
CHƯƠNG HAI
NỀN TẢNG VÀ CÁC NGUYÊN TẮC
NƠI HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA HỘI THÁNH
46. Học thuyết Xã hội của Hội Thánh là một thực tại sống động, luôn đối thoại với lịch sử, văn hóa và khoa học. Đồng thời, nó cũng gìn giữ một cốt lõi gồm những chân lý bất biến. Vì thế, học thuyết này có thể được xem như một hình thức khôn ngoan có khả năng hướng dẫn đời sống cá nhân và xã hội của các tín hữu ngay trong thời đại hôm nay. Trong chương thứ hai này, tôi muốn tập trung vào một vài nền tảng và nguyên tắc của Học thuyết Xã hội, những yếu tố sẽ giúp chúng ta giải thích “những điều mới mẻ” của thời đại, đặc biệt trong ánh sáng của phẩm giá vốn có nơi con người. Để bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tôi nghĩ rằng hôm nay chúng ta cần một lần nữa suy tư về công ích, đích đến phổ quát của của cải, nguyên tắc bổ trợ, tình liên đới và công bằng xã hội. Tôi xác tín rằng một tương quan hài hòa giữa các nguyên tắc này đòi hỏi chúng phải được xem xét trong toàn thể của chúng, để thấy rõ chúng liên kết và bổ túc cho nhau như thế nào.
47. Khi đưa ra những suy tư này, trước hết tôi hy vọng giúp các giáo dân và mọi người thiện chí tái khám phá bổn phận của mình trong việc thực thi các nguyên tắc nói trên vào đời sống hằng ngày, trong tương quan gia đình, công việc và sự dấn thân xã hội. Nhờ đó, họ sẽ để cho mình được thúc đẩy bởi khát vọng làm cho tình yêu Thiên Chúa trở nên hữu hình trong những biến cố cụ thể của cuộc sống. Đồng thời, tôi cũng muốn khuyến khích các học viện và đại học mang lại sức sống mới cho các nguyên tắc ấy và áp dụng chúng cách thích đáng, hiệu quả trước cuộc cách mạng kỹ thuật số. Nhờ vậy, các nghiên cứu thần học và triết học sẽ có thể tiếp tục đào sâu và nâng đỡ hành trình mục vụ của Hội Thánh, đồng thời góp phần vào nhiệm vụ của Huấn quyền trong việc soi sáng lương tâm các tín hữu và hướng dẫn những nỗ lực nhằm làm cho đời sống xã hội trở nên công bằng và huynh đệ hơn.
Những nền tảng của Học thuyết Xã hội
Con người: hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi
48. Học thuyết Xã hội của Hội Thánh đưa chúng ta vào chính trung tâm đức tin của mình: mầu nhiệm Thiên Chúa hằng sống, được mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng – như sự hiệp thông của Ba Ngôi Vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – chính là Tình Yêu trong tương quan, được biểu lộ qua sự tự hiến và chia sẻ với thế giới.[1] Như Công đồng đã nhắc nhớ, con người được mời gọi hiệp thông với Thiên Chúa và “chỉ có thể thực sự tìm thấy chính mình qua sự trao hiến chân thành.”[2] Thật vậy, ơn gọi sâu xa nhất của con người là bước vào chính động lực tình yêu Ba Ngôi: tình yêu được lãnh nhận và được trao ban.
49. Nếu mầu nhiệm Thiên Chúa là Tình Yêu chính là nguồn mạch của Học thuyết Xã hội, thì sự diễn tả cụ thể nhất của mầu nhiệm ấy chính là dung nhan Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể. Khi trở thành con người, Con Thiên Chúa bước vào lịch sử chúng ta và mang lấy xác phàm nhân loại, đem theo tình yêu liên kết Người với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Nơi Người, “mầu nhiệm con người thật sự được sáng tỏ,”[3] bởi nhân tính của Người hoàn toàn tự do, mở ra với tha nhân, có khả năng xây dựng những tương quan lành mạnh và tốt đẹp, đồng thời dấn thân hiến trao trọn vẹn chính mình. Những ai tin vào Người được tham dự vào công trình canh tân vĩ đại khởi đi từ mầu nhiệm thương khó, tử nạn và phục sinh của Người, đồng thời cộng tác xây dựng Nước Thiên Chúa bằng cách học biết đón nhận mọi người như anh chị em, con cùng một Cha. Nhờ đó, cả việc loan báo Tin Mừng lẫn đời sống Kitô hữu – được hướng dẫn bởi hoạt động của Chúa Thánh Thần – đều mang đến những hệ quả xã hội cụ thể trong thế giới.[4]
50. Ở trung tâm của cái nhìn Kitô giáo về con người là khẳng định vĩ đại của Kinh Thánh rằng con người được dựng nên theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi (x. St 1,26-27). Được tạo dựng cho tương quan, mỗi người đều được Thiên Chúa dự định và mong muốn bước vào sự hiệp thông với Người, với tha nhân và với công trình tạo dựng. Phẩm giá con người không tùy thuộc vào khả năng, của cải hay địa vị xã hội, cũng không lệ thuộc vào những chọn lựa đúng sai mà họ đã thực hiện; trái lại, phẩm giá ấy là một hồng ân đi trước và vượt lên trên mỗi cá nhân, được Thiên Chúa ban như diễn tả tình yêu không bao giờ thay đổi của Người. Vì thế, con người luôn luôn là “con đường của Hội Thánh”[5] và là trung tâm của mọi hành trình phát triển nhân bản toàn diện đích thực.[6]
Phẩm giá bình đẳng của mọi con người
51. Thánh Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng: “Sự ý thức ngày càng sâu sắc về phẩm giá con người và tính độc nhất của mỗi cá vị, cũng như sự tôn trọng phải có đối với hành trình lương tâm của họ, chắc chắn là một trong những thành quả tích cực của nền văn hóa hiện đại.”[7] Khẳng định này tiếp nối đường hướng mà Công đồng Vaticanô II đã mở ra khi ghi nhận sự gia tăng trong việc nhìn nhận phẩm giá cao cả của mọi người, sự vượt trội của con người trên các thực tại vật chất, cũng như những quyền và bổn phận phổ quát, bất khả xâm phạm của họ.[8] Điều quan trọng là phải bảo đảm rằng sự phát triển trong nhận thức về phẩm giá con người không bị che mờ bởi áp lực của những ý thức hệ mới hay những quyền lợi quá mạnh mẽ trong thế giới hôm nay. Trong số các ý thức hệ ấy, tôi đặc biệt xem là nguy hiểm thứ quan niệm cho rằng mỗi người phải “kiếm lấy” hoặc “chứng minh” giá trị của mình, đến mức gán cho những người hiệu quả và thành công hơn một giá trị lớn hơn. Theo cách nhìn ấy, con người bị giản lược thành phương tiện để đạt kết quả, thành nguồn lực để sử dụng và khai thác, thay vì được nhìn nhận như một cùng đích tự thân, không bao giờ được phép bị công cụ hóa. Tuy nhiên, giá trị của con người không lệ thuộc vào những gì họ đạt được hay sản xuất được. Có những quyền thuộc về mỗi người chỉ vì họ là con người, và không một quyền lực nhân loại nào có thể chính đáng phủ nhận hay tùy tiện giới hạn các quyền ấy.[9]
52. Khi nói đến phẩm giá, chúng ta không phải lúc nào cũng dùng từ ấy theo cùng một nghĩa. Đôi khi, chúng ta nói đến phẩm giá luân lý, tức cách một người định hướng các chọn lựa và hành động của mình. Khi khác, chúng ta nghĩ đến phẩm giá xã hội, liên quan đến điều kiện sống và sự tôn trọng cụ thể mà xã hội dành cho một người. Cũng có lúc chúng ta đề cập đến phẩm giá hiện sinh, nghĩa là cách một người cảm nhận giá trị của bản thân và ý nghĩa cuộc sống. Những khía cạnh này của phẩm giá có thể được gia tăng hoặc bị suy giảm. Tuy nhiên, vượt trên tất cả là một cấp độ sâu xa và quan trọng hơn: phẩm giá hữu thể học. Đây là phẩm giá thuộc về mỗi con người chỉ vì họ hiện hữu, vì họ được Thiên Chúa muốn có, tạo dựng và yêu thương.[10] Không một tội lỗi, thất bại, sự sỉ nhục hay loại trừ nào có thể làm suy giảm giá trị sâu thẳm của một sự sống mà Thiên Chúa đã muốn và gọi vào hiện hữu.[11]
53. Vì thế, phẩm giá nền tảng của mỗi con người không phải là điều giành lấy hay nhận được, cũng không cần phải được biện minh. Phẩm giá ấy đơn giản là một hồng ân. Tuyên ngôn Dignitas Infinita gần đây đã tóm lược tư tưởng của Hội Thánh về vấn đề này như sau: “Mỗi con người sở hữu một phẩm giá vô hạn, được đặt nền cách bất khả nhượng trong chính hữu thể của mình, phẩm giá ấy tồn tại trong và vượt trên mọi hoàn cảnh, tình trạng hay hoàn cảnh mà người ấy có thể gặp phải.”[12] Nói cách khác, phẩm giá ấy luôn luôn hiện hữu và không có ngoại lệ. Phẩm giá của mỗi con người có thể được gọi là “vô hạn,” như thánh Gioan Phaolô II từng nói,[13] vì hai lý do: trước hết, bởi tình yêu của Thiên Chúa – Đấng gọi chúng ta vào tình bạn với Người – là vô hạn; và secondly, vì tình yêu ấy hoàn toàn vô điều kiện, đến mức dù chúng ta tìm kiếm mãi, chúng ta cũng sẽ không bao giờ tìm thấy điều gì có thể xóa bỏ hay phủ nhận nó.
Giá trị tối thượng của nhân quyền
54. Hội Thánh với lòng biết ơn nhìn nhận rằng “phong trào nhằm nhận diện và công bố các quyền con người là một trong những nỗ lực quan trọng nhất nhằm đáp lại cách hữu hiệu những đòi hỏi không thể né tránh của phẩm giá con người.”[14] Về điểm này, thánh Gioan Phaolô II khẳng định rằng Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được Liên Hiệp Quốc công bố ngày 10 tháng 12 năm 1948, vẫn là một trong những biểu hiện cao quý nhất của lương tâm nhân loại thời đại chúng ta.[15] Đó là “một cột mốc trên con đường dài và khó khăn của nhân loại.”[16] Vì thế, dưới cái nhìn Kitô giáo, nhân quyền không phải là điều gì thêm vào từ bên ngoài con người, nhưng là diễn tả của phẩm giá nội tại nơi con người, mà cộng đồng quốc tế có trách nhiệm bảo vệ và thăng tiến.
55. Nhân quyền là bất khả xâm phạm, bởi chúng “gắn liền với chính con người và phẩm giá nhân vị.”[17] Vì thế, các quyền ấy mang tính phổ quát và không thể chuyển nhượng.[18] Chính vì chúng được đặt nền trên phẩm giá chung của mọi người nam nữ, nên chúng kéo theo những hệ quả thực tiễn và pháp lý cụ thể, bởi “sẽ là vô ích nếu công bố nhân quyền mà đồng thời không làm tất cả để bảo đảm bổn phận tôn trọng chúng, bởi mọi người, ở mọi nơi và cho tất cả mọi người.”[19] Trong các quyền ấy, quyền đầu tiên là quyền sống, từ lúc thụ thai cho đến khi chết tự nhiên,[20] bởi nếu không có quyền này thì mọi quyền khác đều không thể thực thi. Khi quyền nền tảng ấy bị phủ nhận – như trong trường hợp phá thai, giết người vô tội hay an tử – chúng ta đang đứng trước những chọn lựa mà Hội Thánh xem là sai trái nghiêm trọng.[21]
56. Khi nhìn vào thời đại chúng ta, chúng ta không thể không nhận ra rằng việc bảo vệ nhân quyền đang phải đối diện với hai nguy cơ đặc biệt nghiêm trọng. Nguy cơ thứ nhất là các quyền ấy chỉ được tuyên bố trên bình diện hình thức, trong khi tiến bộ công nghệ vẫn tiếp tục song hành với những vi phạm phẩm giá con người, dù công khai hay tinh vi kín đáo. Nguy cơ thứ hai – và thật ra là cội rễ của nguy cơ thứ nhất – chính là việc không còn khả năng nhận ra nền tảng của tính phổ quát nơi các quyền ấy, vì con người đã từ bỏ “việc tìm kiếm những nền tảng vững chắc nâng đỡ các quyết định và luật pháp của mình.”[22] Đức Giáo hoàng Phanxicô đã kêu gọi chúng ta đừng đánh giá thấp vấn đề này. Ngài chỉ ra rằng khi lý trí nghiêm túc khảo sát bản tính con người, nó có khả năng khám phá ra những giá trị áp dụng cho tất cả mọi người, vì các giá trị ấy phát xuất từ chính bản tính nhân loại. Nếu nhiệm vụ tìm kiếm ấy bị từ bỏ, thì rất có thể những quyền hôm nay được xem là bất khả xâm phạm trong tương lai sẽ bị chất vấn hay phủ nhận bởi những người cầm quyền, có lẽ sau khi họ đã giành được một thứ đồng thuận bề ngoài từ những quần chúng bị sợ hãi hay thao túng.[23]
57. Cùng với việc ý thức sâu xa hơn về giá trị và quyền lợi của mỗi con người, sự nhìn nhận các quyền của các nhóm thiểu số cũng đã phát triển. Tuy nhiên, vẫn còn một chặng đường dài phải đi để bảo đảm rằng quyền của rất nhiều người – đặc biệt là phụ nữ – được thực sự và bình đẳng tôn trọng trên toàn thế giới. Thực tế cho thấy “những người nghèo gấp bội chính là những phụ nữ phải chịu cảnh loại trừ, ngược đãi và bạo lực, vì họ thường ít có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình hơn.”[24] Vì thế, chỉ tuyên bố rằng nam và nữ có phẩm giá và quyền lợi ngang nhau thì chưa đủ; điều cần thiết là sự bình đẳng ấy phải được phản ánh trong những quyết định cụ thể như luật pháp, cơ hội việc làm, giáo dục, trách nhiệm xã hội và chính trị, cũng như trong cách xã hội lắng nghe và trân trọng những đóng góp của phụ nữ. Bao lâu khoảng cách ấy còn tồn tại, chúng ta chưa thể nói rằng xã hội thực sự và trọn vẹn nhìn nhận phụ nữ có phẩm giá ngang bằng nam giới.
58. Điều quan trọng chính là con người – từng con người cụ thể – cùng với gia đình của họ. Những phong trào xã hội, những ý thức hệ cộng đồng hay những tuyên bố chính trị vĩ đại nhân danh dân chúng sẽ trở nên vô nghĩa nếu chúng không dẫn đến sự phát triển đích thực của từng con người – nam cũng như nữ – cùng với những quyền bất khả xâm phạm của họ. Tương tự, sẽ không đủ nếu chúng ta ca tụng tự do cá nhân hay sáng kiến tư nhân, nhưng lại để mặc vô số người tiếp tục sống mà không có việc làm xứng đáng, không được bảo vệ hay không thể tiếp cận những nhu cầu căn bản nhất.
Các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội
Nguyên tắc công ích
59. Việc nhìn nhận rằng mỗi người nam nữ đều mang một phẩm giá bất khả nhượng cùng với những quyền mà không quyền lực nhân loại nào được phản bội hay xóa bỏ, đòi hỏi chúng ta phải định hình cách sống chung với nhau, kể cả trong các chọn lựa kinh tế, chính trị và trong chính cấu trúc các thành phố của mình. Từ đó phát sinh nguyên tắc lớn đầu tiên của Học thuyết Xã hội mà tôi muốn nhấn mạnh: công ích. Chúng ta có thể mô tả công ích như diễn tả xã hội của phẩm giá được nhìn nhận nơi mỗi con người. Khi Đức Bênêđictô XVI nói về những giá trị bất khả thương lượng mà Hội Thánh phải luôn bảo vệ, ngài đã kể đến “việc cổ võ công ích.”[25] Đối với người Kitô hữu, việc vượt qua những giới hạn hẹp hòi của lợi ích cá nhân và dấn thân – trong khả năng của mình – cho công ích là một giá trị không thể thương lượng, cũng như việc bảo vệ sự sống vậy.
60. Công đồng Vaticanô II khẳng định rằng công ích là “tổng thể những điều kiện xã hội cho phép con người, hoặc với tư cách nhóm hoặc cá nhân, đạt tới sự hoàn thiện của mình cách đầy đủ và dễ dàng hơn.”[26] Định nghĩa này đem lại cho chúng ta một điểm quy chiếu quý giá, bởi công ích không thể bị giản lược thành một danh sách các điều kiện hay thể chế. Nó không phải là tổng số những lợi ích cá nhân, cũng không phải là giao điểm của những quyền lợi riêng tư; nhưng là một thiện ích lớn hơn thuộc về tất cả mọi người, và chỉ có thể đạt được, nuôi dưỡng và bảo vệ nhờ nỗ lực chung của tất cả. Chúng ta có thể nói rằng hành động xã hội đạt tới sự viên mãn khi được hướng về thiện ích chung ấy, cũng như hành động luân lý của một cá nhân chỉ đạt tới sự hoàn thiện nơi việc chọn điều thiện đích thực.[27]
61. Thật vậy, toàn thể luôn “lớn hơn tổng các phần”[28] và chính vì thế, “việc đơn thuần cộng lại các lợi ích cá nhân không đủ để tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn cho toàn thể gia đình nhân loại.”[29] Thật là một ảo tưởng nếu nghĩ rằng chỉ cần theo đuổi sự tiến bộ riêng của mình mà không quan tâm đến tha nhân thì đã đủ để góp phần vào thiện ích chung. Cách nghĩ ấy bỏ quên giá trị nội tại và đặc thù của công ích, vốn phát sinh từ sự “liên đới hỗ tương”,[30] tạo nên một mạng lưới thiện ích xã hội lan tỏa và tác động đến mọi người. Công ích là một “giá trị vượt trội”, là thành quả của sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau giữa nhiều hành động, sáng kiến, nỗ lực và quyết định khác nhau. Nếu chỉ cộng các thiện ích cá nhân lại với nhau, chúng ta sẽ không thể giải thích được sự hiện hữu của “giá trị vượt trội” ấy, một giá trị vừa vượt lên trên từng cá nhân, vừa làm phong phú cho từng người.
62. Chính việc tìm kiếm công ích làm cho một dân tộc được sinh động, hiểu không phải như một tập hợp cá nhân đơn thuần, nhưng như một thực tại sống động, trong đó con người học biết rằng họ được nối kết với nhau và cùng chịu trách nhiệm về res publica — công việc chung của xã hội. Theo nghĩa ấy, mỗi người góp phần xây dựng dân tộc mình qua “một nỗ lực chậm rãi và gian khổ, đòi hỏi khát vọng hội nhập và sự sẵn sàng đạt tới điều ấy qua việc phát triển một nền văn hóa gặp gỡ hòa bình và đa diện.”[31] Cùng nhau hoạt động cho công ích nghĩa là có chung một viễn tượng. Dĩ nhiên, giữa con người luôn tồn tại nhiều khác biệt về ý thức hệ, thực hành, quyền lợi và cả những bất đồng thường xuyên; nhưng điều đó không có nghĩa là đối thoại để đạt tới những đồng thuận căn bản là điều bất khả. Chính trên nền tảng ấy, mọi người có thể cùng nhau tiến bước.
63. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm sự gắn kết, hiệp nhất và tổ chức thích hợp đời sống xã hội dân sự, để công ích được theo đuổi với sự đóng góp của mọi người. Trong thực tế, điều này có nghĩa là các nhà cầm quyền có bổn phận tinh tế phải “điều hòa các lợi ích của từng lãnh vực với những đòi hỏi của công lý,”[32] tìm kiếm sự quân bình giữa quyền lợi cá nhân và công ích, mà không bỏ quên những người yếu thế nhất. Khi chính trị đánh mất cái nhìn dài hạn và tự thu hẹp mình vào những tính toán ngắn hạn hay các cuộc phân cực vô bổ, thì ngôn ngữ của công ích cũng mất dần tính khả tín, đồng thời những bất bình đẳng và chia rẽ xã hội càng gia tăng.
64. Điều ấy cũng đúng trong lãnh vực chính trị quốc tế. Khi khoảng cách giữa các quốc gia ngày càng rộng lớn, não trạng đối đầu và gây hấn bắt đầu lan rộng, và hành trình khó khăn hướng tới một thế giới hiệp nhất và huynh đệ hơn lại chịu thêm những bước thụt lùi đau đớn. Trong bối cảnh ấy, nói đến một hành trình chung hướng tới sự phát triển công bằng hơn cho toàn thể gia đình nhân loại “dường như là điều điên rồ.”[33] Tuy nhiên, chúng ta không được đánh mất hy vọng. Tôi mời gọi mọi người hãy nghĩ đến những hình thức cộng tác và những định chế quốc tế hữu hiệu hơn, có khả năng bảo vệ công ích toàn cầu mà không làm tổn hại đến sự đa dạng chính đáng của các dân tộc và quốc gia. Thật vậy, việc cổ võ công ích không bao giờ được tách rời khỏi việc tôn trọng quyền hiện hữu của các dân tộc, quyền bảo tồn căn tính riêng và đóng góp những nét độc đáo của mình cho gia đình nhân loại.[34] Hơn nữa, bất cứ mưu đồ hay kế hoạch nào nhằm tiêu diệt hoặc khuất phục một dân tộc đều là điều vô luân nghiêm trọng và hoàn toàn không thể chấp nhận.
65. “Trong số nhiều hệ luận của công ích, nguyên tắc về đích đến phổ quát của của cải mang một ý nghĩa đặc biệt trực tiếp.”[35] Trước hết, nguyên tắc này nhắc nhở chúng ta rằng những của cải của trái đất — đất đai, nước, không khí và tài nguyên thiên nhiên — được Thiên Chúa ban cho toàn thể gia đình nhân loại để nâng đỡ sự sống của mọi người, và mỗi người đều có quyền tự nhiên được sử dụng những của cải ấy, cả ở hiện tại lẫn tương lai. Thánh Gioan Phaolô II nhắc lại rằng: “Thiên Chúa đã ban trái đất cho toàn thể nhân loại để nuôi dưỡng mọi thành viên của mình, không loại trừ hay ưu ái bất cứ ai.”[36] Vì thế, “không phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa khi sử dụng quà tặng này theo cách mà lợi ích của nó chỉ thuộc về một số ít người được chọn.”[37] Ngày nay, chúng ta được mời gọi nhận ra rằng đích đến phổ quát ấy không chỉ áp dụng cho của cải vật chất, nhưng còn cho cả những của cải phi vật chất và văn hóa nữa.
66. Chắc chắn có quyền tư hữu, và quyền ấy mang ý nghĩa cũng như mục đích đặc thù của nó; tuy nhiên, quyền ấy luôn phải lệ thuộc vào nguyên tắc đích đến phổ quát của của cải. Theo Thánh Gioan Phaolô II, sự lệ thuộc này chính là quy luật vàng của đời sống xã hội và là “nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự luân lý và xã hội.”[38] Trong truyền thống của Hội Thánh, của cải luôn được nhìn như một phương thế để bảo vệ và quản lý các thiện ích, hầu phục vụ công ích cách hữu hiệu hơn. Vì thế, “truyền thống Kitô giáo chưa bao giờ nhìn nhận quyền tư hữu như một quyền tuyệt đối hay bất khả xâm phạm,”[39] và chức năng xã hội của quyền sở hữu không thể bị xem như một ý kiến thần học đơn thuần, nhưng là giáo huấn chính thức của Hội Thánh, vốn đã hiện diện ngay trong Thánh Kinh và nơi các Giáo phụ. Chính vì vậy, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhở rằng tình liên đới, khi được sống cách trọn vẹn, cũng có nghĩa là “trả lại cho người nghèo điều vốn thuộc về họ.”[40]
67. Ngày nay, trong số những của cải được dành cho mọi người, chúng ta cũng phải kể đến những hình thức sở hữu mới như bằng sáng chế, thuật toán, các nền tảng kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng công nghệ và dữ liệu. Trong một bối cảnh mà sự giàu mạnh của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào tri thức và công nghệ, nếu các của cải này chỉ tập trung trong tay một số ít người mà không có những hình thức chia sẻ và tiếp cận thích đáng, thì sẽ xuất hiện một sự mất cân bằng mới đi ngược lại nguyên tắc đích đến phổ quát của của cải. Điều này càng làm gia tăng khoảng cách giữa những người được tham gia và những người bị loại trừ, giữa những ai có thể bước vào cuộc cách mạng kỹ thuật số và những người vẫn bị bỏ lại bên lề. Hơn nữa, việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta, cũng như trách nhiệm đối với người nghèo và các thế hệ tương lai, đòi buộc chúng ta phải điều chỉnh việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên và những khả năng mới do công nghệ mang lại, sao cho luôn tôn trọng môi trường, tránh lãng phí và ngăn ngừa những hình thức khai thác mới.
Nguyên tắc bổ trợ
68. Nguyên tắc bổ trợ phát sinh từ chính cái nhìn về con người đã hướng dẫn chúng ta suy tư về phẩm giá và công ích. Nếu mỗi người nam và người nữ được mời gọi đảm nhận cuộc sống của mình và góp phần xây dựng xã hội, thì các cơ cấu xã hội cũng phải tôn trọng và nâng đỡ trách nhiệm ấy. Học thuyết Xã hội của Hội Thánh gọi đó là nguyên tắc bổ trợ, theo đó vai trò của cá nhân, gia đình, cộng đồng địa phương và các tổ chức trung gian không được bị thay thế bởi các quyền lực cao hơn. Trái lại, các cấp bậc cao hơn phải nhìn nhận, bảo vệ và cổ võ sự tự do cùng tính sáng tạo của các thực thể cấp thấp hơn, đồng thời phối hợp những đóng góp của họ để tất cả có thể cộng tác hữu hiệu cho công ích.[41]
69. Ngay từ Đức Lêô XIII và những bước đầu của giáo huấn xã hội hiện đại, Hội Thánh đã khẳng định rằng dù cá nhân hay gia đình đều không thể bị Nhà nước nuốt chửng, nhưng phải được tự do hoạt động trong khả năng của mình, miễn là không gây tổn hại cho công ích.[42] Thánh Gioan Phaolô II tiếp tục và phát triển lập trường ấy khi nhấn mạnh rằng cộng đồng chính trị hiện hữu để phục vụ xã hội dân sự, và Nhà nước phải bảo vệ công ích, can thiệp khi cần thiết, nhưng không được thường xuyên thay thế trách nhiệm của các tổ chức trung gian và các cơ cấu xã hội.[43] Nguyên tắc bổ trợ không biện minh cho việc Nhà nước thoái thác trách nhiệm, nhưng hướng dẫn cách thức hành động của Nhà nước. Thật vậy, sự can thiệp công cộng là cần thiết để giúp mọi thành phần xã hội có thể chu toàn sứ mạng của mình mà không bị bóp nghẹt. Trách nhiệm của cộng đồng chính trị là tạo nên những điều kiện giúp cá nhân, gia đình, các hội đoàn và tổ chức trung gian thực hiện sứ mạng của mình trong xã hội mà không bị thay thế hay bị hạ thấp thành những công cụ thụ động.[44]
70. Nguyên tắc này mời gọi chúng ta vượt qua mọi hình thức quản trị xã hội mang tính gia trưởng hay chỉ dựa trên phúc lợi, để thay vào đó là việc cổ võ một nền văn hóa trách nhiệm chung trong một Nhà nước biết trân trọng sáng kiến của công dân, và trong một xã hội dân sự có khả năng tạo nên các mối dây liên kết cũng như huy động sức mạnh nhằm phục vụ công ích. Theo nguyên tắc bổ trợ, các quyết định cần được đưa ra ở cấp độ gần với những người liên hệ nhất, nhờ đó đời sống cộng đồng được củng cố và con người tránh bị áp đặt bởi những quyết định đã được định đoạt từ trước. Chính theo cách ấy, người dân có thể thực sự tham gia vào tiến trình quyết định. Khi các gia đình, hội đoàn, cộng đồng địa phương, tổ chức thiện nguyện và những tổ chức thuộc “khu vực thứ ba” được nhìn nhận và nâng đỡ, đời sống xã hội sẽ trở nên gần gũi với con người hơn, các dịch vụ sẽ đáp ứng đúng nhu cầu thực tế hơn, và những giải pháp đưa ra sẽ sáng tạo hơn cũng như tôn trọng phẩm giá của mỗi người hơn.[45]
71. Nguyên tắc bổ trợ mang một ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng kỹ thuật số. Ở đây, cấp quyền lực cao nhất không còn chỉ là Nhà nước, nhưng còn là các tập đoàn kinh tế và công nghệ lớn đang nắm giữ quyền lực thực sự trên những điều kiện của đời sống thường nhật. Chính cấp độ này — vốn độc quyền về chuyên môn, dữ liệu và quyền quyết định — bao gồm những công ty và nền tảng xác định điều kiện tiếp cận, quy tắc hiển thị, hình thức tương tác và thậm chí cả các cơ hội kinh tế. Nguyên tắc bổ trợ đòi hỏi rằng các tiến trình ấy không được áp đặt từ trên xuống một cách mờ ám và đơn phương, nhưng phải được hướng tới công ích trong tinh thần minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia thực sự của mọi người, bao gồm cả việc kiểm tra độc lập, minh bạch về thuật toán, tiếp cận công bằng đối với dữ liệu và các cơ chế khiếu nại hữu hiệu.[46]
72. Trong bối cảnh ấy, các quốc gia và những định chế xuyên quốc gia được mời gọi thiết lập các quy tắc công bằng và những bảo đảm hữu hiệu, để các cộng đồng địa phương, các tổ chức trung gian, trường học, đại học, tổ chức tôn giáo và các hội đoàn có tiếng nói và có thể góp phần phân định những chọn lựa ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hằng ngày của con người, chẳng hạn như việc làm, khả năng tiếp cận các dịch vụ, việc quản lý dữ liệu và môi trường kỹ thuật số. Khi nói đến những quyết định liên quan đến các luồng kinh tế, các nền tảng kỹ thuật số, cũng như việc quản trị dữ liệu và thuật toán, chúng ta không thể để cho một nhóm nhỏ các tác nhân tự ý quyết định mọi sự; trái lại, cần phải xây dựng những hình thức hợp tác tôn trọng các cấp độ khác nhau của cộng đồng toàn cầu và làm cho tất cả cùng chịu trách nhiệm đối với công ích.[47]
Nguyên tắc liên đới
73. Sau khi suy tư về công ích và nguyên tắc bổ trợ, giờ đây tôi muốn nói đến nguyên tắc liên đới. Nguyên tắc này phát sinh từ chính cái nhìn đức tin về con người: mỗi người đều được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được đặt vào trong một mạng lưới các tương quan gắn kết họ với tha nhân, với các dân tộc và với toàn thể công trình tạo dựng. Thánh Phaolô VI nhận định rằng những đòi buộc của tình liên đới, công bằng và bác ái được đặt nền trên các mối dây huynh đệ tự nhiên và siêu nhiên nối kết con người với nhau và với các dân tộc.[48] Tình huynh đệ không chỉ là một khát vọng của người tín hữu, nhưng còn là một thực tại xã hội và chính trị cần được thể hiện qua những chọn lựa và dấn thân chung trong đời sống cộng đồng. Vì thế, liên đới là sự nhìn nhận cụ thể rằng tương lai của mỗi cá nhân gắn liền với tương lai của mọi người; thật vậy, “không ai được cứu độ một mình.”[49] Chính ở đây, mối liên hệ mật thiết giữa nguyên tắc bổ trợ và liên đới trở nên rõ ràng. Nếu bổ trợ không gắn liền với liên đới, nó sẽ chỉ còn là sự bảo vệ những quyền lợi cục bộ; ngược lại, nếu liên đới không được nâng đỡ bởi nguyên tắc bổ trợ, nó sẽ suy thoái thành một thứ chủ nghĩa phúc lợi không giúp con người trưởng thành trong trách nhiệm.[50] Sự liên kết này còn liên hệ tới trách nhiệm tham gia cách chân thực vào đời sống xã hội. Liên đới được biểu lộ khi mỗi người, cả với tư cách cá nhân lẫn cộng đồng, tham gia vào đời sống xã hội — qua việc tìm hiểu thông tin, đối thoại với người khác, cất lên tiếng nói của mình và góp phần vào những quyết định công cộng — đồng thời đảm nhận trách nhiệm thật sự để công ích được thực hiện qua sự phân định và quyết định chung.
74. Trong nhiều lãnh vực, chúng ta đã và đang sống một thứ “liên đới trên thực tế,” bởi đời sống con người ngày càng đan xen chặt chẽ với nhau. Các mạng lưới kỹ thuật số kết nối con người và cộng đồng trên khắp thế giới theo thời gian thực; các nền kinh tế và truyền thông toàn cầu khiến những biến cố xảy ra ở một nơi có thể ảnh hưởng sâu rộng đến mọi nơi khác. Tuy nhiên, mạng lưới tương quan ấy chỉ thực sự trở thành tình liên đới theo nghĩa trọn vẹn khi nó trở thành một chọn lựa có ý thức. Đức tin mời gọi chúng ta nhìn thực tại ấy như một tiếng gọi: chúng ta không chỉ là những người sống cạnh nhau, nhưng còn được trao phó cho nhau, để mỗi người có thể, trong khả năng của mình, đảm nhận trách nhiệm đối với cuộc sống và những thương tích của anh chị em mình. Liên đới xuất hiện chính khi chúng ta quyết định không thờ ơ trước những gì xảy đến cho tha nhân, nhưng biến những mối dây liên kết không thể tránh khỏi — về kinh tế, văn hóa và công nghệ — thành những con đường chia sẻ, hợp tác và chăm sóc lẫn nhau, bằng cách “suy nghĩ và hành động theo tinh thần cộng đồng.”[51]
75. Học thuyết Xã hội của Hội Thánh nhấn mạnh rằng liên đới vừa là một nguyên tắc vừa là một nhân đức. Với tư cách là nguyên tắc, liên đới diễn tả trật tự khách quan của các tương quan giữa con người, các nhóm và các dân tộc, nhấn mạnh sự lệ thuộc hỗ tương trong đó thiện ích của mỗi người tùy thuộc vào thiện ích của người khác. Với tư cách là nhân đức, liên đới đòi hỏi một “quyết tâm mạnh mẽ và bền bỉ”[52] nhằm dấn thân cho công ích, đặc biệt quan tâm đến những người túng thiếu nhất. Đức Thánh Cha Phanxicô nhận định rằng liên đới là “một cách làm nên lịch sử”[53] giúp xây dựng các cộng đồng chứ không chỉ là những đám đông cá nhân rời rạc. Chính vì thế, liên đới đòi hỏi một lối sống khiêm tốn và chia sẻ, khả năng từ bỏ những lợi ích trước mắt để tạo ra cơ hội cho người khác trong tương lai, và sự can đảm chất vấn những thói quen cũng như đặc quyền của chính mình — kể cả trong lãnh vực tiêu thụ kỹ thuật số và việc sử dụng công nghệ — khi những điều ấy ngăn cản người khác được sống xứng hợp với phẩm giá con người.
76. Trong một thế giới ngày càng liên kết chặt chẽ giữa con người, cộng đồng và các quốc gia, tình liên đới cũng mang một chiều kích toàn cầu. Đức Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh mạnh mẽ mối liên hệ giữa phát triển, công bằng và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai, khi khẳng định rằng sự phát triển đích thực đòi hỏi tình liên đới và công bằng liên thế hệ,[54] đồng thời cần ý thức về các mối dây liên kết chúng ta với môi trường tự nhiên. Ngày nay, trách nhiệm ấy còn mở rộng tới cả cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và thông tin. Cũng như môi trường tự nhiên, “hệ sinh thái kỹ thuật số” có thể được bảo tồn hoặc bị khai thác, được chia sẻ hoặc bị độc quyền. Tình liên đới đòi hỏi rằng các quyết định liên quan đến dữ liệu, thuật toán, các nền tảng kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo phải lưu tâm không chỉ đến lợi ích tức thời của một số ít người, nhưng còn đến ảnh hưởng của chúng trên toàn thể các dân tộc và trên các thế hệ tương lai.
Nguyên tắc công bằng xã hội
77. Đối với cộng đoàn Kitô hữu, công bằng xã hội là một cách cụ thể để bước theo Đức Giêsu và trung thành với Tin Mừng. Trong Tân Ước, Đức Giêsu loan báo “Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc 4,18) và đồng hóa chính mình với những người bé nhỏ, đau yếu, tù đày và khách lạ (x. Mt 25,31-46). Qua đó, Người dạy chúng ta rằng công bằng phát sinh và đạt tới viên mãn nơi tình huynh đệ, bởi cách chúng ta đối xử với những người bé nhỏ nhất chính là thước đo cụ thể cho mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa và với anh chị em mình. Tuy nhiên, công bằng không chỉ liên quan đến hành vi của từng cá nhân, nhưng còn đến cách các cơ cấu xã hội được hình thành và tổ chức. Về điểm này, Công đồng Vaticanô II nhắc nhở rằng mọi định chế đều được mời gọi phục vụ con người và phẩm giá của họ.[55] Vì thế, công bằng xã hội được biểu lộ qua khả năng của một trật tự xã hội, kinh tế và chính trị trong việc giúp mọi người — đặc biệt là những người yếu thế nhất — được sống xứng hợp với phẩm giá con người mà không ai bị bỏ lại phía sau.
78. Huấn quyền gần đây của Hội Thánh luôn nhấn mạnh rằng công bằng xã hội phải bắt đầu từ những người bé nhỏ nhất. Thánh Gioan Phaolô II nói đến “sự chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo”[56] như một định hướng phải chi phối cả các chọn lựa cá nhân lẫn xã hội; trong khi đó, Đức Thánh Cha Phanxicô lên án “nền văn hóa loại bỏ”[57] đang tạo ra ngày càng nhiều hình thức loại trừ mới. Từ viễn tượng ấy, công bằng xã hội đòi hỏi chúng ta nhìn đến con người và các cộng đồng khởi đi từ những người dễ bị tổn thương nhất: người nghèo, người di dân, người tị nạn, người phải di dời trong chính quê hương mình, nạn nhân của bạo lực và những ai đang sống tại các vùng ngoại biên của xã hội hay của đời sống hiện sinh.
79. Khái niệm “công bằng xã hội” giúp chúng ta nhận ra rằng bất công không chỉ phát sinh từ những lựa chọn sai lầm của cá nhân, nhưng còn từ những cơ cấu, cơ chế và hệ thống kinh tế – văn hóa tự động sản sinh bất bình đẳng. Chính trong chiều hướng ấy, Thánh Gioan Phaolô II đã nói đến “các cơ cấu tội lỗi”[58] chống lại ý muốn của Thiên Chúa và đòi hỏi một sự hoán cải vừa cá nhân vừa xã hội. Theo viễn tượng này, công bằng không chỉ là việc phân phối công bằng hơn các nguồn lực hay sửa chữa những bất công hiện tại, nhưng còn mang chiều kích phục hồi. Nó nhằm hàn gắn những mối dây đã bị đổ vỡ và tái hội nhập những người bị loại trừ, đồng thời lưu tâm đến những thương tích do bất công gây ra, như chiến tranh, chủ nghĩa thực dân, kỳ thị chủng tộc hay giới tính, bạo lực đối với các dân tộc và những hình thức bóc lột khác. Điều này có thể bao gồm việc phục hồi phẩm giá và tiếng nói cho những người từng bị phớt lờ, chữa lành ký ức tập thể, chống lại những luật lệ và thực hành mang tính kỳ thị, cũng như hỗ trợ cụ thể cho những ai vẫn còn mang hậu quả của những sai trái trong quá khứ.
80. Trong thời đại hôm nay, công bằng xã hội cũng phải đối diện với môi trường mới được hình thành bởi công nghệ kỹ thuật số. Sự lan rộng của các mạng lưới toàn cầu, các nền tảng số và các hệ thống trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi cách chúng ta tiếp cận thông tin, giao tiếp và sử dụng các dịch vụ. Công bằng đòi hỏi phải ngăn chặn sự xuất hiện của những hình thức loại trừ và tước đoạt tự do mới: những cá nhân và dân tộc bị cản trở hoặc bị từ chối tiếp cận các công nghệ căn bản; những cộng đồng phải chịu sự giám sát xâm phạm đời tư; những nhóm xã hội bị thiệt thòi bởi các thuật toán thiếu minh bạch vốn perpetuate thành kiến và phân biệt đối xử. Trong thời đại kỹ thuật số, một trật tự xã hội công bằng phải bảo đảm cho mọi người cơ hội bình đẳng, bảo vệ những thành phần trẻ tuổi và yếu thế nhất, chống lại hận thù và thông tin sai lệch, đồng thời đặt việc sử dụng dữ liệu và công nghệ dưới sự giám sát công cộng, để nguyên tắc hướng dẫn không chỉ là lợi nhuận nhưng là phẩm giá của mỗi con người và công ích của toàn thể nhân loại.
81. Một phép thử quan trọng của công bằng xã hội ngày nay chính là cách đối xử với người di dân, người tị nạn và những ai buộc phải rời bỏ quê hương vì nghèo đói, bạo lực, biến đổi khí hậu hay thảm họa môi trường. Cách mà một xã hội đối xử với họ cho thấy ý thức công bằng của xã hội ấy được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi hay bởi tinh thần huynh đệ. Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta nhìn người di dân không chỉ như một vấn đề cần giải quyết, nhưng như hình ảnh sống động của Dân Thiên Chúa đang lữ hành.[59] Họ là những con người có phẩm giá, có khả năng và có ước mơ, những người có quyền được đối xử với sự tôn trọng và được mời gọi trở thành những thành viên tích cực trong xã hội đón nhận họ. Công bằng xã hội trong lãnh vực này đòi hỏi ít là hai cam kết bổ túc cho nhau. Một mặt, cần bảo vệ niềm hy vọng chính đáng của những người buộc phải ra đi bằng việc bảo đảm những con đường an toàn và hợp pháp, những điều kiện tiếp nhận xứng đáng và những lộ trình hội nhập chân thực. Mặt khác, cần cổ võ quyền được ở lại quê hương mình trong hòa bình và an ninh, bằng cách giải quyết những nguyên nhân sâu xa buộc con người phải di cư, bao gồm cả những nguyên nhân phát sinh từ bất công kinh tế và cuộc khủng hoảng khí hậu. Khi những quyền này được tôn trọng, việc di cư có thể trở thành cơ hội gặp gỡ và làm phong phú lẫn nhau giữa các dân tộc.
Phát triển con người toàn diện
82. Trong Thông điệp Populorum Progressio, Thánh Phaolô VI khẳng định rằng sự phát triển chỉ thật sự chân chính khi nó là “toàn diện,” nghĩa là có khả năng “thăng tiến mỗi con người và toàn thể con người.”[60] Trong những thập niên tiếp theo, Học thuyết Xã hội của Hội Thánh đã tiếp tục khai triển và đào sâu ý nghĩa của cách diễn tả này nhằm chỉ ra những phương thế cụ thể để các nguyên tắc cao quý — phẩm giá con người, công ích, đích đến phổ quát của của cải, nguyên tắc bổ trợ, tình liên đới và công bằng xã hội — được thực hiện trong đời sống thực tế. Khi nói đến “phát triển con người toàn diện,” chúng ta muốn nói đến một tiến trình trong đó sự tăng trưởng của cá nhân và các dân tộc bao hàm mọi chiều kích của đời sống con người, đồng thời mở ra tương lai cho cả các thế hệ mai sau.
83. Đối với cá nhân cũng như các quốc gia, phát triển vừa là một quyền vừa là một bổn phận. Cần phải có những điều kiện tối thiểu giúp mỗi người và mỗi dân tộc có thể phát triển phù hợp với phẩm giá của mình, mà không bị giữ trong tình trạng lệ thuộc hay bị loại trừ khỏi việc tiếp cận những thiện ích cần thiết. Sự phát triển chỉ thực sự mang tính nhân bản khi đặt con người ở trung tâm thay vì việc tích lũy của cải, và khi hướng đến các dân tộc cũng như từng cá nhân. Công bằng đòi hỏi phải nhìn nhận các quyền của xã hội và các quyền của các dân tộc, đồng thời bao hàm trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Sự phát triển không còn là nhân bản nếu nó làm gia tăng mức tiêu thụ cho một số người bằng cách đẩy gánh nặng và hậu quả sang cho người khác, hoặc biến cả những vùng đất và dân tộc thành những thực thể lệ thuộc, không thể phát huy trọn vẹn tiềm năng của mình.[61] Phát triển là toàn diện khi không bị giới hạn trong lãnh vực kinh tế, nhưng còn thăng tiến chất lượng cuộc sống trong các chiều kích tinh thần, văn hóa, luân lý và tương quan, đồng thời tôn trọng ngôi nhà chung, sự đa dạng của các dân tộc và lối sống riêng của họ.[62]
84. Ngày nay, khái niệm phát triển con người toàn diện trở thành tiêu chuẩn để đánh giá nền sinh thái toàn diện, vốn đã trở thành một chiều kích không thể thiếu của Học thuyết Xã hội của Hội Thánh. Thật vậy, phẩm chất của sự phát triển được đo lường qua khả năng kết hợp công bằng đối với con người với việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta; đồng thời cổ võ những điều kiện sống xứng đáng, khả năng tiếp cận các thiện ích cần thiết, những tương quan xã hội công bằng, sự chăm sóc công trình tạo dựng và trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Bởi đó, tiến bộ đích thực không thể là thứ phát triển làm gia tăng phúc lợi cho một số người bằng cách hủy hoại các hệ sinh thái, chuyển gánh nặng cho những cộng đồng nghèo nhất hoặc làm tổn hại đến điều kiện sống của những người sẽ đến sau chúng ta.
85. Dưới ánh sáng ấy, phát triển con người toàn diện trở thành khung quy chiếu giúp chúng ta giải thích những biến đổi của thời đại hôm nay, kể cả những thay đổi do cuộc cách mạng kỹ thuật số mang lại. Những đổi mới công nghệ, bao gồm trí tuệ nhân tạo, không hề trung lập, bởi chúng có thể hoặc thúc đẩy sự tham gia và công bằng, hoặc làm gia tăng bất bình đẳng, kiểm soát và loại trừ. Chính vì thế, chúng cần được đánh giá qua một câu hỏi nền tảng: liệu chúng có thực sự giúp con người và các dân tộc trở nên nhân bản hơn, huynh đệ hơn, đồng thời tôn trọng ngôi nhà chung và các thế hệ tương lai hay không? Chính ở đây, các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội trở thành những tiêu chuẩn cụ thể để phân định các vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập trong các chương tiếp theo.
Một cuộc xét mình dành cho Hội Thánh
86. Sau cùng, tôi muốn đề cập đến một điểm đặc biệt gần gũi với tâm hồn tôi. Học thuyết Xã hội không chỉ là một sứ điệp dành cho xã hội, nhưng còn là một cuộc xét mình dành cho chính Hội Thánh — mái nhà và trường học của sự hiệp thông — vốn luôn được mời gọi bảo đảm rằng các nguyên tắc được trình bày trong chương này cũng được áp dụng, đặc biệt ngay trong các cơ cấu của mình. Trong bối cảnh Giáo Hội, công ích mang hình thức của một hành trình hiệp hành hướng tới sứ vụ phục vụ Nước Thiên Chúa. Thật vậy, Hội Thánh chính là “chủ thể cộng đoàn và lịch sử của tính hiệp hành và sứ vụ.”[63] Điều này đòi hỏi phải quan tâm đến cách thức các quyết định được đưa ra và trách nhiệm được thực thi. Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng xác định rằng một nền văn hóa minh bạch, trách nhiệm giải trình và lượng giá là những thực hành cốt yếu cho sự hoán cải truyền giáo.[64]
87. Trong viễn tượng ấy, nguyên tắc bổ trợ trở thành nguyên lý hướng dẫn đời sống quản trị và mục vụ. Điều này đòi hỏi phải nhìn nhận và nâng đỡ các tín hữu cũng như các tổ chức trung gian trong Giáo Hội khi họ chu toàn trách nhiệm của mình; đồng thời biết trân trọng các đặc sủng và khả năng khác nhau, tránh mọi hình thức gia trưởng bóp nghẹt tự do Tin Mừng. Trên bình diện cụ thể, việc tham gia của các tín hữu đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội vào tiến trình quyết định và trách nhiệm chung trong sứ vụ phải được thực hiện qua những cơ chế tham gia thực sự chứ không chỉ mang tính hình thức.[65]
88. Đối với cộng đoàn Kitô hữu, tình liên đới bắt nguồn từ chính mầu nhiệm Đức Kitô và được nuôi dưỡng nhờ Bí tích Thánh Thể. Tình liên đới phát sinh từ sự hiệp thông trong đức tin và các Bí tích: Bí tích Rửa tội và Thêm sức kết hợp chúng ta trong Đức Kitô để trở nên một Thân Thể và một Thần Khí, một lòng một ý (x. Ep 4,4; Cv 4,32). Bí tích Thánh Thể, là bí tích hiệp nhất, nuôi dưỡng sự thuộc về Thân Thể Đức Kitô và dạy chúng ta biết chia sẻ cho nhau. Những cảm thức đa dạng hiện diện trong Hội Thánh và những xác tín mạnh mẽ thúc đẩy mỗi người sẽ trở thành nguồn phong phú nếu tất cả vẫn bén rễ trong xác tín rằng hiệp nhất là một hồng ân được lãnh nhận và đồng thời là một trách nhiệm phải được thực hiện.
89. Sống công bằng trong Hội Thánh có nghĩa là thanh luyện các tương quan và cơ cấu Giáo Hội khỏi những lệch lạc gây ra bất bình đẳng, thiếu minh bạch và lạm dụng quyền lực. Trong chiều hướng ấy, việc lắng nghe các nạn nhân của những lạm dụng thiêng liêng, kinh tế, cơ chế, tính dục, quyền lực cũng như lạm dụng lương tâm là một phần thiết yếu của hành trình công lý, bao gồm việc nhìn nhận những tổn thương đã gây ra, thực hiện việc đền bù thích đáng và đưa ra các biện pháp ngăn ngừa tái diễn. Mọi quyền bính đều nhằm phục vụ sự hiệp thông và sứ vụ. Mọi thẩm quyền đều nhằm phục vụ Dân Thiên Chúa. Thừa tác vụ phục vụ này không chỉ được thể hiện qua đức tin được cử hành và sống trong các Bí tích, hay qua việc thực thi phong cách hiệp hành, nhưng còn qua việc chia sẻ cụ thể các nguồn lực. Theo gương Hội Thánh sơ khai, các nguồn lực của Giáo Hội cần được phân chia để “không ai trong chúng ta phải túng thiếu” (x. Cv 4,34), đồng thời việc quản lý chúng phải nâng đỡ sứ vụ loan báo Tin Mừng cho những người nghèo nhất. Cần cổ võ việc thường xuyên lượng giá cách thức thực thi các trách nhiệm thừa tác, không phải như những phán xét nhắm vào cá nhân, nhưng như những phương thế học hỏi và sửa đổi nhằm phục vụ sứ vụ.[66] Chỉ khi chúng ta mở lòng cho hoạt động của Chúa Thánh Thần, các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội mới thực sự nhập thể vào đời sống Giáo Hội. Khi ấy, Hội Thánh mới có thể làm chứng cách đáng tin cho xã hội rằng việc cùng nhau tìm kiếm công ích trong tinh thần trách nhiệm chung và tình huynh đệ không phải là một điều không tưởng, nhưng là một khả thể có thật.[67]
[1] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, Vatican City 2004, 32.
[2] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 24: AAS 58 (1966), 1045.
[3] Ibid., 22: AAS 58 (1966), 1042.
[4] Cf. Pontifical Council For Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 38.
[5] Saint John Paul II, Encyclical Letter Redemptor Hominis (4 March 1979), 14: AAS 71 (1979), 284.
[6] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 11: AAS 101 (2009), 647-648.
[7] Saint John Paul II, Encyclical Letter Veritatis Splendor (6 August 1993), 31: AAS 85 (1993), 1159.
[8] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 26: AAS 58 (1966), 1046-1047.
[9] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 11: AAS 83 (1991), 806-807.
[10] Cf. Dicastery for the Doctrine of the Faith, Declaration Dignitas Infinita (2 April 2024), 7: AAS 116 (2024), 592-593.
[11] Cf. ibid., 8: AAS 116 (2024), 593-594.
[12] Ibid., 1: AAS 116 (2024), 589-590.
[13] Cf. Saint John Paul II, Angelus with disabled people in the Cathedral of Osnabrück (16 November 1980): Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. III/2, Vatican City 1980, 1232.
[14] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 152.
[15] Cf. Saint John Paul II, Address to the 50th General Assembly of the United Nations (5 October 1995), 2: Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. XVIII/2, Vatican City 1998, 731.
[16] Saint John Paul II, Address to the 34th General Assembly of the United Nations (2 October 1979), 7: AAS 71 (1979), 1148.
[17] Saint John Paul II, Message for the 32nd World Day of Peace (1 January 1999), 3: AAS 91 (1999), 379.
[18] Cf. Saint John XXIII, Encyclical Letter Pacem in Terris (11 April 1963), 5: AAS 55 (1963), 259.
[19] Saint Paul VI, Message to the International Conference on Human Rights (15 April 1968): AAS 60 (1968), 285.
[20] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Evangelium Vitae (25 March 1995), 2: AAS 87 (1995), 402.
[21] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 27: AAS 58 (1966), 1047-1048; cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Veritatis Splendor (6 August 1993), 80: AAS 85 (1993), 1197-1198; cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Evangelium Vitae (25 March 1995), 7-28: AAS 87 (1995), 408-427.
[22] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 208: AAS 112 (2020), 1043.
[23] Cf. ibid., 209: AAS 112 (2020), 1043-1044.
[24] Ibid., 23: AAS 112 (2020), 977. Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 212: AAS 105 (2013), 1108.
[25] Benedict XVI, Apostolic Exhortation Sacramentum Caritatis (22 February 2007), 83: AAS 99 (2007), 169.
[26] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes , 26, AAS 58 (1966), 1046-1047.
[27] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church , 164.
[28] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 235: AAS 105 (2013), 1115.
[29] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 105: AAS 112 (2020), 1005.
[30] Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 38: AAS 80 (1988), 564.
[31] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 220: AAS 105 (2013), 1110.
[32] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church , 169.
[33] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 16: AAS 112 (2020), 974.
[34] Cf. Saint John Paul II, Address to the 50th General Assembly of the United Nations (5 October 1995), 8: Insegnamenti di Giovanni Paolo II, vol. XVIII/2, 735.
[35] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 171.
[36] Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 31: AAS 83 (1991), 831.
[37] Saint John Paul II, Homily during the Mass celebrated for farmers at Recife (7 July 1980), 4: AAS 72 (1980), 926.
[38] Saint John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens (14 September 1981), 19: AAS 73 (1981), 626.
[39] Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 93: AAS 107 (2015), 884; cf. Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 120: AAS 112 (2020), 1010.
[40] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 189: AAS 105 (2013), 1099.
[41] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 187.
[42] Cf. Leo XIII, Encyclical Letter Rerum Novarum (15 May 1891), 26: ASS 23 (1890-1891), 656.
[43] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 11: AAS 83 (1991), 806-807.
[44] Cf. ibid.
[45] Cf. ibid., 48: AAS 83 (1991), 852-854.
[46] Cf. Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 169: AAS 112 (2020), 1028.
[47] Cf. ibid., 16 Cf. Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 17: AAS 59 (1967), 265-266.8: AAS 112 (2020), 1027-1028.
[48] Cf. Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 17: AAS 59 (1967), 265-266.
[49] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 32 and 54: AAS 112 (2020), 980 and 988.
[50] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 58: AAS 101 (2009), 693-694.
[51] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 116: AAS 112 (2020), 1009.
[52] Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 38: AAS 80 (1988), 564.
[53] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 116: AAS 112 (2020), 1009.
[54] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 48: AAS 101 (2009), 685.
[55] Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes, 25: AAS 58 (1966), 1045-1046.
[56] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 42: AAS 80 (1988), 572-574.
[57] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 53: AAS 105 (2013), 1042.
[58] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 36-37: AAS 80 (1988), 561-564.
[59] Cf. Francis, Message for the 110th World Day of Migrants and Refugees (29 September 2024): AAS 116 (2024), 735.
[60] Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 14: AAS 59 (1967), 264.
[61] Cf. ibid., 17: AAS 59 (1967), 265-266; Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 125-127: AAS 112 (2020), 1012-1013.
[62] Cf. Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 14: AAS 59 (1967), 264; Benedict XVI, Address to the Diplomatic Corps accredited to the Holy See (8 January 2007): AAS 99 (2007), 73; Francis, Address to Participants of the 3rd Global Meeting of the Indigenous Peoples’ Forum of the International Fund for Agricultural Development (15 February 2017): AAS 109 (2017), 244-245.
[63] Final Document of the Second Session of the XVI Ordinary General Assembly of the Synod of Bishops (26 October 2024), 17.
[64] Cf. ibid. , 11.
[65] Cf. ibid. , 103-108.
[66] Cf. ibid., 100-101.
[67] Cf. Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 94: AAS 112 (2020), 1001.
[Bản dịch tham khảo - lưu hành nội bộ]

