bản thân đến mức khinh chê Thiên Chúa sinh ra thành đô trần thế; còn tình yêu Thiên Chúa đến mức quên mình sinh ra thành đô thiên quốc”. [139] Cũng như trong toàn bộ lịch sử nhân loại, ngày nay hai tình yêu ấy vẫn đang chiến đấu trong trái tim chúng ta để giành quyền thống trị. Thời đại trí tuệ nhân tạo không thoát khỏi quy luật ấy: việc xây dựng Babel hay Giêrusalem đều bắt đầu từ nơi mỗi người chúng ta.

 

CHƯƠNG IV: GÌN GIỮ NHÂN TÍNH TRONG TIẾN TRÌNH BIẾN ĐỔI.

CHÂN LÝ, LAO ĐỘNG, TỰ DO

131. Sau khi đã phác họa bối cảnh trong đó thách đố của sự biến đổi công nghệ được đặt ra, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến trí tuệ nhân tạo cũng như các trào lưu xuyên nhân loại và hậu nhân loại, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở những phân tích mang tính tổng quát. Khi ngôn ngữ và các công cụ thay đổi, thì những cử chỉ hằng ngày và các tương quan xã hội cũng thay đổi theo. Vì thế, cần phải dừng lại nơi một vài lãnh vực mà trong đó những biến đổi này tạo nên các tác động rất cụ thể, đôi khi mang tính bi thảm. Dưới ánh sáng của các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, cuộc biến đổi kỹ thuật số đòi hỏi chúng ta phải tái khám phá chân lý như một công ích, bảo vệ phẩm giá của lao động và gìn giữ tự do trước mọi hình thức lệ thuộc và thương mại hóa.

Chân lý như công ích

Chân lý và nền dân chủ

132. Việc sử dụng các nền tảng kỹ thuật số và các hệ thống trí tuệ nhân tạo đang thúc đẩy nhanh chóng những biến đổi sâu xa trong truyền thông công cộng và chính trị. Những công cụ vốn có thể tạo điều kiện cho đối thoại và sự tham gia lại thường được sử dụng để xây dựng các tường thuật thiên lệch và làm lu mờ ranh giới giữa điều đúng và điều sai, bằng cách trộn lẫn dữ kiện với ý kiến. Thông tin sai lệch không xuất hiện cùng với trí tuệ nhân tạo, nhưng ngày nay nơi nó đã tìm được một phương tiện khuếch đại đầy sức mạnh. Khả năng thao túng các nội dung, hình ảnh và video khiến công dân phải đối diện với những cái nhìn phiến diện hoặc lừa dối. Vấn đề này tác động đến chiều kích văn hóa và luân lý, bởi phẩm chất của truyền thông công cộng trực tiếp tùy thuộc vào niềm tin xã hội và đồng thời cũng tác động trở lại trên niềm tin ấy. Thật vậy, thông tin chân thực không phát sinh từ một sự kiểm soát tập trung hay tự động hóa. Trong diễn ngôn công cộng, chân lý của các sự kiện mang một chiều kích lý trí, bởi nó đòi hỏi sự kiểm chứng, đối chiếu nguồn tin và trách nhiệm trong lập luận; nhưng hơn thế nữa, nó còn mang tính tương quan: chân lý được xây dựng qua những mối dây tin tưởng và các thực hành được chia sẻ, trong một cuộc đối thoại chân thành với tha nhân và với thế giới. Chỉ việc cùng nhau tìm kiếm chân lý của các sự kiện, được đón nhận như một công ích, mới có thể đặt nền tảng cho một nền truyền thông công chính.

133. Những ai sở hữu các nguồn lực kỹ thuật và kinh tế hùng mạnh - và cùng với đó là nhiều nguồn nhân lực để can thiệp - có khả năng rất lớn trong việc tạo nên các biến đổi văn hóa và, sau cùng, thuyết phục một số lượng đáng kể người khác về điều gì là chân lý liên quan đến con người, thế giới, ý nghĩa của cuộc sống, gia đình và thậm chí cả Thiên Chúa. Đó là một thứ quyền lực thuần túy không có chân lý, áp đặt một cách kín đáo hoặc công khai điều mà nó muốn người khác phải xem là chân thật. Đằng sau tất cả điều ấy là một căn nguyên bệnh hoạn khó nhận ra: sự kiện rằng “con người hiện đại có xác tín sai lầm rằng mình là tác giả duy nhất của chính mình, của đời sống mình và của xã hội. Đó là một sự kiêu ngạo phát sinh từ sự khép kín ích kỷ nơi chính mình”. [140] Vì thế, con người tin rằng mình có thể kiến tạo thực tại và rằng bất cứ điều gì phù hợp hơn với các đòi hỏi của mình thì đều là điều hợp lệ. Thánh Gioan Phaolô II đã suy tư về những hệ quả của “cuộc khủng hoảng quanh chân lý”, đến mức khẳng định rằng “khi người ta từ bỏ ý niệm về một chân lý phổ quát liên quan đến điều thiện mà lý trí con người có thể nhận biết, thì chính quan niệm về lương tâm cũng tất yếu bị thay đổi”. [141] Theo đó, việc nhìn nhận những chân lý có giá trị phổ quát - những chân lý đi trước chúng ta và lương tâm phải đón nhận - ngày càng suy giảm. Điều này đã dẫn Đức Giáo hoàng Phanxicô đến chỗ thực tế đặt câu hỏi: “Luật pháp là gì nếu không có xác tín đạt được sau một hành trình dài suy tư và khôn ngoan rằng mỗi con người đều là thánh thiêng và bất khả xâm phạm?”, và ngài kết luận: “Để một xã hội có tương lai, cần phải có một ý thức tôn trọng sâu xa đối với chân lý về phẩm giá con người mà chúng ta phải quy phục. Khi đó, người ta sẽ không tránh giết người chỉ để tránh sự lên án của xã hội và gánh nặng của pháp luật, nhưng vì xác tín nội tâm. Đó là một chân lý không thể từ bỏ mà chúng ta nhận ra bằng lý trí và đón nhận bằng lương tâm. Một xã hội là cao quý và đáng kính cũng nhờ việc nuôi dưỡng việc tìm kiếm chân lý và sự gắn bó với những chân lý nền tảng nhất”. [142]

134. Việc tìm kiếm chân lý là một yếu tố cốt yếu đối với nền dân chủ, mà tự nó là một công cụ để tham gia vào công ích. Khi câu hỏi về điều gì là chân thật không còn được quan tâm và một thứ chủ nghĩa thực dụng chỉ bằng lòng với điều gì có vẻ hữu ích hay hiệu quả được áp đặt, thì đời sống dân chủ sẽ suy yếu. Thật vậy, nền dân chủ không chỉ được nâng đỡ bởi các quy tắc và thủ tục, nhưng trước hết bởi một tương quan trung thực với các sự kiện và một sự định hướng thực sự toward thiện ích của con người và toàn thể xã hội. Sự dửng dưng trước chân lý từ từ nhưng không thể tránh khỏi sẽ dẫn đến chủ nghĩa toàn trị; đối với chủ nghĩa ấy, như nữ triết gia Hannah Arendt đã viết, những thần dân lý tưởng không hẳn là những người bị thuyết phục về mặt ý thức hệ, nhưng là “những con người mà nơi họ không còn tồn tại sự phân biệt giữa sự kiện và hư cấu (tức thực tại của kinh nghiệm), cũng như sự phân biệt giữa điều đúng và điều sai (tức các chuẩn mực của tư duy)”. [143]

Truyền thông và trí tưởng tượng tập thể

135. Trong viễn tượng này, điều quan trọng là phải nhớ rằng truyền thông “không chỉ là việc truyền đạt thông tin, nhưng còn là việc tạo nên một nền văn hóa”. [144] Những nội dung lưu chuyển trong các môi trường kỹ thuật số ảnh hưởng đến cách thức con người cảm nhận thế giới và đưa vào trong ý thức tập thể những hình ảnh và các câu chuyện định hướng các khát vọng cũng như ảnh hưởng đến các quyết định hằng ngày. “Đó không phải là một thế giới song song hay thuần túy ảo”, [145] bởi những gì xuất hiện trên internet trở thành một phần của đời sống con người, đặc biệt là của giới trẻ.

136. Vì thế, những ai kiểm soát các nền tảng kỹ thuật số và các phương tiện truyền thông có một khả năng đáng kể trong việc tác động đến trí tưởng tượng tập thể và trình bày một nhãn quan nào đó về thực tại như điều đáng mong muốn. Đó là một quyền lực cần liên lỉ được soi sáng bởi việc tìm kiếm chân lý và sự tôn trọng phẩm giá con người, để nền văn hóa được hình thành trên mạng không trở thành công cụ của sự phân tán quá mức, của việc đồng nhất hóa và thống trị, nhưng trở nên một không gian nơi tự do nội tâm và tư duy phản biện có thể trưởng thành.

Hướng tới một nền sinh thái học của truyền thông

137. Nhiệm vụ đầu tiên thuộc về chúng ta là không ma quỷ hóa cũng không thần tượng hóa các phương tiện truyền thông, nhưng quản trị chúng dựa trên một điểm quy chiếu cố định: chân lý là một công ích chứ không phải tài sản của những ai nắm quyền lực hay sự nổi tiếng. Vì thế, cần phải cổ võ một nền sinh thái học của truyền thông: trong lãnh vực các quy phạm công cộng, điều này có nghĩa là thiết lập những quy tắc giúp các tiêu chuẩn theo đó nội dung được tuyển chọn và khuếch đại trở nên minh bạch hơn, đồng thời bảo vệ dữ liệu cá nhân; trong lãnh vực xã hội và văn hóa, điều ấy bao hàm việc củng cố các cơ cấu trung gian, một nền báo chí nghiêm túc và những không gian đối thoại nơi lập luận và việc kiểm chứng được đặt cao hơn phản ứng tức thời; trong lãnh vực nhà trường và gia đình, đó là nhu cầu ngày càng cấp thiết về một ý thức giáo dục mới và việc đào luyện để sử dụng đúng đắn và có tinh thần phê phán các công cụ kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo cũng như các nền tảng mua bán và đầu tư; trong lãnh vực đại học, đó là thách đố lớn lao của việc hội nhập tri thức, bằng cách đào luyện cả khả năng kết nối và tổng hợp các hiểu biết để giải thích tính phức tạp, lẫn các kỹ thuật kiểm chứng sự kiện.

138. Các cộng đoàn Kitô hữu cũng phải dấn thân cho một nền truyền thông minh bạch và cho việc chân thành tìm kiếm các sự kiện. Đáng tiếc là không phải lúc nào cũng như thế. Chúng ta đã phải chứng kiến, với sự hổ thẹn, tiến trình đầy khó khăn trong việc khám phá những sự thật đau đớn ngay cả liên quan đến các thành viên của Giáo Hội và các thực tại Giáo Hội. Đặc biệt, một số nhà báo dấn thân cho chân lý đã giữ vai trò nền tảng trong việc đưa ra ánh sáng những bất công và lạm dụng. Với họ, tôi muốn lặp lại những lời của Đức Giáo hoàng Phanxicô khi ngài nói với các ký giả Vatican: “Tôi cũng cảm ơn anh chị em vì những gì anh chị em cho thấy về những điều không vận hành trong Giáo Hội, vì anh chị em giúp chúng tôi không che giấu dưới tấm thảm, và vì tiếng nói mà anh chị em đã trao cho các nạn nhân của những vụ lạm dụng”. [146] Tuy nhiên, sự tỉnh thức và minh bạch trước hết là một trách nhiệm nghiêm trọng của chính Giáo Hội, và chúng ta không được chờ đợi người khác buộc mình phải đối diện với những sự thật khó chịu về chính bản thân mình.

Một giao ước giáo dục cho kỷ nguyên kỹ thuật số

139. Trong một thời đại mà chân lý thường bị đặt dưới quyền chi phối của các lợi ích và các chiến lược truyền thông, lãnh vực giáo dục mang một tầm quan trọng mang tính quyết định. Tuy nhiên, những biến đổi công nghệ diễn ra với tốc độ nhanh chóng đang cho thấy rõ chúng ta còn thiếu sự chuẩn bị đến mức nào trong lĩnh vực giáo dục. Sự hiện diện khắp nơi của các phương tiện kỹ thuật số đang tạo nên một nền văn hóa của tính tức thời và của sự kích thích quá mức, từ đó nuôi dưỡng tình trạng mệt mỏi, chán nản và thờ ơ trước những nỗ lực cần thiết cho việc tìm kiếm chân lý.

140. Ngược lại, các tiến trình giáo dục đòi hỏi thời gian để trưởng thành, một sự đối diện với thực tại vượt quá các vẻ bề ngoài và một hành trình kiên nhẫn. Vấn đề này mang tính nền tảng, bởi mọi công nghệ đều giáo dục chính người sử dụng nó. Vì thế, giáo dục trong việc sử dụng trí tuệ nhân tạo cũng có nghĩa là giáo dục để biết khi nào và vì lý do gì không nên sử dụng nó. Tốc độ và sự dễ dàng trong việc đạt được một câu trả lời hay một bản tổng hợp mang nguy cơ làm tắt lịm khát vọng đặt câu hỏi - điều chỉ sinh hoa kết quả theo thời gian. Như Plato viết, những điều sâu xa và quan trọng nhất chỉ có thể được học biết sau một thời gian dài và nhiều nỗ lực, bằng cách dấn thân vào việc đối thoại với người khác để “cọ xát” các khái niệm và kinh nghiệm như người ta cọ hai hòn đá lửa, cho đến khi trong chúng ta bừng lên tia sáng của sự hiểu biết. [147] Chúng ta phải học biết từ bỏ trí tuệ nhân tạo trong một số trường hợp và bảo vệ giới trẻ khỏi lời hứa hẹn về một cỗ máy hoàn hảo, khỏi sự quyến rũ tinh vi khiến tư duy nhân loại có vẻ trở nên vô ích đúng vào lúc nó cần thiết hơn bao giờ hết.

141. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu tâm lý học và tâm thần học ngày càng khẳng định rằng việc tiếp xúc quá sớm và thiếu sự giám sát với các thiết bị kỹ thuật số và mạng xã hội có thể tác động tiêu cực đến giấc ngủ, sự chú ý, khả năng điều hòa cảm xúc và các tương quan, đặc biệt nơi những lứa tuổi dễ bị tổn thương nhất, với những hậu quả đôi khi mang tính bi thảm. Thêm vào đó là việc dễ dàng tiếp cận những hình ảnh bạo lực hay tàn nhẫn làm tổn thương sự nhạy cảm, các nội dung khiêu dâm và siêu tính dục hóa, những thông điệp tầm thường hóa thân xác và đời sống tình cảm, cũng như những đề nghị bình thường hóa các hành vi nguy hiểm. Trên mạng, không hiếm những hiện tượng dụ dỗ, tống tiền và bóc lột tình dục trẻ vị thành niên, vốn trở nên tinh vi hơn nhờ việc sử dụng các hồ sơ giả, những thuật toán khuếch đại các tiếp xúc nguy hiểm và các công cụ trí tuệ nhân tạo có khả năng thao túng hình ảnh cũng như video. Việc sở hữu điện thoại di động cá nhân quá sớm và sử dụng nó mà không có sự kiểm soát của người lớn có thể làm gia tăng sự mong manh nơi giới trẻ và dẫn đến các hình thức lệ thuộc, khiến họ bị phơi bày trước các động lực cô lập, bắt nạt và bắt nạt trên không gian mạng, cũng như trước áp lực phải chia sẻ những hình ảnh thân mật hoặc các dữ liệu nhạy cảm. [148]

142. Các bậc cha mẹ gặp nhiều khó khăn khi phải một mình chống lại sự chi phối của những mô hình kinh doanh vốn kiếm lợi từ sự chú ý và thời gian của con người. Vì thế, một sự liên minh giữa chính trị, các cơ sở giáo dục và gia đình là điều không thể thiếu, nhằm nâng đỡ cách cụ thể các người lớn trong trách nhiệm của họ. Cần phải chống lại, bằng những quyết định công cộng mang tầm mức lâu dài, các lợi ích tức thời của các nền tảng kỹ thuật số - vốn tập trung trong tay một số ít người - khi các lợi ích ấy xung đột với thiện ích của trẻ vị thành niên. Trong viễn tượng ấy, những can thiệp lập pháp nhằm thiết lập giới hạn độ tuổi, quy trách nhiệm cho các nhà cung cấp dịch vụ - mà không đổ toàn bộ gánh nặng giới hạn lên gia đình - và dự liệu những cơ chế bảo vệ đặc biệt chống lại mọi hình thức bóc lột và bạo lực tình dục trên internet là điều thích đáng, để tuổi thơ và tuổi vị thành niên thực sự được gìn giữ như những thiện ích quý giá được trao phó cho sự chăm sóc của chúng ta. [148] Đồng thời, cần giáo dục trẻ em, thiếu niên và người trẻ để họ học biết nhận diện những sự thao túng, biết bảo vệ phẩm giá của chính mình và tôn trọng phẩm giá của người khác, kể cả trong các môi trường kỹ thuật số. [149]

Vai trò trung tâm của nhà trường

143. Nhà trường là nơi các thế hệ mới có thể học biết tìm kiếm và yêu mến chân lý, tự vấn về ý nghĩa cuộc sống và phẩm giá của mỗi con người. Vì thế, nhiều bậc cha mẹ, những người mong muốn con cái mình lớn lên với khả năng tương quan, suy nghĩ bằng tinh thần phê phán và có những giá trị vững chắc, đặt nơi nhà trường những kỳ vọng lớn lao, như một người cộng tác quý giá trong việc giáo dục con cái họ. Thật vậy, cha mẹ có quyền tiên khởi và bất khả chuyển nhượng trong việc chọn lựa loại hình giáo dục và đào luyện dành cho con cái mình, phù hợp với những xác tín luân lý, văn hóa và tôn giáo riêng. Thế giới giáo dục hôm nay đang phải đối diện với một số thách đố không thể trì hoãn.

144. Thách đố đầu tiên mang tính xã hội-chính trị. Cả trong nội bộ mỗi quốc gia lẫn giữa các vùng khác nhau trên thế giới, vẫn tồn tại những bất bình đẳng nghiêm trọng trong việc tiếp cận nền giáo dục căn bản và giáo dục bậc cao. Ở không ít quốc gia, Nhà nước vẫn chưa đầu tư những nguồn lực cần thiết để bảo đảm một nền giáo dục có chất lượng cho mọi người, hoặc bằng cách nâng đỡ thích đáng hệ thống giáo dục công lập, hoặc bằng cách hỗ trợ các cơ sở tư nhân cung cấp dịch vụ nền tảng này. Khi một phần quan trọng của nền giáo dục ở nhiều cấp độ được trao cho các cơ sở tư nhân, có thể xảy ra tình trạng rằng, do thiếu sự hỗ trợ công thích đáng, việc tiếp cận nhà trường trở nên quá lệ thuộc vào khả năng kinh tế của các gia đình. Tuy nhiên, trước nguy cơ ấy, cần phải nhìn nhận và nâng đỡ sự đóng góp của nhiều công trình giáo dục Công giáo, vốn dù là những cơ sở tư nhân nhưng vẫn bảo đảm một sự đón nhận mang tính bao gồm dành cho trẻ em và người trẻ thuộc mọi hoàn cảnh, ngay cả khi điều kiện kinh tế của gia đình họ không cho phép.

145. Thách đố lớn thứ hai mang tính sư phạm. Nhiều hệ thống giáo dục gặp khó khăn trong việc cập nhật theo nhịp độ của những biến đổi và trong việc nâng đỡ sự phát triển toàn diện của học sinh. Sự phát triển của công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo khiến các chương trình học được thiết kế cho một thời đại khác nhanh chóng trở nên lỗi thời, trong khi chính cơ cấu tổ chức của nhà trường, không gian học tập, các phương pháp lượng giá và cả vai trò của người thầy cũng cần phải được suy nghĩ lại nhằm hướng đến một nền giáo dục thực sự toàn diện, mở ra cho mọi chiều kích của con người. Cần phải cổ võ việc đào luyện liên tục cho các giáo viên trong suốt đời sống nghề nghiệp của họ, để họ biết đối thoại cách tích cực với các công nghệ mới, giúp học sinh sử dụng chúng có trách nhiệm, phê phán và sáng tạo, thay vì thụ động chịu ảnh hưởng của chúng.

146. Thách đố lớn thứ ba mang tính trí thức và minh triết. Nếu chúng ta không tỉnh thức, có thể sẽ xuất hiện một hệ thống giáo dục thiếu vắng tình yêu đối với chân lý, trong đó dòng chảy bất tận của thông tin thay thế cho việc nghiên cứu, suy tư và phân định. Những tri thức rời rạc ngày càng gia tăng, nhưng việc nắm bắt thực tại trong tính toàn thể của nó, đặt ra những câu hỏi về ý nghĩa của sự vật và phát triển một tư duy phản biện cũng như sáng tạo đích thực lại trở nên khó khăn hơn. Nhiều nhà giáo dục đã nhận ra những dấu hiệu của một sự phi nhân hóa có thể xảy ra, trong đó con người “biết rất nhiều điều” nhưng lại gặp khó khăn trong việc đem lại ý nghĩa cho đời sống mình - kể cả do sự bất lực trong việc kết nối thông tin và tri thức - và trong việc không đánh mất chân trời ý nghĩa. Cần phải cổ võ một nền “vệ sinh của sự chú ý” đích thực: những nhịp sống bao gồm sự thinh lặng, việc học tập suy tư, đọc sách và phân tích chín chắn; nếu thiếu những yếu tố ấy, tự do nội tâm có nguy cơ bị tổn hại.

147. Học thuyết Xã hội của Giáo Hội mời gọi các gia đình, nhà trường, cộng đoàn Kitô hữu và các định chế công cộng xây dựng một giao ước giáo dục được đổi mới. Giao ước ấy trở thành hiện thực khi các nguyên tắc nền tảng được chuyển hóa thành những mục tiêu giáo dục: giáo dục về sự tiết độ và ý thức về giới hạn; giáo dục về việc nhìn nhận quyền của tha nhân và của những người sẽ đến sau chúng ta được hưởng dùng những thiện ích đã được trao ban cho chúng ta, hoặc do trí tuệ con người đặt vào tầm tay chúng ta; giáo dục về tự do và trách nhiệm; giáo dục về ý thức siêu việt và công ích. Nhà trường không được mời gọi chạy theo tốc độ của thế giới kỹ thuật số, nhưng phải trao ban điều mà bản thân kỹ thuật số không thể tự mình cung cấp: thời gian chung để học hỏi và những tương quan đáng tin cậy.

Phẩm giá của lao động trong thời kỳ chuyển đổi kỹ thuật số

Giá trị của lao động

148. Ngay từ khi Học thuyết Xã hội ra đời với Thông điệp Rerum novarum, Giáo Hội đã kêu gọi chú ý đến việc bảo vệ người lao động và sự cần thiết phải đấu tranh chống lại mọi hình thức bóc lột. Nhưng trên hết, Huấn quyền đã nhìn nhận nơi lao động “chìa khóa cốt yếu” [150] để hiểu toàn bộ vấn đề xã hội, bởi qua lao động mà con người phát triển nhiều chiều kích của chính cuộc sống mình. Từ viễn tượng này, chúng ta cũng hiểu được trực giác lớn lao của thánh Biển Đức thành Nursia, người đã kết hợp cầu nguyện với lao động, bằng cách xem hoạt động thường nhật như một phần trong lời đáp trả của con người trước tiếng gọi của Thiên Chúa. Được tạo dựng theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa, qua các công việc của mình, chúng ta phần nào tiếp nối công trình của Người: góp phần vào sự tiến bộ của xã hội và việc xây dựng công ích, thực hành những khả năng đã lãnh nhận, cải thiện và làm đẹp thế giới, nâng đỡ gia đình mình, thiết lập các tương quan cộng tác và học biết cùng nhau xây dựng, trong sự lắng nghe và đối thoại, điều mà không ai có thể thực hiện một mình.

149. Vì những lý do ấy, lao động không phải chỉ là một công cụ đơn thuần, nhưng diễn tả và làm gia tăng phẩm giá của đời sống chúng ta. Lao động là một nhu cầu gắn liền với thân phận con người, một con đường thông thường dẫn tới sự trưởng thành, phát triển và hoàn thiện bản thân. Trong viễn tượng này, những trợ giúp kinh tế dành cho người nghèo đôi khi vẫn cần thiết trong các hoàn cảnh khẩn cấp, nhưng chúng không thể trở thành câu trả lời duy nhất, bởi mục tiêu phải là tạo điều kiện để mỗi người có thể sống xứng hợp với phẩm giá nhờ chính lao động của mình. [151]

150. Ngày nay, sự kết hợp giữa tự động hóa, robot học và trí tuệ nhân tạo đang nhanh chóng biến đổi chính cơ cấu của lao động. Người ta nói rằng điều này sẽ mang lại những cải thiện to lớn cho tất cả mọi người. Thực tế, những “hình thức lao động mới” không nhất thiết là tốt đẹp hơn, bởi “trong khi trí tuệ nhân tạo hứa hẹn gia tăng năng suất bằng cách đảm nhận các công việc thường nhật, thì người lao động lại thường bị buộc phải thích nghi với tốc độ và những đòi hỏi của máy móc, thay vì chính máy móc được thiết kế để trợ giúp những người lao động. Vì thế, trái ngược với những lợi ích được công bố về trí tuệ nhân tạo, các cách tiếp cận công nghệ hiện nay có thể nghịch lý làm giảm chuyên môn của người lao động, đặt họ dưới sự giám sát tự động hóa và đẩy họ vào những công việc cứng nhắc và lặp đi lặp lại. Nhu cầu phải theo kịp nhịp độ công nghệ có thể làm xói mòn nơi người lao động ý thức về khả năng hành động của chính mình và bóp nghẹt các năng lực sáng tạo mà họ được mời gọi đóng góp trong công việc”. [152] Chính để tránh sự lệch hướng này, cần phải thiết kế những hệ thống lấy con người làm trung tâm chứ không chỉ tập trung vào hiệu suất.

Vấn đề thất nghiệp

151. Thánh Gioan Phaolô II đã nhắc nhớ rằng thất nghiệp là một sự dữ nghiêm trọng và, nhất là khi nó đạt tới quy mô lớn, có thể trở thành một tai họa xã hội thực sự; điều này đặc biệt làm nổi bật trách nhiệm của Nhà nước. [153] Ngày nay, trong “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, mối bận tâm ấy càng trở nên gay gắt hơn, bởi sự đổi mới thường chỉ được đón nhận với mục đích giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận. [154] Trong một số bối cảnh, điều hoàn toàn thực tế là phải lo ngại về sự sụt giảm đáng kể và nhanh chóng của các vị trí việc làm hiện có, với một hiệu ứng dây chuyền ảnh hưởng sâu rộng đến các gia đình, giới trẻ và các nền kinh tế địa phương. Trong nhiều lãnh vực, điều này đã dẫn đến những hình thức mới của sự bấp bênh và bất bình đẳng, với những mức thù lao rất cao dành cho một thiểu số có trình độ chuyên môn cao, trong khi tiền lương của phần lớn lực lượng lao động ngày càng giảm sút.

152. Chắc chắn, điều đáng mong muốn là công nghệ giải phóng con người khỏi những công việc đặc biệt nặng nhọc, lặp đi lặp lại hoặc nguy hiểm, đồng thời cung cấp một sự hỗ trợ thông minh cho hoạt động của con người; tuy nhiên, nguyên tắc tổng quát vẫn phải là bảo vệ việc làm và vai trò không thể thay thế của con người. Mục tiêu đạt được lợi nhuận cao hơn không thể biện minh cho những quyết định hy sinh cách có hệ thống công ăn việc làm, bởi con người là cứu cánh chứ không phải phương tiện, và trật tự kinh tế phải luôn lệ thuộc vào phẩm giá con người cũng như công ích.

153. Đồng thời, chúng ta phải nhìn nhận rằng mọi sự chuyển đổi thực sự đều diễn ra qua những gián đoạn: chúng bất cân xứng, phân mảnh và đôi khi đầy xung đột. Vì thế, không tồn tại một mô hình thay đổi duy nhất, cũng không có một giải pháp toàn cầu; có những lãnh thổ và lịch sử đòi hỏi những câu trả lời khác nhau. Trước sự bất bình đẳng đặc trưng cho thế giới hôm nay, việc phổ biến trí tuệ nhân tạo và các hệ thống điện toán tạo ra những tác động khác biệt ở mỗi nơi. Các xã hội giàu có nhanh chóng và hỗn loạn tiến tới tự động hóa, làm giảm nhu cầu lao động và tạo nên những vùng thất nghiệp cũng như các căng thẳng thể chế. Trong khi đó, nhiều vùng rộng lớn trên thế giới vẫn bị mắc kẹt trong những nền kinh tế lai tạp, nơi lao động con người với mức lương thấp và các công nghệ chưa hoàn chỉnh cùng tồn tại mà không thực sự dẫn tới một sự chuyển đổi. Những lãnh thổ ấy trở thành nguồn dự trữ lao động bấp bênh và là điểm nóng của bất ổn cũng như di cư cưỡng bức. Vì thế, các giải pháp phải được tìm kiếm ở cấp độ quốc gia và địa phương, với sự tham gia của các cộng đồng trung gian. Cần có những công cụ có khả năng thích nghi: những mô hình đa dạng, các thử nghiệm tại địa phương, các hình thức tái phân phối tiệm tiến, những quyền tiếp cận mới đối với các thiện ích thiết yếu. Không theo đuổi một sự hài hòa trừu tượng, điều cần thiết là xây dựng những hình thức chung sống nhân bản cụ thể trong tiến trình biến đổi này.

154. Lao động vẫn là một chiều kích nền tảng của kinh nghiệm nhân loại; nó không chỉ là phương tiện sinh sống, nhưng còn là không gian để biểu lộ bản thân, thiết lập tương quan và đóng góp cho cộng đồng. Vì thế, những vấn đề liên quan đến lao động không chỉ giới hạn ở nguồn thu nhập cần thiết cho sự sinh tồn của các gia đình. Một xã hội chỉ bảo đảm việc làm cho một bộ phận nhỏ dân số sẽ khiến nhiều người rơi vào tình trạng nhàn rỗi cưỡng bức, thiếu trách nhiệm, thiếu dấn thân và thiếu những động lực thường ngày, kéo theo những hậu quả của sự nghèo nàn về nhân bản và văn hóa, trái ngược với trình độ phát triển kỹ thuật cao. Khi ấy, chúng ta sẽ đứng trước một nghịch lý: tiến bộ vật chất nhưng thoái hóa nhân học, nơi những điều kiện cần thiết cho một nền hòa bình xã hội công chính và bền vững sẽ biến mất. Vì thế, Học thuyết Xã hội của Giáo Hội nhấn mạnh rằng việc mọi người đều có cơ hội tiếp cận lao động phải tiếp tục là một mục tiêu ưu tiên của các chính sách công và các tiến trình kinh tế, đồng thời là tiêu chuẩn để đánh giá phẩm chất nhân bản của một mô hình phát triển. [155] Mặt khác, tại những nơi trên thế giới mà việc làm có xu hướng suy giảm hoặc biến đổi tận căn do những tiến trình công nghệ và tổ chức vượt ngoài sự kiểm soát dân chủ, cần phải suy nghĩ lại chính khái niệm lao động và tương quan của nó với tư cách công dân, để tình trạng thiếu việc làm không làm suy giảm sự tham gia xã hội.

155. Dưới ánh sáng của xác tín ấy, chúng ta cũng có thể tái diễn giải lịch sử của Học thuyết Xã hội của Giáo Hội sau Thông điệp Rerum novarum. Những sáng kiến xuất hiện trong bối cảnh đó - các hiệp hội, công đoàn, hợp tác xã, các công trình trợ giúp xã hội - đã góp phần quyết định trong việc cải thiện luật lao động, bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất và thúc đẩy những điều kiện nhân bản hơn. [156] Tuy nhiên ngày nay, những công cụ ấy tự chúng không còn đủ trước các biến đổi do trí tuệ nhân tạo, sự tái tổ chức của thị trường và tính cạnh tranh vốn hiếm khi quan tâm đến tính bền vững xã hội gây ra. Cần có một nỗ lực chung mới từ phía các nhà lãnh đạo chính trị, các tổ chức lao động, giới doanh nghiệp và cộng đồng khoa học nhằm khẩn trương xây dựng những quy định và biện pháp bảo vệ thích hợp cũng như được đồng thuận, kể cả ở cấp độ quốc tế. [157] Các tổ chức công đoàn - vốn luôn được Giáo Hội nâng đỡ - được mời gọi mở ra với những hình thức lao động mới và những người lao động mới, để đại diện và bảo vệ họ trong một bối cảnh mà, nếu thiếu những quyết định can đảm, sẽ xuất hiện ngày càng nhiều nghèo đói và bất bình đẳng, với vô số người bị loại trừ bị bao quanh bởi máy móc và các hệ thống tự động hóa đã thay thế vị trí của họ.

156. Trong tiến trình chuyển đổi này, chỉ phản ứng khi các công việc biến mất là chưa đủ, nhưng cần phải quản trị sự biến đổi ấy một cách chủ động. Một con đường khả thi trước hết hệ tại ở việc thiết lập những tiêu chuẩn xã hội cho sự đổi mới: mọi việc đưa tự động hóa và trí tuệ nhân tạo vào sử dụng đều phải được đi kèm với những biện pháp có thể kiểm chứng nhằm bảo vệ việc làm, tái đào tạo và bảo đảm sự tham gia của người lao động, để công nghệ được định hướng vào việc giải phóng thời gian và các khả năng nhân bản, chứ không phải tạo nên sự loại trừ. Thứ đến, cần có những chính sách tích cực giúp mọi người đều có thể tiếp cận việc đào tạo liên tục và các chuyển đổi nghề nghiệp, mà không đẩy toàn bộ gánh nặng thích nghi với các biến đổi lên vai từng cá nhân. Sau cùng, cần có một trách nhiệm doanh nghiệp bao gồm cả phẩm chất và phẩm giá của lao động như những tiêu chí của thành công. Khi những điều kiện ấy hiện diện, đổi mới có thể trở thành đồng minh của một nền lao động an toàn hơn, sáng tạo hơn và xứng hợp với phẩm giá hơn; còn khi chúng vắng bóng, đổi mới có xu hướng trở thành sự gia tốc của bất công.

Một nền kinh tế đề cao phẩm giá con người

157. Thị trường lao động là một trong những lãnh vực mà các nguy cơ của những công nghệ mới biểu lộ rõ ràng nhất. Vì thế, cần phải nhắc lại rằng tự do kinh tế không phải là điều tuyệt đối và luôn phải được lượng giá theo công ích cũng như phẩm giá của mỗi con người. Sáng kiến doanh nghiệp có thể là một ơn gọi đích thực, có khả năng tạo ra của cải và cải thiện đời sống của mọi người, miễn là nó nhìn nhận việc tạo nên công ăn việc làm xứng hợp và có giá trị như một phần cốt yếu trong việc phục vụ xã hội của mình, chứ không phải như một biến số chỉ lệ thuộc vào lợi nhuận. [158]

158. Với tinh thần ngôn sứ, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã cảnh báo về một thứ tự do kinh tế chỉ được tuyên xưng trên lời nói, trong khi các điều kiện thực tế lại ngăn cản nhiều người thực sự được hưởng lợi từ nó. [159] Những mô hình kinh tế đề cao hiệu quả và thành công cá nhân có xu hướng xem việc đầu tư vào những con người xuất phát từ hoàn cảnh bất lợi hoặc có nhịp độ phát triển chậm hơn là điều vô ích hay không sinh lợi, như thể số phận của họ chỉ tùy thuộc vào khả năng theo kịp những người chiến thắng. Thực ra, một xã hội công chính đòi hỏi phải có một Nhà nước hiện diện và những định chế dân sự có khả năng vượt qua luận lý thuần túy của hiệu quả, bằng cách định hướng cách minh nhiên các nguồn lực, sự sáng tạo và các quy phạm về phía những người dễ bị tổn thương nhất. [160] Thay vì chờ đợi những lợi ích của một sự tăng trưởng mà “cuối cùng” rồi cũng sẽ đến với người nghèo, cần có những quyết định làm cho sự tăng trưởng ấy mang tính bao gồm ngay từ đầu. Kinh nghiệm của những thập niên gần đây cho thấy rằng, trong các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính, người nghèo luôn là những người phải trả giá đắt nhất, trong khi các lý thuyết hứa hẹn một sự thịnh vượng tự động cho mọi người thường chỉ là ảo tưởng.

159. Người ta nhận thấy cần phải vượt qua những tiêu chuẩn hiện nay để đo lường mức độ phát triển - vốn đã gắn chặt hơn tám mươi năm qua với khái niệm Tổng sản phẩm nội địa (GDP) - bởi các tiêu chuẩn ấy khiến những khía cạnh thiết yếu đối với phúc lợi toàn diện của con người và môi trường hầu như bị bỏ qua một cách có hệ thống. Đồng thời, các tiêu chuẩn ấy lại đánh giá cao những hoạt động có tác động, trong ngắn hạn hoặc dài hạn, trên đời sống của hành tinh chúng ta. Việc phát triển những tiêu chuẩn và thước đo bổ sung cho GDP mang tính quyết định nhằm cải thiện các dữ liệu nền tảng được sử dụng để thực hiện các phân tích, đưa ra những quyết định chính trị và chính sách kinh tế, cũng như xác định các ưu tiên ở cấp độ khu vực, quốc gia và quốc tế. Việc đưa vào các tiêu chuẩn mới sẽ cho phép lượng giá, với một cái nhìn bao quát và phù hợp với thời đại, các hệ quả của những quyết định lập pháp và quy phạm trên phẩm giá lao động, sự thịnh vượng được chia sẻ, việc giảm bất bình đẳng và bảo vệ môi trường. Điều đó sẽ tác động đến chính khái niệm phát triển, đến các tiến trình đào tạo, đến não trạng và dư luận xã hội, cũng như đến hòa bình, bởi hòa bình chỉ đích thực khi được đặt nền trên công lý.

160. Trong những năm gần đây, lĩnh vực tài chính đã đạt tới một tầm quan trọng ngày càng lớn và trải qua những đổi mới đáng kể, kể cả sau khi tiền mã hóa được đưa vào sử dụng. Những suy tư và định hướng được chứa đựng trong Huấn quyền của các vị Tiền nhiệm của tôi, đặc biệt trong các Thông điệp của các ngài, đã làm nổi bật hoạt động của sự trung gian tài chính “mà hoạt động của nó, khi bị tách rời khỏi những nền tảng nhân học và luân lý thích hợp, không những đã tạo ra những lạm dụng và bất công hiển nhiên, nhưng còn cho thấy khả năng gây nên những cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống trên toàn thế giới”. [161] Đồng thời, cũng đúng rằng lợi tức từ tư bản có nguy cơ thay thế thu nhập từ lao động, trong khi lao động thường bị đẩy xuống hàng thứ yếu trước những lợi ích chủ chốt của hệ thống kinh tế. Tuy nhiên, việc tiết kiệm được chuyển hóa thành tín dụng cho nền kinh tế thực - và vì thế cho việc tạo công ăn việc làm, lao động làm thuê hay tự doanh - vẫn giữ vai trò nền tảng đối với phát triển và đối với những khoản đầu tư cần thiết để đồng hành với các tiến trình chuyển đổi hiện nay. Chức năng xã hội của tín dụng vẫn là điều không thể thay thế. Việc tài trợ chỉ nhằm phục vụ cho chính hoạt động tài trợ hoàn toàn khác với việc tài trợ nhằm phát triển và tạo dựng cũng như phát triển lao động.

161. Viễn tượng này cần được đặt trong một cái nhìn rộng lớn hơn về các động lực toàn cầu. Sự giàu có của thế giới đã gia tăng về mặt tuyệt đối, nhưng sự tập trung của cải trong tay một số ít người cũng gia tăng và những mất cân bằng ngày càng trở nên trầm trọng hơn, cả giữa các quốc gia lẫn trong nội bộ từng quốc gia: “một số ít người có quá nhiều và quá nhiều người lại có quá ít; đó là luận lý của thời đại hôm nay”. [162] Những tiến bộ khoa học và công nghệ, kể cả trong lãnh vực y khoa, không dễ dàng được đại đa số dân chúng tiếp cận, như đã được chứng minh cách bi thảm trong thời gian đại dịch gần đây. Trong khi tại một số khu vực người ta đầu tư vào những can thiệp xa xỉ hoặc vào những giấc mơ tự vượt thắng bản thân mà chỉ ít người có khả năng đạt tới, thì ở những nơi khác trên thế giới vẫn còn thiếu các thiết bị căn bản để cứu sống hàng triệu sinh mạng con người. Nghĩ rằng các công nghệ mới sẽ tự động mang lại lợi ích cho mọi người có nghĩa là bỏ qua một thực tế hiển nhiên: nếu những biến đổi không được quản trị với mục tiêu ưu tiên - ngay từ giai đoạn hoạch định - là ngăn ngừa những bất bình đẳng mới và lớn hơn, thì tiến bộ công nghệ sẽ tự động tạo ra những bất bình đẳng mang tính cơ cấu. Ngày nay, công lý còn hệ tại ở việc tiếp cận những lợi ích của sự đổi mới: chăm sóc, tri thức, công cụ và cơ hội.

162. Không còn nghi ngờ gì nữa, cần phải có những đạo luật công chính và những công cụ tái phân phối nhằm điều chỉnh các mất cân bằng, kể cả qua những hệ thống thuế khóa giúp giảm gánh nặng cho những người yếu thế và đòi hỏi nhiều hơn nơi những ai có nhiều nguồn lực hơn. Tuy nhiên, không được xem việc tìm kiếm công bằng xã hội như một vấn đề tách biệt và xảy ra sau tiến trình tạo ra của cải, như thể kinh tế chỉ cần giới hạn trong việc sản xuất giá trị còn chính trị chỉ can thiệp sau đó để phân phối lại. Trái lại, công lý liên quan đến mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, từ việc thu nhận tài nguyên đến tài trợ, từ sản xuất đến tiêu dùng, và mỗi chọn lựa đều mang những hệ quả luân lý. [163]

163. Hơn thế nữa, trong thời đại của trí tuệ nhân tạo và robot học, người ta không còn có thể chỉ tin tưởng vào “bàn tay vô hình” của thị trường nữa: [164] chính trị có nhiệm vụ định hướng các động lực kinh tế-công nghệ về phía công ích, bằng cách cổ võ lao động xứng hợp, sự hòa nhập xã hội và việc phân phối công bằng những lợi ích của sự đổi mới. Vì nhiều quyết định kinh tế vượt qua biên giới của các quốc gia, nên cũng cần có một sự hợp tác quốc tế có khả năng xác định những chiến lược chung, đặc biệt vì lợi ích của các quốc gia và các nhóm dễ bị tổn thương nhất, nhằm thúc đẩy phát triển và vượt qua chủ nghĩa trợ cấp. Luận lý soi sáng cho những quyết định ấy là phẩm giá vô cùng cao quý của mỗi con người, của công ích và của một thế giới thực sự được nghĩ đến cho tất cả mọi người. Sự liên đới giữa hòa bình và phát triển, như thánh Phaolô VI đã viết đầy tính ngôn sứ vào năm 1967, [165] hôm nay có thể được diễn tả lại như sau: sự thịnh vượng chỉ có thể góp phần xây dựng và củng cố hòa bình nếu nó mang tính phổ quát, bao gồm và bền vững.

164. Trong những thuật ngữ cụ thể, việc định hướng nền kinh tế theo phẩm giá con người có nghĩa là chấp nhận một số tiêu chuẩn hành động bền vững ngay cả trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Trước hết là tính minh bạch và trách nhiệm giải trình: khi dữ liệu và các thuật toán ảnh hưởng đến việc cấp tín dụng, tuyển dụng nhân sự hoặc tiếp cận các dịch vụ và cơ hội, cần phải bảo đảm rằng các quyết định ấy có thể được hiểu rõ, bị chất vấn và được đặt dưới sự kiểm soát, để con người không bị giản lược thành một hồ sơ dữ liệu. Thứ đến là tính bao gồm và khả năng tiếp cận: những lợi ích của sự đổi mới phải đi kèm với các đầu tư vào năng lực, hạ tầng và các dịch vụ thiết yếu, để công nghệ không làm gia tăng khoảng cách giữa những người có và những người không có. Sau cùng là những biện pháp công bằng: thuế khóa, các cơ chế bảo trợ xã hội và các chính sách công nghiệp phải điều chỉnh những mất cân bằng do sự tập trung của cải và quyền lực tạo ra. Những tiêu chuẩn ấy không phải là một sự cản trở đối với đổi mới; trái lại, chúng làm cho đổi mới trở nên khả thi và mang tính nhân bản hơn.

Gia đình và người trẻ: những điều kiện xã hội của niềm hy vọng

165. Gia đình là một thiện ích xã hội căn bản. Được thiết lập trên sự kết hợp bền vững giữa một người nam và một người nữ, gia đình là môi trường đầu tiên trong đó mỗi con người phát triển tiềm năng của mình, ý thức về phẩm giá bản thân và học biết những hình thức đầu tiên của chân lý cũng như sự thiện, bằng cách nội tâm hóa những thói quen chuẩn bị cho họ bước vào đời sống xã hội. [166] Gia đình, xã hội tự nhiên đầu tiên được phú ban những quyền nguyên thủy, là tế bào nền tảng và không thể thay thế của mọi tổ chức cộng đồng. [167] Vì thế, khi các dự án chính trị và những quyết định kinh tế quan trọng đẩy gia đình vào một vai trò bên lề hoặc thứ yếu, thì sự phát triển đích thực của toàn thể thân thể xã hội cũng bị tổn hại. [168]

166. Tuy nhiên, gia đình là một thiện ích xã hội mong manh, bị tác động trực tiếp bởi những biến đổi kinh tế và công nghệ đang làm thay đổi thế giới lao động, và vì thế cần được nâng đỡ về mặt văn hóa, pháp lý và kinh tế. Tác động tàn phá của thất nghiệp và tình trạng bấp bênh trên cơ cấu gia đình là điều đã quá rõ ràng. Trong ngắn hạn, việc giảm chi phí lao động hoặc tối đa hóa hiệu quả tài chính có thể có vẻ thuận lợi, nhưng về lâu dài điều đó lại phá hủy chính những nền tảng của đời sống chung: trong khi những tiến bộ công nghệ được ca tụng, cơ cấu xã hội lại dần dần bị bào mòn như bởi một loại virus thầm lặng.

167. Đối với giới trẻ, tình trạng lao động bấp bênh đặc biệt nghiêm trọng. Như các giám mục Hoa Kỳ đã nhắc nhớ, lao động không chỉ là nguồn thu nhập, nhưng còn là một lãnh vực mang tính quyết định, nơi căn tính được hình thành, các tình bạn và tương quan được dệt nên, những trách nhiệm cụ thể được học biết và ơn gọi riêng của mỗi người được phân định. [169] Khi việc tiếp cận công ăn việc làm bị cản trở bởi tỷ lệ thất nghiệp cao, những hệ thống đào tạo không thích hợp hoặc những rào cản mang tính cơ cấu, nhiều người trẻ thấy con đường tiến tới sự hoàn thiện bản thân và nghề nghiệp của mình bị chặn lại. Nhu cầu phải thay đổi công việc nhiều lần trong suốt cuộc đời đòi hỏi những lộ trình cập nhật và tái đào tạo thường xuyên, giúp các thế hệ trẻ có khả năng đảm nhận, với năng lực chuyên môn và sự tự chủ, những rủi ro của một bối cảnh kinh tế biến đổi và thường khó lường. [170]

168. Từ đó phát sinh một trách nhiệm công đặc thù. Nhà nước có bổn phận nâng đỡ hoạt động của các doanh nghiệp bằng cách tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc làm, cổ võ lao động tại những nơi đang thiếu việc làm và bảo vệ việc làm trong thời kỳ khủng hoảng, bởi lao động là một thiện ích căn bản cho các gia đình và cho xã hội. [171] Đặc biệt trong một thời đại của những biến đổi công nghệ sâu rộng, cần có một sự sáng tạo chính trị “vì việc làm”, đặt gia đình và các thế hệ trẻ vào vị trí trung tâm, nếu chúng ta không muốn những tiến bộ kinh tế bị chuyển hóa thành những hình thức mới của bất an và loại trừ.

169. Việc nâng đỡ các gia đình và giới trẻ trong tiến trình chuyển đổi này đòi hỏi những biện pháp giúp cho sự ổn định trở nên khả thi. Như đã được nhắc đến trước đây, cần có những chính sách lao động cổ võ tính liên tục và phẩm chất của việc làm, chống lại tình trạng bấp bênh như một điều kiện sống bình thường và thúc đẩy những lộ trình thực tế để tiếp cận và phát triển nghề nghiệp. Thứ đến, cần có những biện pháp bảo đảm những nhịp sống mang tính nhân bản: nếu không có sự quân bình giữa lao động, các dịch vụ và thời gian nghỉ ngơi, gia đình sẽ suy yếu và giới trẻ sẽ gặp khó khăn trong việc trưởng thành ý thức trách nhiệm. Hơn nữa, điều nền tảng là phải đầu tư vào việc đào tạo và huấn luyện nghề nghiệp có thể tiếp cận được, để sự chuyển đổi nghề nghiệp do nền kinh tế kỹ thuật số đòi hỏi không trở thành một sự sàng lọc tàn nhẫn giữa những người có khả năng cập nhật và những người không thể. Sau cùng, cần phải nâng đỡ các mối dây xã hội: những mạng lưới và cộng đoàn giáo dục đồng hành với các chọn lựa cuộc sống và ngăn chặn việc bất định sinh ra cô đơn và lệ thuộc. Nhờ đó, sự biến đổi công nghệ có thể được trải qua mà không phá vỡ điều làm cho một xã hội trở nên phong nhiêu: khả năng xây dựng tương lai.

Bảo vệ tự do trước sự lệ thuộc và thương mại hóa

Những hình thức lệ thuộc và kiểm soát xã hội

170. Sau khi đã phân tích chân lý và giáo dục, lao động và gia đình, giờ đây chúng ta phải nói đến ảnh hưởng của cuộc cách mạng kỹ thuật số trên tự do con người, bằng cách suy tư về cách thức đối diện cả những nguy cơ liên quan đến tâm lý cá nhân lẫn những thảm trạng xã hội lớn lao. Không được xem nhẹ những hình thức lệ thuộc tinh vi hơn gắn liền với nền kinh tế kỹ thuật số của sự chú ý, trong đó các nền tảng và dịch vụ được thiết kế để chiếm lấy thời gian và ánh nhìn của người sử dụng, khai thác những mong manh của họ và làm suy yếu tự do nội tâm. Khi các mô hình kinh doanh phát triển nhờ sự yếu đuối của con người, thì con người bị đối xử như một phương tiện chứ không phải như một cứu cánh, và những ai thiết kế hay tài trợ cho các hệ thống ấy mang lấy một trách nhiệm luân lý mà họ không thể thoái thác. Điều cấp thiết là phải cổ võ một việc sử dụng công nghệ củng cố tự do nội tâm: giáo dục về sự tiết độ kỹ thuật số, bảo vệ trẻ vị thành niên và đấu tranh chống lại những mô hình phát triển nhờ khai thác sự mong manh của con người.

171. Một nguy cơ khác, ít hữu hình hơn nhưng không kém phần nghiêm trọng, là nguy cơ của sự kiểm soát xã hội mà việc thu thập dữ liệu quy mô lớn và việc sử dụng các hệ thống thuật toán làm cho trở nên khả thể. Khi mỗi cử chỉ đều để lại dấu vết - việc di chuyển, mua sắm, các tương quan, sở thích - thì một quyền lực mới được hình thành: quyền lực phân loại, dự đoán và định hướng các hành vi, nhiều khi mà chính con người không hoàn toàn ý thức về điều đó. Nếu các dữ liệu này được sử dụng để đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến các cơ hội cụ thể (tiếp cận tín dụng, tuyển dụng nhân sự, các dịch vụ), thì sẽ xuất hiện nguy cơ làm suy yếu tự do và phân biệt đối xử với những người dễ bị tổn thương nhất. Hơn nữa, sự kiểm soát không chỉ diễn ra qua những cấm đoán minh nhiên, nhưng còn qua cấu trúc của tính khả kiến: điều gì được khuếch đại hoặc bị làm cho vô hình, điều gì được tưởng thưởng hoặc bị trừng phạt, cuối cùng sẽ định hình các quan điểm và chọn lựa, tạo nên sự đồng dạng và tự kiểm duyệt. Vì thế, trong thời đại kỹ thuật số, tự do không chỉ là một vấn đề nội tâm; đó còn là một vấn đề công cộng, đòi hỏi những quy phạm rõ ràng, tính minh bạch, những con đường khiếu nại và những giới hạn cân xứng đối với việc sử dụng các công nghệ xâm lấn, để công nghệ tiếp tục phục vụ con người và không trở thành một hình thức thống trị trên các lương tâm.

172. Căn nguyên của những vấn đề này là một não trạng kỹ trị và hậu nhân loại, vốn có khuynh hướng xem con người như một đối tượng có thể bị thao túng hoặc như một nguồn lực cần được tối ưu hóa, [172] bằng cách loại bỏ mọi điều đặt ra giới hạn cho việc tối đa hóa lợi nhuận: điều quan trọng là hiệu quả, chứ không phải sự tôn trọng tự do và phẩm giá con người. Một số trào lưu hậu nhân loại thậm chí còn đặt vấn đề về sự hiện hữu của những con người “hạng hai”, phục vụ cho lợi ích của các tầng lớp tinh hoa vốn tự xem mình là cao cấp hơn: đó là một viễn tượng đáng lo ngại, càng nghiêm trọng hơn nữa khi kết hợp với các công cụ công nghệ làm gia tăng theo cấp số nhân quyền lực kiểm soát và tuyển chọn. Ngay cả một số luận lý của tình trạng lệ thuộc cơ cấu do nợ nần - vốn duy trì toàn thể các dân tộc trong điều kiện phụ thuộc - cũng cho thấy cùng một não trạng chấp nhận, dưới những hình thức mới, các mối tương quan lệ thuộc gần với chế độ nô lệ.

Phá vỡ xiềng xích của những hình thức nô lệ mới

173. Ngày nay, nhãn quan méo mó về con người này được chuyển hóa thành nhiều hình thức áp bức khác nhau gắn trực tiếp với nền kinh tế kỹ thuật số. Trong thế giới của trí tuệ nhân tạo, không có gì là phi vật chất hay huyền bí. Mỗi câu trả lời có vẻ tức thời và hoàn hảo đều phát sinh từ một chuỗi trung gian dài lâu, từ một mạng lưới rộng lớn gồm tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng năng lượng và trên hết là con người. Một phần đáng kể của hoạt động trong nền kinh tế kỹ thuật số được nâng đỡ bởi lao động thầm lặng của hàng triệu con người, làm những công việc ít được thấy đến nhưng mang tính thiết yếu: gắn nhãn dữ liệu, kiểm duyệt nội dung - thường là những nội dung vô cùng tồi tệ - và huấn luyện các mô hình. Trong nhiều trường hợp, đó là những người trẻ, phần lớn là phụ nữ, lao động cực nhọc để đổi lấy mức thù lao tối thiểu. Bên cạnh lao động vô hình đầy gian khổ ấy còn có một công việc thậm chí còn tàn nhẫn hơn: khai thác các tài nguyên cần thiết cho việc sản xuất các thiết bị và bộ vi xử lý mà trí tuệ nhân tạo dựa vào. Tại một số khu vực trên thế giới, thanh thiếu niên và trẻ em đang phải lao động trong những điều kiện nguy hiểm để nghiền và xử lý các loại vật liệu từ đó người ta khai thác các nguyên tố đất hiếm. Những thân thể bị thương tích, bị tàn phế và bị bào mòn sức lực, chỉ để dòng chảy của các phép tính và quá trình xử lý dữ liệu không bị gián đoạn. Hơn nữa, các mạng lưới tội phạm còn lợi dụng các nền tảng internet, các hệ thống nhắn tin, các hình thức thanh toán ẩn danh và các kỹ thuật lập hồ sơ dữ liệu để tuyển mộ, kiểm soát và vận chuyển các nạn nhân của nạn buôn người, phần lớn là trẻ vị thành niên, biến những người nam và người nữ thành những “dữ liệu” để theo dõi và những “kiện hàng” để luân chuyển trong chính các mạng lưới kỹ thuật số đang nâng đỡ một phần lớn nền kinh tế toàn cầu. Thực trạng này đặt ra một chất vấn sâu xa đối với lương tâm luân lý của thời đại chúng ta. Không thể chỉ viện dẫn hiệu quả hay ca ngợi những lợi ích của sự đổi mới công nghệ, nếu những thành quả ấy được xây dựng trên một chuỗi dài các hình thức bóc lột được cố tình che giấu. Nếu một công nghệ hứa hẹn giải phóng con người nhưng lại sản sinh ra những hình thức lệ thuộc mới trên quy mô toàn cầu, thì công nghệ ấy đang đi ngược lại nguyên tắc nền tảng về phẩm giá bất khả xâm phạm của con người.

174. Cuộc đấu tranh chống lại những hình thức nô lệ mới là một phép thử quyết định đối với việc phân định luân lý về trí tuệ nhân tạo và sự chuyển đổi kỹ thuật số. Theo truyền thống được khởi đầu bởi Đức Giáo hoàng Leo XIII, Giáo Hội tái khẳng định sự lên án mạnh mẽ đối với mọi hình thức nô lệ, buôn người và thương mại hóa con người, đồng thời nhắc nhớ tính cấp bách của một phong trào rộng lớn gồm suy tư và hành động đặt phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người cũng như công ích vào trung tâm, như cứu cánh của xã hội và như tiêu chuẩn cho mọi quyết định cá nhân, xã hội và chính trị. Nếu thiếu sự suy tư mang tính luân lý và nhân bản hóa này, quyền lực ngày càng gia tăng của các hệ thống kỹ thuật số có nguy cơ dẫn chúng ta tới những sự tàn bạo mới, không kém phần đáng xấu hổ so với những tội ác của quá khứ mà ngày nay chúng ta vẫn lên án, trong khi vẫn tiếp tục tự trình bày mình như những xã hội “tiến bộ” và “văn minh”.

175. Nạn buôn người phải được nhìn nhận như một hình thức nô lệ đương đại và như một sự vi phạm nghiêm trọng phẩm giá con người; việc không phản ứng cách mạnh mẽ hoặc dung túng dưới bất cứ hình thức nào đối với những thực hành ấy đồng nghĩa, ở một mức độ nào đó, với việc hôm nay trở nên đồng lõa với những tội lỗi đã được thực hiện trong quá khứ, khi chế độ nô lệ từng được biện minh hoặc bị làm ngơ. [173]

176. Khi giáo huấn của mình ngày càng được phát triển và trưởng thành hơn, Giáo Hội cũng dần dần ý thức sâu sắc hơn về mức độ nghiêm trọng của những thực trạng này. Dĩ nhiên, các biến cố trong quá khứ không thể bị phán xét theo cách phi lịch sử, như thể tất cả những tiêu chuẩn nhận định vốn được hình thành và phát triển theo thời gian đã luôn hiện hữu ngay từ đầu. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận hoặc giảm nhẹ sự chậm trễ của Giáo Hội và của xã hội trong việc lên án tai họa nô lệ. Nếu như trong thời Cổ đại và Trung cổ, nhiều cá nhân cũng như các định chế thuộc Giáo Hội đã sở hữu nô lệ, thì bước sang thời Cận đại, Tòa Thánh Rôma, trước những thỉnh cầu từ các nhà cầm quyền, đã nhiều lần can thiệp để quy định và hợp thức hóa các hình thức lệ thuộc, và trong một số trường hợp, cả việc biến những người bị xem là “ngoại giáo” thành nô lệ. [174] Phải chờ đến thế kỷ XIX mới xuất hiện một sự lên án chính thức, tuyệt đối và phổ quát đối với chế độ nô lệ, đặc biệt nơi giáo huấn của Đức Giáo hoàng Leo XIII. [175] Điều này là một ví dụ rõ ràng về sự tiến triển của Giáo Hội trong việc hiểu biết những chân lý vĩnh cửu của Mạc khải mà Giáo Hội gìn giữ. Dù chúng ta không thấy có sự đồng nhất trong chính vấn đề này - bởi chế độ nô lệ đã được dung thứ trong một thời gian dài và chỉ sau đó mới bị lên án tuyệt đối - vẫn tồn tại một sự liên tục xuyên suốt lịch sử liên quan đến xác tín về phẩm giá của mọi con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, cho dù trong suốt mười tám thế kỷ Giáo Hội chưa thể minh nhiên tuyên bố một cách chính thức sự bất khả tương hợp hoàn toàn giữa chế độ nô lệ và phẩm giá ấy. Đây là một vết thương trong ký ức Kitô giáo mà chúng ta không thể xem mình như người ngoài cuộc. [176] Không thể không cảm thấy một nỗi đau sâu xa khi suy ngẫm về biết bao đau khổ và nhục nhã mà chế độ nô lệ đã gây nên cho rất nhiều người, trái ngược hoàn toàn với phẩm giá vô biên của mỗi người trong họ - những người được Chúa yêu thương vô hạn. Vì thế, nhân danh Giáo Hội, tôi chân thành xin lỗi.

177. Chính vì thế, ký ức về sự đồng lõa và sự mù quáng của quá khứ trước bất công của chế độ nô lệ trở thành đối với chúng ta một lời mời gọi tỉnh thức: điều mà chúng ta đã học được phải được chuyển hóa thành sự phân định và trách nhiệm trong hiện tại. Nếu chúng ta không muốn trong tương lai phải xin lỗi vì đã không trung thành với kho tàng phẩm giá con người mà đức tin của chúng ta chứa đựng, thì hôm nay chúng ta có trách nhiệm phải thẳng thắn và kiên quyết trong việc tố giác nạn buôn người dưới mọi hình thức của nó, đồng thời từng bước nâng đỡ, cùng với tất cả những ai dấn thân cho sứ mạng này, những con đường thực sự của việc phòng ngừa, bảo vệ, giải thoát và tái hội nhập.

178. Ngày nay, chủ nghĩa thực dân mang một khuôn mặt chưa từng có trước đây. Nó không chỉ thống trị thân xác, nhưng còn chiếm hữu dữ liệu, biến đời sống cá nhân thành những thông tin có thể bị khai thác. Toàn bộ những vùng lãnh thổ - đặc biệt là những nơi có tầm quan trọng địa chính trị thấp hơn và sự mong manh cơ cấu lớn hơn - hiện đang bị cuốn vào một luận lý khai thác mới: đó là các luồng dữ liệu y tế, hồ sơ dịch tễ học, bản đồ di truyền và dữ liệu nhân khẩu học. Đây chính là những “đất hiếm” mới của quyền lực: những thông tin thiết yếu mà, một khi được đối chiếu và liên kết với nhau, có thể được sử dụng để huấn luyện các mô hình dự báo, định hướng các chiến lược đầu tư, dự đoán các cuộc khủng hoảng và trên hết là chọn lựa ai và điều gì đáng được quan tâm. Những ai nắm giữ dữ liệu y tế của toàn thể các dân cư - ngày nay thường được thu thập dưới danh nghĩa trợ giúp, nghiên cứu hay đổi mới - thực chất đang nắm giữ một đòn bẩy mang tính cơ cấu đối với tương lai: họ có thể định hình các nhu cầu và thị trường. Và họ có thể quyết định, trước tất cả những người khác, ai sẽ được phân phối thuốc men, đầu tư và sự bảo vệ. Chính ở đây diễn ra một trong những vấn đề luân lý cấp bách nhất của thời đại chúng ta: biến tri thức được chia sẻ thành công ích chứ không thành công cụ thống trị; trao trả cho các dân tộc không chỉ các dữ liệu mô tả họ, nhưng còn cả khả năng quyết định cách thức các dữ liệu ấy sẽ được sử dụng, ai sẽ sử dụng chúng và sử dụng cho ai. Nếu không, thời đại kỹ thuật số sẽ không phải là hậu thực dân, nhưng là chủ nghĩa thực dân dưới một hình thức khác.

179. Những hình thức nô lệ mới được nuôi dưỡng bởi các chuỗi kinh tế và các hạ tầng kỹ thuật số. Vì thế, cần phải hành động trên nhiều mặt trận: trước hết, đòi hỏi sự minh bạch lớn hơn trong các chuỗi cung ứng nâng đỡ ngành công nghệ và nền kinh tế kỹ thuật số, để không một lợi thế cạnh tranh nào được xây dựng trên sự bóc lột vô hình. Thứ đến, cần các doanh nghiệp và nhà đầu tư áp dụng những tiêu chuẩn rõ ràng của việc thẩm định luân lý phòng ngừa, bao gồm trong các ưu tiên hàng đầu việc bảo vệ người lao động, đấu tranh chống lao động cưỡng bức và quan tâm đến tác động xã hội của các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu. Hơn nữa, cần phải yêu cầu các nền tảng kỹ thuật số cộng tác cách có trách nhiệm với các cơ quan công quyền và xã hội dân sự nhằm ngăn chặn việc các công cụ truyền thông, thanh toán và lập hồ sơ trở thành những kênh tuyển mộ và kiểm soát các nạn nhân. Khi những quyết định ấy hội tụ với nhau, môi trường kỹ thuật số có thể được biến đổi từ một không gian săn mồi thành một không gian bảo vệ, phòng ngừa và thăng tiến phẩm giá con người.

Một trách nhiệm chung

180. Những lãnh vực khác nhau đã được xem xét - việc tìm kiếm chân lý trong đời sống công cộng, giáo dục trong môi trường kỹ thuật số, các biến đổi của thế giới lao động, sự mong manh của gia đình và những hình thức nô lệ mới - không phải là những hiện tượng tách biệt. Tất cả đều đặt cùng một vấn đề: nếu kỹ thuật trở thành tiêu chuẩn tuyệt đối, con người có nguy cơ bị đối xử như một dữ liệu, một bánh răng hay một món hàng; ngược lại, nếu kỹ thuật được đặt trong một chân trời minh triết, nó có thể trở thành cơ hội cho sự tăng trưởng, công lý và tình huynh đệ.

181. Từ viễn tượng ấy, Học thuyết Xã hội của Giáo Hội đề xuất một trách nhiệm được chia sẻ. Giáo Hội yêu cầu các tiến trình này phải được quản trị với một nhãn quan hướng tới tương lai: bởi những định chế có khả năng điều chỉnh mà không bóp nghẹt và bảo vệ mà không thay thế; bởi những doanh nghiệp biết nhìn nhận nơi lao động và phẩm giá một tiêu chuẩn của thành công; bởi các cơ cấu trung gian và các cộng đoàn giáo dục biết tái thiết niềm tin và các mối dây liên kết; bởi những công dân biết vun trồng trách nhiệm, sự tiết độ, khả năng phân định và ý thức về chân lý. Chỉ như thế, đổi mới mới thực sự có thể trở thành sự phát triển nhân bản toàn diện chứ không phải là yếu tố của sự loại trừ và thống trị; và chỉ như thế, lời hứa của tiến bộ mới có thể được nhìn nhận như chân thật, bởi nó được đo lường dựa trên phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người nam và mỗi người nữ.

CHƯƠNG V - VĂN HÓA QUYỀN LỰC VÀ NỀN VĂN MINH TÌNH THƯƠNG

182. Sau khi đã phân tích cách thức trí tuệ nhân tạo đang biến đổi một số khía cạnh của đời sống và xã hội, với những hệ quả nghiêm trọng đối với phẩm giá con người, cần phải hướng cái nhìn đến một lãnh vực còn bi thảm hơn nữa: chiến tranh. Ở đây, vấn đề không chỉ liên quan đến hiệu quả của những công cụ mới, nhưng còn đến nguy cơ rằng công nghệ, khi bị tách rời khỏi luân lý và trách nhiệm, sẽ làm cho quyết định liên quan đến sự sống và cái chết trở nên nhanh chóng và phi cá vị hơn, đồng thời trình bày việc sử dụng vũ lực như một lựa chọn tức thời và khả thi. Trong một thế giới ngày càng lệ thuộc lẫn nhau, hòa bình không phải là một chủ đề bên cạnh những chủ đề khác, nhưng là điều kiện của công ích phổ quát và là phép thử đối với sự trưởng thành luân lý của các dân tộc, đặc biệt của những ai được kêu gọi đảm nhận trách nhiệm trong việc điều hành quốc gia.

183. Cuộc cách mạng kỹ thuật số đang làm thay đổi “ngữ pháp” của các cuộc xung đột. Bên cạnh chiến tranh hữu hình còn xuất hiện những hình thức hỗn hợp: các cuộc tấn công mạng, thao túng thông tin, các chiến dịch gây ảnh hưởng và sự tự động hóa trong các quyết định chiến lược. Trí tuệ nhân tạo đi vào các tiến trình ấy như một yếu tố gia tốc, trong một bối cảnh mà nhiều công nghệ mang tính lưỡng diện nội tại: điều được tạo ra để bảo vệ có thể nhanh chóng biến thành công cụ tấn công, và ranh giới giữa bảo vệ với xâm lược ngày càng trở nên mờ nhạt. Trí tuệ nhân tạo có thể củng cố khả năng phòng vệ và bảo vệ thường dân, nhưng cũng có thể hạ thấp ngưỡng sử dụng vũ lực, làm cho trách nhiệm trở nên thiếu minh bạch và nuôi dưỡng một nền văn hóa trong đó kẻ thù bị giản lược thành một dữ liệu còn nạn nhân chỉ còn là một “thiệt hại phụ”. Trước những biến đổi ấy, chúng ta phải quay về với các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội - phẩm giá con người, công ích, đích đến phổ quát của các của cải, tính bổ trợ, tình liên đới và công lý - như những tiêu chuẩn để phán định xem liệu công nghệ thực sự phục vụ nhân loại hay cuối cùng lại thống trị nhân loại, đồng thời xem chúng như những định hướng cho các quyết định của chúng ta.

184. Vì thế, trong chương này, tôi muốn đối chiếu hai luận lý đối nghịch mà tôi đã gợi lên qua các hình ảnh Kinh Thánh: một bên là cám dỗ xây dựng tháp Babel, đặt niềm tin vào quyền lực và lòng kiêu ngạo; bên kia là sự kiên nhẫn tái thiết Giêrusalem như trong thời ông Nơkhemia, “từng phần một”, bằng cách chăm sóc điều nhân bản và công ích.

185. Nếu quan sát các động lực của thế giới hôm nay, chúng ta ngày càng nhận ra rõ hơn sự lan rộng của một nền văn hóa quyền lực, được tạo nên bởi những phân cực và bạo lực. Babel hiện đại không chỉ là mô hình kỹ trị toàn cầu hóa, nhưng còn là cuộc đối đầu từ xa giữa các chủ nghĩa đế quốc đối nghịch, giữa những cường quốc muốn duy trì quyền bá chủ của mình và những cường quốc khát vọng chinh phục nó, cùng với vô số các cuộc xung đột địa phương. Đó còn là cuộc chạy đua nhằm phát triển những công nghệ ngày càng mạnh hơn hoặc nhằm bảo đảm quyền kiểm soát chúng, theo một động lực phi nhân hóa dường như không biết giới hạn. Tuy nhiên, song song với sự lệch hướng ấy, chúng ta vẫn nhận ra một phần lớn nhân loại đang cố gắng tiếp tục sống nhân bản và nỗ lực xây dựng thành đô của sự chung sống và hòa bình. Trong công trình ấy, tất cả chúng ta thường là những người cộng tác vô thức và những kiến trúc sư rời rạc, có khả năng thực hiện những cử chỉ quảng đại nhưng thiếu một nhãn quan tổng thể: đó là một công trình chậm hơn, ít hữu hình hơn và kém gây chú ý hơn, đang chờ được hiểu rõ hơn và phối hợp tốt hơn, để trở thành một cam kết có ý thức và được tổ chức nơi mọi cộng đoàn, từ gia đình đến chính quyền các quốc gia và các mối tương quan giữa họ. Chính cho chân trời dấn thân ấy, cho công trình của niềm hy vọng ấy, mà chúng ta trao ban tên gọi “nền văn minh tình thương”.

Nền văn minh tình thương trong thời đại kỹ thuật số

186. Khi Thánh Giáo hoàng Phaolo VI đưa ra cách diễn tả “nền văn minh tình thương”, [177] thế giới đang bị ghi dấu bởi Chiến tranh Lạnh, cuộc chạy đua vũ trang và những mất cân bằng kinh tế sâu sắc. Trong bối cảnh ấy, Giáo Hội đã chỉ ra một con đường thay thế cho sự đối đầu ý thức hệ giữa các hệ thống, bằng cách hình dung một trật tự xã hội trong đó công lý và bác ái gắn kết với nhau, và tình yêu trở thành nguyên lý tổ chức của đời sống kinh tế, chính trị và văn hóa. Ngày nay, chúng ta phải mạnh mẽ tái khám phá nhãn quan ấy: nền văn minh tình thương không phải là một điều không tưởng ngây thơ, nhưng là một dự án đòi hỏi nhiều cố gắng. Nó hệ tại ở việc chuyển dịch đức ái thành các cơ cấu công lý, ban hình hài thể chế cho tình huynh đệ và nhìn nhận người khác - dù là cá nhân hay dân tộc - như một người cộng tác cần thiết trong việc xây dựng công ích. Như Thông điệp Fratelli tutti đã nhắc nhớ chúng ta, chỉ tình yêu xã hội này - có khả năng trở thành văn hóa và quy phạm - mới có thể tạo ra một trật tự quốc tế bền vững, bằng cách biến sự chung sống từ một sự cùng tồn tại vũ trang đơn thuần thành một cộng đồng chung vận mệnh. [178]

187. Ngày nay, trong bối cảnh của cuộc cách mạng kỹ thuật số, trực giác ấy càng trở nên mang tính quyết định hơn. Các mạng lưới kỹ thuật số, nền kinh tế toàn cầu hóa và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tạo ra những mối liên kết ngày càng chặt chẽ hơn, kết nối theo thời gian thực những quyết định được đưa ra tại một nơi với các hiệu quả mà chúng tạo nên ở nơi khác. Vì thế, những lời của Công đồng Vaticanô II về sự lệ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng giữa các dân tộc vẫn còn nguyên giá trị: công ích ngày càng mang chiều kích phổ quát hơn, với những quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến toàn thể gia đình nhân loại. [179] Dự án của nền văn minh tình thương ở đây đảm nhận nhiệm vụ quyết định là biến sự lệ thuộc bị áp đặt này thành một tình liên đới được mong muốn và tự do chọn lựa. Đó là tiêu chuẩn để định hướng các tiến trình công nghệ: không đủ để trí tuệ nhân tạo làm cho chúng ta hiệu quả hơn hay kết nối hơn, nhưng nó phải phục vụ cho việc xây dựng gia đình nhân loại phổ quát ấy, với những quyền lợi và nghĩa vụ được chia sẻ, nơi sự gần gũi kỹ thuật số trở thành một cơ hội thực sự cho gặp gỡ và chăm sóc lẫn nhau.

Văn hóa quyền lực

188. Trong thời đại chúng ta đang sống, một nền văn hóa quyền lực đang dần được củng cố, trong đó việc sở hữu các phương tiện và khả năng thống trị có xu hướng áp đặt chương trình nghị sự cũng như các tiêu chuẩn quyết định, đẩy công ích của toàn thể nhân loại xuống hàng thứ yếu và giản lược thảm trạng cụ thể của các dân tộc đang trong chiến tranh thành một biến số phụ thuộc vào những lợi ích chiến lược. Nền văn hóa quyền lực này thâm nhập vào xã hội, biến đổi các tương quan và hành vi, lan rộng bằng cách bình thường hóa chiến tranh, theo đuổi một sức mạnh quân sự ngày càng lớn hơn, lợi dụng cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương và nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa hiện thực giả tạo, vốn luôn lặp đi lặp lại rằng không có giải pháp thay thế nào khác.

Sự bình thường hóa chiến tranh

189. Năm 1965, tiếng kêu của Thánh Giáo hoàng Phaolo VI đã vang lên mạnh mẽ trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc: “Không bao giờ chiến tranh nữa, không bao giờ chiến tranh nữa!”. [180] Chúng ta phải nhìn nhận rằng, bất chấp những ước mong và tuyên bố về hòa bình, sáu mươi năm gần đây đã bị ghi dấu bởi những cuộc xung đột với mức độ tàn bạo khủng khiếp, thường tác động sâu rộng đến thường dân, gây nên vô số nạn nhân vô tội, những làn sóng người tị nạn, sự bất ổn xã hội và những vết thương kéo dài. Tuy nhiên, trong diễn ngôn công cộng vẫn chiếm ưu thế xác tín rằng chiến tranh phải luôn là extrema ratio - giải pháp cuối cùng - chịu sự giới hạn nghiêm ngặt về luân lý và pháp lý, và trong mọi trường hợp phải được đặt trong một chân trời chính trị hướng tới hòa bình. Sau những biến cố xảy ra trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến, một bước ngoặt đã diễn ra sau Chiến tranh Thế giới thứ hai: hòa bình được đặt vào trung tâm của trật tự quốc tế, như được chứng thực đặc biệt trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc, văn kiện nhằm “cứu các thế hệ tương lai khỏi tai họa chiến tranh”. [181] Nhiều bản Hiến pháp quốc gia, theo cùng định hướng ấy, đã giới hạn việc sử dụng vũ khí vào những trường hợp cực kỳ đặc biệt và được xác định chặt chẽ. Ngay cả trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, bất chấp sự hiện diện của nhiều cuộc xung đột nghiêm trọng, vẫn tồn tại ý thức rằng cần phải tránh bằng mọi giá một cuộc chiến tranh thế giới mới.

190. Tuy nhiên ngày nay, chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi mô hình thực sự trong diễn ngôn công cộng và trong các quyết định tái vũ trang, với một sự phục hồi đáng lo ngại của chiến tranh như công cụ của chính trị quốc tế, trong khi chính những tiêu chuẩn luân lý từng giới hạn việc sử dụng chiến tranh lại đang bị xói mòn. Những cuộc xung đột khu vực kéo dài, sự leo thang căng thẳng và những đe dọa qua lại dần trở nên gần như bình thường, đồng thời tái xuất hiện những hình thức xung đột nhằm mở rộng lãnh thổ vốn từng được cho là đã bị vượt thắng. Dư luận công chúng dần bị định hướng và quen thuộc với những tường thuật truyền thông mang tính phân cực, thường được khuếch đại bởi các thuật toán đề cao sự đối đầu và xung khắc.

191. Chúng ta cũng đang chứng kiến một sự mất mát đáng lo ngại của ký ức lịch sử. Sự biến mất dần dần của các chứng nhân trực tiếp về cuộc diệt chủng Holocaust và hai cuộc thế chiến tạo điều kiện cho việc tái viết lịch sử một cách chọn lọc hoặc méo mó, trong một bầu khí mà các tin giả và những thao túng tường thuật làm lu mờ các bài học đã được rút ra. Khi không còn ký ức sống động về những kinh hoàng của chiến tranh, các quyết định chính trị có nguy cơ được đưa ra chỉ dựa trên các tính toán quyền lực, thiếu một nhãn quan về những hệ quả lâu dài.

192. Bên cạnh tất cả những điều ấy còn xuất hiện một yếu tố mới và mang tính quyết định: chiều kích truyền thông và kỹ thuật số. Các mạng lưới truyền thông, những môi trường thông tin bị phân mảnh và các thuật toán đề cao sự đối đầu có thể khuếch đại sự phân cực và oán hận, đẩy nhanh việc tuyên truyền và làm cho việc phân định chung trở nên khó khăn hơn. Vì thế, chiến tranh không chỉ được tiến hành, nhưng còn được chuẩn bị về mặt văn hóa qua những tường thuật đơn giản hóa, các luận lý bạn-thù, thông tin sai lệch và nỗi sợ hãi. Khi ký ức lịch sử bị suy giảm và các tiêu chuẩn luân lý bảo vệ thường dân cũng như những người yếu thế bị suy yếu, thì việc trình bày bạo lực như điều cần thiết, không thể tránh khỏi hoặc thậm chí “sạch sẽ” trở nên dễ dàng hơn. Chính trong bầu khí ấy mà nhân loại đang rơi vào nền văn hóa bạo lực của quyền lực, nơi hòa bình không còn được trình bày như một nhiệm vụ phải đảm nhận, nhưng như một khoảng ngừng mong manh giữa các cuộc xung đột. Hôm nay hơn bao giờ hết, điều quan trọng là phải tái khẳng định việc vượt qua học thuyết “chiến tranh chính nghĩa”, vốn quá thường được viện dẫn để biện minh cho mọi cuộc chiến, mà không phủ nhận quyền tự vệ chính đáng, được hiểu theo nghĩa nghiêm ngặt nhất. [182] Nhân loại hiện có những công cụ hiệu quả hơn và có khả năng thăng tiến sự sống con người hơn để giải quyết các xung đột, như đối thoại, ngoại giao và tha thứ. Việc sử dụng vũ lực, bạo lực và vũ khí cho thấy một sự nghèo nàn trong tương quan, vốn luôn dẫn đến những hậu quả thảm khốc cho thường dân.

Một sức mạnh không giới hạn

193. Một yếu tố mang tính quyết định trong bức tranh hiện nay là sự tăng trưởng của công nghiệp quốc phòng, vốn đã trở thành một lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế của một số quốc gia. Mối liên kết chặt chẽ giữa các lợi ích kinh tế, bộ máy quân sự và các quyết định chính trị tạo nên một “quốc gia vũ trang”, trong đó chiến tranh gần như được xem như sự tiếp nối tự nhiên của chính trị và thị trường vũ khí trở thành một động cơ tự trị thúc đẩy các quyết định chiến tranh. Chúng ta không thể làm ngơ trước những lợi ích kinh tế khổng lồ đằng sau chiến tranh. Các ngành công nghiệp vũ khí và những quốc gia cung cấp vũ khí được hưởng lợi từ một thị trường phát triển chính nhờ các cuộc xung đột. Theo nghĩa ấy, còn tồn tại một luận lý kinh tế góp phần nuôi dưỡng các căng thẳng tại nhiều khu vực khác nhau trên thế giới.

194. Các kho vũ khí quân sự đang trở thành tâm điểm chú ý. Trong quá khứ, việc nhận thức được mối đe dọa mà các loại vũ khí có khả năng hủy diệt toàn thể nhân loại gây ra đã tạo điều kiện thuận lợi cho những con đường giảm căng thẳng và đàm phán về giải trừ quân bị. Đáng tiếc thay, chúng ta đã rời xa chân trời ấy, và sự phát triển của các kho vũ khí hạt nhân - kể cả viễn cảnh sử dụng “chiến thuật” - khiến việc sử dụng các loại vũ khí này dường như ngày càng trở nên ít xa vời hơn. Trong bối cảnh ấy, việc Hiệp ước Cấm Vũ khí Hạt nhân có hiệu lực vào năm 2021, được hơn bảy mươi quốc gia ủng hộ, là một dấu chỉ quan trọng; tuy nhiên, hiệp ước này có nguy cơ chỉ còn mang tính biểu tượng, vì các cường quốc hạt nhân chính yếu đã không tham gia. Từ đó lan rộng một niềm tin sai lầm rằng sự răn đe hạt nhân là điều kiện không thể thiếu cho an ninh, và chính điều ấy đã thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang mới khó có thể kiểm soát, đi kèm với việc dần dần tháo gỡ các hiệp định cắt giảm vũ khí hạt nhân cũng như phát triển các loại vũ khí “thu nhỏ”, khiến việc xem xét sử dụng chúng như một lựa chọn khả thi trở nên dễ dàng hơn.

195. Cùng một luận lý ấy cũng được thấy trong các cuộc xung đột quy ước: sức mạnh quân sự, sự yếu kém của các sáng kiến ngoại giao và tính phức tạp của các lợi ích liên hệ đã tạo điều kiện cho những cuộc xung đột có xu hướng kéo dài dai dẳng, với cái giá nhân đạo và môi trường vô cùng to lớn. Khởi động một cuộc chiến luôn dễ hơn nhiều so với chấm dứt nó, tuy nhiên việc suy tư về phòng ngừa xung đột vẫn tiếp tục bị đẩy vào vị trí bên lề một cách đáng bi thảm.

196. Bức tranh ấy càng trở nên bất ổn hơn bởi sự hiện diện của những tác nhân vũ trang mới - các nhóm thánh chiến Hồi giáo, các lực lượng dân quân tư nhân, các mạng lưới tội phạm - vốn đánh dấu sự chấm dứt của độc quyền sử dụng bạo lực của quốc gia. Thông thường, những chủ thể này kết hợp các động cơ ý thức hệ mơ hồ với những lợi ích kinh tế rất cụ thể, biến chiến tranh thành một lối sống thực sự đối với nguyên cả các thế hệ thanh niên và trẻ em: mục tiêu không còn là một chiến thắng chung cuộc, nhưng là việc duy trì xung đột như nguồn gốc của quyền lực và lợi ích.

Vũ khí và trí tuệ nhân tạo

197. Bên cạnh bối cảnh ấy còn có sự phát triển không ngừng của các hệ thống vũ khí, đặc biệt là các loại vũ khí liên quan đến trí tuệ nhân tạo. Gần đây, Tòa Thánh đã chỉ ra rằng việc ngày càng dễ dàng sử dụng các hệ thống vũ khí có tính tự chủ tác chiến khiến chiến tranh trở nên “khả thi” hơn và ít chịu sự kiểm soát của con người hơn, điều này đi ngược lại nguyên tắc cho rằng việc sử dụng vũ lực vũ trang chỉ được phép như giải pháp cuối cùng trong trường hợp tự vệ chính đáng. [183] Vì thế, việc phát triển và sử dụng trí tuệ nhân tạo trong lãnh vực chiến tranh phải chịu những giới hạn luân lý nghiêm ngặt nhất, đồng thời tôn trọng phẩm giá con người và tính thánh thiêng của sự sống, tránh mọi cuộc chạy đua vũ trang. [184]

198. Đôi khi người ta nói đến những “tác nhân luân lý nhân tạo”, như thể một cỗ máy có thể bảo đảm, với sự nhất quán lớn hơn con người, việc phân biệt giữa thiện và ác. Nhưng phán đoán luân lý không thể bị giản lược thành một phép tính: nó bao hàm lương tâm, trách nhiệm cá nhân và việc nhìn nhận tha nhân như một ngôi vị. Vì thế, không được phép trao cho các hệ thống nhân tạo quyền đưa ra những quyết định gây chết người hoặc, trong bất cứ trường hợp nào, những quyết định không thể đảo ngược. Không có thuật toán nào có thể làm cho chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt luân lý. Trí tuệ nhân tạo không giải thoát xung đột khỏi tính phi nhân nội tại của nó: nó chỉ có thể làm cho chiến tranh nhanh hơn và vô cảm hơn, hạ thấp ngưỡng sử dụng bạo lực và biến việc phòng vệ thành một sự dự báo tác chiến, trong đó các nạn nhân bị giản lược thành dữ liệu. Như thế, nó khiến chúng ta dần quen với ý tưởng rằng bạo lực là điều không thể tránh khỏi và chỉ cần được tối ưu hóa. Vì vậy, điều tối quan trọng là phải đưa các giá trị và một phán đoán khôn ngoan vào việc lập trình những hệ thống nhân tạo mà chúng ta xây dựng; các hệ thống ấy có thể góp phần tạo nên một hệ sinh thái luân lý trong đó con người được chuẩn bị tốt hơn để lắng nghe chính lương tâm mình và trong đó các mô hình trí tuệ nhân tạo thiết lập những giới hạn thích hợp.

199. Không đủ để viện dẫn luân lý một cách chung chung: cần phải chỉ ra những tiêu chuẩn phân định cụ thể. Tiêu chuẩn thứ nhất liên quan đến trách nhiệm cá nhân. Khi quyết định tấn công được tự động hóa hoặc trở nên thiếu minh bạch, nguy cơ đánh mất ý thức trách nhiệm sẽ gia tăng. Vì thế, chuỗi trách nhiệm phải luôn có thể được xác định và kiểm chứng: những ai hoạch định, huấn luyện, cho phép và sử dụng phải có khả năng chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Tiêu chuẩn thứ hai liên quan đến thời gian của phán đoán luân lý. Trí tuệ nhân tạo có xu hướng rút ngắn thời gian quyết định; nhưng trong chiến tranh, những quyết định không thể đảo ngược không thể lấy tốc độ và hiệu quả làm tiêu chuẩn tối thượng. Tiêu chuẩn thứ ba là sự phân biệt và bảo vệ thường dân. Mọi công nghệ khiến người ta có thể tấn công mà không nhìn thấy khuôn mặt của người khác đều làm hạ thấp ngưỡng luân lý của xung đột. Việc lựa chọn mục tiêu và sử dụng vũ lực không thể đánh đồng giữa chiến binh và thường dân, cũng không thể phớt lờ tác động trên những dân cư không có khả năng tự vệ.

200. Từ những tiêu chuẩn ấy phát sinh một số đòi hỏi không thể né tránh. Trước hết, đối với mọi hệ thống được sử dụng trong lãnh vực chiến tranh, phải bảo đảm khả năng truy vết và tái dựng các quyết định, để trách nhiệm và những lỗi lầm có thể có không bị “hòa tan trong cỗ máy”. Thứ đến, quyết định sử dụng vũ lực gây chết người không thể bị trao phó cho những tiến trình mờ ám hay tự động hóa, nhưng phải luôn nằm dưới sự kiểm soát hữu hiệu, có ý thức và có trách nhiệm của con người. Sau cùng, cần phải thiết lập những quy tắc chung, kể cả ở cấp độ quốc tế, nhằm ngăn chặn cuộc chạy đua vũ trang công nghệ và bảo đảm một sự bảo vệ đặc biệt cho thường dân cũng như những cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với sự sống còn của họ.

Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương

201. Nền văn hóa quyền lực cũng phát sinh từ cuộc khủng hoảng của hệ thống đa phương. Những định chế được thiết lập nhằm gìn giữ ý niệm về một vận mệnh chung của các dân tộc và một công ích ở cấp độ toàn cầu dường như đang suy yếu, không chỉ vì những giới hạn cơ cấu, nhưng còn bởi vì thường thiếu một ý chí chung nhằm nâng đỡ, cải tổ và nhìn nhận thẩm quyền luân lý của chúng. Thay vì tiến bước, chúng ta đang thụt lùi so với bước ngoặt lịch sử của thế kỷ XX. Sau năm 1989, sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại châu Âu đi kèm với một tiến trình toàn cầu hóa chủ yếu mang tính kinh tế, thiếu một kiến trúc chính trị thích hợp có khả năng nâng đỡ đối thoại và hòa bình. Người ta đã gần như phó mặc hoàn toàn cho thị trường khả năng tạo ra phúc lợi, dân chủ và ổn định, trong khi thực tế cho thấy toàn cầu hóa đã không tự động tạo ra sự hiệp nhất và hòa bình, nhưng lại khơi dậy những phản ứng mang tính cực đoan, bản sắc và dân tộc chủ nghĩa. Kết quả hiện nay còn rất xa một chủ nghĩa đa phương đích thực: đúng hơn, nó xuất hiện như một thế giới đa cực hỗn loạn và xung đột, nơi sự nghi kỵ đối với tha nhân chiếm ưu thế.

202. Cám dỗ xây dựng căn tính tập thể chống lại một kẻ thù đang tái xuất hiện, nuôi dưỡng những tường thuật trong đó mỗi bên đều tự trình bày mình như một nạn nhân có quyền chính đáng để trả đũa. Sự giản lược vào những sơ đồ như “tôi trước tiên”, “bạn-thù”, “chúng tôi-các anh” tạo điều kiện cho những quyết định - thường thiếu trách nhiệm - làm suy yếu niềm tin hỗ tương giữa các quốc gia. Như thế, sức mạnh của công pháp quốc tế bị thay thế bởi cái gọi là “quyền của kẻ mạnh”, và các công cụ của luật pháp quốc tế - từ các tòa án có thẩm quyền xét xử tội ác chiến tranh đến các tòa án được thiết lập để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia - thường bị né tránh hoặc làm suy yếu, kéo theo những hậu quả tàn khốc đối với văn hóa chính trị và đời sống chung. [185]

203. Trong bối cảnh ấy, việc kiến tạo hòa bình đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu: hợp tác phát triển, giải trừ quân bị, phòng ngừa xung đột và việc cổ võ sự tín nhiệm lẫn nhau bị gạt sang bên nhân danh các luận lý quyền lực. Cùng với đó, những thành quả của luật nhân đạo quốc tế cũng bị suy yếu: nguyên tắc tương xứng trong việc đáp trả các hành vi xâm lược, sự bảo vệ quyền tiếp cận nước uống, lương thực và các nhu yếu phẩm thiết yếu, cũng như sự tôn trọng mạng sống của thường dân và trẻ em, bị đối xử như những tàn dư ngây thơ của quá khứ.

Một thứ chủ nghĩa hiện thực chính trị giả tạo

204. Chúng ta đang sống trong một thời đại của sự mù quáng đáng kể về mặt thiêng liêng và văn hóa. Một thứ chủ nghĩa thực dụng giả tạo mời gọi cắt đứt các gốc rễ của ký ức, như thể người ta có thể khai mở một dạng “sáng tạo mới” tách rời khỏi quá khứ; ngay cả những ai viện dẫn các nguyên tắc luân lý cao cả cũng có thể rơi vào thứ chủ nghĩa hư vô lịch sử này, khi ảo tưởng rằng những tàn bạo của thế kỷ XX sẽ không còn có thể tái diễn nữa. Thực tế, chính những động lực ấy đang tái xuất hiện dưới những hình thức mới. Dường như luận lý của thế quân bình vũ trang và sự răn đe đang một lần nữa áp đặt chính mình. Nhưng khác với bối cảnh lưỡng cực của thời Chiến tranh Lạnh, ngày nay sự gia tăng của các tác nhân và các mặt trận xung đột khiến luận lý ấy trở nên ngày càng mong manh hơn. Sự đối kháng bị đẩy đến cực độ thúc đẩy những cuộc chiến tranh bất đối xứng và “lai ghép”, được tiến hành cả trên bình diện kinh tế, tài chính và tin học, bằng việc sử dụng thông tin sai lệch và các chiến dịch gieo rắc sợ hãi nhằm thao túng dư luận. Tại nhiều quốc gia, kể cả ở Nam bán cầu, việc gia tăng chi tiêu quân sự được trình bày như giải pháp duy nhất trước một tương lai bất định hoặc trước những mối đe dọa được cảm nhận, trong khi cái giá thực sự lại đè nặng trên những người nghèo nhất, những người chứng kiến các nguồn lực dành cho y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội bị cắt giảm.

205. Đằng sau tất cả những điều ấy ẩn giấu một thứ “chủ nghĩa hiện thực” giả tạo, được xây dựng không chỉ trên luận lý cố hữu của sức mạnh, nhưng còn trên một xác tín văn hóa và nhân học, như thể chiến tranh tất yếu thuộc về bản tính con người. Người ta nói rằng: mọi sự xưa nay vẫn luôn như thế - ngoại trừ vài khoảng ngắt ngắn ngủi - và mãi mãi sẽ như thế! Vì vậy, vấn đề không còn là hòa bình, vốn đã bị đánh mất như điểm quy chiếu nơi chân trời quốc tế, nhưng là phải hành động quân sự như thế nào và vào lúc nào, trong khi người ta cho rằng sẽ là vô trách nhiệm nếu không chuẩn bị cho sự đối đầu. Trái lại, điều thực sự vô trách nhiệm chính là Realpolitik, hình thức “chủ nghĩa hiện thực” chính trị gieo vào các lương tâm và vào nền văn hóa sự cam chịu trước một cuộc chiến không thể tránh khỏi, đồng thời xem hòa bình và đối thoại như những lập trường không tưởng hoặc phi lý, không ý thức được những hiểm nguy đang bị đe dọa. Trái lại, hòa bình không phải là một niềm hy vọng ngây thơ cũng không chỉ là sự vắng bóng chiến tranh: hòa bình luôn là hoa trái khả hữu của công lý và bác ái.

206. Trong bầu khí ấy, chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa thực dụng cuối cùng đan xen với nhau và bình thường hóa những sai lầm vô cùng nghiêm trọng: các chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và những cuồng tín bản sắc liên minh với một chủ nghĩa kinh tế phi lý, trong khi chính trị dễ dàng sử dụng thông tin sai lệch, việc chế giễu đối thủ và sự kiến tạo có hệ thống những nỗi sợ hãi cùng oán hận. Như thế, sự khác biệt của tha nhân ngày càng được cảm nhận như một mối đe dọa, nuôi dưỡng lòng ham muốn chiếm hữu, ý chí thống trị, những tham vọng bá quyền, các lạm dụng quyền lực và nỗi sợ đối với sự khác biệt, đồng thời chuẩn bị một mảnh đất trên đó những xung đột mới có thể trưởng thành mà hầu như chúng ta không nhận ra. [186]

207. Đó là một mảnh đất màu mỡ cho những cuộc chiến tranh mới, có lẽ còn nguy hiểm hơn cả trước đây, bởi chúng có xu hướng đánh mất mọi giới hạn luân lý. Điều từng bị xem là không thể chấp nhận nay có thể được thực hiện gần như không chút do dự, trong khi phản ứng của cộng đồng quốc tế lại thích nghi theo sự thuận tiện của từng chính phủ hơn là theo mức độ nghiêm trọng khách quan của các sự kiện. Các quyết định hiện nay dường như gần như chỉ được dẫn dắt bởi những tính toán kinh tế, được bảo vệ qua các ảo tưởng truyền thông, những cơn hưng phấn nhân tạo và các “giấc mơ” vốn tất yếu sẽ tan biến, để lại sự thất vọng và bạo lực mới. Khi con người tự thuyết phục rằng không có gì thực sự là chân thật và rằng các “nguyên tắc” chỉ là một lớp vỏ rỗng tuếch, thì ngòi nổ của những bùng phát mới về bất khoan dung và gây hấn sẽ được thắp lên ngay trong chính trái tim con người.

208. Trong bối cảnh này, câu hỏi về những bảo đảm thực sự chống lại các bạo lực mới vẫn còn bỏ ngỏ. Khi một nền văn hóa bình thường hóa và biện minh cho xung đột, một sự trượt dốc nguy hiểm sẽ mở ra: điều hôm nay có vẻ không thể nghĩ tới, ngày mai có thể trở nên chấp nhận được dựa trên những tính toán về lợi ích hoặc an ninh. Tại những quốc gia bị ghi dấu bởi các căng thẳng xã hội nghiêm trọng, chúng ta không thể loại trừ khả năng rằng cuối cùng ai đó sẽ xem xung đột vũ trang như một phương thế hữu hiệu để đánh lạc hướng khỏi các vấn đề nội bộ và như một công cụ quản trị đầy hoài nghi đối với những khó khăn của xã hội.

209. Một trách nhiệm đặc biệt đặt trên vai những ai làm việc trong lãnh vực nghiên cứu. Tất cả các tác nhân trong lãnh vực này - các nhà khoa học, doanh nhân, nhà đầu tư, giới lãnh đạo học thuật, các chính trị gia và nhiều thành phần khác - đều được mời gọi làm việc với luận lý minh bạch và trách nhiệm, luôn duy trì ý thức về bối cảnh rộng lớn mà trong đó các tiến bộ công nghệ họ góp phần tạo ra đang được đặt vào, kể cả những tiến bộ liên quan đến trí tuệ nhân tạo. Khi người ta chỉ giới hạn tầm nhìn vào lãnh vực riêng của mình, họ tự đánh lừa chính mình khi nghĩ rằng mình đang thực hiện một công việc trung lập về mặt luân lý và né tránh những câu hỏi về các mục đích tối hậu đang định hướng cho một số thử nghiệm nhất định: như thế, người ta có nguy cơ cộng tác - có lẽ ngoài ý muốn - vào những dự án tăm tối nuôi dưỡng các hình thức mới của bạo lực, thao túng và thống trị.

Xây dựng nền văn minh tình thương

210. Việc xây dựng một thế giới trong tình trạng hiếu chiến thường trực là một sự dữ, và cần phải gọi đúng tên của nó. Cách mô tả thực tại chúng ta đang sống này có thể xem ra ảm đạm hoặc bi quan, nhưng tôi cho rằng đó là một lời tố giác cần thiết. Tuy nhiên, nhãn quan Kitô giáo không dừng lại ở việc tố giác sự dữ. Chúng ta nhìn lịch sử dưới ánh sáng của Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh, Đấng mà Chúa Cha đã trao ban “mọi quyền năng trên trời dưới đất” (Mt 28,18). Chúng ta không diễn giải hiện tại như một định mệnh khép kín, nhưng như một cánh đồng rộng mở cho sự hoán cải cá nhân và tập thể. Và chúng ta tin vào sức mạnh của Nước Trời, Đấng phát triển từ sự nhỏ bé của một hạt cải, như hạt giống sau khi được gieo xuống sẽ nảy mầm và lớn lên (x. Mc 4,26-32). Trong khi tiếng ồn của hỗn loạn bao quanh chúng ta, điều thiện vẫn âm thầm mọc lên từ lòng đất. Với lời của vị ngôn sứ: “Này đây Ta sắp làm một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy sao?” (Is 43,19).

211. Một cách đọc sâu sắc và cẩn trọng vào dòng lịch sử sẽ xác nhận điều ấy. Ngay cả trong những đêm tối tăm nhất, Chúa vẫn khơi dậy những người nam và người nữ có khả năng không đầu hàng và kiên trì trong điều thiện: những con người biết bảo vệ những người yếu đuối và mở ra những con đường hòa giải. Ký ức về các thánh và những người công chính, về những người kiến tạo hòa bình thường bị lãng quên, cho thấy ân sủng không xóa bỏ xung đột bằng một cử chỉ ma thuật, nhưng khơi dậy một sự kháng cự tích cực chống lại sự dữ và một khả năng sáng tạo đáng kinh ngạc trong điều thiện. Các Kitô hữu nhìn thấy bóng tối và gọi đúng tên của nó, nhưng họ không đứng bất động để chiêm ngắm bóng tối: họ biết ánh sáng và biết rằng bóng tối đã không tiếp nhận ánh sáng ấy và cũng không thể thắng được ánh sáng ấy (x. Ga 1,5). Vì thế, họ phục vụ điều thiện ngay cả ở nơi đau khổ dường như đang có tiếng nói cuối cùng, được nâng đỡ bởi niềm hy vọng đối thần, niềm hy vọng ban cho thực tại một chân trời và một định hướng.

Tất cả chúng ta đều có thể góp phần của mình

212. Tuy nhiên, ở đây xuất hiện một cám dỗ tinh vi: nghĩ rằng các vấn đề quá lớn còn chúng ta thì quá nhỏ bé, và vì thế các quyết định của chúng ta chẳng thay đổi được điều gì. Đó là một hình thức đầu hàng được che đậy cách tinh tế, thường được ngụy trang dưới danh nghĩa chủ nghĩa hiện thực. Dĩ nhiên, không phải ai cũng có cùng một quyền lực ảnh hưởng trên thực tại: có những người cai quản, những người quyết định đầu tư, những người điều hành các định chế, những người nghiên cứu, giáo dục, truyền thông, sản xuất; và cũng có những người dường như chỉ có chính đời sống thường nhật của mình. Tuy nhiên, không ai được miễn trừ trách nhiệm. Mỗi người đều có một lãnh vực hành động riêng, và chính tại đó - chứ không phải ở nơi nào khác - họ được mời gọi chọn lựa xem mình có nuôi dưỡng luận lý của sức mạnh - dù chỉ bằng sự thờ ơ, cay độc, dối trá và thù hận - hay cổ võ luận lý của hòa bình - bằng chân lý, sự tiết độ, sự gần gũi và chăm sóc.

213. Một văn sĩ Công giáo của thế kỷ XX, J. R. R. Tolkien, qua lời của một nhân vật trong một tiểu thuyết của mình, đã mô tả trách nhiệm của chúng ta như sau: “Điều không thuộc về chúng ta là thống trị mọi làn sóng của thế giới, nhưng là thực hiện điều nằm trong tầm tay chúng ta vì thiện ích của những ngày tháng chúng ta được sống, nhổ tận gốc sự dữ trên những cánh đồng mà chúng ta biết, và để lại cho những người đến sau một mảnh đất sạch sẽ để canh tác”. [187] Nền văn minh tình thương không được sinh ra từ một cử chỉ đơn lẻ và ngoạn mục, nhưng từ tổng hòa của những trung tín nhỏ bé và bền bỉ, biết chống lại sự phi nhân hóa. Vì thế, thật đáng để dừng lại và suy nghĩ về một vài khía cạnh liên quan đến cách thức mà mỗi người, trong lãnh vực của mình, có thể cộng tác vào công trình ấy. Không có ý định trình bày cạn hết đề tài, tôi đề nghị năm con đường của trách nhiệm thường nhật và công cộng: giải trừ vũ khí nơi lời nói, xây dựng hòa bình trong công lý, đón nhận cái nhìn của các nạn nhân, vun trồng một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh, và tái khởi động đối thoại cũng như chủ nghĩa đa phương.

Giải trừ bạo lực nơi ngôn từ

214. Đóng góp đầu tiên mà chúng ta có thể thực hiện cho một nền văn minh nhân bản hơn là chú ý đến lời nói của mình. “Hãy giải trừ bạo lực nơi ngôn từ và chúng ta sẽ góp phần giải trừ vũ khí cho trái đất”. [188] Quyền năng của lời nói thật lớn lao, và chúng ta cảm nghiệm điều ấy trong việc giao tiếp hằng ngày, khi có ai đó nói với chúng ta một điều làm thay đổi tâm trạng của chúng ta, theo hướng tốt hoặc xấu. “Hòa bình bắt đầu từ mỗi người chúng ta, từ cách chúng ta nhìn người khác, lắng nghe người khác, nói về người khác; và theo nghĩa ấy, cách thức chúng ta truyền thông có tầm quan trọng nền tảng; chúng ta phải nói ‘không’ với chiến tranh của lời nói và hình ảnh, phải từ chối mô hình chiến tranh”. [189] Vì thế, tất cả chúng ta phải xét mình về những lời chúng ta sử dụng, về những thành kiến thấm nhiễm trong đó và về sự gây hấn - công khai hay che giấu - đang thúc đẩy chúng. Chúng ta có một khả năng thực sự để góp phần vào điều thiện mỗi khi chúng ta nói sự thật, đưa ra một lời khuyên khôn ngoan, nâng đỡ người đang cần được an ủi, tố giác một bất công hay lên tiếng cho những ai không có tiếng nói.

Xây dựng hòa bình trong công lý

215. Tất cả chúng ta, ở bất cứ cấp độ nào, đều có thể góp phần xây dựng nền tảng của hòa bình, đó là công lý. Thật vậy, chúng ta không tìm kiếm bất cứ thứ hòa bình nào, một sự vắng bóng xung đột bằng mọi giá, nhưng là nền hòa bình đích thực phát sinh từ công lý. “Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa công lý của mỗi người và hòa bình cho tất cả mọi người”. [190] Khi chú giải câu Thánh vịnh “công lý và hòa bình sẽ hôn nhau” (Tv 85,11b), thánh Augustine of Hippo viết: “Không ai là không mong muốn được sống trong hòa bình, nhưng không phải ai cũng muốn thực hành công lý. […] Nhưng anh phải thực hành công lý, bởi vì hòa bình và công lý hôn nhau, chúng không đối nghịch nhau. Còn anh, tại sao anh lại không đồng thuận với công lý? Chẳng hạn, công lý bảo anh: đừng trộm cắp, nhưng anh không nghe; đừng ngoại tình, và anh giả vờ điếc tai; đừng làm cho người khác điều mà anh không muốn người ta làm cho anh; đừng nói về người khác điều mà anh không muốn người ta nói về anh. […] Anh muốn gặp được hòa bình sao? Hãy thực hành công lý”. [191] Vậy, chúng ta đừng mệt mỏi trong việc tìm kiếm công lý!

Đón nhận cái nhìn của các nạn nhân

216. Có những tình huống mà, để tiếp tục là người, chúng ta phải từ bỏ sự do dự và chọn đứng về một phía. Có những cuộc xung đột mà ở đó việc giữ thái độ trung lập là không đúng đắn, và không đủ chỉ nghĩ đến việc “không trở thành đồng lõa”. [192] Khi chúng ta đối diện với những cuộc oanh kích nhắm vào thường dân, những cuộc tấn công vào bệnh viện, trường học hay các cơ sở hạ tầng thiết yếu, những lạm dụng tác động đến trẻ em, thì chúng ta đang đứng trước những gương xấu làm tổn thương chính nhân tính. Vì thế, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở những phân tích trừu tượng. Như Đức Giáo hoàng Phanxico đã nhắc nhớ, chúng ta phải “chạm đến thân xác” của những người đang đau khổ: [193] nhìn vào khuôn mặt họ, lắng nghe các câu chuyện của họ, nhận ra những vết thương của họ. Những biến cố đau thương cần cả lịch sử lẫn ký ức: lịch sử để cố gắng thuật lại các sự kiện, ký ức để làm chứng cho điều đã được sống qua.

217. Việc dành chỗ, trong thông tin và giáo dục, cho cái nhìn và tiếng nói của các nạn nhân giúp người ta thực sự ý thức về vực thẳm của sự dữ mà chiến tranh và nói chung mọi hình thức bạo lực đều chứa đựng; giúp không chấp nhận luận lý của xung đột như điều bình thường; giúp không quay mặt đi khi phẩm giá con người bị xúc phạm; và giúp trả lại cho những người bị ảnh hưởng phẩm giá của việc được nhìn nhận và lắng nghe. [194] Sự quan tâm đến những tiếng nói ấy nuôi dưỡng xác tín rằng, vượt lên trên các nhóm thiểu số bạo lực, nhân loại không mong muốn chiến tranh. Giáo Hội có thể cách đặc biệt trở thành một nơi lưu giữ ký ức sống động của các nạn nhân. Như thánh Giáo Hoàng Phaolo VI đã nhắc nhớ, Giáo Hội cảm thấy mình phải đón nhận như của chính mình cả tiếng nói của những người đã chết trong các cuộc chiến tranh quá khứ lẫn tiếng nói của những người còn sống vẫn mang trên mình các vết thương, để tiếng kêu của họ trở thành một lời kêu gọi hướng tới hòa bình và hòa hợp, chứ không phải là khúc dạo đầu cho những cuộc xung đột mới. [195]

Nuôi dưỡng một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh

218. Chúng ta cần một chủ nghĩa hiện thực lành mạnh, tránh cả chủ nghĩa duy tâm chính trị lẫn thái độ yếm thế. Thật vậy, tồn tại một thứ chủ nghĩa duy tâm mà, để bảo vệ nhãn quan riêng của mình về thế giới, chọn lọc các dữ kiện, thao túng chúng, đổi tên chúng và cuối cùng sống trong một thực tại được xây dựng theo khuôn mẫu của các xác tín riêng mình. Đàng khác, cũng tồn tại một thứ chủ nghĩa hiện thực suy đồi, vốn lẫn lộn việc nhận định với sự cam chịu: bởi vì sức mạnh thống trị, nên nó kết luận rằng sức mạnh phải thống trị. Chủ nghĩa hiện thực đích thực không từ bỏ việc thay đổi thế giới: nó khởi đi từ việc nhìn rõ các lợi ích, các nỗi sợ hãi, các giới hạn và các tương quan quyền lực, chính là để tính toán điều gì có thể đạt được và phải đạt được bằng những bước nào. Nó không giản lược chính trị thành luân lý, nhưng cũng không phó mặc chính trị cho bạo lực: nó tìm kiếm những phương thế khả thi để hòa bình trở thành điều gì đó hơn cả một lời nói, nghĩa là những định chế đáng tin cậy, những bảo đảm có thể kiểm chứng, những cuộc thương thuyết kiên trì, việc phòng ngừa xung đột và sự bảo vệ thường dân.

Tái khởi động đối thoại

219. Để xây dựng một nền văn minh tình thương, chúng ta phải thực hành đối thoại. Đối thoại là công cụ chính yếu của sự chung sống giữa các cá nhân và giữa các dân tộc, đồng thời là giải pháp thay thế cho xung đột công khai. Đức Giáo hoàng Piô XII đã nhắc nhớ điều ấy ngay trước thềm Chiến tranh Thế giới thứ hai, khi khẳng định rằng với hòa bình người ta không mất gì cả, trong khi với chiến tranh người ta có thể mất tất cả, và rằng con người phải quay trở lại với đối thoại, bởi vì một cuộc đối thoại chân thành và kiên trì luôn mở ra khả năng của một giải pháp danh dự. [196]

220. Đối thoại là một chiều kích thông thường của đời sống con người và không chỉ liên quan đến các tương quan giữa các quốc gia. Đó là việc đạt tới một thái độ biết xây dựng những mối dây huynh đệ, được tạo nên từ sự lắng nghe, những ánh nhìn chân thành, thời gian được trao ban, kể cả khoảng thời gian tưởng chừng “lãng phí” khi ở bên nhau. Bởi vì, nếu chúng ta thực sự cảm nghiệm cuộc gặp gỡ đích thực với tha nhân - với người khác biệt, với người xa lạ, với người di dân - thì việc thậm chí tưởng tượng đến chiến tranh cũng trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

221. Ở cấp độ chính trị, điều cấp bách là phải chuyển từ “nền văn hóa quyền lực” sang một “nền văn hóa thương thuyết” đích thực, trong đó đối thoại và các tương quan ngoại giao trở thành con đường thông thường để giải quyết các xung đột, như điều Giorgio La Pira hằng mong ước: “Phương pháp chiến tranh phải được thay thế bằng phương pháp hòa bình: phương pháp thương thuyết, gặp gỡ, hội tụ; nghĩa là phương pháp đích thực mang tính nhân bản!”. [197] Ý thức về một vận mệnh chung của các dân tộc đòi hỏi nền văn hóa thương thuyết phải ngày càng trở thành một dấn thân chung về chính trị và văn hóa, có khả năng từng bước đưa nhân loại ra khỏi vòng xoáy bạo lực.

222. Với những ai có vinh dự và trách nhiệm cai quản, tôi muốn lặp lại những lời tôi đã nói vào đầu triều đại giáo hoàng của mình: “Các dân tộc mong muốn hòa bình và tôi, với cả tấm lòng, xin nói với những người lãnh đạo các dân tộc: hãy gặp gỡ nhau, hãy đối thoại, hãy thương thuyết! Chiến tranh không bao giờ là điều không thể tránh khỏi; vũ khí có thể và phải im tiếng, bởi vì chúng không giải quyết các vấn đề nhưng còn làm cho chúng trầm trọng hơn; bởi vì những người gieo hòa bình sẽ đi vào lịch sử, chứ không phải những kẻ thu hoạch các nạn nhân; bởi vì tha nhân trước hết không phải là kẻ thù, nhưng là những con người: họ không phải là những kẻ xấu để bị căm ghét, nhưng là những người để đối thoại. Chúng ta hãy khước từ những nhãn quan nhị nguyên đặc trưng của các tường thuật bạo lực, vốn chia thế giới thành người tốt và kẻ xấu”. [198]

223. Khi khước từ luận lý của bạo lực, đối thoại liên tôn giữ một vai trò quyết định, bởi vì nơi trung tâm của các truyền thống thiêng liêng lớn lao luôn có một sứ điệp hòa bình. [199] Bất cứ ai sử dụng danh Thiên Chúa để hợp pháp hóa khủng bố, bạo lực hay chiến tranh đều phản bội chính dung nhan của Ngài; chiến đấu nhân danh tôn giáo thực chất là tấn công chính tôn giáo ấy. [200] “Tinh thần Assisi”, được khởi xướng bởi thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II và được tiếp nối trong dấn thân của Đức Giáo hoàng Phanxico - chẳng hạn trong cuộc đối thoại với vị Đại Giáo trưởng Hồi giáo của Al-Azhar cho thấy rằng các tín hữu có thể kín múc lại từ những nguồn mạch chân thực nhất của các truyền thống thiêng liêng của mình, nơi không có chỗ cho sự thù hận được thần thánh hóa.

Sự cần thiết của ngoại giao và chủ nghĩa đa phương

224. Trong các tương quan quốc tế, đối thoại là công cụ không thể thay thế của ngoại giao nhằm ngăn ngừa xung đột và tái lập các mối dây tín nhiệm. Trước những lối truyền thông bốc đồng, những diễn ngôn hung hăng và các luận lý quyền lực đang ghi dấu thời đại chúng ta, “ơn gọi của ngoại giao là cổ võ đối thoại với tất cả mọi người, kể cả với những đối tác bị xem là ‘khó chịu’ hơn cả hoặc bị cho là không thích đáng để thương lượng”, [201] bằng cách sử dụng đến mức tối đa sự khiêm tốn và kiên nhẫn nhằm khơi lại những dấu hiệu thiện chí mong manh nhất từ các bên xung đột, để khởi đầu một tiến trình hòa giải.

225. Không gian mạng cũng đã trở thành một chiến trường đối đầu: các cuộc tấn công tin học, việc thao túng dữ liệu và các chiến dịch gây ảnh hưởng được điều phối với sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo có thể làm mất ổn định toàn bộ các quốc gia, ngay cả trước khi xảy ra một cuộc xung đột vũ trang công khai. Hơn nữa, trong lãnh vực này, việc quy trách nhiệm thường không rõ ràng: khi không xác định được ai là kẻ đã tấn công, nguy cơ xuất hiện những phản ứng thiếu cân xứng, những sai lầm trong đánh giá và các vòng xoáy leo thang càng gia tăng. Vì thế, cần có một nền ngoại giao có khả năng hoạt động cả trong môi trường mới này, bằng cách thương lượng những quy tắc chung liên quan đến việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số, bảo vệ thường dân và những người dễ bị tổn thương nhất khỏi những hình thức bạo lực vô hình nhưng không vì thế mà kém thực hữu.

226. Các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp Quốc, vẫn là những công cụ thiết yếu để cổ võ một nền văn minh tình thương, qua việc nâng đỡ đối thoại giữa các quốc gia, giải quyết hòa bình các xung đột, phát triển toàn diện các dân tộc, bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất, giải trừ quân bị và chăm sóc công trình tạo dựng. Qua những cơ cấu ấy, cộng đồng quốc tế có thể cố gắng giảm bớt các bất bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người tị nạn và các nhóm thiểu số, giải phóng những nguồn lực vốn dành cho vũ trang để chuyển sang phục vụ việc thăng tiến con người, đồng thời bảo vệ Ngôi Nhà Chung. Tòa Thánh nâng đỡ và đồng hành với dấn thân ấy, dù vẫn nhìn nhận rằng sự suy yếu hiện nay của Liên Hiệp Quốc và của hệ thống chính trị quốc tế cho thấy nhu cầu cần có những cải tổ sâu rộng: không chỉ là những điều chỉnh mang tính kỹ thuật, bởi vì cuộc khủng hoảng về xác tín và giá trị cũng đang tác động đến chính các nền tảng luân lý của đời sống các quốc gia và gây khó khăn cho việc định hướng chủ nghĩa đa phương về công ích đích thực. [202]

227. Trong bối cảnh quốc tế, nền ngoại giao của Tòa Thánh đón nhận nguyên tắc Tin Mừng về lòng thương xót như một tiêu chuẩn cụ thể cho hành động chính trị. Đó là một trong những cách thức mà Tòa Thánh đặt mình phục vụ nhân loại, bằng việc kêu gọi các lương tâm hướng tới bác ái và chân lý, bảo vệ phẩm giá của mỗi con người và trở thành tiếng nói cho người nghèo, người di dân và các nạn nhân chiến tranh. Nhờ đó, nền ngoại giao giáo hoàng diễn tả tính công giáo của Giáo Hội và góp phần xây dựng một nền văn minh tình thương, trong đó cả những công nghệ mới cũng được định hướng về công ích.

Cầu nguyện và hy vọng

228. Những con đường dấn thân ấy được nuôi dưỡng bởi cầu nguyện và đồng thời cũng làm phong phú đời sống cầu nguyện. Thật vậy, đối với chúng ta, hòa bình trước hết “đến từ Thiên Chúa, Đấng yêu thương tất cả chúng ta vô điều kiện”. [203] Hòa bình là một hồng ân được Đức Giêsu trao ban cho các môn đệ vào ngày Phục Sinh: “Bình an cho anh em! Đây là bình an của Đức Kitô Phục Sinh, một nền hòa bình không vũ trang và có sức giải trừ vũ khí, khiêm nhường và kiên trì”. [204] Chính bằng những lời ấy mà tôi đã chào thăm Giáo Hội và thế giới trong ngày tôi được tuyển chọn vào Ngai tòa Phêrô, và hôm nay tôi muốn lặp lại những lời ấy để mời gọi tất cả mọi người cầu xin hồng ân này. Chúng ta đừng mệt mỏi trong việc cầu nguyện cho hòa bình và dấn thân làm cho hòa bình trở thành hiện thực trong các tương quan của chúng ta cũng như trong xã hội.


KẾT LUẬN

229. “Vậy mỗi người phải coi chừng xem mình xây dựng thế nào” (1 Cr 3,10): đó là lời của thánh Phaolo Tông đồ, khi ngài khuyên nhủ các Kitô hữu thành Côrintô gìn giữ sự hiệp nhất. Anh chị em rất thân mến, chúng ta đã tự vấn về thế giới mà chúng ta đang xây dựng, bằng cách đặt câu hỏi: trong thời đại của trí tuệ nhân tạo, việc gìn giữ con người có nghĩa là gì? Vào cuối hành trình này, tôi muốn trao cho anh chị em một lộ trình sống Kitô giáo vừa đơn sơ vừa đòi hỏi, để sống sự chuyển mình của thời đại dưới ánh sáng Tin Mừng. Đó là một con đường phát sinh từ việc chiêm ngắm kế hoạch của Thiên Chúa, sống sự hiệp nhất của Giáo Hội bằng việc nuôi dưỡng mình nơi Lời Chúa và Thánh Thể, xây dựng điều thiện trong thế giới và cầu nguyện cùng với Đức Trinh Nữ Maria. Ngôi Lời đã trở nên xác phàm

230. Trong một thế giới bị xuyên thấu bởi biết bao mưu toan nhằm chinh phục thị trường và các vùng ảnh hưởng - thường được bao bọc bằng những luận điệu trấn an và những cấu trúc ý thức hệ đầy quyến rũ - tâm hồn chúng ta cảm thấy cần khám phá một kế hoạch khác, khôn ngoan và nhân hậu, giống như kế hoạch mà Đức Maria chiêm ngắm trong kinh Magnificat, khi Mẹ tuyên xưng rằng lòng thương xót của Thiên Chúa trải dài từ đời nọ đến đời kia trên những ai kính sợ Người. [205] Kế hoạch của lòng thương xót ấy vẫn xuyên suốt lịch sử ngay cả hôm nay, giữa những biến chuyển nhanh chóng và dồn dập được đánh dấu bởi các thuật toán và các mạng lưới toàn cầu, và trở thành chiếc la bàn để định hướng một đời sống Tin Mừng trong thời đại kỹ thuật số.

231. Ở trung tâm là mầu nhiệm Nhập Thể: Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Xác phàm của Người Con, nghèo khó và mong manh, gợi lên xác phàm của biết bao anh chị em bị tước đoạt phẩm giá và bị buộc phải im lặng. [206] Và chính nhờ sự gần gũi ấy mà hồng ân bình an đi vào thế giới theo một cách nghịch lý: như quyền năng giúp trở nên con cái Thiên Chúa, quyền năng được khơi dậy khi chúng ta để cho tiếng khóc của những người bé nhỏ, sự mong manh của người già yếu, sự im lặng của các nạn nhân và nỗ lực của những người đang chiến đấu chống lại điều dữ mà họ không muốn làm, chạm đến lòng mình. [207] Trong xác phàm bị thương tích nhưng được yêu thương ấy, Chúa Cha tỏ cho chúng ta thấy nhân tính đích thực của một đời sống được thành toàn trong sự mở ra và hiệp thông, đến mức khiến chúng ta ước ao cho ý muốn của Người được thể hiện dưới đất cũng như trên trời. [208]

232. Trong những lời hứa hẹn của chủ nghĩa xuyên nhân loại và của một số trào lưu hậu nhân loại, vốn theo đuổi một nhân loại được tăng cường và gần như thoát khỏi thân xác, chúng ta nhận ra một khát vọng đang chất vấn chúng ta: nhu cầu về một đời sống viên mãn hơn, ít bị phơi bày trước sự mong manh và đau khổ hơn. Nhưng mầu nhiệm Nhập Thể mở ra một con đường khác. Trong khi các ý thức hệ cũ và mới thúc đẩy con người vượt thắng giới hạn bằng kỹ thuật và nâng mình lên trên kẻ khác để củng cố quyền thống trị, thì mầu nhiệm Con Thiên Chúa đi vào thân phận chúng ta lại kể một chuyển động ngược lại: Thiên Chúa hằng sống đi xuống trong lịch sử của chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi mọi ách nô lệ, [209] mang lấy sự yếu đuối của chúng ta và biến nó thành nơi chốn của ơn cứu độ. Không có một thời điểm hay một hoàn cảnh nhân loại nào lại không xứng đáng với Thiên Chúa: “Như thế, theo điều đức tin dạy chúng ta và được khai mở trong các mầu nhiệm, chúng ta có một Thiên Chúa sinh ra trong máng cỏ, một Thiên Chúa sống và đi khắp miền Giuđêa, một Thiên Chúa chết trên thập giá và một Thiên Chúa đã chết và được mai táng”. [210] Tương lai của nhân loại nhờ đó tìm thấy tiêu chuẩn của mình nơi khả năng đón nhận cách thế thần linh của việc trở nên gần gũi, chia sẻ gánh nặng của thế giới và biến đổi các tương quan từ bên trong. Thật kỳ diệu biết bao: “Con người này là Thiên Chúa, và Thiên-Chúa-làm-người đi qua các bậc thang ấy, thánh hóa và thần hóa chúng trong chính Ngài!”. [211] Điều cứu độ con người chính là tình yêu thần linh hạ mình xuống tận điểm mong manh nhất của lịch sử nhân loại và tái sinh lịch sử ấy từ tận căn sâu thẳm.

233. Vì thế, như một tín hữu giữa các tín hữu, tôi mời gọi anh chị em chiêm ngắm nơi dung nhan của Người Con một nhân tính tuyệt vời, cũng là nhân tính đang soi sáng thời đại của trí tuệ nhân tạo. Trong Đức Kitô, chúng ta hiểu rằng con người được mời gọi trở nên cộng tác viên trong công trình sáng tạo, chứ không phải là một khán giả cam chịu trước những tiến trình công nghệ đang giới hạn tự do và trách nhiệm của mình. [212] Phẩm giá mà Chúa Thánh Thần khắc ghi nơi mỗi người chúng ta cũng được nhận ra nơi khả năng suy tư cách phê phán, khả năng chọn lựa và yêu thương cách nhưng không, cũng như khả năng thiết lập những tương quan chân thật. Không một hệ thống tính toán nào, dù tinh vi đến đâu, có thể tạo nên một trái tim biết trao hiến, hay một lương tâm có khả năng phân định điều thiện. Ngay cả khi các cỗ máy vượt trội về hiệu năng, trung tâm của lịch sử vẫn luôn là một khuôn mặt nhân loại đang đòi được chiêm ngắm. Khuôn mặt nhân loại ấy chính là sự viên mãn mà lịch sử đang hướng tới. Đó là mầu nhiệm quy tụ muôn loài, là xác tín rằng Chúa Cha đã thiết định quy tụ tất cả trong Đức Kitô - Đầu duy nhất - mọi sự trên trời cũng như dưới đất (x. Ep 1,10). Trong kế hoạch ấy, không điều gì thực sự là nhân bản sẽ bị đánh mất, nhưng mọi sự sẽ được thanh luyện và được quy tụ trong Đấng đón nhận mọi mảnh vỡ của sự sống, mọi giọt nước mắt và mọi thành tựu nhân loại đích thực để cứu chúng khỏi hư vô và dâng lên Chúa Cha trong tình trạng đã được cứu chuộc. Một thân thể duy nhất trong Đức Kitô

234. Linh đạo mà chúng ta cần là một linh đạo Thánh Thể, nghĩa là linh đạo của sự hiệp nhất Giáo Hội trong tình yêu. Mầu nhiệm Nhập Thể và Phục Sinh mặc khải một Thiên Chúa bước vào thân phận nhân loại của chúng ta và biến đổi thân phận ấy thành hồng ân tự hiến. Hồng ân này vẫn hiện diện và hoạt động trong Bí tích Thánh Thể, nơi Chúa thông ban chính mình và quy tụ Giáo Hội, để sự trao hiến của Người trở thành nguyên lý của sự hiệp nhất và nguồn mạch của đời sống mới. Từ sự hiệp thông này cũng phát sinh tình liên đới Kitô giáo, bởi vì “sự kết hợp với Đức Kitô đồng thời cũng là sự kết hợp với tất cả những người mà Người trao ban chính mình cho họ”. [213] Như thánh Ân-tinh thành Hippo giải thích cho các tín hữu mới trong Giáo Hội của ngài, bánh và rượu trên bàn thờ là bí tích của sự hiệp nhất các tín hữu trong Đức Kitô: “Điều chúng ta thấy mang dáng vẻ hữu hình; điều chúng ta hiểu là hoa trái thiêng liêng. Vì thế, nếu anh em muốn hiểu Thân Thể Đức Kitô, hãy lắng nghe vị Tông đồ nói với các tín hữu: Anh em là Thân Thể Đức Kitô và là các chi thể của Người (1 Cr 12,27). Do đó, nếu anh em là Thân Thể Đức Kitô và là các chi thể của Người, thì trên bàn tiệc của Chúa đang đặt chính mầu nhiệm là anh em: anh em lãnh nhận chính mầu nhiệm là mình. Đối với điều anh em là, anh em đáp lại ‘Amen’, và khi đáp như thế, anh em xác nhận điều ấy. Anh em nghe: ‘Mình Thánh Đức Kitô’, và anh em đáp: ‘Amen’. Hãy là chi thể của Thân Thể Đức Kitô, để tiếng ‘Amen’ của anh em đáp lại sự thật”. [214]

235. Tiếng “Amen” mà chúng ta thưa trong phụng vụ, Thân Thể mà chúng ta ăn và Máu mà chúng ta uống, định hình toàn thể đời sống chúng ta. Bí tích Thánh Thể “là cuộc gặp gỡ hết sức cá vị với Chúa, nhưng đồng thời không bao giờ chỉ là một hành vi đạo đức cá nhân”. [215] Trong Bí tích ấy, điều được biểu lộ cách hữu hình là chúng ta “là Giáo Hội của Đức Kitô, là các chi thể của Người, là thân thể của Người. Chúng ta là anh chị em trong Người. Và trong Đức Kitô, dù nhiều và khác biệt, chúng ta vẫn là một: In Illo uno unum”. [216] Bí tích Thánh Thể thúc đẩy chúng ta hướng tới công lý và sự chia sẻ, với sự quan tâm ưu tiên dành cho những ai đang mang gánh nặng của nghèo đói và bị gạt ra bên lề xã hội. Và trong khi các mạng lưới kinh tế và công nghệ mới có thể tạo nên sự loại trừ, cô lập và lệ thuộc, thì Giáo Hội, được nuôi dưỡng bởi Thánh Thể, được mời gọi làm cho một tiêu chuẩn khác trở nên hữu hình, bằng việc gìn giữ các mối dây liên đới, trả lại tiếng nói cho những người vô hình và định hướng các tiến trình về phía phẩm giá con người. Công trình của thời đại chúng ta

236. Linh đạo mà tôi muốn trao lại chính là linh đạo của “người kiến trúc sư khôn ngoan”, người được thúc đẩy bởi niềm hy vọng vào Nước Thiên Chúa và dấn thân xây dựng điều thiện trong thế giới (x. 1 Cr 3,10). Như tôi đã viết ở đầu suy tư này, [217] hôm nay công trình xây dựng của chúng ta phải lấy tương quan với Thiên Chúa làm nền tảng, lấy việc đón nhận giới hạn nhân loại như một thực tại tự nhiên và tích cực làm quy luật, và lấy tinh thần đồng trách nhiệm cùng ngôn ngữ Tin Mừng làm phong cách sống. Ở cuối hành trình, dự án về một nền văn minh tình thương hiện ra rõ nét hơn, và công trình ấy cho thấy mình đã được khởi sự, đặc biệt nhờ biết bao viên đá sống động được liên kết vững chắc trong Đức Kitô, viên đá góc tường (x. 1 Pr 2,4-6). Trong công trình ấy, chúng ta được mời gọi đảm nhận một vai trò tích cực, không trốn chạy vào chủ nghĩa duy linh hay những thế giới nhỏ bé của riêng mình: chúng ta phải trung thành với chân lý, đầu tư cho giáo dục, chăm sóc các tương quan, và yêu mến công lý cùng hòa bình.

237. Hãy trung thành với chân lý! Sống chìm ngập trong những dòng chảy bất tận của thông tin, ý kiến và hình ảnh, chúng ta biết rõ việc tác động lên các quyết định và sở thích thông qua những thuật toán ngày càng tinh vi dễ dàng đến mức nào. [218] Trong bối cảnh này, điều quan trọng là phải gìn giữ một tâm hồn yêu mến chân lý, khao khát điều công chính hơn là những nội dung hấp dẫn nhất, tìm kiếm sự khôn ngoan hơn là tác động tức thời. Chân lý mà chúng ta không được đánh mất là chân lý về Thiên Chúa và về con người, như Đức Kitô đã mặc khải cho chúng ta. Cần phải từ bỏ một cái nhìn cá nhân chủ nghĩa và kỹ trị về con người, như thể thực tại chỉ đơn thuần là vật chất để được nhào nặn theo những lợi ích ích kỷ, cá nhân hoặc phe nhóm. [219] Trái lại, chúng ta hãy vun trồng điều mà Đức Giáo hoàng Phanxico gọi là một “thuyết nhân loại trung tâm có định vị”, [220] nhìn nhận con người như một thụ tạo được đặt trong mạng lưới các tương quan với các sinh vật khác và với toàn thể công trình tạo dựng. Trung thành với chân lý đòi buộc phải hội nhập những khả thể mà kỹ thuật mang lại vào trong một hành trình khôn ngoan, có khả năng đồng thời gìn giữ phẩm giá của mỗi con người và tương lai của Ngôi Nhà Chung của chúng ta.

238. Hãy đầu tư cho việc giáo dục bắt đầu từ chính bản thân chúng ta! Tất cả chúng ta đều cần được đào luyện để sống trong thế giới kỹ thuật số một cách nhân bản, như một phần thiết yếu của việc giáo dục đức tin và đời sống nhân đức Tin Mừng. Chúng ta phải được giáo dục để nhìn thế giới kỹ thuật số như một lục địa mới cần được loan báo Tin Mừng, một lục địa đòi hỏi những nhà truyền giáo quảng đại và trưởng thành trong đức tin. Đặc biệt hơn nữa, cần có những người trưởng thành tái khám phá ơn gọi của mình như những nghệ nhân giáo dục, sẵn sàng cho một công việc hằng ngày, kiên nhẫn và được nâng đỡ bởi những liên minh giáo dục rộng lớn và được chia sẻ. Việc đồng hành với trẻ em và người trẻ để họ sử dụng công nghệ như một không gian của tương quan có trách nhiệm, giúp họ nhận ra các nguy cơ và chọn lựa điều làm tăng trưởng tự do nội tâm, ngày nay là một hình thức cụ thể của đức bác ái và của việc bảo vệ phẩm giá của họ. Giáo dục các thế hệ mới để họ có thể tin rằng sự phát triển của công nghệ không đi theo một con đường tất yếu, nhưng có thể được định hướng bởi trách nhiệm cá nhân và tập thể, chính là một trong những việc phục vụ quý giá nhất cho công ích.

239. Hãy chăm sóc các tương quan! Trong một thời đại có xu hướng tăng tốc và phân mảnh, thân xác con người vẫn tiếp tục đòi được chăm sóc và nhìn nhận bởi những đôi tay biết dịu dàng, những tâm trí biết lưu tâm và những lời nói nhân hậu. Nền văn hóa kỹ thuật số nhân lên các kết nối và mở ra những khả thể gặp gỡ mới; tuy nhiên, trái tim con người vẫn giữ một nhu cầu không thể thay thế về sự gần gũi. Tôi mời gọi hãy bảo vệ những không gian và thời khắc mà ở đó sự hiện diện thể lý vẫn mang tính quyết định: bữa ăn chung, cộng đoàn Kitô hữu quy tụ, việc thăm viếng người cô đơn, việc phục vụ người nghèo. Đó là những dấu chỉ của một nhân tính vẫn còn tin rằng mỗi thân xác là đền thờ của Chúa Thánh Thần và là nhà của Thiên Chúa, và chính giao ước giữa vinh quang và sự mong manh ấy trở thành tiêu chuẩn để đánh giá những mô hình nhân học do nền văn hóa hiện nay đề xuất.

240. Hãy yêu mến công lý và hòa bình! Chính những công nghệ tạo điều kiện cho việc truyền thông và tiếp cận các nguồn lực cũng có thể nâng đỡ những mô hình khai thác những người dễ bị tổn thương nhất, nuôi dưỡng các hình thức nô lệ mới và biến xung đột thành cơ hội sinh lợi. Mỗi quyết định kỹ thuật hay kinh tế đều trở thành một điểm phân định thiêng liêng, một cơ hội để kiểm chứng xem những tiến bộ của trí tuệ nhân tạo có mở ra những không gian của công lý và tham gia hay lại tập trung của cải và quyền lực vào tay một số ít người. Tôi mời gọi hãy nhìn cách sáng suốt vào các mạng lưới sản xuất kỹ thuật số, các điều kiện lao động bị che giấu đằng sau các thiết bị của chúng ta, các cơ chế lợi dụng sự thao túng và chiến tranh; đồng thời hãy tìm kiếm những con đường cụ thể để làm gia tăng sự công bằng, sự tham gia và việc chăm sóc công trình tạo dựng. “Niềm hy vọng mà chúng ta loan báo […] đến từ trời cao, nhưng nhằm tạo nên ở đây dưới đất một lịch sử mới”: chính vì thế mà người tín hữu dấn thân để, thay cho bất bình đẳng, có thêm nhiều công lý hơn và để “thay vì kỹ nghệ chiến tranh, nghệ thuật thủ công của hòa bình được khẳng định”. [221]

241. Khi hướng nhìn về ngày mai, tôi muốn gợi lại hình ảnh ông Nơkhemia, người mà ở đầu hành trình này chúng ta đã chọn làm bạn đồng hành và người hướng dẫn. Ông Nơkhemia lắng nghe tiếng kêu của một thành phố bị thương tổn, mang nỗi đau ấy vào trong cầu nguyện, phân định trước mặt Thiên Chúa, xin trợ giúp, nhận được phép lên đường, tổ chức công việc, đối diện với những chống đối từ bên trong lẫn bên ngoài và, từng viên gạch một, cùng với dân chúng tái thiết các bức tường của Giêrusalem. Nơi ông, tôi nhận ra một dụ ngôn đầy ánh sáng về ơn gọi của chúng ta trong thời đại chuyển mình kỹ thuật số: không phải là những khán giả cam chịu trước các đổ vỡ xã hội và văn hóa, cũng không chỉ là những người bình luận trên các đống hoang tàn, nhưng là những người nam và nữ bước vào công trình của lịch sử - các phòng nghiên cứu, các công ty công nghệ, trường học, truyền thông, các định chế và cộng đồng địa phương - để dựng lại những gì đã sụp đổ và bảo vệ những gì đang bị phơi bày. Như ông Nơkhemia, chúng ta cũng được mời gọi kết hợp sự lắng nghe và lòng can đảm, cầu nguyện và trách nhiệm, để thành phố của loài người trở nên đáng sống hơn, ngay cả khi các luận lý kỹ trị và những lợi ích phe phái dường như đang chiếm ưu thế.

242. Hình ảnh việc tái thiết Giêrusalem gợi lên lời hứa của Tân Ước về thành thánh được ban cho chúng ta trước hết như một hồng ân. Trong sách Khải Huyền, Giêrusalem mới từ trời ngự xuống như quà tặng dành cho toàn thể Dân Thiên Chúa, “được trang điểm như tân nương chuẩn bị đón tân lang” (Kh 21,2). Những bức tường của Giêrusalem không còn là thành lũy phòng thủ, nhưng là những trang sức quý giá của Hiền Thê Con Chiên. Các cửa thành mà ông Nehemia đã bảo vệ cách cẩn trọng nay luôn rộng mở cho mọi dân tộc. Sự hiện diện của Thiên Chúa ban cho tất cả ánh sáng và sự sống. Thành ấy là một Êđen mới, với dòng nước hằng sống được ban cho những ai khát và với cây trường sinh, mà lá của nó dùng “để chữa lành các dân tộc” (Kh 22,2). Trong khi chờ đợi sự viên mãn của thị kiến ấy, hình ảnh đó hiện diện trước mắt chúng ta như một lời mời gọi, một tiếng gọi vượt thắng các chia rẽ và cùng nhau cộng tác: đó chính là con đường của Đức Giêsu Kitô, hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Bài ca hy vọng: kinh “Magníficat”

243. Điểm thứ tư của chương trình đời sống Kitô giáo này - sau đức tin chiêm ngắm kế hoạch yêu thương của Chúa Cha, sau đức ái liên kết chúng ta trong một thân thể Giáo Hội duy nhất, và sau niềm hy vọng nâng đỡ hành động của chúng ta trong thế giới - chính là cầu nguyện. Bài ca của Đức Maria đồng hành với dấn thân của chúng ta. Trước bà Êlisabét, người loan báo cho Mẹ biết rằng Mẹ đã trở nên Thân Mẫu của Chúa, Đức Maria bật lên bài thánh ca ngợi khen và hân hoan: linh hồn Mẹ ngợi khen sự cao cả của Chúa và thần trí Mẹ hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ Mẹ, bởi vì Người đã chọn một thiếu nữ nghèo hèn và bé nhỏ cho kế hoạch cứu độ của Người. Đột nhiên, Đức Maria nhìn toàn thể lịch sử bằng đôi mắt của khám phá ấy. Chung quanh Mẹ, chẳng có gì thay đổi: hoàn cảnh chính trị-xã hội thời đó vẫn y nguyên, với người Rôma đang thống trị quê hương Mẹ và dân tộc Mẹ bị chia rẽ cũng như bị hạ nhục. Tuy nhiên, mọi sự đã đổi thay trong chính nội tâm Mẹ, và điều ấy cho phép Mẹ nhìn thấy điều vô hình. Thiên Chúa đã thực hiện những kỳ công bằng cánh tay quyền năng của Người, đã phân tán những kẻ kiêu căng, đã hạ bệ những người quyền thế, đã nâng cao những kẻ khiêm nhường, đã cho người đói nghèo được no đầy phúc lộc và để người giàu có trở về tay trắng. Người đã nâng đỡ Israel, tôi tớ của Người. Thiên Chúa “đứng về phía những người rốt hết. Kế hoạch của Người thường bị che khuất dưới lớp đất mờ đục của các biến cố nhân loại, nơi mà ‘những kẻ kiêu căng, quyền thế và giàu có’ dường như chiến thắng. Tuy nhiên, sức mạnh kín ẩn của Người được định liệu sẽ được tỏ lộ vào lúc sau cùng”. [222]

244. Đức Trinh Nữ Maria không chỉ dạy chúng ta nhìn thấy công trình vô hình của Thiên Chúa, nhưng còn hướng ánh nhìn của chúng ta “đến những điểm đổ vỡ của nhân loại, nơi xảy ra sự méo mó của thế giới, trong sự tương phản giữa người khiêm hạ và kẻ quyền thế, giữa người nghèo và kẻ giàu, giữa người no đầy và kẻ đói khát”, đồng thời dạy chúng ta “biết đón nhận một nhãn quan khác để nhìn thế giới từ bên dưới, bằng đôi mắt của người đau khổ chứ không phải bằng cái nhìn của kẻ quyền lực; để nhìn lịch sử bằng ánh mắt của những người bé nhỏ chứ không phải từ viễn tượng của những kẻ thống trị; để giải thích các biến cố lịch sử từ quan điểm của người góa phụ, trẻ mồ côi, người ngoại kiều, đứa trẻ bị tổn thương, người lưu đày và kẻ chạy trốn”. [223] Nhờ đó, Đức Trinh Nữ trở thành “thi sĩ và ngôn sứ của công trình cứu chuộc”, bởi vì từ môi miệng Mẹ phát xuất “bài thánh ca mạnh mẽ và đổi mới nhất từng được cất lên, kinh Magníficat; chính Mẹ là Đấng mặc khải dự án biến đổi của nền kinh tế Kitô giáo, kết quả lịch sử và xã hội mà cho đến hôm nay vẫn bắt nguồn và nhận được sức mạnh từ Kitô giáo”. [224]

245. Với cùng một đức tin như Đức Maria, chúng ta hãy trở nên những người dệt nên niềm hy vọng trong thế giới của mình, bằng cách chia sẻ điều chúng ta là và điều chúng ta có, để sự hiện diện của Đức Giêsu được lớn lên giữa chúng ta và Nước của Người được thành hình. Trong lòng trung tín khiêm hạ của mỗi ngày sống, ngay cả thời đại trí tuệ nhân tạo cũng có thể trở thành một giai đoạn trong đó Chúa Thánh Thần làm cho nền văn minh tình thương được trưởng thành trong cuộc đời chúng ta; Chúa vẫn tiếp tục làm cho mọi sự nên mới và luôn để ngỏ cho mọi thời đại khả thể trở thành lịch sử cứu độ dưới ánh sáng của mầu nhiệm Nhập Thể. Tôi ký thác ước nguyện này cho Thân Mẫu Đức Kitô, Người Nữ của kinh Magníficat, để Mẹ đồng hành với những bước chân của chúng ta trong hiện tại đang đổi thay và gìn giữ trong mỗi người chúng ta niềm tín thác vào Tin Mừng, hầu chúng ta có thể làm chứng cho vẻ đẹp của một nhân tính tuyệt vời được Thiên Chúa ngự trị.

Ban hành tại Rôma, cạnh Đền thờ Thánh Phêrô,

ngày 15/5/2026, năm thứ hai triều Giáo hoàng của tôi.

LÊÔ XIV, GIÁO HOÀNG


_______________________________

PHẦN CHÚ THÍCH

[1] Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 22: AAS 58 (1966), 1042.

[2] X. cùng tác phẩm trên, 11: AAS 58 (1966), 1033-1034.

[3] Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, 1: AAS 57 (1965), 5.

[4] X. Đức Lêô XIII, Thông điệp Rerum novarum (15 tháng 5 năm 1891), 22: ASS 23 (1890-1891), 653.

[5] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29 tháng 6 năm 2009), 69: AAS 101 (2009), 702.

[6] Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (24 tháng 5 năm 2015), 104: AAS 107 (2015), 888.

[7] Cùng tác phẩm trên.

[8] Thánh Âugutinô, Tự thú, I, 1, 1: CCSL 27, Turnhout 1981, 1.

[9] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 183: AAS 105 (2013), 1097.

[10] Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 36: AAS 58 (1966), 1054; x. Công đồng Chung Vaticanô II, Sắc lệnh Apostolicam actuositatem, 7: AAS 58 (1966), 843-844.

[11] Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 44: AAS 58 (1966), 1065.

[12] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 257: AAS 105 (2013), 1123.

[13] Thánh Gioan Phaolô II, Tông thư dưới dạng Motu proprioSocialium scientiarum (1 tháng 1 năm 1994): AAS 86 (1994), 209.

[14] Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (24 tháng 5 năm 2015), 61: AAS 107 (2015), 871.

[15] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis (30 tháng 12 năm 1987), 41: AAS 80 (1988), 570-572.

[16] Thánh Gioan Phaolô II, Tông thư Tertio millennio adveniente (10 tháng 11 năm 1994), 35: AAS 87 (1995), 27.

[17] Diễn từ với Quỹ Centesimus Annus Pro Pontifice (17 tháng 5 năm 2025): AAS 117 (2025), 696.

[18] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 222: AAS 105 (2013), 1111.

[19] X. cùng tác phẩm trên, 236: AAS 105 (2013), 1115; Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 215: AAS 112 (2020), 1045-1046.

[20] Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế tín lý Lumen gentium, 13: AAS 57 (1965), 17.

[21] Thánh Phaolô VI, Tông thư Octogesima adveniens (14 tháng 5 năm 1971), 4: AAS 63 (1971), 403.

[22] X. Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 243: AAS 105 (2013), 1118.

[23] X. Đức Piô XII, Tông huấn Menti Nostrae (23 tháng 9 năm 1950): AAS 42 (1950), 657-702.

[24] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus annus (1 tháng 5 năm 1991), 5: AAS 83 (1991), 799.

[25] Đức Piô XI, Thông điệp Quadragesimo anno (15 tháng 5 năm 1931), 39: AAS 23 (1931), 189; x. Đức Piô XII, Sứ điệp phát thanh nhân kỷ niệm 50 năm thông điệp Rerum novarum: AAS 33 (1941), 198.

[26] X. Đức Piô XII, Diễn từ với Hồng y đoàn và Giáo triều Rôma (24 tháng 12 năm 1940): AAS 33 (1941), 13.

[27] X. Thánh Gioan XXIII, Thông điệp Mater et magistra (15 tháng 5 năm 1961), 2-3: AAS 53 (1961), 402.

[28] X. Thánh Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in terris (11 tháng 4 năm 1963), 163: AAS 55 (1963), 301.

[29] X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.

[30] X. Công đồng Chung Vaticanô II, Tuyên ngôn Dignitatis humanae, 2: AAS 58 (1966), 930-931.

[31] Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio (26 tháng 3 năm 1967), 14: AAS 59 (1967), 264.

[32] Cùng tác phẩm trên, 87: AAS 59 (1967), 299.

[33] X. Thánh Phaolô VI, Tông thư Octogesima adveniens (14 tháng 5 năm 1971), 4-7: AAS 63 (1971), 404-406.

[34] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis (30 tháng 12 năm 1987), 36: AAS 80 (1988), 561.

[35] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem exercens (14 tháng 9 năm 1981), 19: AAS 73 (1981), 625-629.

[36] X. cùng tác phẩm trên, 10: AAS 73 (1981), 600-602.

[37] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis (30 tháng 12 năm 1987), 14: AAS 80 (1988), 526-528.

[38] X. cùng tác phẩm trên, 16: AAS 80 (1988), 531.

[39] X. cùng tác phẩm trên, 31-33: AAS 80 (1988), 555-559.

[40] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus annus (1 tháng 5 năm 1991), 46: AAS 83 (1991), 850-851.

[41] X. cùng tác phẩm trên, 42: AAS 83 (1991), 845-846.

[42] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29 tháng 6 năm 2009), 21: AAS 101 (2009), 656.

[43] X. cùng tác phẩm trên, 22: AAS 101 (2009), 657.

[44] X. cùng tác phẩm trên, 24: AAS 101 (2009), 658-659.

[45] X. cùng tác phẩm trên, 36: AAS 101 (2009), 671-672.

[46] Cùng tác phẩm trên, 2: AAS 101 (2009), 642.

[47] X. Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 198: AAS 105 (2013), 1103.

[48] Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (24 tháng 5 năm 2015), 49: AAS 107 (2015), 866.

[49] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 127: AAS 112 (2020), 1013.

[50] Đức Phanxicô, Thông điệp Dilexit nos (24 tháng 10 năm 2024), 167: AAS 116 (2024), 1421.

[51] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 32.

[52] Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 24: AAS 58 (1966), 1045.

[53] Cùng tác phẩm trên, 22: AAS 58 (1966), 1042.

[54] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 38.

[55] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor hominis (4 tháng 3 năm 1979), 14: AAS 71 (1979), 284.

[56] X. Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29 tháng 6 năm 2009), 11: AAS 101 (2009), 647-648.

[57] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis splendor (6 tháng 8 năm 1993), 31: AAS 85 (1993), 1159.

[58] X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.

[59] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus annus (1 tháng 5 năm 1991), 11: AAS 83 (1991), 806-807.

[60] X. Bộ Giáo lý Đức tin, Tuyên ngôn Dignitas infinita (2 tháng 4 năm 2024), 7: AAS 116 (2024), 592-593.

[61] X. cùng tác phẩm trên, 8: AAS 116 (2024), 593-594.

[62] Cùng tác phẩm trên, 1: AAS 116 (2024), 589-590.

[63] X. Thánh Gioan Phaolô II, Kinh Truyền Tin (Osnabrück, 16 tháng 11 năm 1980): L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, 23 tháng 11 năm 1980, 9.

[64] Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 152.

[65] X. Thánh Gioan Phaolô II, Diễn văn tại Đại hội đồng lần thứ 50 của Liên Hiệp Quốc (5 tháng 10 năm 1995), 2: L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, 13 tháng 10 năm 1995, 7.

[66] Thánh Gioan Phaolô II, Diễn văn tại Đại hội đồng lần thứ 34 của Liên Hiệp Quốc (2 tháng 10 năm 1979), 7: AAS 71 (1979), 1148.

[67] Thánh Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 32 (1 tháng 1 năm 1999), 3: AAS 91 (1999), 379.

[68] X. Thánh Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in terris (11 tháng 4 năm 1963), 5: AAS 55 (1963), 259.

[69] Thánh Phaolô VI, Sứ điệp gửi Hội nghị Quốc tế về Quyền Con Người (15 tháng 4 năm 1968): AAS 60 (1968), 285.

[70] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium vitae (25 tháng 3 năm 1995), 2: AAS 87 (1995), 402.

[71] X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 27: AAS 58 (1966), 1047-1048; Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis splendor (6 tháng 8 năm 1993), 80: AAS 85 (1993), 1197-1198; Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium vitae (25 tháng 3 năm 1995), 7-28: AAS 87 (1995), 408-427.

[72] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 208: AAS 112 (2020), 1043.

[73] X. cùng tác phẩm trên, 209: AAS 112 (2020), 1043-1044.

[74] Cùng tác phẩm trên, 23: AAS 112 (2020), 977. X. Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 212: AAS 105 (2013), 1108.

[75] Đức Bênêđictô XVI, Tông huấn Sacramentum caritatis (22 tháng 2 năm 2007), 83: AAS 99 (2007), 169.

[76] Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.

[77] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 164.

[78] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 235: AAS 105 (2013), 1115.

[79] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 105: AAS 112 (2020), 1005.

[80] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis (30 tháng 12 năm 1987), 38: AAS 80 (1988), 564.

[81] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 220: AAS 105 (2013), 1110.

[82] Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 169.

[83] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 16: AAS 112 (2020), 974.

[84] X. Thánh Gioan Phaolô II, Diễn văn tại Đại hội đồng lần thứ 50 của Liên Hiệp Quốc (5 tháng 10 năm 1995), 8: L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, 13 tháng 10 năm 1995, 8.

[85] Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 171.

[86] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus annus (1 tháng 5 năm 1991), 31: AAS 83 (1991), 831.

[87] Thánh Gioan Phaolô II, Bài giảng trong Thánh lễ dành cho giới nông dân tại Recife, Brasil (7 tháng 7 năm 1980), 4: AAS 72 (1980), 926.

[88] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem exercens (14 tháng 9 năm 1981), 19: AAS 73 (1981), 626.

[89] Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (24 tháng 5 năm 2015), 93: AAS 107 (2015), 884; x. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 120: AAS 112 (2020), 1010.

[90] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 189: AAS 105 (2013), 1099.

[91] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 187.

[92] X. Đức Lêô XIII, Thông điệp Rerum novarum (15 tháng 5 năm 1891), 26: ASS 23 (1890-1891), 656.

[93] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus annus (1 tháng 5 năm 1991), 11: AAS 83 (1991), 806-807.

[94] X. cùng tác phẩm trên.

[95] X. cùng tác phẩm trên, 48: AAS 83 (1991), 852-854.

[96] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 169: AAS 112 (2020), 1028.

[97] X. cùng tác phẩm trên, 168: AAS 112 (2020), 1027-1028.

[98] X. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio (26 tháng 3 năm 1967), 17: AAS 59 (1967), 265-266.

[99] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 32 và 54: AAS 112 (2020), 980 và 988.

[100] X. Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29 tháng 6 năm 2009), 58: AAS 101 (2009), 693-694.

[101] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 116: AAS 112 (2020), 1009.

[102] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis (30 tháng 12 năm 1987), 38: AAS 80 (1988), 564.

[103] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 116: AAS 112 (2020), 1009.

[104] X. Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29 tháng 6 năm 2009), 48: AAS 101 (2009), 685.

[105] X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 25: AAS 58 (1966), 1045-1046.

[106] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis (30 tháng 12 năm 1987), 42: AAS 80 (1988), 572-574.

[107] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 53: AAS 105 (2013), 1042.

[108] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis (30 tháng 12 năm 1987), 36-37: AAS 80 (1988), 561-564.

[109] Đức Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Di dân và Người Tị nạn lần thứ 110 (29 tháng 9 năm 2024): AAS 116 (2024), 735.

[110] Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio (26 tháng 3 năm 1967), 14: AAS 59 (1967), 264.

[111] X. cùng tác phẩm trên, 17: AAS 59 (1967), 265-266; Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 125-127: AAS 112 (2020), 1012-1013.

[112] X. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio (26 tháng 3 năm 1967), 14: AAS 59 (1967), 264; Đức Bênêđictô XVI, Diễn văn gửi Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh (8 tháng 1 năm 2007): AAS 99 (2007), 73; Đức Phanxicô, Diễn văn tại Diễn đàn lần thứ III của các dân tộc bản địa do Quỹ Quốc tế Phát triển Nông nghiệp triệu tập (15 tháng 2 năm 2017): AAS 109 (2017), 244-245.

[113] Tài liệu Chung kết của Khóa họp thứ Hai thuộc Đại hội đồng Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục (26 tháng 10 năm 2024), 17.

[114] X. cùng tác phẩm trên, 11.

[115] X. cùng tác phẩm trên, 103-108.

[116] X. cùng tác phẩm trên, 100-101.

[117] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 94: AAS 112 (2020), 1001.

[118] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 53.

[119] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (24 tháng 5 năm 2015), 106-109: AAS 107 (2015), 889-891.

[120] R. Guardini, Sự tàn lụi của thời hiện đại, Madrid 1963, 111.

[121] Thánh Phaolô VI, Diễn văn nhân kỷ niệm 25 năm thành lập FAO (16 tháng 11 năm 1970): AAS 62 (1970), 833.

[122] X. Đức Phanxicô, Diễn văn trước Hội đồng vì một nền tư bản bao trùm (11 tháng 11 năm 2019): L’Osservatore Romano, 11-12 tháng 11 năm 2019, 8.

[123] X. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa và Giáo dục, Ghi chú Antiqua et nova (14 tháng 1 năm 2025): AAS 117 (2025), 159-210; Đức Phanxicô, Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 57 (8 tháng 12 năm 2023): AAS 116 (2024), 54-64; Đức Phanxicô, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 58 (24 tháng 1 năm 2024): AAS 116 (2024), 261-266; Đức Phanxicô, Diễn văn tại Phiên họp G7 về trí tuệ nhân tạo: “Một công cụ vừa hấp dẫn vừa đáng sợ” (14 tháng 6 năm 2024): AAS 116 (2024), 866-875; Ủy ban Thần học Quốc tế, Quo vadis, humanitas? Suy tư về nhân học Kitô giáo trước một số viễn cảnh tương lai của nhân loại (9 tháng 2 năm 2026); Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60 (24 tháng 1 năm 2026): L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, tháng 2 năm 2026, 63-67.

[124] X. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa và Giáo dục, Ghi chú Antiqua et nova (14 tháng 1 năm 2025), 96: AAS 117 (2025), 201.

[125] Đức Phanxicô, Diễn văn tại “Minerva Dialogues” do Bộ Văn hóa và Giáo dục tổ chức (27 tháng 3 năm 2023): AAS 115 (2023), 465.

[126] X. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa và Giáo dục, Ghi chú Antiqua et nova (14 tháng 1 năm 2025), 41: AAS 117 (2025), 178.

[127] X. cùng tác phẩm trên, 44-45: AAS 117 (2025), 179-180.

[128] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus annus (1 tháng 5 năm 1991), 40: AAS 83 (1991), 843.

[129] X. Ủy ban Thần học Quốc tế, Quo vadis, humanitas? Suy tư về nhân học Kitô giáo trước một số viễn cảnh tương lai của nhân loại (9 tháng 2 năm 2026), 63.

[130] X. Thánh Phaolô VI, Diễn văn nhân kỷ niệm 25 năm thành lập FAO (16 tháng 11 năm 1970): AAS 62 (1970), 833.

[131] Ủy ban Thần học Quốc tế, Quo vadis, humanitas? Suy tư về nhân học Kitô giáo trước một số viễn cảnh tương lai của nhân loại (9 tháng 2 năm 2026), 3.

[132] «Nếu trái tim bị hạ giá thì điều đó cũng làm mất giá ý nghĩa của việc nói bằng trái tim, hành động với trái tim, trưởng thành và chăm sóc trái tim. Khi không còn biết quý trọng nét riêng biệt của trái tim, chúng ta đánh mất những câu trả lời mà chỉ riêng trí tuệ không thể đem lại; chúng ta đánh mất cuộc gặp gỡ với tha nhân, đánh mất thi ca. Và chúng ta đánh mất lịch sử cũng như những câu chuyện của chính mình, bởi vì cuộc phiêu lưu đích thực của đời người là cuộc phiêu lưu được xây dựng từ trái tim. Cuối cùng của cuộc đời, chỉ điều ấy mới còn lại»: Đức Phanxicô, Thông điệp Dilexit nos (24 tháng 10 năm 2024), 11: AAS 116 (2024), 1372.

[133] V. Frankl, Con người đi tìm ý nghĩa, Barcelona 1991, 74.

[134] Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I-II, q. 112, a. 1, co.; q. 114, a. 5, co.: ấn bản Leonina, VII, Roma 1892, 323 và 349.

[135] X. cùng tác phẩm trên, q. 114, a. 1, co.: ấn bản Leonina, VII, 344.

[136] X. cùng tác giả, Super Boetium De Trinitate, q. 1, a. 2, ad 3: ấn bản Leonina, L, Roma 1992, 96; Summa Theologiae, I, q. 7, a. 1, ad 3: ấn bản Leonina, IV, Roma 1888, 72.

[137] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 8: AAS 105 (2013), 1022.

[138] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor hominis (4 tháng 3 năm 1979), 15: AAS 71 (1979), 286-287.

[139] Thánh Augustinô, Thành đô Thiên Chúa, XIV, 28: CCSL 48, Turnhout 1955, 451.

[140] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29 tháng 6 năm 2009), 34: AAS 101 (2009), 668-669.

[141] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis splendor (6 tháng 8 năm 1993), 32: AAS 85 (1993), 1159.

[142] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 207: AAS 112 (2020), 1043.

[143] H. Arendt, Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị, Madrid 2014, 634.

[144] Diễn văn với các đại diện giới truyền thông (12 tháng 5 năm 2025): AAS 117 (2025), 682.

[145] Đức Bênêđictô XVI, Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 47 (24 tháng 1 năm 2013): AAS 105 (2013), 183.

[146] Đức Phanxicô, Diễn văn nhân dịp trao huy hiệu Huân chương Piano cho ông Philip Pullella và bà Valentina Alazraki (13 tháng 11 năm 2021): L’Osservatore Romano, 13 tháng 11 năm 2021, 12.

[147] X. Platon, Thư VII, 344b-c, Madrid 1970, 92.

[148] X. Diễn văn tại Hội nghị “Phẩm giá của trẻ em và thiếu niên trong thời đại AI” (13 tháng 11 năm 2025): L’Osservatore Romano, 13 tháng 11 năm 2025, 3.

[149] X. Diễn văn trước Hội đồng Cố vấn của Học viện RCS (7 tháng 11 năm 2025): L’Osservatore Romano, 7 tháng 11 năm 2025, 4.

[150] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem exercens (14 tháng 9 năm 1981), 3: AAS 73 (1981), 584.

[151] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (24 tháng 5 năm 2015), 128: AAS 107 (2015), 898.

[152] Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa và Giáo dục, Ghi chú Antiqua et nova (14 tháng 1 năm 2025), 67: AAS 117 (2025), 188-189.

[153] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Laborem exercens (14 tháng 9 năm 1981), 18: AAS 73 (1981), 622-625.

[154] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (24 tháng 5 năm 2015), 109: AAS 107 (2015), 891.

[155] X. Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29 tháng 6 năm 2009), 32: AAS 101 (2009), 666.

[156] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 268.

[157] X. Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29 tháng 6 năm 2009), 64: AAS 101 (2009), 698.

[158] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (24 tháng 5 năm 2015), 129: AAS 107 (2015), 899.

[159] X. cùng tác phẩm trên.

[160] X. cùng tác giả, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 108: AAS 112 (2020), 1006.

[161] X. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện, Oeconomicae et pecuniariae quaestiones. Những suy tư nhằm phân định luân lý về một số khía cạnh của hệ thống kinh tế và tài chính hiện nay (6 tháng 1 năm 2018), 6: AAS 110 (2018), 772.

[162] Đức Phanxicô, Diễn văn với nhân viên Quỹ Quốc tế Phát triển Nông nghiệp (IFAD) (14 tháng 2 năm 2019): AAS 111 (2019), 309. X. Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29 tháng 6 năm 2009), 22: AAS 101 (2009), 657.

[163] X. cùng tác phẩm trên, 36: AAS 101 (2009), 671-672.

[164] X. Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24 tháng 11 năm 2013), 204: AAS 105 (2013), 1105-1106.

[165] X. Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio (26 tháng 3 năm 1967), 87: AAS 59 (1967), 299.

[166] X. Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus annus (1 tháng 5 năm 1991), 39: AAS 83 (1991), 841.

[167] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 211.

[168] X. Thánh Gioan Phaolô II, Tông thư Gratissimam sane (2 tháng 2 năm 1994), 17: AAS 86 (1994), 903-906.

[169] X. Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ, Con trai và Con gái của Ánh sáng: Kế hoạch mục vụ cho sứ vụ với người trẻ trưởng thành (12 tháng 11 năm 1996), Washington D.C. 1996, I, 3.

[170] X. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội, 290.

[171] X. cùng tác phẩm trên, 214.

[172] X. Đức Phanxicô, Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 48 (8 tháng 12 năm 2014), 4: AAS 107 (2015), 70-71.

[173] X. Ủy ban Thần học Quốc tế, Ký ức và Hòa giải. Giáo Hội và những lỗi lầm của quá khứ (7 tháng 3 năm 2000), V. 3, Madrid 2000, 67-68.

[174] Như trong các sắc chỉ Sicut dudum (13 tháng 1 năm 1435) và Etsi suscepti (9 tháng 1 năm 1442) của Đức Eugeniô IV, cũng như các sắc chỉ Dum diversas (18 tháng 6 năm 1452) và Romanus Pontifex (8 tháng 1 năm 1455) của Đức Nicôlaô V. Những áp lực chính trị, và đôi khi cả kinh tế, đã lấn át các đòi hỏi của Tin Mừng. Vì thế, công cuộc loan báo Tin Mừng thường bị bóp méo hoặc giải thích sai lệch theo sự can thiệp của các quyền lực trần thế, khiến tính bất khả dung hợp giữa chế độ nô lệ và lương tâm Kitô giáo bị tương đối hóa.

[175] X. Đức Lêô XIII, Thông điệp In plurimis (5 tháng 5 năm 1888): Acta Leonis XIII, VIII, Roma 1889, 169-192. Cũng nên lưu ý rằng mãi đến năm 1866, Thánh Bộ Giáo vụ vẫn còn phân biệt giữa các khía cạnh vô luân và luân lý của chế độ nô lệ mà chưa lên án hoàn toàn: Roma, Văn khố Bộ Giáo lý Đức tin, Instr. 1293: Huấn thị của Thánh Bộ Giáo vụ về những nghi vấn do Đức ông Massaia, Đại diện Tông tòa tại xứ Galla, nêu lên, tháng 4 năm 1866, trả lời câu hỏi số 15.

[176] X. Thánh Gioan Phaolô II, Tông sắc Incarnationis mysterium (29 tháng 11 năm 1998), 11: AAS 91 (1999), 139-141.

[177] X. Thánh Phaolô VI, Regina caeli (17 tháng 5 năm 1970): Insegnamenti di Paolo VI, VIII, Thành Vatican 1971, 506.

[178] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 183: AAS 112 (2020), 1033-1034.

[179] X. Công đồng Chung Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.

[180] Thánh Phaolô VI, Diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 20 (4 tháng 10 năm 1965): AAS 57 (1965), 881.

[181] Tổ chức Liên Hiệp Quốc, Hiến chương Liên Hiệp Quốc (26 tháng 6 năm 1945), San Francisco 1945, Lời mở đầu.

[182] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 258: AAS 112 (2020), 1061: «Thực vậy, trong những thập niên gần đây, mọi cuộc chiến đều được cho là “chính đáng”. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo nói đến khả năng tự vệ chính đáng bằng sức mạnh quân sự, với điều kiện phải chứng minh rằng có những “điều kiện nghiêm ngặt của tính hợp pháp luân lý”. Nhưng người ta rất dễ rơi vào cách giải thích quá rộng về quyền khả hữu này. Như thế, người ta muốn biện minh cách sai lạc ngay cả cho những cuộc tấn công “phòng ngừa” hay những hành động chiến tranh mà khó có thể không gây nên “những sự dữ và xáo trộn nghiêm trọng hơn điều xấu mà người ta muốn loại bỏ”»; x. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, 2309.

[183] X. Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Văn hóa và Giáo dục, Ghi chú Antiqua et nova (14 tháng 1 năm 2025), 99: AAS 117 (2025), 202-203.

[184] X. cùng tác phẩm trên, 103: AAS 117 (2025), 204.

[185] X. Diễn văn tại Phiên họp Toàn thể của Hội nghị các Công cuộc Trợ giúp các Giáo hội Đông phương (ROACO) (26 tháng 6 năm 2025): AAS 117 (2025), 847-849.

[186] X. Đức Phanxicô, Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 53 (8 tháng 12 năm 2019): AAS 112 (2020), 54-61.

[187] J.R.R. Tolkien, Chúa tể những chiếc nhẫn, III: Sự trở về của nhà vua, Barcelona 1991, 194.

[188] Diễn văn với các đại diện giới truyền thông (12 tháng 5 năm 2025): AAS 117 (2025), 682.

[189] Cùng tác phẩm trên.

[190] Thánh Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 31 (1 tháng 1 năm 1998), 1: AAS 90 (1998), 147.

[191] Thánh Augustinô, Chú giải Thánh vịnh, 84, 12: CCSL 39, Turnhout 1956, 1172-1173.

[192] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Dilexit nos (24 tháng 10 năm 2024), 22: AAS 116 (2024), 1375-1376.

[193] X. cùng tác giả, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 115: AAS 112 (2020), 1008-1009.

[194] X. cùng tác phẩm trên, 261: AAS 112 (2020), 1062.

[195] X. Thánh Phaolô VI, Diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 20 (4 tháng 10 năm 1965): AAS 57 (1965), 878-879.

[196] X. Đức Piô XII, Sứ điệp phát thanh gửi các nhà lãnh đạo và các dân tộc trước nguy cơ chiến tranh cận kề (24 tháng 8 năm 1939): AAS 31 (1939), 334.

[197] G. La Pira, Những suy tư về Công đồng. Diễn văn của Giáo sư Giorgio La Pira, Thị trưởng thành Firenze, trước Guides de France (Roma, 4 tháng 9 năm 1962), Firenze 1962, 6.

[198] Diễn văn trong Năm Thánh của các Giáo hội Đông phương (14 tháng 5 năm 2025): AAS 117 (2025), 686.

[199] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti (3 tháng 10 năm 2020), 271: AAS 112 (2020), 1066.

[200] X. cùng tác giả, Lời kêu gọi hòa bình tại Assisi nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Hòa bình: “Khát vọng hòa bình. Các tôn giáo và nền văn hóa trong đối thoại” (20 tháng 9 năm 2016): AAS 108 (2016), 1124.

[201] Cùng tác giả, Diễn văn trước Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh nhân dịp chúc mừng năm mới (9 tháng 1 năm 2025): AAS 117 (2025), 110.

[202] X. cùng tác giả, Diễn văn tại Khóa họp lần thứ 38 của FAO (20 tháng 6 năm 2013): AAS 105 (2013), 616-617.

[203] Phép lành đầu tiên “Urbi et Orbi” (8 tháng 5 năm 2025): AAS 117 (2025), 660.

[204] Cùng tác phẩm trên.

[205] X. Bài giảng trong Kinh Chiều I Lễ trọng Đức Maria Mẹ Thiên Chúa (31 tháng 12 năm 2025): L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, tháng 1 năm 2026, 26-27.

[206] X. Bài giảng Thánh lễ ban ngày Lễ trọng Giáng Sinh (25 tháng 12 năm 2025): L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, tháng 1 năm 2026, 17-18.

[207] X. cùng tác phẩm trên.

[208] X. Kinh Truyền Tin Lễ Hiển Linh (6 tháng 1 năm 2026): L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, tháng 1 năm 2026, 34-35.

[209] X. Bài giảng Thánh lễ đêm Lễ trọng Giáng Sinh (24 tháng 12 năm 2025): L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, tháng 1 năm 2026, 14-16.

[210] P. de Bérulle, Diễn từ và những tâm tình chiêm niệm: Các diễn từ về tình trạng và sự cao cả của Đức Giêsu, Chiêm niệm về ân sủng Thiên Chúa nơi Maria Mađalêna, Các trước tác ngắn, Madrid 2003, 77.

[211] Cùng tác phẩm trên.

[212] X. Diễn văn tại Hội nghị “Trí tuệ nhân tạo và việc chăm sóc Ngôi nhà chung” (5 tháng 12 năm 2025): L’Osservatore Romano, 5 tháng 12 năm 2025, 2.

[213] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus caritas est (25 tháng 12 năm 2005), 14: AAS 98 (2006), 228.

[214] Thánh Augustinô, Bài giảng 272, Huấn từ gửi các tân tòng: PL 38, Paris 1865, cột 1247.

[215] Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Thánh lễ Tiệc Ly (21 tháng 4 năm 2011): AAS 103 (2011), 321.

[216] Diễn văn trước Giáo triều Rôma nhân dịp chúc mừng Giáng Sinh (22 tháng 12 năm 2025): L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, tháng 1 năm 2026, 10.

[217] X. phần trên, các số 11-14.

[218] X. Diễn văn tại Hội nghị “Phẩm giá của trẻ em và thiếu niên trong thời đại AI” (13 tháng 11 năm 2025): L’Osservatore Romano, 13 tháng 11 năm 2025, 3.

[219] X. Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in veritate (29 tháng 6 năm 2009), 34: AAS 101 (2009), 668-670.

[220] Đức Phanxicô, Tông huấn Laudate Deum (4 tháng 10 năm 2023), 67: AAS 115 (2023), 1059.

[221] Kinh Truyền Tin Lễ Hiển Linh (6 tháng 1 năm 2026): L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, tháng 1 năm 2026, 34-35.

[222] Đức Bênêđictô XVI, Bài giáo lý (15 tháng 2 năm 2006): L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, 7-17 tháng 2 năm 2006, 12.

[223] Suy niệm Mân Côi cầu cho hòa bình trong Năm Thánh Linh đạo Thánh Mẫu (11 tháng 10 năm 2025): L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Tây Ban Nha, tháng 11 năm 2025, 19-20.

[224] Thánh Phaolô VI, Bài giảng tại Đền thánh Đức Mẹ Bonaria (24 tháng 4 năm 1970): AAS 62 (1970), 301.

Nha Trang, ngày 30/5/2026

Lm. Antôn Trần Xuân Sang, S.V.D. chuyển ngữ