
CHƯƠNG MỘT
MỘT TIẾP CẬN NĂNG ĐỘNG TRUNG THÀNH VỚI TIN MỪNG
17. Trong chương đầu tiên này, tôi muốn trình bày khái quát việc Học thuyết Xã hội của Hội Thánh đã được hình thành như thế nào trong Huấn quyền gần đây của các Giáo hoàng và trong Công đồng Vaticanô II, nhằm cho thấy tính năng động của học thuyết ấy. Thật vậy, trong mỗi thời đại, những res novae – những “điều mới mẻ” – đòi hỏi giáo huấn này phải đối diện với các vấn đề lịch sử dưới ánh sáng của Chân lý mặc khải. Về phương diện này, trí tuệ nhân tạo cũng không nên chỉ được xem như một chủ đề mới để nghiên cứu hay một cuộc khủng hoảng cần quản lý, nhưng là một sự phát triển đang chất vấn chính những phạm trù của Học thuyết Xã hội từ bên trong, đòi hỏi học thuyết ấy phải được đào sâu hơn nữa trong sự trung thành với Tin Mừng.
18. Tuy nhiên, cái nhìn tổng quan này sẽ khó hiểu nếu trước tiên chúng ta không làm sáng tỏ một vài nguyên tắc căn bản liên quan đến cách Hội Thánh hiện diện trong lịch sử và tương quan với thế giới. Nếu không, Học thuyết Xã hội rất dễ bị xem như một sự can thiệp không thích đáng vào “những chuyện trần thế” hay như một bộ quy tắc luân lý áp đặt từ bên ngoài. Thực ra, học thuyết ấy phát sinh từ một Hội Thánh cùng bước đi với nhân loại, nhìn nhận tính tự trị của các thực tại trần thế và sự phân biệt giữa cộng đoàn Giáo hội với cộng đồng chính trị. Chính vì thế, Hội Thánh nỗ lực phục vụ công ích.
Một Giáo Hội đang lữ hành qua dòng lịch sử nhân loại
19. Hội Thánh hiện diện trong thế giới như dấu chỉ của sự hiệp nhất cho toàn thể gia đình nhân loại. Hội Thánh nhận ra những vấn đề và thách đố của thời đại hôm nay như bối cảnh cụ thể để thi hành ơn gọi riêng của mình: lắng nghe, đối thoại, phục vụ và quan tâm đến tất cả những gì liên hệ đến đời sống của con người hôm nay. Sự dấn thân vào đời sống nhân loại giúp Hội Thánh ngày càng hiểu rõ hơn rằng sứ mạng của mình mang chiều kích lịch sử và bao hàm trách nhiệm đối với cách thức các tương quan xã hội được xây dựng. Vì thế, Hội Thánh không thể tự xem mình như người xa lạ đối với những lực lượng đang định hình xã hội. Trái lại, Hội Thánh tích cực tham gia vào các tiến trình qua đó xã hội được phát triển và tổ chức, đồng thời đóng góp phần mình vào việc kiến tạo một xã hội công bằng và huynh đệ hơn. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh chiều kích lịch sử này của sứ mạng Hội Thánh: “Không ai có thể đòi tôn giáo phải bị giam hãm trong lãnh vực riêng tư của đời sống cá nhân, không được ảnh hưởng đến đời sống xã hội và quốc gia, không được quan tâm đến sự lành mạnh của các thể chế dân sự, hay không có quyền lên tiếng về những biến cố ảnh hưởng đến xã hội.”[1]
20. Ơn gọi và bổn phận của Hội Thánh là đồng hành với nhân loại trong dòng lịch sử cụ thể, khiến Hội Thánh nhìn nhận rằng các thực tại trần thế có đặc tính và trật tự riêng của chúng. Công đồng Vaticanô II đã diễn tả nguyên tắc này cách đặc biệt chính xác trong Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, văn kiện mà chúng ta đã hân hoan mừng 60 năm vào ngày 7 tháng 12 năm 2025: “Nếu bởi sự tự trị của các thực tại trần thế mà người ta hiểu rằng các thụ tạo và xã hội có những quy luật và giá trị riêng của mình… thì đòi hỏi về sự tự trị ấy hoàn toàn chính đáng.”[2] Khẳng định này cho thấy công trình tạo dựng mang dấu ấn của sự thiện nguyên thủy mà cái nhìn nhân loại phải bảo vệ, vun trồng và đưa tới viên mãn. Trong chiều hướng ấy, Hội Thánh tự hiến mình như một sự hiện diện giúp giải thích thực tại trong tất cả chiều sâu của nó. Với sự khiêm tốn nhưng kiên định, Hội Thánh nâng đỡ những chọn lựa cổ võ phẩm giá của mỗi con người, sự hiệp nhất của các cộng đồng và thiện ích của mọi người. Hội Thánh đứng bên cạnh thế giới mà không áp đặt lên thế giới, để lời hứa về công lý và hòa bình mà Chúa Thánh Thần tiếp tục nuôi dưỡng trong lòng nhân loại có thể trổ sinh trong mọi nỗ lực của con người.
21. Khi nhìn nhận rằng chính Thiên Chúa nâng đỡ tự do của con người trong tiến trình lịch sử, Công đồng Vaticanô II đã khẳng định sự phân biệt giữa cộng đoàn Giáo hội và cộng đồng chính trị, nhấn mạnh rằng mỗi bên phải hoạt động với sự tự trị thích đáng của mình. Sự hiện diện của Hội Thánh trong thế giới cũng được diễn tả qua tương quan của Hội Thánh với xã hội dân sự và các định chế công quyền. Khi đối thoại với các thực tại ấy, Hội Thánh nhìn nhận giá trị của đời sống xã hội và chính trị, đồng thời tôn trọng trách nhiệm riêng của chúng, nâng đỡ tất cả những gì phục vụ thiện ích của con người và củng cố nền tảng xã hội. Hội Thánh không đòi thay thế vai trò của Nhà nước. Trái lại, Hội Thánh trân trọng những ai dấn thân cho công ích và mạnh mẽ nhìn nhận trách nhiệm của các định chế dân sự trong xã hội. Tuy nhiên, sứ mạng được trao phó cho Hội Thánh cũng thúc đẩy Hội Thánh lên tiếng trước những đau khổ cụ thể của con người thời đại hôm nay. Sự gần gũi này không xuất phát từ ý muốn thay thế các định chế dân sự, càng không phải là một sự phê phán ngầm đối với công việc của họ, nhưng phát sinh từ đức ái Tin Mừng, thúc đẩy Hội Thánh đến gần những vết thương của nhân loại khi chúng trở nên nghiêm trọng hơn. Khi can thiệp, Hội Thánh hành động theo gương người Samari Nhân hậu, với sự kín đáo và gần gũi, ý thức rằng điều phát sinh từ nhu cầu khẩn cấp không thể trở thành chuẩn mực thường xuyên hay thay thế trách nhiệm thể chế vốn thuộc về cộng đồng dân sự.
22. Chính từ việc nhìn nhận kép này – sự tự trị của các thực tại trần thế và sự phân biệt giữa lãnh vực Giáo hội với lãnh vực chính trị – chúng ta mới hiểu rõ hơn định hướng mà Công đồng Vaticanô II đã đặt ra cho Hội Thánh trong tương quan với thế giới. Gaudium et Spes nhắc nhớ rằng: “Nhiệm vụ của toàn thể Dân Thiên Chúa, đặc biệt là các mục tử và thần học gia, là lắng nghe và phân định nhiều tiếng nói của thời đại, rồi giải thích chúng dưới ánh sáng Lời Chúa, để chân lý mặc khải được thấu hiểu sâu xa hơn, được hiểu rõ hơn và được trình bày cách thích hợp hơn.”[3] Việc lắng nghe “nhiều tiếng nói” ấy không chỉ là một thao tác xã hội học, nhưng đòi hỏi sự phân định thiêng liêng. Được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, Dân Thiên Chúa nhận ra trong các biến chuyển văn hóa và xã hội vừa có những dấu chỉ của sự hiện diện Đức Kitô – Đấng đang đến và dẫn dắt lịch sử tới chỗ viên mãn – vừa có những lệch lạc che khuất dung nhan Người. Nhờ đó, cốt lõi của chân lý mặc khải không bị thay đổi, nhưng được khai mở và tiếp nhận như chuẩn mực sống động để hướng dẫn các chọn lựa cụ thể, khơi lên những con đường hoán cải cá nhân cũng như cộng đoàn, cổ võ những cải tổ cơ cấu và nâng đỡ các hình thức chứng tá Tin Mừng mới trong đời sống công cộng. Lịch sử vì thế được hiểu như một trong những nơi Hội Thánh để cho Chúa Thánh Thần dạy mình về sức mạnh nhân hóa của Tin Mừng; và Hội Thánh học cách phát triển giáo huấn của mình để phục vụ phẩm giá của mỗi người và thiện ích của mọi dân tộc.
Sự khôn ngoan của Lời Chúa trong đối thoại với các khoa học nhân văn
23. Hội Thánh nhìn nhận tất cả những ai chân thành tìm kiếm “chân - thiện - mỹ” như những người bạn đồng hành trên hành trình, đồng thời xem họ là “những đồng minh quý giá”[4] trong việc bảo vệ phẩm giá con người và chăm sóc công trình tạo dựng. Theo đường hướng mục vụ của Công đồng Vaticanô II – mời gọi lắng nghe, phân định và giải thích các dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng Lời Chúa – Hội Thánh không sợ gặp gỡ tri thức nhân loại. Thật vậy, Lời Chúa cung cấp những tiêu chuẩn chắc chắn để kiến tạo những con đường công lý và mở ra những nẻo đường hòa giải và hòa bình giữa các dân tộc. Khi áp dụng những tiêu chuẩn ấy vào các hoàn cảnh phức tạp của thời đại hôm nay, đóng góp của triết học và các khoa học nhân văn, xã hội là điều thiết yếu. Những ngành học này giúp chúng ta hiểu sâu hơn và phân tích chính xác hơn các động lực văn hóa, kinh tế và chính trị. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng Hội Thánh đón nhận những đóng góp của các khoa học xã hội để “rút ra từ đó những hiểu biết cụ thể giúp Hội Thánh thi hành nhiệm vụ huấn quyền của mình.”[5] Việc đối thoại với các hình thức tri thức ấy không làm suy giảm sức mạnh của Tin Mừng. Trái lại, nó giúp nhận ra rõ ràng hơn những gì thật sự phục vụ sự sống của con người và cộng đồng. Theo cùng viễn tượng đó, Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh rằng trước nhiều vấn đề cụ thể, Hội Thánh không đòi đưa ra “một ý kiến dứt khoát,”[6] nhưng nhìn nhận tầm quan trọng của việc lắng nghe nghiên cứu khoa học và cổ võ một cuộc tranh luận nghiêm túc, trung thực giữa các chuyên gia, đồng thời đón nhận sự đa dạng quan điểm.
24. Được nuôi dưỡng nhờ cuộc đối thoại phong phú giữa Tin Mừng và tri thức nhân loại, Hội Thánh dần dần phát triển Học thuyết Xã hội của mình, vun trồng trong lịch sử một gia sản khôn ngoan mang tính nhất quán thần học và nhân học, bắt nguồn từ cái nhìn Kitô giáo về con người. Chính vì gia sản này phát sinh từ đức tin và từ một nhãn quan về thực tại tương ứng với đức tin ấy, nên nó không phải là một tập hợp các giải pháp kỹ thuật hay một mô hình kinh tế – chính trị đặt đối lập với những mô hình khác. Nó thuộc về một trật tự khác,[7] tức là trật tự của những nguyên tắc định hướng việc giải thích các biến cố và nâng đỡ một cách hiểu mang tính Tin Mừng về các tiến trình lịch sử cùng những chọn lựa phát sinh từ đó. Chính ở đây nằm vai trò riêng của Học thuyết Xã hội: không nhằm thay thế trách nhiệm của chính trị hay các định chế, nhưng như nền tảng cho việc phân định chung, giúp nhận ra và cổ võ mọi điều phục vụ phẩm giá con người, sức sống của cộng đồng và công ích.
Học thuyết Xã hội như một tiến trình phân định chung
25. Khi hiểu rằng chân lý là một quà tặng để chia sẻ chứ không phải một sở hữu để độc quyền nắm giữ, Hội Thánh được giải thoát khỏi cám dỗ tìm kiếm những hình thức hiện diện dựa trên quyền lực. Để tái khám phá lối tiếp cận Tin Mừng trong việc công bố chân lý cách hiền hòa chứ không áp đặt, thánh Gioan Phaolô II đã mời gọi chúng ta thành thật nhìn lại những thời điểm mà người ta từng dung túng cho “sự bất khoan dung và cả việc sử dụng bạo lực để phục vụ chân lý.”[8] Theo cùng tinh thần ấy, tôi cũng đã khẳng định rằng Hội Thánh “không đòi mình độc quyền chân lý,”[9] bởi chân lý không phải là lãnh thổ cần bảo vệ, nhưng là thiện ích cần được sẻ chia. Đức Giáo hoàng Phanxicô diễn tả cùng một viễn tượng qua câu nói nổi tiếng: “thời gian lớn hơn không gian.”[10] Điều quan trọng nhất không phải là chiếm giữ những vị trí quyền lực hay bảo vệ những pháo đài văn hóa, nhưng là khởi xướng những tiến trình tốt đẹp và giúp chúng trưởng thành. Nhờ đó, chân lý Tin Mừng không bị áp đặt từ bên trên, nhưng lớn lên theo thời gian giữa những đan xen cụ thể của đời sống, cộng đồng và văn hóa. Đó không phải là một chân lý sợ hãi sự khác biệt, nhưng là chân lý đón nhận và hướng dẫn chúng. Chân lý ấy không loại bỏ xung đột, nhưng biến đổi chúng, quy tụ lại những gì lịch sử thường làm phân tán. Hình ảnh khối đa diện (polyhedron)[11] có thể minh họa cho điều này: một chân lý duy nhất của Tin Mừng được phản chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau.
26. Thái độ cởi mở trước chân lý – vừa duy nhất vừa đa dạng – diễn tả sâu xa tính công giáo của Hội Thánh, vì Hội Thánh ôm lấy toàn thể gia đình nhân loại nhưng cũng hiện diện giữa những hoàn cảnh cụ thể của các dân tộc và nền văn hóa. Công đồng Vaticanô II nhắc nhớ rằng chính nhờ tính công giáo này mà “mỗi thành phần đem những ân huệ riêng của mình đóng góp cho các thành phần khác và cho toàn thể Hội Thánh.”[12] Nhờ đó, Hội Thánh tăng trưởng vừa như toàn thể vừa trong từng cộng đoàn riêng lẻ, qua sự trao đổi hỗ tương và những nỗ lực chung hướng đến sự hiệp thông ngày càng viên mãn. Vì thế, Dân Thiên Chúa không chỉ được quy tụ từ nhiều dân tộc, nhưng còn được liên kết bởi nhiều chức năng, ơn gọi, nền văn hóa và truyền thống khác nhau; mỗi thành phần được mời gọi nâng đỡ và làm phong phú cho nhau. Theo viễn tượng này, thánh Phaolô VI nhìn nhận rằng, trước sự đa dạng lớn lao của các hoàn cảnh lịch sử, sẽ là không thực tế nếu nghĩ rằng Học thuyết Xã hội của Hội Thánh có thể đưa ra một giải pháp duy nhất phù hợp cho mọi bối cảnh.[13] Vì thế, ngài mời gọi mỗi cộng đoàn Kitô hữu đọc thực tại của đất nước mình với sự sáng suốt và trách nhiệm. Sự căng thẳng phong phú giữa tính phổ quát của sứ mạng Hội Thánh và cội rễ địa phương của Hội Thánh là một khía cạnh nội tại của đời sống Hội Thánh: Hội Thánh bao trùm toàn thế giới, nhưng đồng thời chạm tới những vấn đề cụ thể của từng bối cảnh như nơi chốn thực sự để Tin Mừng nhập thể.
27. Dưới ánh sáng những điều đã nói, chúng ta có thể hiểu cách xác thực hơn Học thuyết Xã hội của Hội Thánh. Đây không phải là một cẩm nang các nguyên tắc và quy luật để áp dụng máy móc, nhưng là một tiến trình phân định chung. Nó phát sinh từ cuộc gặp gỡ giữa chân lý vĩnh cửu của Tin Mừng và những vấn nạn của lịch sử. Học thuyết ấy để cho mình được chất vấn bởi các dấu chỉ thời đại và được nuôi dưỡng bởi những đóng góp của khoa học, văn hóa và kinh nghiệm nhân loại. Vì thế, khi phẩm giá của anh chị em chúng ta bị xúc phạm, khi chính trị thất bại trong việc đối diện với các bi kịch của nhân loại, khi kinh tế quay lưng chống lại con người hay khi khoa học vượt quá giới hạn của mình,[14] thì Hội Thánh – cùng với các hệ phái Kitô giáo khác và những tín hữu thuộc các tôn giáo khác – phải cất lên tiếng nói của mình, không phải để thống trị nhưng để cổ võ sự hiệp thông. Được hiểu như thế, Học thuyết Xã hội trở thành một thần học về sự hiệp thông trong lịch sử, nơi Ngôi Lời nhập thể tiếp tục hiện diện qua đối thoại, ký ức và lời ngôn sứ.
Sự phát triển của Học thuyết Xã hội từ Đức Lêô XIII đến hôm nay
28. Sau khi phác họa cách thức Hội Thánh hiện diện trong lịch sử và đối thoại với thế giới, giờ đây tôi muốn nhìn lại sự phát triển của Học thuyết Xã hội trong Huấn quyền, vốn đã đáp lại những biến chuyển xã hội lớn lao từ thế kỷ XIX cho tới hôm nay. Dĩ nhiên, tôi không thể trình bày đầy đủ tất cả sự phong phú của giáo huấn này, mà những nguyên tắc nền tảng đã được trình bày trong Toát yếu Học thuyết Xã hội của Hội Thánh và tiếp tục được đào sâu trong các giáo huấn gần đây. Tôi cũng không thể phân tích cách hệ thống tất cả những điều đã được khai triển trong các thông điệp của các vị tiền nhiệm đáng kính, đặc biệt là Laudato Si’ và Fratelli Tutti. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh một vài điểm cốt yếu để cho thấy văn kiện hiện tại đứng trong sự liên tục với truyền thống ấy như thế nào. Đồng thời, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng trong truyền thống ấy, cốt lõi bất biến của các chân lý mặc khải liên quan đến con người và xã hội luôn đan xen với khả năng mới mẻ trong việc lắng nghe hoàn cảnh lịch sử và đáp lại các vấn đề đương đại. Giờ đây, tôi xin điểm qua một vài giai đoạn quan trọng trong tiến trình phát triển này, bắt đầu từ thời kỳ được khai mở bởi Thông điệp Rerum Novarum.
Những giai đoạn đầu tiên của Học thuyết Xã hội Hội Thánh
29. Điều mà hôm nay chúng ta gọi là “Học thuyết Xã hội của Hội Thánh” không phải là sản phẩm tự phát của thời hiện đại. Trái lại, đó là hoa trái của việc tiếp nhận và hệ thống hóa một truyền thống suy tư lâu dài của Hội Thánh về đời sống xã hội, bén rễ trong Thánh Kinh, các Giáo phụ, cũng như những phát triển thần học và pháp lý thời Trung cổ và cận đại. Dù thuật ngữ “Học thuyết Xã hội của Hội Thánh” được Đức Piô XII sử dụng lần đầu vào năm 1950,[15] nội dung của nó đã bắt đầu hình thành như một thân thể giáo huấn xã hội có hệ thống ngay từ Thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII. Đối diện với những “điều mới mẻ” của thời đại mình – xung đột giữa tư bản và lao động, vấn đề công nhân, những biến chuyển kinh tế và xã hội – Đức Lêô XIII không chỉ ghi nhận tình trạng bất ổn, nhưng nhìn thấy nơi đó một lãnh vực cho sứ mạng mục vụ của Hội Thánh. Ngài thực hiện một sự phân định nghiêm túc, soi sáng nguyên nhân và những giải pháp khả thi dưới ánh sáng Tin Mừng và cái nhìn toàn diện về con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Thánh Gioan Phaolô II đã xem lối tiếp cận ấy như một “mô hình trường tồn”[16] của Học thuyết Xã hội: một thực hành mẫu mực, qua đó Hội Thánh – khi đối diện với các biến chuyển lịch sử – thi hành quyền và bổn phận của mình trong việc xem xét các thực tại xã hội, lên tiếng về chúng và chỉ ra những con đường hướng tới các giải pháp công bằng. Nhờ đó, những nội dung trường tồn của đức tin và sự khôn ngoan cổ truyền của Hội Thánh được diễn tả trong một giáo huấn sống động, trung thành với Tin Mừng nhưng vẫn phát triển để đáp lại những “điều mới mẻ” của mọi thời đại.
30. Thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêô XIII là một cột mốc trong sự phát triển giáo huấn xã hội của Hội Thánh. Văn kiện này đặt phẩm giá của lao động và người lao động ở trung tâm suy tư; khẳng định quyền được hưởng mức lương công bằng đủ nuôi sống bản thân và gia đình; nhìn nhận rằng con người có giá trị nền tảng vượt trên tư bản và lợi nhuận; bảo vệ quyền tư hữu cùng vai trò thiết yếu của nó trong xã hội; đề cao các hiệp hội công nhân; và đề xuất những hình thức hợp tác giữa các thành phần xã hội như một giải pháp thay thế cho não trạng đấu tranh giai cấp. Vì thế, không lạ gì khi Đức Piô XI gọi văn kiện này là “Đại Hiến Chương”[17] của hành động xã hội Kitô giáo. Trong Rerum Novarum, sự khôn ngoan cổ truyền của Hội Thánh về con người và đời sống xã hội đã mang lấy một hình thức mới có khả năng đáp lại thời đại công nghiệp và đặt nền cho hệ thống Học thuyết Xã hội sẽ tiếp tục phát triển trong các thập niên sau đó. Dù nhiều hoàn cảnh lịch sử được Đức Lêô XIII mô tả đã thay đổi, ít nhất hai trực giác của ngài vẫn còn nguyên giá trị hôm nay: thứ nhất là tính ưu tiên của lao động con người trên mọi não trạng chỉ chăm chú vào tài chính hay năng suất – cùng với sự quan tâm đặc biệt dành cho những con người và gia đình dễ bị khai thác nhất; thứ hai là mối liên hệ bất khả phân giữa việc loan báo Tin Mừng và việc xây dựng một trật tự xã hội công bằng hơn. Vì thế, Rerum Novarum tiếp tục nhắc nhớ chúng ta rằng không có việc loan báo Tin Mừng đích thực nào lại không chạm đến cả những cơ cấu của xã hội loài người.
31. Thông điệp Quadragesimo Anno của Đức Piô XI được công bố năm 1931, nhân kỷ niệm bốn mươi năm Rerum Novarum, vào đúng thời điểm cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nghiêm trọng đang diễn ra. Văn kiện này đánh dấu một bước phát triển mới trong giáo huấn xã hội của Hội Thánh. Không còn chỉ giới hạn ở “vấn đề lao động,” thông điệp mở rộng suy tư sang toàn bộ cơ cấu của trật tự kinh tế và chính trị. Thông điệp lên án việc tập trung quyền lực kinh tế vào tay một số ít người; phê phán cả cạnh tranh vô giới hạn lẫn các dự án tập thể chủ nghĩa làm tổn hại tự do và trách nhiệm cá nhân; mạnh mẽ khẳng định quyền của người lao động được liên kết; và nhắc lại rằng tiền lương phải tương xứng không chỉ với công việc đã làm nhưng còn với nhu cầu của người lao động và gia đình họ. Trong bối cảnh ấy, Đức Piô XI đã trình bày cách có hệ thống nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), vốn sẽ trở thành một trong những nền tảng của Học thuyết Xã hội. Theo nguyên tắc này, những gì cá nhân, gia đình, các tổ chức trung gian và cộng đồng địa phương có thể đảm nhận thì không nên bị cấp cao hơn tước lấy. Bên cạnh đó, trong nhiều văn kiện huấn quyền khác – từ các thông điệp Non Abbiamo Bisogno và Mit Brennender Sorge cho đến Divini Redemptoris – Đức Piô XI đã nhắc lại vai trò xã hội của quyền tư hữu và lên án những hình thức toàn trị chà đạp phẩm giá con người, bóp nghẹt đời sống xã hội, tôn thờ Nhà nước quá mức và kỳ thị chủng tộc. Có ít nhất ba trực giác trong giáo huấn xã hội của ngài vẫn còn rất xác đáng hôm nay: nhận thức rằng bất công không chỉ hệ tại ở hành vi cá nhân mà còn nằm trong các cơ cấu kinh tế và thể chế; tầm quan trọng của nguyên tắc bổ trợ, vốn đòi hỏi phải củng cố mạng lưới các hiệp hội và cộng đồng thay vì tiếp tục tập trung quyền lực; và mối liên hệ giữa phẩm giá lao động, tiền lương công bằng với khả năng thật sự để gia đình sống một đời sống xứng hợp nhân phẩm.
32. Trong bối cảnh bi thảm của Thế chiến thứ hai và những năm tái thiết sau đó, giáo huấn của Đức Piô XII đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của Học thuyết Xã hội. Điều này đặc biệt rõ nơi các sứ điệp Giáng Sinh phát thanh của ngài, trong đó Đức Giáo hoàng phác họa một trật tự quốc tế đặt nền trên công lý, hòa bình và việc nhìn nhận phẩm giá con người. Trong các sứ điệp ấy, ngài đề xuất một cuộc đối thoại với xã hội dựa trên luật tự nhiên, được hiểu như tập hợp những nguyên tắc khách quan vượt lên trên lợi ích của cá nhân và quốc gia, và phải điều chỉnh cả đời sống nội bộ của các dân tộc lẫn tương quan giữa họ với nhau. Đức Piô XII cũng trao một vai trò quyết định cho các hiệp hội nghề nghiệp, công đoàn và những tổ chức trung gian khác trong đời sống kinh tế – xã hội. Ngài xem các hình thức tổ chức này là bảo đảm thiết yếu cho sự quân bình dân sự và cho việc bảo vệ công ích. Ngài khẳng định sự cần thiết của một nhà nước pháp quyền lành mạnh để ngăn chặn lạm dụng quyền lực, đồng thời nhìn nhận nền dân chủ như phương thế bảo đảm việc thi hành quyền bính cách chính đáng. Tuy nhiên, ngài cũng cảnh báo chống lại mọi cố gắng đặt nền luật pháp trên lợi ích hay sức mạnh, nhắc rằng một trật tự quốc tế vận hành theo ưu thế của kẻ mạnh sẽ khiến các dân tộc yếu hơn bị áp bức và làm xói mòn tận gốc sự tín nhiệm giữa các quốc gia. Sau cùng, Đức Piô XII nhận ra những mất cân bằng kinh tế sâu sắc giữa các nước như một trong những nguyên nhân làm bùng nổ xung đột.[18] Ba định hướng trong giáo huấn của ngài vẫn đặc biệt ý nghĩa cho thời đại chúng ta, đang bị đánh dấu bởi những hình thức quyền lực toàn cầu mới và các bất bình đẳng ngày càng gia tăng: sự cần thiết để luật pháp vượt lên trên lợi ích; nhận thức rằng chênh lệch kinh tế là mảnh đất nuôi dưỡng căng thẳng và bạo lực; và nhu cầu về một mạng lưới các tổ chức trung gian có khả năng kết nối cá nhân với Nhà nước. Những định hướng này tiếp tục cung cấp các tiêu chuẩn quan trọng giúp Học thuyết Xã hội giải thích các động lực của toàn cầu hóa và cổ võ một trật tự quốc tế công bằng, hòa bình hơn.
Những năm của Công đồng Vaticanô II
33. Một giai đoạn mới trong giáo huấn xã hội của Hội Thánh bắt đầu với thánh Gioan XXIII, vị giáo hoàng đặt nhấn mạnh hơn vào chiều kích toàn cầu của các vấn đề xã hội và ngôn ngữ về quyền con người. Trong Mater et Magistra, ngài trình bày đức tin Kitô giáo như ánh sáng có khả năng nối kết trời với đất. Ngài nhắc rằng, dù sứ mạng chính yếu của Hội Thánh là thánh hóa và loan báo các thực tại vĩnh cửu, Hội Thánh vẫn không bỏ quên những nhu cầu cụ thể của đời sống thường nhật và quan tâm đến mọi thiện ích đích thực của con người.[19] Dựa trên cái nhìn thống nhất ấy về con người, Đức Gioan XXIII nhấn mạnh rằng đời sống xã hội đòi hỏi một sự quân bình giữa sáng kiến của công dân và các tổ chức – những người được mời gọi tự tổ chức và cộng tác với nhau – với hành động của Nhà nước, vốn phải điều phối và nâng đỡ mà không bóp nghẹt tự do và trách nhiệm của con người. Vì thế, ngài nhấn mạnh đến việc trả lương công bằng, sự tham gia của người lao động và khoảng cách ngày càng gia tăng giữa các quốc gia. Vài năm sau, trong Pacem in Terris, Đức Gioan XXIII lần đầu tiên không chỉ ngỏ lời với các tín hữu nhưng còn với “mọi người thiện chí,” nối kết cách hệ thống phẩm giá con người với việc nhìn nhận các quyền và bổn phận căn bản, đồng thời đề xuất một định hướng cho xã hội – kể cả ở cấp quốc tế – dựa trên chân lý, công lý, tình yêu và tự do.[20] Trong thế giới hôm nay, đang bị đánh dấu bởi xung đột lan rộng và những hình thức lệ thuộc toàn cầu mới, những điểm sau trong tư tưởng của ngài vẫn đặc biệt quan trọng: cái nhìn mang tính phổ quát; việc quy chiếu tới nhân quyền như một khuôn khổ chung; và niềm xác tín rằng hòa bình bền vững đòi hỏi những thể chế và tương quan giữa các dân tộc được xây dựng trên phẩm giá của mỗi con người.
34. Công đồng Vaticanô II đánh dấu một bước ngoặt trong cách Hội Thánh hiểu chính mình giữa thế giới hiện đại. Trong Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, Công đồng trình bày hình ảnh một Hội Thánh gần gũi với nhân loại, dấn thân vào thế giới và quyết tâm suy tư trên những hoàn cảnh lịch sử cụ thể thay vì những khái niệm trừu tượng. Văn kiện đề cập đến những vấn đề lớn như hôn nhân và gia đình, đời sống kinh tế và xã hội, cộng đồng chính trị, chiến tranh và hòa bình. Công đồng nhấn mạnh rằng các cơ cấu kinh tế và thể chế chỉ công bằng khi chúng phục vụ sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy sự tham gia có trách nhiệm của mọi người.[21] Tầm quan trọng của văn kiện này đối với Học thuyết Xã hội không chỉ nằm ở việc mở ra những chân trời mới cho suy tư, nhưng còn ở phương pháp phân định: mời gọi giải thích các biến đổi lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng và chuyên môn nhân loại. Phương pháp ấy cho thấy đối thoại với thế giới không phải là một chiến lược nhất thời của Hội Thánh, nhưng là diễn tả cụ thể sứ mạng của Hội Thánh, bởi Tin Mừng, như men trong bột, có khả năng biến đổi các cơ cấu xã hội từ bên trong và mở ra những con đường dẫn tới nhân tính đích thực hơn. Trong cùng bối cảnh ấy, có thể kể thêm Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, trong đó Công đồng nhìn nhận tự do tôn giáo như một quyền căn bản đặt nền trên phẩm giá con người và phải được pháp luật bảo vệ, để không ai bị ép buộc hành động trái lương tâm hoặc bị cản trở trong việc tìm kiếm và tuyên xưng chân lý, cả nơi riêng tư lẫn công khai.[22] Nguyên tắc này rất thiết thực ngày nay và tiếp tục cung cấp cho Học thuyết Xã hội những tiêu chuẩn quyết định để bảo vệ con người cũng như xây dựng các xã hội đa nguyên và hòa bình.
35. Trong triều đại của thánh Phaolô VI, một quan niệm mới về hòa bình đã xuất hiện: hòa bình không còn chỉ được hiểu như sự vắng bóng chiến tranh, nhưng được hình thành trong viễn tượng phát triển toàn diện con người. Trong Populorum Progressio, ngài mô tả sự phát triển như cuộc chuyển mình từ những điều kiện sống kém nhân bản sang những điều kiện sống nhân bản hơn. Hơn nữa, ngài hiểu sự phát triển ấy như một tiến trình liên hệ đến “mỗi người và toàn thể con người,”[23] nghĩa là bao gồm mọi chiều kích của con người và tất cả mọi người không trừ ai. Vì thế, Đức Phaolô VI có thể khẳng định rằng sự phát triển được hiểu như vậy thật sự là “tên gọi mới của hòa bình,”[24] bởi nó nhắm loại bỏ tận gốc những nguyên nhân của bất công và xung đột, đồng thời tạo điều kiện cho một đời sống xứng hợp nhân phẩm dành cho tất cả mọi người. Việc thành lập Ủy ban Giáo hoàng Iustitia et Pax cũng cần được hiểu dưới ánh sáng này như một nỗ lực nhằm đem lại hình thức bền vững cho trực giác ấy ở cấp Giáo hội và quốc tế, trong khi ý thức về khoảng cách ngày càng lớn giữa các nước giàu và nghèo cùng nhu cầu cần có những chính sách thực sự cổ võ điều kiện sống nhân bản hơn cho mọi dân tộc.
36. Trong Octogesima Adveniens, được viết nhân dịp kỷ niệm tám mươi năm Rerum Novarum, Đức Phaolô VI áp dụng viễn tượng ấy vào xã hội hậu công nghiệp, bị đánh dấu bởi đô thị hóa, những hình thức nghèo đói mới và những thay đổi văn hóa mau lẹ đặt vấn đề về tương lai của cá nhân cũng như cộng đồng. Đức Phaolô VI tin rằng, dù Tin Mừng được công bố, viết ra và sống trong một bối cảnh lịch sử – văn hóa rất khác với thời đại chúng ta, sứ điệp của Tin Mừng không hề “lỗi thời.”[25] Trái lại, Tin Mừng vẫn cung cấp một cái nhìn về con người, các tương quan, quyền bính và công ích có khả năng hướng dẫn các chọn lựa kinh tế, chính trị và văn hóa hôm nay. Nói cách khác, Tin Mừng vẫn luôn phù hợp vì cung cấp các tiêu chí để nhận ra điều gì nhân hóa hay phi nhân hóa, điều gì giải phóng hay áp bức trong các hoàn cảnh luôn thay đổi. Đối với Học thuyết Xã hội của Hội Thánh, di sản đầy đòi hỏi nhất của Đức Phaolô VI chính là điều này: bao lâu trên thế giới còn có những con người bị loại trừ khỏi sự phát triển xứng hợp với phẩm giá nhân loại, thì cộng đồng Kitô hữu không thể hài lòng với một lời loan báo hòa bình chỉ mang tính lý thuyết. Nhưng khởi đi từ những nơi con người bị gạt ra bên lề, cộng đồng ấy phải để cho Tin Mừng phán xét những cơ cấu kinh tế và chính trị vốn – như thánh Gioan Phaolô II sau này nhắc lại – có thể trở thành những “cơ cấu tội lỗi.”[26] Nhờ đó, sẽ không còn cá nhân hay dân tộc nào bị xem là có thể hy sinh trong các tiến trình phát triển.
Huấn quyền gần đây
37. Giáo huấn xã hội phong phú của thánh Gioan Phaolô II xuất hiện giữa cuộc khủng hoảng của các hệ tư tưởng lớn trong thế kỷ XX và sự khởi đầu của toàn cầu hóa kinh tế. Thông điệp Laborem Exercens, được công bố nhân dịp chín mươi năm Rerum Novarum, đã mở ra một hướng suy tư mới về lao động. Văn kiện xem tiền lương công bằng là tiêu chuẩn cụ thể để kiểm chứng tính chính đáng của toàn bộ hệ thống kinh tế – xã hội, bởi nó cho thấy người lao động được đối xử như một nhân vị hay chỉ như một chi phí sản xuất.[27] Lao động không còn bị xem đơn thuần như một vấn đề cần giải quyết hay phương tiện tạo thu nhập, nhưng như một thiện ích nền tảng cho con người, nguyên lý của hoạt động kinh tế và chìa khóa của toàn bộ vấn đề xã hội. Qua lao động, con người thực thi tự do, óc sáng tạo và khả năng cộng tác của mình, đồng thời góp phần nâng cao đời sống văn hóa và luân lý của xã hội.[28] Dưới ánh sáng ấy, những hình thức bấp bênh nghề nghiệp, những con đường nghề nghiệp bị phân mảnh và tiến trình tự động hóa không thể chỉ được đánh giá theo hiệu quả, nhưng phải dựa trên phẩm giá của người lao động, quyền được hưởng mức lương xứng đáng và khả năng thực sự tham gia vào đời sống xã hội.
38. Với thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, nhân dịp hai mươi năm Populorum Progressio, thánh Gioan Phaolô II nhìn lại thảm trạng của tình trạng chậm phát triển. Ngài nhìn nhận sự thất bại của nhiều nỗ lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế cho các dân tộc nghèo và giúp họ công nghiệp hóa, đồng thời ghi nhận khoảng cách dai dẳng, thậm chí ngày càng lớn, giữa Bắc và Nam thế giới.[29] Ngài cũng lên án những cơ chế kinh tế, tài chính và thương mại mà, dưới sự điều hành của các nền kinh tế mạnh nhất, đã cơ cấu hóa việc bảo vệ quyền lợi riêng của họ trong khi bóp nghẹt các nền kinh tế yếu hơn; và ngài yêu cầu những cơ chế ấy phải được đặt dưới sự phán xét nghiêm túc về mặt luân lý chứ không chỉ thuần túy kỹ thuật.[30] Trong bối cảnh đó, liên đới được hiểu như trách nhiệm cụ thể và chung của các cá nhân, dân tộc và quốc gia – một hình thức tình bạn xã hội hay bác ái chính trị hướng đến “nền văn minh tình thương” mà Đức Phaolô VI từng đề nghị.[31]
39. Nhân kỷ niệm một trăm năm Rerum Novarum, thông điệp Centesimus Annus đưa ra suy tư về sự sụp đổ của hệ thống Xô Viết và sự trỗi dậy của nền dân chủ cùng kinh tế thị trường. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại giáo huấn của Đức Piô XII rằng Hội Thánh đánh giá cao nền dân chủ khi nó bảo đảm sự tham gia thực sự của người dân, cho phép họ bầu chọn và thay đổi các nhà lãnh đạo cách hòa bình, đồng thời ngăn chặn việc quyền lực bị độc quyền bởi những nhóm thiểu số theo đuổi lợi ích riêng hay ý thức hệ.[32] Tương tự, Hội Thánh nhìn nhận tiềm năng tích cực của thị trường và sáng kiến tư nhân chỉ khi chúng vẫn lệ thuộc luật luân lý và được hướng dẫn bởi nguyên tắc liên đới, không hy sinh những người yếu thế cho logic lợi nhuận.[33] Đây là một di sản đặc biệt quan trọng mà Học thuyết Xã hội để lại: việc khẳng định mối liên hệ giữa phẩm giá lao động, sự liên đới giữa các dân tộc, và sự đánh giá có phê phán đối với dân chủ cũng như kinh tế thị trường tiếp tục cung cấp các tiêu chuẩn để phân định những hình thức khai thác, loại trừ và khủng hoảng đại diện chính trị mới hôm nay.
40. Trong thông điệp xã hội Caritas in Veritate, Đức Bênêđictô XVI muốn tái thẩm định và mở rộng khái niệm phát triển được trình bày trong Populorum Progressio, bằng cách giải thích nó dưới ánh sáng của toàn cầu hóa. Ngài lưu ý rằng sự phát triển ấy phải trở thành “một sự tăng trưởng đích thực, mang lại lợi ích cho mọi người và thực sự bền vững.”[34] Nghĩa là một tiến bộ kinh tế vừa bao trùm mọi người vừa tôn trọng những giới hạn của công trình tạo dựng. Tuy nhiên, ngài cũng nhấn mạnh rằng trong các quốc gia giàu có đang xuất hiện những hình thức nghèo đói mới và những kiểu loại trừ chưa từng có, trong khi ở các vùng nghèo, một số ít người sống trong sự dư thừa tiêu thụ bên cạnh những hoàn cảnh nghèo đói phi nhân hóa.[35] Hơn nữa, ngài nhận thấy hệ thống kinh tế và tài chính toàn cầu mới, với sự dịch chuyển lớn lao của vốn và phương tiện sản xuất, đã làm suy giảm quyền lực chính trị của các quốc gia và khả năng ảnh hưởng của họ trên các tiến trình kinh tế.[36] Vì thế, Đức Bênêđictô XVI nhắc lại rằng hoạt động kinh tế không thể tự cho mình giải quyết các vấn đề xã hội chỉ bằng việc mở rộng não trạng thương mại, nhưng phải được quy hướng về công ích, điều mà cộng đồng chính trị giữ một trách nhiệm không thể thay thế.[37]
41. Đức Bênêđictô XVI đặt bác ái ở trung tâm suy tư của mình, khẳng định rằng bác ái “là cốt lõi của Học thuyết Xã hội Hội Thánh,”[38] với điều kiện bác ái ấy luôn gắn liền với chân lý. Ngài cũng bày tỏ mối lo ngại trước xu hướng loại bỏ chiều kích luân lý ngay trong các lãnh vực xã hội, pháp lý, chính trị và kinh tế. Điểm độc đáo trong đóng góp của ngài là cho thấy rằng phát triển, công lý, các thể chế và thị trường không phải là những thực tại trung tính, nhưng là những không gian nơi bác ái trong chân lý phải được diễn tả cụ thể trong lịch sử. Giáo huấn này đặc biệt thích hợp cho thời đại hôm nay, giữa lúc bất bình đẳng ngày càng gia tăng, áp lực của thị trường tài chính, khủng hoảng môi trường và sự mất lòng tin vào chính trị. Đây là lời mời gọi đánh giá mọi mô hình phát triển dựa trên khả năng bao gồm mọi người và tính bền vững của chúng; tái lập mối tương quan giữa kinh tế và chính trị trên nền tảng công ích; đồng thời nhìn nhận vai trò phê phán và khai mở của đức bác ái trong đời sống công cộng.
42. Giáo huấn xã hội của Đức Giáo hoàng Phanxicô phát triển theo đường hướng của Gaudium et Spes, vốn mời gọi chúng ta nhìn lịch sử qua lăng kính những hy vọng và mong manh của con người, rồi đưa chúng vào cuộc đối thoại với Tin Mừng. Cách tiếp cận này xuất hiện đặc biệt rõ trong Evangelii Gaudium, nơi ngài khẳng định rằng việc loan báo Kitô giáo tự bản chất mang chiều kích xã hội và mời gọi một Hội Thánh biết lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, người di dân và các nạn nhân của những hình thức nô lệ mới. Sự nhấn mạnh của Đức Phanxicô về một Hội Thánh hiệp hành, một Hội Thánh “cùng bước đi,” biết đọc các dấu chỉ thời đại dưới ánh sáng Tin Mừng và để cho mình được loan báo Tin Mừng bởi chính người nghèo – những người mà Hội Thánh cùng chia sẻ lịch sử – cũng nằm trong cùng viễn tượng ấy.[39]
43. Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô đã trình bày cách có hệ thống đầu tiên về cuộc khủng hoảng môi trường trong một thông điệp xã hội, cho thấy đây không phải là một vấn đề tách biệt, nhưng là chiều kích sinh thái của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội đương đại. Đề nghị của ngài về một “sinh thái học toàn diện” kết hợp việc chăm sóc ngôi nhà chung với sự ưu tiên dành cho người nghèo, đồng thời mạnh mẽ khẳng định rằng “tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo”[40] không thể tách rời nhau. Trong ánh sáng ấy, nguyên tắc đích đến phổ quát của của cải được đặt ở vị trí trung tâm, cùng với việc phê phán mô hình kỹ trị muốn giản lược mọi sự thành đối tượng để thống trị; việc bảo vệ lao động con người đang bị đe dọa bởi nền văn hóa loại bỏ; và nhu cầu về công bằng giữa các thế hệ. Sau cùng, ngài cổ võ một cuộc đối thoại chân thành giữa lãnh vực chính trị và tài chính, để không bên nào tự khép kín trong chính mình.
44. Đối diện với sự tan rã của các mối dây xã hội, một “cuộc thế chiến từng phần,” chủ nghĩa toàn cầu hóa cá nhân chủ nghĩa và tác động của đại dịch trên tình hiệp thông cộng đồng, Đức Phanxicô trong Fratelli Tutti đã tìm cách khơi lại giấc mơ về một nhân loại biết chọn tình bằng hữu xã hội và tình huynh đệ phổ quát. Ngài đề xuất một nền văn hóa gặp gỡ, một “nền chính trị tốt đẹp hơn” biết tìm kiếm công ích, những con đường hòa giải và một thế giới bảo đảm “đất đai, nhà ở và công việc cho mọi người.”[41] Sau cùng, trong Dilexit Nos, ngài cho thấy rằng những dấn thân xã hội lớn lao ấy không thể tách rời khỏi mối tương quan cá vị với Đức Kitô. Quay về với Lời Chúa, ngài nhắc rằng câu trả lời chân thật nhất cho tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu chính là tình yêu cụ thể dành cho anh chị em mình, và khẳng định rằng “không có cách nào lớn lao hơn để đáp lại tình yêu bằng tình yêu.”[42]
Giải thích lịch sử dưới ánh sáng đức tin
45. Khi nhìn lại hành trình lịch sử này, chúng ta thấy rõ rằng Học thuyết Xã hội của Hội Thánh không phải là kết quả của một dự án được hình thành nơi bàn giấy, nhưng là thành quả của một tiến trình kiên nhẫn, trong đó mỗi vị giáo hoàng – cùng với Công đồng Vaticanô II – đã đóng góp nét riêng của mình trước những “điều mới mẻ” của từng thời đại. Đáp lại các thách đố của thời mình, mỗi vị đã giải thích những biến chuyển lịch sử dưới ánh sáng Tin Mừng, làm nổi bật những khía cạnh khác nhau của cùng một gia sản: phẩm giá con người, giá trị của lao động, đích đến phổ quát của của cải, tình liên đới và nguyên tắc bổ trợ, việc chăm sóc công trình tạo dựng, cũng như vị trí trung tâm của hòa bình và tình huynh đệ. Kết quả là một sự phát triển hài hòa – dù không phải lúc nào cũng tuyến tính – được đánh dấu bởi những nhấn mạnh khác nhau, những trực giác ngày càng sâu sắc hơn và đôi khi cả những thay đổi trong cách tiếp cận, nhưng không phá vỡ truyền thống trước đó mà giúp những hệ quả của truyền thống ấy được trưởng thành. Nếu hôm nay chúng ta có thể nói đến một thân thể chung gồm những nguyên tắc và tiêu chuẩn, thì đó là bởi sự giải thích lịch sử trong đức tin này chưa bao giờ bị gián đoạn, nhưng luôn rộng mở trước những thách đố mà mỗi thế hệ đặt ra. Chính những nguyên tắc lớn của Học thuyết Xã hội – vốn hướng dẫn việc phân định của các tín hữu trong đời sống cá nhân và công cộng – là điều giờ đây tôi muốn hướng sự chú ý của chúng ta tới, để có thể hiểu sâu hơn sự nhất quán nội tại cũng như khả năng soi sáng thời đại hôm nay của chúng.
[1] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 183: AAS 105 (2013), 1097.
[2] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 36: AAS 58 (1966), 1054; cf. Decree on the Apostolate of the Laity Apostolicam Actuositatem, 7: AAS 58 (1966), 843-844.
[3] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 44: AAS 58 (1966), 1065.
[4] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 257; AAS 105 (2013), 1123.
[5] Saint John Paul II, Apostolic Letter issued “Motu Proprio” Socialium Scientiarum (1 January 1994): AAS 86 (1994), 209.
[6] Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 61: AAS 107 (2015), 871.
[7] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 41: AAS 80 (1988), 570-572.
[8] Saint John Paul II, Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), 35: AAS 87 (1995), 27.
[9] Address to the Members of the “Centesimus Annus Pro Pontifice” Foundation (17 May 2025): AAS 117 (2025), 696.
[10] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 222: AAS 105 (2013), 1111.
[11] Cf. ibid., 236: AAS 105 (2013), 1115; Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 215: AAS 112 (2020), 1045-1046.
[12] Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution Lumen Gentium, 13: AAS 57 (1965), 17.
[13] Cf. Saint Paul VI, Apostolic Letter Octogesima Adveniens (14 May 1971), 4: AAS 63 (1971), 403.
[14] Cf. Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 243: AAS 105 (2013), 1118.
[15] Cf. Pius XII, Apostolic Exhortation Menti Nostrae (23 September 1950): AAS 42 (1950), 657-702.
[16] Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 5: AAS 83 (1991), 799.
[17] Pius XI, Encyclical Letter Quadragesimo Anno (15 May 1931), 39: AAS 23 (1931), 189; cf. Pius XII, Radio Message on the 50th Anniversary of “Rerum Novarum”: AAS 33 (1941), 198.
[18] Cf. Pius XII, Address to the Sacred College of Cardinals and the Roman Prelature (24 December 1940): AAS 33 (1941), 13.
[19] Cf. Saint John XXIII, Encyclical Letter Mater et Magistra (15 May 1961), 2-3: AAS 53 (1961), 402.
[20] Cf. Saint John XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris (11 April 1963), 87: AAS 55 (1963), 301.
[21] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes , 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.
[22] Cfr. Second Vatican Ecumenical Council, Declaration Dignitatis Humanae, 2: AAS 58 (1966), 930-931.
[23] Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 14: AAS 59 (1967), 264.
[24] Ibid ., 76: AAS 59 (1967), 299.
[25] Cf. Saint Paul VI, Apostolic Letter Octogesima Adveniens (14 May 1971), 4-7: AAS 63 (1971); 404-406.
[26] Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 36: AAS 80 (1988), 561.
[27] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens (14 September 1981), 19: AAS 73 (1981), 625-629.
[28] Cf. ibid, 10: AAS 73 (1981), 600-602.
[29] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 14: AAS 80 (1988), 526-528.
[30] Cf. ibid., 16: AAS 80 (1988), 531.
[31] Cf. ibid., 31-33: AAS 80 (1988), 555-559.
[32] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 46: AAS 83 (1991), 850-851.
[33] Cf. ibid., 42: AAS 83 (1991), 844-846.
[34] Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 21: AAS 101 (2009), 656.
[35] Cf. ibid., 22: AAS 101 (2009), 657.
[36] Cf. ibid., 24: AAS 101 (2009), 658-659.
[37] Cf. ibid., 36: AAS 101 (2009), 671-672.
[38] Ibid., 2: AAS 101 (2009), 642
[39] Cf. Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 198: AAS 105 (2013), 1103.
[40] Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 49: AAS 107 (2015), 866.
[41] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 127: AAS 112 (2020), 1013.
[42] Francis, Encyclical Letter Dilexit Nos (24 October 2024), 167: AAS 116 (2024), 1421.
[Bản dịch tham khảo - lưu hành nội bộ]

