
CHƯƠNG BỐN
BẢO VỆ NHÂN TÍNH TRONG THỜI ĐẠI BIẾN ĐỔI
SỰ THẬT, LAO ĐỘNG, TỰ DO
131. Sau khi đã phác họa bối cảnh của thách đố biến đổi công nghệ, đặc biệt những thách đố gắn liền với AI và các trào lưu xuyên nhân loại, hậu nhân loại, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở mức phân tích tổng quát. Khi ngôn ngữ và công cụ thay đổi, các hành động thường ngày và tương quan xã hội cũng thay đổi. Vì thế, chúng ta cần tập trung vào một số lãnh vực mà trong đó những biến đổi này đem lại các hệ quả rất cụ thể, đôi khi bi thảm. Dưới ánh sáng các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội của Hội Thánh, cuộc biến đổi kỹ thuật số mời gọi chúng ta tái khám phá sự thật như một thiện ích chung, bảo vệ phẩm giá của lao động và gìn giữ tự do trước mọi hình thức lệ thuộc và thương mại hóa.
Sự thật như một thiện ích chung
Sự thật và dân chủ
132. Việc sử dụng các nền tảng kỹ thuật số và hệ thống AI đang tạo ra những thay đổi sâu xa trong truyền thông công cộng và chính trị. Những công cụ vốn có thể thúc đẩy đối thoại và tham gia lại thường bị dùng để dựng nên những câu chuyện méo mó và làm mờ ranh giới giữa thật và giả, pha trộn sự kiện với ý kiến. Thông tin sai lệch không bắt đầu với AI, nhưng ngày nay nó tìm thấy nơi AI một bộ khuếch đại mạnh mẽ. Khả năng thao túng nội dung, hình ảnh và video khiến con người dễ bị phơi bày trước những lối nhìn thiên lệch hoặc lừa dối. Vấn đề này có cả chiều kích văn hóa lẫn luân lý, vì chất lượng của truyền thông công cộng tùy thuộc trực tiếp vào niềm tin xã hội và đồng thời cũng định hình niềm tin ấy. Tuy nhiên, thông tin chân thật không phát sinh từ sự kiểm soát tập trung hay tự động. Trong diễn ngôn công cộng, sự thật của các sự kiện có chiều kích lý trí, vì đòi hỏi kiểm chứng, đối chiếu nguồn tin và lập luận có trách nhiệm. Hơn nữa, sự thật ấy mang chiều kích tương quan sâu xa, được xây dựng qua những mối dây tín nhiệm, các thực hành chung, cũng như sự trao đổi trung thực với tha nhân và với thế giới. Chỉ khi việc cùng nhau tìm kiếm tính xác thực của các sự kiện được nhìn nhận như một thiện ích chung, truyền thông công bằng mới có một nền tảng vững chắc.
133. Những ai nắm giữ các nguồn lực công nghệ và kinh tế hùng mạnh, cùng với nguồn nhân lực đáng kể để can thiệp vào đời sống xã hội, có khả năng rất lớn trong việc tác động đến sự thay đổi văn hóa. Sau cùng, họ có thể ảnh hưởng đến rất nhiều người về sự thật liên quan đến con người, thế giới, ý nghĩa hiện hữu, gia đình và thậm chí cả Thiên Chúa. Đây là thứ quyền lực thuần túy tách rời khỏi sự thật, một cách tinh vi hay công khai áp đặt điều nó muốn người khác chấp nhận như chân lý. Nơi gốc rễ của nó là một “căn bệnh” sâu xa và thường không được nhận ra: đó là việc “con người hiện đại lầm tưởng rằng mình là tác giả duy nhất của chính mình, của đời sống mình và của xã hội. Đây là một sự tự phụ phát sinh từ việc khép kín ích kỷ trong chính mình.”[1] Hệ quả là con người tưởng rằng mình có thể kiến tạo thực tại, và điều gì phù hợp nhất với yêu sách của mình thì được xem là đúng. Thánh Gioan Phaolô II đã suy tư về các hệ quả của “cuộc khủng hoảng sự thật” này, đến mức khẳng định rằng “một khi ý tưởng về một chân lý phổ quát liên quan đến điều thiện, có thể được lý trí con người nhận biết, bị đánh mất, thì tất yếu quan niệm về lương tâm cũng thay đổi.”[2] Trong bối cảnh ấy, người ta không còn nhìn nhận những chân lý có giá trị phổ quát, vốn đi trước chúng ta và lương tâm phải đón nhận. Điều này đã khiến Đức Thánh Cha Phanxicô thực tế đặt câu hỏi: “Luật pháp “…nếu không có xác tín - được hình thành qua bao thế kỷ suy tư và sự khôn ngoan lớn lao - rằng mỗi con người đều là thánh thiêng và bất khả xâm phạm?” Và rồi ngài kết luận: “Nếu xã hội muốn có tương lai, xã hội ấy phải tôn trọng sự thật về phẩm giá con người và quy phục sự thật ấy. Giết người không sai trái chỉ vì xã hội không chấp nhận và luật pháp trừng phạt, nhưng vì một xác tín sâu xa hơn. Đây là chân lý không thể thương lượng, đạt được nhờ lý trí và được đón nhận trong lương tâm. Một xã hội trở nên cao quý và xứng đáng trước hết nhờ việc nâng đỡ cuộc tìm kiếm chân lý và trung thành với những chân lý căn bản nhất.”[3]
134. Việc tìm kiếm chân lý là một yếu tố thiết yếu của nền dân chủ, vốn tự nó là một phương thế để phục vụ công ích. Khi những câu hỏi về điều gì là chân thật không còn hấp dẫn nữa, và khi một thứ chủ nghĩa thực dụng chỉ bằng lòng với điều gì xem ra hữu ích hay hiệu quả chiếm ưu thế, thì đời sống dân chủ sẽ suy yếu. Sau cùng, dân chủ không chỉ hệ tại nơi các luật lệ và thủ tục, nhưng trên hết là nơi sự đồng thuận vững chắc với các sự kiện và một cam kết chân thành cho thiện ích của con người và toàn xã hội. Sự dửng dưng trước chân lý sẽ dẫn dần đến chủ nghĩa toàn trị. Như triết gia Hannah Arendt đã viết, những đối tượng lý tưởng của các chế độ ấy không hẳn là những người bị thuyết phục về ý thức hệ, nhưng là “những người mà đối với họ, sự phân biệt giữa sự kiện và hư cấu (tức thực tại của kinh nghiệm) cũng như sự phân biệt giữa đúng và sai (tức chuẩn mực của tư tưởng) không còn hiện hữu nữa.”[4]
Truyền thông và trí tưởng tượng tập thể
135. Trước bối cảnh ấy, cần nhớ rằng truyền thông “không chỉ là việc chuyển tải thông tin, nhưng còn là việc tạo nên một nền văn hóa.”[5] Những nội dung lưu chuyển trong môi trường kỹ thuật số đang định hình cách con người nhìn thế giới và đưa vào trong ý thức tập thể những hình ảnh cùng những câu chuyện dẫn dắt các khát vọng và ảnh hưởng đến những chọn lựa hằng ngày của chúng ta. Đây “không phải là một thế giới song song hay thuần túy ảo,”[6] bởi những gì phát sinh trên mạng giờ đây đã trở thành một phần của đời sống con người, đặc biệt nơi giới trẻ.
136. Vì thế, những ai kiểm soát các nền tảng kỹ thuật số và các phương tiện truyền thông đang nắm giữ một khả năng rất lớn trong việc ảnh hưởng đến trí tưởng tượng tập thể và trình bày một cái nhìn nào đó về thực tại như điều đáng mong muốn. Quyền lực ấy phải luôn được hướng dẫn bởi việc tìm kiếm chân lý và sự tôn trọng phẩm giá con người, để nền văn hóa được nuôi dưỡng trên internet không trở thành công cụ của sự phân tán quá mức, đồng hóa hay thống trị, nhưng là một môi trường trong đó tự do nội tâm và tư duy phản biện có thể trưởng thành.
Hướng tới một hệ sinh thái truyền thông
137. Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta không phải là quỷ hóa hay thần tượng hóa các công cụ công nghệ, nhưng là sử dụng chúng dựa trên một nguyên tắc nền tảng: chân lý là một thiện ích chung chứ không phải tài sản của những người có quyền lực hay ảnh hưởng. Vì thế, chúng ta phải cổ võ một “hệ sinh thái truyền thông.” Ở cấp độ chính sách công, điều này đòi hỏi thiết lập những quy định để các quyết định liên quan đến việc chọn lọc và phát triển nội dung trở nên minh bạch hơn và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Ở bình diện xã hội và văn hóa, điều này đòi hỏi phải củng cố các tổ chức trung gian, nền báo chí nghiêm túc và các diễn đàn đối thoại, nơi lập luận có lý lẽ và việc kiểm chứng sự thật được coi trọng hơn những phản ứng tức thời. Đối với gia đình và trường học, ngày càng cần có một ý thức giáo dục mới và việc đào tạo về cách sử dụng đúng đắn và có phê phán các công cụ kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng thương mại cũng như tài chính trực tuyến. Trong các đại học, thách đố chính là hội nhập tri thức, đào luyện khả năng liên kết và tổng hợp kiến thức để hiểu được tính phức tạp của thực tại, cũng như phát triển kỹ năng kiểm chứng sự kiện.
138. Các cộng đoàn Kitô hữu cũng được mời gọi dấn thân cho sự minh bạch trong truyền thông và cho việc tìm kiếm sự thật cách trung thực. Đáng buồn thay, điều ấy không phải lúc nào cũng được thực hiện. Chúng ta đã chứng kiến với lòng hổ thẹn những sự thật đau đớn liên quan đến chính một số thành viên của Hội Thánh và các thực tại Giáo Hội. Đặc biệt, một số nhà báo, được thúc đẩy bởi lòng say mê chân lý, đã đóng vai trò quan trọng trong việc đưa những bất công và lạm dụng ra ánh sáng. Với họ, tôi muốn lặp lại lời Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói với giới báo chí: “Tôi cũng cảm ơn anh chị em vì những gì anh chị em nói với chúng tôi về những điều sai trái trong Hội Thánh, vì đã giúp chúng tôi không che giấu chúng dưới tấm thảm, và vì đã lên tiếng cho các nạn nhân của lạm dụng.”[7] Tuy nhiên, sự cảnh giác và minh bạch trước hết vẫn là trách nhiệm nghiêm trọng của chính Hội Thánh, và chúng ta không được chờ người khác ép buộc mình đối diện với những sự thật khó chịu về chính bản thân mình.
Một liên minh giáo dục cho thời đại kỹ thuật số
139. Trong một thời đại mà chân lý thường bị bóp méo để phục vụ các lợi ích và chiến lược truyền thông riêng, lãnh vực giáo dục mang một tầm quan trọng quyết định. Tuy nhiên, những biến đổi công nghệ quá nhanh đang cho thấy chúng ta thiếu chuẩn bị biết bao về mặt giáo dục. Sự lan tràn của các phương tiện kỹ thuật số tạo nên một nền văn hóa của tính tức thời và kích thích quá mức, dẫn đến sự mệt mỏi, chán chường và thờ ơ đối với nỗ lực cần thiết để tìm kiếm chân lý.
140. Trái lại, giáo dục là một hành trình dài đòi hỏi sự kiên nhẫn, và vì thế cần có thời gian để trưởng thành và để tiếp xúc với thực tại vượt lên trên vẻ bề ngoài. Đây là một vấn đề nền tảng bởi mọi công nghệ đều định hình chính những người sử dụng nó. Vì thế, giáo dục con người về việc sử dụng AI bao hàm việc dạy họ biết quyết định khi nào và vì mục đích nào AI không nên được sử dụng. Tốc độ và sự dễ dàng trong việc đạt được câu trả lời hay bản tóm tắt có nguy cơ dập tắt khát vọng đặt câu hỏi - một tiến trình chỉ sinh hoa trái theo thời gian. Như Plato đã viết, những điều sâu sắc và quan trọng nhất chỉ được học biết sau rất nhiều thời gian và nỗ lực, bằng cách đối thoại với người khác, “va chạm” các ý tưởng và kinh nghiệm vào nhau như đá lửa cho đến khi tia sáng của sự hiểu biết bừng lên trong chúng ta.[8] Vì thế, chúng ta phải học biết tiết độ trong việc sử dụng AI và bảo vệ giới trẻ khỏi lời hứa hẹn của “cỗ máy hoàn hảo,” khỏi cám dỗ tinh vi khiến tư tưởng con người dường như trở nên dư thừa đúng vào lúc nó cần thiết nhất.
141. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu tâm lý học và tâm thần học ngày càng cho thấy rằng việc tiếp xúc quá sớm và thiếu giám sát với các thiết bị kỹ thuật số và mạng xã hội có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến giấc ngủ, khả năng chú ý, việc kiểm soát cảm xúc và các mối tương quan, đặc biệt trong những giai đoạn dễ tổn thương nhất của đời người, đôi khi dẫn đến những hậu quả bi thảm. Tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn bởi việc dễ dàng tiếp cận các nội dung bạo lực hoặc hạ thấp nhân phẩm, xúc phạm cảm thức con người; các nội dung khiêu dâm và siêu tính dục hóa; những thông điệp tầm thường hóa thân xác và cảm xúc; cũng như những đề nghị bình thường hóa các hành vi nguy hiểm. Những hiện tượng trên mạng như dụ dỗ trẻ vị thành niên, tống tiền và khai thác tình dục trẻ em không phải là hiếm, và càng trở nên tinh vi hơn nhờ các hồ sơ giả, các thuật toán tạo điều kiện cho những tiếp xúc nguy hiểm, cùng các công cụ AI có khả năng thao túng hình ảnh và video. Việc sở hữu thiết bị di động cá nhân quá sớm và sử dụng chúng mà không có sự giám sát của người lớn có thể làm gia tăng tính dễ tổn thương nơi giới trẻ, nuôi dưỡng tình trạng nghiện ngập và đẩy họ vào cô lập, đe doạ hay khủng bố trên mạng, cũng như tạo áp lực phải chia sẻ hình ảnh thân mật hay thông tin nhạy cảm.
142. Thật khó để các bậc cha mẹ một mình chống lại ảnh hưởng của những mô hình kinh doanh kiếm lợi từ sự chú ý và thời gian của con người. Vì thế, điều thiết yếu là phải hình thành một liên minh giữa các nhà hoạch định chính sách, các cơ sở giáo dục và gia đình, đủ khả năng nâng đỡ cụ thể người lớn trong nhiệm vụ này. Cần có những chính sách công có tầm nhìn xa để chống lại các lợi ích tức thời của những nền tảng tập trung trong tay một số ít người, khi các lợi ích ấy đi ngược lại với sự an toàn của trẻ vị thành niên. Trong chiều hướng này, việc các nhà lập pháp can thiệp để đặt ra giới hạn độ tuổi, buộc các nhà cung cấp dịch vụ phải chịu trách nhiệm thay vì đẩy toàn bộ gánh nặng kiểm soát cho gia đình, và đưa ra những bảo vệ cụ thể chống lại mọi hình thức khai thác tình dục và bạo lực trực tuyến là điều thích hợp. Chỉ như thế trẻ em và thanh thiếu niên - những người được trao phó cho sự chăm sóc của chúng ta - mới thật sự được bảo vệ như một kho tàng quý giá.[9] Đồng thời, cũng cần dạy cho trẻ em, thanh thiếu niên và người trẻ biết nhận ra sự thao túng, bảo vệ phẩm giá của mình và tôn trọng phẩm giá của người khác trong môi trường kỹ thuật số.[10]
Vai trò trung tâm của trường học
143. Trường học là nơi các thế hệ mới có thể học biết tìm kiếm và yêu mến chân lý, suy tư về ý nghĩa cuộc sống và nhận ra phẩm giá của mỗi con người. Chính vì thế, nhiều bậc cha mẹ - những người mong muốn con cái mình lớn lên với khả năng xây dựng các mối tương quan, phát triển tư duy phản biện và đón nhận những giá trị vững chắc - đặt rất nhiều kỳ vọng nơi trường học như những cộng sự quý giá trong việc giáo dục con cái họ. Tuy nhiên, cha mẹ vẫn có quyền tiên quyết và bất khả nhượng trong việc chọn lựa loại hình giáo dục và đào tạo cho con cái mình, phù hợp với xác tín luân lý, văn hóa và tôn giáo của họ. Ngày nay, thế giới giáo dục đang phải đối diện với nhiều thách đố khẩn thiết.
144. Thách đố đầu tiên mang tính xã hội và chính trị. Cả trong từng quốc gia lẫn giữa các vùng khác nhau trên thế giới, vẫn còn tồn tại những bất bình đẳng lớn liên quan đến việc tiếp cận giáo dục căn bản và giáo dục đại học. Tại nhiều quốc gia, các chính phủ vẫn chưa đầu tư đủ nguồn lực cần thiết để bảo đảm một nền giáo dục chất lượng cho mọi người, dù qua việc hỗ trợ thích đáng hệ thống trường công hay trợ giúp các cơ sở tư thục đang cung cấp dịch vụ thiết yếu này. Khi phần lớn giáo dục ở nhiều cấp độ được giao phó cho các cơ sở tư nhân, việc tiếp cận trường học có nguy cơ quá lệ thuộc vào khả năng tài chính của gia đình, đặc biệt khi thiếu sự hỗ trợ công thích hợp. Tuy nhiên, trước nguy cơ ấy, điều quan trọng vẫn là nhìn nhận và khuyến khích đóng góp của rất nhiều cơ sở giáo dục Công giáo tư thục, vốn bảo đảm cơ hội tiếp cận bao gồm cho trẻ em và giới trẻ thuộc mọi hoàn cảnh, ngay cả khi điều kiện kinh tế của gia đình họ vốn không cho phép.
145. Thách đố lớn thứ hai mang tính sư phạm. Nhiều hệ thống giáo dục đang chật vật để theo kịp những thay đổi và nâng đỡ sự phát triển toàn diện của học sinh. Sự tiến bộ của công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo đang nhanh chóng làm cho các chương trình học được thiết kế cho một thời đại khác trở nên lỗi thời. Trong khi đó, việc tổ chức trường học, không gian vật lý, phương pháp đánh giá và ngay cả vai trò của giáo viên cũng cần được suy nghĩ lại nhằm cổ võ một nền giáo dục đích thực toàn diện, quan tâm đến mọi chiều kích của con người. Cần nâng đỡ việc đào tạo liên tục cho giáo viên trong suốt đời nghề nghiệp của họ, để họ có thể tiếp cận tích cực với các công nghệ mới, giúp học sinh sử dụng chúng cách có trách nhiệm, phê phán và sáng tạo, thay vì thụ động bị cuốn theo ảnh hưởng của chúng.
146. Thách đố lớn thứ ba mang tính trí thức và liên quan đến tri thức. Nếu không được lưu tâm đúng mức, có nguy cơ xuất hiện một hệ thống giáo dục thiếu tình yêu đối với chân lý, trong đó dòng chảy thông tin liên tục thay thế cho việc nghiên cứu, suy tư và phân định vốn là điều cốt yếu. Khi tri thức ngày càng bị phân mảnh, con người sẽ khó nắm bắt thực tại như một toàn thể, khó đặt ra những câu hỏi sâu xa về ý nghĩa và khó phát triển tư duy phản biện, sáng tạo và chân thực. Nhiều nhà giáo dục đã ghi nhận những dấu hiệu phi nhân hóa, khi con người có thể “biết rất nhiều điều” nhưng lại chật vật trong việc tìm ra hướng đi cho đời mình, phần nào vì không thể nối kết thông tin với tri thức sâu xa hơn hay duy trì cảm thức về mục đích sống. Cần có một thái độ lành mạnh đích thực, bao gồm những nhịp sống biết dành chỗ cho thinh lặng, học hỏi chuyên sâu, đọc sách và phân tích cách chín chắn, bởi nếu thiếu những yếu tố ấy, tự do nội tâm có thể bị tổn hại.
147. Học thuyết Xã hội của Hội Thánh mời gọi các gia đình, trường học, cộng đoàn Kitô hữu và các cơ quan công quyền hình thành một liên minh giáo dục mới. Liên minh ấy thành hình khi những nguyên tắc nền tảng được chuyển hóa thành các mục tiêu giáo dục cụ thể, bao gồm việc dạy học sinh biết sống tiết độ và ý thức giới hạn; nhìn nhận quyền của người khác và của các thế hệ tương lai trong việc hưởng dùng những thiện ích thiên nhiên cũng như những thành quả do trí tuệ con người tạo ra; biết sống tự do và trách nhiệm; cùng có cảm thức về sự siêu việt và công ích. Trường học không được mời gọi chạy theo nhịp độ của thế giới kỹ thuật số, nhưng trao ban điều mà bản thân môi trường kỹ thuật số không thể tự cung cấp: một thời gian chung để học hỏi và xây dựng những tương quan đáng tin cậy.
Phẩm giá của lao động trong thời đại chuyển đổi kỹ thuật số
Giá trị của lao động
148. Ngay từ khi hình thành Học thuyết Xã hội của mình, khởi đi với thông điệp Rerum Novarum, Hội Thánh đã nhấn mạnh việc bảo vệ người lao động và sự cần thiết phải chống lại mọi hình thức bóc lột. Tuy nhiên, trên hết, Huấn quyền nhìn nhận nơi lao động “chìa khóa thiết yếu”[11] để hiểu toàn bộ vấn đề xã hội, bởi chính nhờ lao động mà con người phát triển nhiều chiều kích trong cuộc sống của mình. Từ đó, chúng ta có thể hiểu được trực giác vĩ đại của thánh Biển Đức thành Nursia, vị đã kết hợp cầu nguyện và lao động, cho thấy công việc hằng ngày là một phần trong lời đáp trả của con người trước tiếng gọi của Thiên Chúa. Được dựng nên theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa, lao động của chúng ta phần nào tiếp nối công trình của Người, bởi qua đó chúng ta góp phần vào sự tiến bộ của xã hội và công ích, sử dụng tốt những khả năng đã lãnh nhận, cải thiện và làm đẹp thế giới, nâng đỡ gia đình mình, xây dựng những tương quan cộng tác, và qua việc lắng nghe cùng đối thoại, học biết cùng nhau kiến tạo điều mà không ai có thể thực hiện một mình.
149. Vì những lý do ấy, lao động không chỉ đơn thuần là một công cụ; lao động diễn tả và làm triển nở phẩm giá cuộc sống của chúng ta. Đó là một đòi hỏi của thân phận con người, là con đường bình thường dẫn tới sự trưởng thành, phát triển và hoàn thiện bản thân. Trong chiều hướng này, việc trợ giúp tài chính cho người nghèo đôi khi là cần thiết trong các tình huống khẩn cấp, nhưng không thể trở thành giải pháp duy nhất, bởi mục tiêu là giúp mỗi người có thể sống xứng đáng nhờ chính lao động của mình.[12]
150. Ngày nay, sự hội tụ của tự động hóa, robot và trí tuệ nhân tạo đang nhanh chóng biến đổi chính cấu trúc của lao động. Người ta nói rằng điều này sẽ mang lại những cải thiện lớn lao cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, trên thực tế, những “phương thức lao động mới” ấy không nhất thiết tốt hơn, bởi “trong khi AI hứa hẹn gia tăng năng suất bằng cách đảm nhận các công việc tẻ nhạt, nó thường buộc người lao động phải thích nghi với tốc độ và đòi hỏi của máy móc, thay vì máy móc được thiết kế để nâng đỡ người lao động. Hệ quả là, trái ngược với những lợi ích được quảng bá, các cách tiếp cận công nghệ hiện nay có thể nghịch lý thay lại làm suy giảm kỹ năng của người lao động, đặt họ dưới sự giám sát tự động và đẩy họ vào những công việc cứng nhắc, lặp đi lặp lại. Nhu cầu phải theo kịp nhịp độ của công nghệ có thể làm xói mòn khả năng chủ động của người lao động và bóp nghẹt sự sáng tạo mà họ được mong đợi đem vào công việc.”[13] Chính để tránh sự lệch hướng này, cần phải thiết kế những hệ thống lấy con người làm trung tâm chứ không chỉ đặt hiệu suất lên hàng đầu.
Vấn đề thất nghiệp
151. Thánh Gioan Phaolô II nhìn nhận thất nghiệp là một sự dữ nghiêm trọng. Thật vậy, khi đạt tới quy mô lớn, nó trở thành một thảm họa xã hội đích thực, đòi hỏi Nhà nước phải đặc biệt thi hành trách nhiệm của mình.[14] Ngày nay, giữa cuộc “cách mạng công nghiệp lần thứ tư,” mối bận tâm ấy càng trở nên cấp bách hơn, bởi đổi mới thường chỉ được theo đuổi nhằm cắt giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận.[15] Trong một số bối cảnh, người ta có lý khi lo sợ về sự sụt giảm nhanh chóng và đáng kể của việc làm, điều có thể tạo nên phản ứng dây chuyền ảnh hưởng sâu rộng đến gia đình, giới trẻ và các nền kinh tế địa phương. Trong nhiều lãnh vực, người ta đã thấy xuất hiện những hình thức mới của tình trạng bất ổn nghề nghiệp và bất bình đẳng, với mức thù lao quá lớn dành cho một thiểu số chuyên môn cao, trong khi phần lớn lực lượng lao động phải đối diện với mức lương ngày càng giảm sút.
152. Chắc chắn, điều đáng mong muốn là công nghệ giúp con người thoát khỏi những công việc nặng nhọc, lặp đi lặp lại hay nguy hiểm, đồng thời cung cấp sự hỗ trợ thông minh cho hoạt động của con người. Tuy nhiên, việc bảo vệ cơ hội việc làm và vai trò không thể thay thế của con người phải luôn là nguyên tắc căn bản. Việc theo đuổi lợi nhuận lớn hơn không thể biện minh cho những chọn lựa hy sinh công ăn việc làm một cách có hệ thống, bởi con người là cùng đích chứ không phải phương tiện, và trật tự kinh tế phải luôn quy phục phẩm giá con người và công ích.
153. Đồng thời, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng mọi cuộc chuyển đổi thực sự đều bao hàm những đứt gãy, bởi chúng diễn ra không đồng đều, phân mảnh và đôi khi đầy xung đột. Vì thế, không có một mô hình thay đổi duy nhất hay giải pháp phổ quát cho mọi nơi, bởi mỗi địa phương và hoàn cảnh đòi hỏi những đáp án khác nhau. Trước sự bất bình đẳng vốn đặc trưng cho thế giới hôm nay, sự lan rộng của AI và các hệ thống tính toán tạo ra những tác động rất khác biệt ở từng nơi. Những xã hội giàu có tự động hóa nhanh chóng và hỗn loạn, làm giảm nhu cầu lao động và tạo ra thất nghiệp cũng như những căng thẳng về thể chế. Ngược lại, nhiều vùng rộng lớn trên thế giới vẫn mắc kẹt trong những nền kinh tế lai tạp, nơi lao động con người với đồng lương rẻ mạt và công nghệ nửa vời cùng tồn tại mà không đem lại sự chuyển đổi thực sự. Những vùng ấy trở thành nơi của lao động bấp bênh, bất ổn và là điểm nóng của di cư cưỡng bức. Vì thế, các giải pháp cần được tìm kiếm ở cấp quốc gia và địa phương với sự tham gia của các cộng đồng trung gian. Chúng ta cần những công cụ thích ứng, bao gồm các mô hình được tổ chức tốt, các sáng kiến địa phương, sự tái phân phối tiến bộ và những quyền tiếp cận mới đối với các nhu cầu thiết yếu. Dù không theo đuổi một sự hài hòa trừu tượng, chúng ta vẫn phải xây dựng những hình thức chung sống nhân bản cụ thể trong thời kỳ chuyển đổi này.
154. Lao động vẫn là một chiều kích nền tảng của kinh nghiệm nhân loại, bởi nó không chỉ là phương tiện sinh sống, nhưng còn là môi trường để con người diễn tả bản thân, xây dựng các tương quan và đóng góp cho cộng đồng. Vì thế, những vấn đề liên quan đến lao động vượt xa chuyện thu nhập cần thiết cho sự sống còn của gia đình. Một xã hội chỉ bảo đảm việc làm cho một phần nhỏ dân số, dù đạt trình độ phát triển kỹ thuật cao, có nguy cơ đẩy nhiều người vào tình trạng bị buộc phải nhàn rỗi, thiếu trách nhiệm và không có những công việc hay động lực hằng ngày, dẫn đến sự nghèo nàn về nhân bản và văn hóa. Điều này tạo nên một nghịch lý: tiến bộ vật chất nhưng thoái hóa nhân học, làm lung lay nền tảng của một nền hòa bình xã hội công bằng và bền vững. Vì thế, Học thuyết Xã hội của Hội Thánh nhấn mạnh rằng việc bảo đảm cơ hội lao động cho mọi người phải là ưu tiên hàng đầu của các chính sách công và các tiến trình kinh tế, đồng thời là tiêu chuẩn để đánh giá phẩm chất nhân bản của bất kỳ mô hình phát triển nào.[16] Hơn nữa, tại những nơi mà lao động đang suy giảm hoặc biến đổi sâu sắc do các tiến trình công nghệ và tổ chức nằm ngoài sự kiểm soát dân chủ, chúng ta phải suy nghĩ lại về bản chất của lao động và mối liên hệ của nó với quyền công dân, để tình trạng thất nghiệp không làm tổn hại đến sự tham gia xã hội.
155. Dưới ánh sáng của xác tín này, chúng ta càng có thể trân trọng hơn lịch sử phát triển của Học thuyết Xã hội của Hội Thánh sau Rerum Novarum. Những sáng kiến xuất phát từ truyền thống ấy - bao gồm các hiệp hội, công đoàn, hợp tác xã và các tổ chức phúc lợi - đã góp phần quyết định trong việc cải thiện luật lao động, bảo vệ những người dễ tổn thương nhất và thúc đẩy những điều kiện sống nhân đạo hơn.[17] Tuy nhiên, ngày nay, tự bản thân những công cụ ấy không còn đủ trước các biến đổi do AI, cách tổ chức mới của thị trường và sự cạnh tranh vốn hiếm khi quan tâm đến tính bền vững xã hội. Cần có những nỗ lực cộng tác mới giữa các nhà lãnh đạo chính trị, các tổ chức lao động, giới doanh nghiệp và cộng đồng khoa học để nhanh chóng xây dựng những quy định và cơ chế bảo vệ chung thích hợp, kể cả ở cấp độ quốc tế.[18] Các công đoàn lao động - vốn luôn được Hội Thánh nâng đỡ - được mời gọi mở ra trước những hình thức lao động mới và những nhu cầu tương ứng của người lao động, để có thể đại diện và bảo vệ họ. Trong bối cảnh ấy, nếu không có những quyết định can đảm, nguy cơ nghèo đói và bất bình đẳng gia tăng sẽ hiện rõ, khiến nhiều người bị gạt ra bên lề, mắc kẹt và bị bao quanh bởi các cỗ máy cùng những hệ thống tự động đã thay thế họ.
156. Trong thời kỳ chuyển đổi này, chỉ phản ứng khi việc làm biến mất là chưa đủ; chúng ta phải chủ động điều hướng sự chuyển đổi ngay từ đầu. Một hướng đi khả thi trước tiên là thiết lập những tiêu chuẩn xã hội cho đổi mới công nghệ. Theo đó, mọi việc đưa tự động hóa và AI vào sử dụng phải đi kèm với những biện pháp có thể kiểm chứng nhằm bảo vệ việc làm, đào tạo lại và bảo đảm sự tham gia của người lao động. Nhờ đó, công nghệ sẽ được định hướng để giải phóng thời gian và khả năng của con người, thay vì tạo nên sự loại trừ. Thứ đến, cần có những chính sách chủ động giúp mọi người đều có thể tiếp cận việc đào tạo liên tục và chuyển đổi nghề nghiệp, để chi phí thích nghi không đổ dồn lên vai cá nhân. Sau cùng, cần có cam kết từ phía doanh nghiệp nhằm đưa chất lượng và phẩm giá lao động trở thành một trong những tiêu chuẩn đánh giá thành công. Khi những điều kiện ấy được bảo đảm, đổi mới có thể trở thành người bạn đồng hành của một nền lao động an toàn hơn, sáng tạo hơn và xứng hợp hơn với phẩm giá con người; nếu không, đổi mới sẽ trở thành động lực thúc đẩy bất công.
Một nền kinh tế biết trân trọng phẩm giá
157. Thị trường lao động là một trong những lãnh vực cho thấy rõ hơn cả các nguy cơ gắn liền với những công nghệ mới. Vì thế, cần phải nhớ rằng tự do kinh tế không phải là tuyệt đối; tự do ấy luôn phải được đo lường theo công ích và phẩm giá của mỗi con người. Sáng kiến kinh doanh thật sự có thể là một ơn gọi, tạo ra của cải và cải thiện đời sống, chứ không chỉ là một biến số lệ thuộc vào lợi nhuận. Điều này có thể xảy ra khi sáng kiến ấy nhìn nhận rằng việc tạo ra những công ăn việc làm xứng đáng và có giá trị là một phần thiết yếu trong việc phục vụ xã hội cách đúng đắn.[19]
158. Với tinh thần ngôn sứ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cảnh báo chống lại thứ tự do kinh tế chỉ được công bố trên lời nói, trong khi các điều kiện thực tế lại ngăn cản nhiều người được hưởng lợi từ tự do ấy.[20] Những mô hình kinh tế đề cao hiệu quả và thành công cá nhân thường xem việc đầu tư cho người nghèo, người yếu thế hay những người có lộ trình phát triển chậm hơn là điều vô ích hoặc bất tiện, như thể tương lai của họ hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng bắt kịp những “người chiến thắng.” Trên thực tế, một xã hội công bằng đòi hỏi phải có một Nhà nước biết cảnh giác và các định chế dân sự có khả năng vượt qua não trạng chỉ biết hiệu quả, đồng thời bảo đảm rằng các nguồn lực, giải pháp sáng tạo và quy định pháp lý ưu tiên cho những người dễ bị tổn thương nhất.[21] Thay vì chờ đợi các lợi ích của tăng trưởng “cuối cùng rồi sẽ” đến với người nghèo, cần phải đưa ra những quyết định để bảo đảm rằng tăng trưởng mang tính bao gồm ngay từ đầu. Kinh nghiệm trong những thập niên gần đây cho thấy rằng trong các cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính, người nghèo luôn là những người phải trả giá cao nhất, trong khi các lý thuyết hứa hẹn sự thịnh vượng tự động cho mọi người thường tỏ ra là ảo tưởng.
159. Điều quan trọng là phải vượt ra khỏi các thước đo phát triển hiện nay - vốn trong hơn tám mươi năm qua đã gắn liền với khái niệm Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) - bởi những thước đo này hầu như thường xuyên bỏ qua những khía cạnh thiết yếu đối với thiện ích toàn diện của con người và môi trường. Việc phát triển các tiêu chí và thước đo bổ sung cho GDP là điều rất cần thiết để cải thiện các cơ sở dữ liệu dùng cho phân tích, cho việc đưa ra các quyết định chính trị và kinh tế, cũng như cho việc xác lập các ưu tiên ở cấp vùng, quốc gia và quốc tế. Việc đưa vào những tiêu chí mới sẽ cho phép đánh giá cách toàn diện và kịp thời tác động của các quyết định lập pháp và quản trị đối với phẩm giá lao động, sự thịnh vượng được chia sẻ, việc giảm bất bình đẳng và bảo vệ môi trường. Điều đó cũng sẽ ảnh hưởng đến quan niệm về phát triển, các tiến trình giáo dục, não trạng và dư luận xã hội, cũng như đến hòa bình, vốn chỉ đích thực khi được đặt nền trên công lý.
160. Trong những năm gần đây, tài chính ngày càng trở nên quan trọng và đã trải qua nhiều đổi mới đáng kể, một phần được thúc đẩy bởi sự xuất hiện của các loại tiền mã hóa. Những suy tư và nhận định trong giáo huấn của các vị tiền nhiệm của tôi, đặc biệt trong các thông điệp của các ngài, đã cho thấy rằng khu vực trung gian tài chính, “khi hoạt động mà thiếu những nền tảng nhân học và luân lý cần thiết, không những tạo ra những lạm dụng và bất công hiển nhiên, nhưng còn cho thấy khả năng gây nên những cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính hệ thống và toàn cầu.”[22] Cũng vậy, thu nhập từ vốn có nguy cơ thay thế thu nhập từ lao động, trong khi lao động thường bị đẩy ra bên lề những mối quan tâm chính của hệ thống kinh tế. Tuy nhiên, các khoản tiết kiệm được chuyển thành tín dụng cho nền kinh tế thực, qua đó tạo ra việc làm và việc tự doanh, vẫn là yếu tố trung tâm cho phát triển và cho các khoản đầu tư cần đồng hành với những chuyển đổi đang diễn ra. Chức năng xã hội của tín dụng vẫn không thể thay thế. Tài chính tự quy về chính mình khác biệt tận căn với tài chính nhằm phục vụ sự phát triển, sáng tạo và tiến hóa của lao động.
161. Viễn tượng này cần được đặt trong một cái nhìn rộng hơn về các động lực toàn cầu. Dù của cải thế giới đã gia tăng về mặt tuyệt đối, nhưng ngày càng tập trung trong tay một số ít người hơn, làm cho bất bình đẳng gia tăng cả trong nội bộ các quốc gia lẫn giữa các quốc gia với nhau. “Có một số ít người có quá nhiều, và quá nhiều người có quá ít: đó là logic của thời đại hôm nay.”[23] Những tiến bộ khoa học và công nghệ, ngay cả trong lãnh vực y tế, vẫn không dễ dàng đến được với đại đa số con người, như đại dịch vừa qua đã cho thấy cách bi thảm. Trong khi một số vùng chi tiêu rất nhiều cho những can thiệp không thiết yếu hoặc cho những giấc mơ nâng cấp cá nhân chỉ dành cho một thiểu số, thì ở những nơi khác trên thế giới, người ta lại thiếu những trang thiết bị căn bản cần thiết để cứu sống hàng triệu sinh mạng. Nghĩ rằng các công nghệ mới sẽ tự động đem lại lợi ích cho mọi người là phớt lờ thực tế. Nếu ngay từ giai đoạn thiết kế, các chuyển đổi không ưu tiên ngăn ngừa những bất bình đẳng mới và trầm trọng hơn, thì tiến bộ công nghệ chắc chắn sẽ tạo ra các bất bình đẳng mang tính cơ cấu. Ngày nay, công lý đòi hỏi mọi người được tiếp cận các lợi ích của đổi mới, bao gồm chăm sóc, tri thức, công cụ và cơ hội.
162. Những luật lệ công bằng và các phương pháp tái phân phối chắc chắn là cần thiết để sửa chữa các mất cân bằng, bao gồm cả hệ thống thuế làm nhẹ gánh nặng cho những người yếu thế nhất và đòi hỏi nhiều hơn nơi những người có nhiều nguồn lực hơn. Tuy nhiên, việc theo đuổi công bằng xã hội không được xem như một vấn đề tách biệt, chỉ xuất hiện sau khi của cải đã được tạo ra, như thể kinh tế chỉ có nhiệm vụ tạo ra của cải, còn các nhà chính trị chỉ can thiệp sau đó để phân phối. Thật vậy, công lý liên quan đến mọi giai đoạn của hoạt động kinh tế, từ việc tiếp nhận tài nguyên đến tài trợ, từ sản xuất đến tiêu dùng; mọi chọn lựa đều mang những hệ quả luân lý.[24]
163. Hơn bao giờ hết, trong thời đại AI và robot, chúng ta không thể chỉ dựa vào “bàn tay vô hình” của thị trường.[25] Chính trị có nhiệm vụ định hướng kinh tế và công nghệ về công ích, cổ võ công ăn việc làm xứng đáng, sự bao gồm xã hội và việc phân phối công bằng các lợi ích của đổi mới. Vì nhiều quyết định kinh tế vượt qua biên giới quốc gia, cũng cần có sự hợp tác quốc tế có khả năng xác định những chiến lược chung, đặc biệt nhằm nâng đỡ các quốc gia và con người dễ bị tổn thương nhất, để cổ võ phát triển và vượt qua tình trạng lệ thuộc vào trợ cấp. Nền tảng của những chọn lựa ấy là phẩm giá vô lượng của mỗi con người, công ích và một thế giới thật sự được quản trị vì mọi người. Mối liên hệ hỗ tương giữa hòa bình và phát triển, như Thánh Phaolô VI đã viết cách ngôn sứ năm 1967,[26] vẫn còn nguyên giá trị hôm nay, bởi sự thịnh vượng chỉ góp phần xây dựng và củng cố hòa bình khi nó rộng khắp, bao gồm và bền vững.
164. Trên bình diện thực hành, trong thời đại AI và robot, bảo đảm rằng nền kinh tế phục vụ phẩm giá con người có nghĩa là áp dụng một số tiêu chuẩn hành động rõ ràng. Trước hết là minh bạch và trách nhiệm giải trình: khi dữ liệu và thuật toán ảnh hưởng đến việc phân phối tín dụng, tuyển dụng nhân sự hoặc khả năng tiếp cận dịch vụ và cơ hội, các quyết định ấy cần phải dễ hiểu, có thể chất vấn và chịu sự giám sát, để con người không bị giản lược thành những hồ sơ dữ liệu. Thứ đến là bao gồm và tiếp cận: lợi ích của đổi mới phải đi đôi với việc đầu tư vào kỹ năng, hạ tầng và các dịch vụ thiết yếu, để công nghệ không làm gia tăng khoảng cách giữa những người có và những người không có. Sau cùng là những biện pháp bảo đảm công bằng: thuế khóa, bảo trợ xã hội và các chính sách công nghiệp phải điều chỉnh những mất cân bằng do sự tập trung của cải và quyền lực tạo ra. Thật vậy, các tiêu chuẩn này không phải là một sự kìm hãm đổi mới; trái lại, chúng làm cho đổi mới trở nên văn minh và nhân bản.
Gia đình và người trẻ: những điều kiện xã hội của niềm hy vọng
165. Gia đình là một thiện ích xã hội nền tảng. Được xây dựng trên sự kết hợp bền vững giữa một người nam và một người nữ, gia đình là môi trường đầu tiên nơi mọi người phát triển tiềm năng của mình, ý thức về phẩm giá của mình và học những hình thức đầu tiên của chân lý và sự thiện, đồng thời nội tâm hóa những thói quen chuẩn bị họ bước vào đời sống xã hội.[27] Là xã hội tự nhiên đầu tiên, được trao ban những quyền nền tảng, gia đình là tế bào căn bản và không thể thay thế của mọi tổ chức cộng đồng.[28] Vì thế, khi các dự án chính trị và những quyết định kinh tế lớn đẩy gia đình ra bên lề hoặc đặt gia đình ở vị trí thứ yếu, sự tăng trưởng đích thực của toàn thể xã hội bị tổn hại.[29]
166. Tuy nhiên, gia đình cũng là một thiện ích xã hội mong manh, bị tác động ngay lập tức bởi những biến đổi kinh tế và công nghệ đang tái định hình bản chất của lao động. Vì thế, gia đình cần được nâng đỡ về văn hóa, pháp lý và kinh tế. Tác động tàn phá của thất nghiệp và tình trạng việc làm bấp bênh trên các cơ cấu gia đình là điều ai cũng biết. Trong ngắn hạn, việc giảm chi phí lao động hay tối đa hóa hiệu quả tài chính có thể xem ra có lợi, nhưng về lâu dài, điều đó làm suy yếu chính nền tảng của đời sống chung xã hội. Trong khi các thành công công nghệ được ca tụng, thì mô xã hội dần dần bị bào mòn như bởi một thứ vi-rút âm thầm.
167. Đối với người trẻ, tình trạng việc làm bấp bênh đặc biệt gây tổn hại nghiêm trọng. Như các Giám mục Hoa Kỳ đã nhắc lại, lao động không chỉ là nguồn thu nhập, nhưng còn là một không gian thiết yếu nơi căn tính được hình thành, tình bạn và các mối tương quan được xây dựng, trách nhiệm thực tế được học hỏi và ơn gọi của mỗi người được phân định.[30] Khi việc tiếp cận lao động bị cản trở bởi mức thất nghiệp cao, bởi các hệ thống đào tạo không thích hợp hoặc bởi những rào cản cơ cấu, nhiều người trẻ thấy con đường đi tới sự hoàn thiện nhân bản và nghề nghiệp của mình bị chặn lại. Việc phải thay đổi công việc nhiều lần trong đời đòi hỏi phải có sự cập nhật và đào tạo lại liên tục, để các thế hệ mới có thể đối diện cách có năng lực và độc lập với những rủi ro của một môi trường kinh tế vừa biến đổi vừa thường xuyên khó dự đoán.[31]
168. Từ đó phát sinh một trách nhiệm công cụ thể. Nhà nước có bổn phận nâng đỡ hoạt động kinh doanh bằng cách tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc làm, cổ võ lao động ở những nơi thiếu việc làm và bảo vệ lao động trong thời khủng hoảng, bởi lao động là một thiện ích nền tảng cho gia đình và xã hội.[32] Đặc biệt trong thời đại chuyển đổi công nghệ liên tục, chúng ta cần một sự sáng tạo chính trị biết cổ võ “lao động” và đặt gia đình cùng các thế hệ tương lai vào trung tâm; nếu không, tiến bộ kinh tế của chúng ta sẽ chuyển thành những hình thức mới của bất ổn và loại trừ.
169. Việc nâng đỡ các gia đình và người trẻ trong cuộc chuyển đổi này đòi hỏi những chọn lựa giúp cho sự ổn định trở nên khả thi. Như đã được nói ở trên, các chính sách lao động cần cổ võ sự liên tục và chất lượng của việc làm, chống lại tình trạng bấp bênh như một điều kiện bình thường của đời sống, đồng thời khuyến khích những con đường thực tế để bước vào thị trường lao động và phát triển nghề nghiệp. Thứ đến, cần có những biện pháp bảo đảm một lối sống lành mạnh, bởi nếu thiếu sự quân bình thích hợp giữa lao động, giải trí và nghỉ ngơi, gia đình sẽ bị suy yếu và người trẻ khó phát triển tinh thần trách nhiệm. Hơn nữa, điều thiết yếu là đầu tư vào giáo dục và đào tạo lại sao cho mọi người có thể tiếp cận, để sự linh hoạt nghề nghiệp do nền kinh tế kỹ thuật số đòi hỏi không trở thành một cuộc tuyển chọn khắc nghiệt giữa những người có khả năng cập nhật kỹ năng và những người không thể. Sau cùng, cần nâng đỡ các mối dây xã hội, qua những mạng lưới và cộng đồng giáo dục đồng hành với các chọn lựa đời sống, đồng thời ngăn ngừa sự bất định dẫn đến cô đơn hoặc nghiện ngập. Nếu được thực hiện, những chuyển đổi công nghệ này có thể được điều hướng mà không làm suy yếu khả năng xây dựng tương lai - chính điều làm cho một xã hội trở nên thịnh vượng.
Bảo vệ tự do khỏi sự lệ thuộc và thương mại hóa
Những lệ thuộc và sự kiểm soát xã hội
170. Sau khi đã suy tư về chân lý và giáo dục, lao động và gia đình, giờ đây chúng ta phải xét đến tác động của cuộc cách mạng kỹ thuật số trên tự do con người, qua việc đối diện với những nguy cơ liên quan đến sức khỏe tâm thần của cá nhân cũng như những thách đố xã hội rộng lớn hơn. Không được xem nhẹ những hình thức nghiện ngập tinh vi gắn liền với “nền kinh tế chú ý kỹ thuật số,” bởi các nền tảng và dịch vụ thường được thiết kế để chiếm lấy thời gian và sự chú ý của người dùng, khai thác những điểm dễ tổn thương của họ và làm suy yếu tự do nội tâm. Khi các mô hình kinh doanh phát triển dựa trên sự yếu đuối của con người, nhân vị bị đối xử như phương tiện thay vì như cùng đích; những ai thiết kế hoặc tài trợ cho các hệ thống ấy mang một trách nhiệm luân lý không thể bị bỏ qua. Vì thế, cần khẩn thiết cổ võ những công nghệ giúp củng cố tự do nội tâm, bằng cách thúc đẩy việc giáo dục về sự tiết độ kỹ thuật số và bảo vệ trẻ vị thành niên, qua đó chống lại những mô hình khai thác tính dễ bị tổn thương.
171. Một nguy cơ khác, ít thấy hơn nhưng không kém phần nghiêm trọng, là sự kiểm soát xã hội được thực hiện nhờ việc thu thập dữ liệu khổng lồ và sử dụng các hệ thống thuật toán. Khi mọi hành động - di chuyển, mua sắm, tương quan và sở thích - đều để lại dấu vết, một hình thức quyền lực mới xuất hiện: quyền lực lập hồ sơ, dự đoán và ảnh hưởng đến hành vi, mà thường khi chính cá nhân không ý thức đầy đủ. Nếu các loại dữ liệu ấy được dùng để đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến các cơ hội cụ thể - như tiếp cận tín dụng, việc làm hay các dịch vụ thiết yếu - thì có nguy cơ làm suy yếu tự do và phân biệt đối xử với những người dễ bị tổn thương nhất. Hơn nữa, sự kiểm soát không chỉ được thực thi qua các lệnh cấm rõ ràng, nhưng còn qua cấu trúc của khả năng hiển thị: điều gì được khuếch đại hay bị làm cho vô hình, điều gì được thưởng hay bị phạt, cuối cùng sẽ định hình quan điểm và chọn lựa, thúc đẩy sự đồng dạng và tự kiểm duyệt. Vì thế, tự do trong thời đại kỹ thuật số không chỉ là vấn đề nội tâm, nhưng còn là mối quan tâm công cộng. Nó đòi hỏi những quy tắc rõ ràng, sự minh bạch, khả năng khiếu nại và những giới hạn tương xứng đối với việc sử dụng các công nghệ xâm nhập, để công nghệ luôn phục vụ con người và không trở thành một hình thức kiểm soát lương tâm.
172. Nền tảng của những vấn đề ấy là một não trạng kỹ trị và hậu nhân loại, có khuynh hướng xem con người như một đối tượng để thao túng hoặc một nguồn lực cần được tối ưu hóa,[33] qua đó loại bỏ mọi cơ chế bảo vệ trước việc theo đuổi lợi nhuận không kiểm soát. Điều chiếm ưu thế là hiệu quả, chứ không phải sự tôn trọng tự do và phẩm giá con người. Một số trào lưu hậu nhân loại thậm chí còn đi xa đến mức hình dung ra những con người “hạng hai,” bị đặt dưới lợi ích của các tầng lớp ưu tú tự xem mình là vượt trội. Viễn cảnh đáng lo ngại ấy càng trở nên nghiêm trọng hơn khi kết hợp với các công cụ công nghệ có khả năng gia tăng theo cấp số nhân năng lực kiểm soát và tuyển chọn. Ngay cả một số hình thức nợ nần mang tính cơ cấu, vốn giữ cả các dân tộc trong tình trạng lệ thuộc, cũng phản ánh cùng một não trạng ấy dưới những hình thức mới, một não trạng dung túng cho các quan hệ lệ thuộc gần giống như nô lệ.
Phá vỡ xiềng xích của những hình thức nô lệ mới
173. Cái nhìn méo mó ấy về con người ngày nay được phản ánh trong nhiều hình thức lệ thuộc khác nhau, trực tiếp gắn liền với nền kinh tế kỹ thuật số. Trong thế giới AI, không có gì là phi vật chất hay kỳ diệu. Mọi câu trả lời có vẻ tức thời và hoàn hảo đều là kết quả của một chuỗi trung gian dài, liên quan đến những mạng lưới rộng lớn của tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng năng lượng và trên hết là con người. Một phần đáng kể hoạt động của nền kinh tế kỹ thuật số dựa trên lao động âm thầm của hàng triệu người đảm nhận những công việc thiết yếu nhưng phần lớn vô hình, như gán nhãn dữ liệu, huấn luyện mô hình và kiểm duyệt nội dung, thường liên quan đến những chất liệu gây tổn thương. Trong nhiều trường hợp, các lao động ấy là người trẻ, đa số là phụ nữ, làm việc trong những điều kiện khắc nghiệt với đồng lương tối thiểu. Bên cạnh lao động vô hình ấy còn có công việc khắc nghiệt hơn nữa là khai thác các tài nguyên cần thiết để sản xuất các thiết bị và vi xử lý mà AI lệ thuộc vào. Ở một số vùng trên thế giới, trẻ em và thanh thiếu niên làm việc trong những điều kiện nguy hiểm, nghiền nát các vật liệu để từ đó người ta chiết xuất các nguyên tố đất hiếm. Thân thể của những con người ấy bị sẹo, bị thương tích và bị bào mòn để dòng chảy tính toán có thể tiếp tục không gián đoạn. Hơn nữa, các mạng lưới tội phạm sử dụng các nền tảng trực tuyến, hệ thống nhắn tin, phương thức thanh toán ẩn danh và kỹ thuật lập hồ sơ để tuyển mộ, kiểm soát và vận chuyển các nạn nhân buôn người - rất thường là trẻ vị thành niên - biến đàn ông và phụ nữ thành “dữ liệu” để theo dõi và thành “kiện hàng” để di chuyển trong chính những mạch kỹ thuật số đang nâng đỡ phần lớn nền kinh tế toàn cầu. Thực tại này chất vấn sâu xa lương tâm luân lý của thời đại chúng ta. Không thể chỉ viện dẫn hiệu quả, cũng không thể ca tụng các lợi ích của đổi mới, nếu những lợi ích ấy được xây dựng trên một chuỗi bóc lột bị cố tình che giấu. Nếu công nghệ hứa hẹn giải phóng con người nhưng lại tạo ra những hình thức lệ thuộc toàn cầu mới, thì nó đi ngược lại nguyên tắc nền tảng về phẩm giá con người.
174. Cuộc chiến chống lại những hình thức nô lệ mới là một phép thử quyết định cho việc phân định luân lý về AI và chuyển đổi kỹ thuật số. Trong sự tiếp nối truyền thống được khởi đầu bởi Đức Lêô XIII, Hội Thánh tái khẳng định sự lên án kiên quyết đối với mọi hình thức nô lệ, buôn người và biến con người thành hàng hóa. Đồng thời, Hội Thánh nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải suy tư và hành động sao cho phẩm giá bất khả nhượng của mỗi con người và công ích luôn là trọng tâm và mục tiêu của xã hội, cũng như là tiêu chuẩn hướng dẫn mọi chọn lựa cá nhân, xã hội và chính trị. Nếu thiếu suy tư luân lý và nhân bản hóa ấy, quyền lực ngày càng lớn của các hệ thống kỹ thuật số có thể dẫn chúng ta đến những tội ác mới, không kém phần nhục nhã so với những tội ác của quá khứ mà ngày nay chúng ta lên án, trong khi chúng ta vẫn tiếp tục tự giới thiệu mình là những xã hội “tiến bộ” và “văn minh.”
175. Nạn buôn người phải được nhìn nhận như một hình thức nô lệ đương đại và là sự vi phạm nghiêm trọng phẩm giá con người. Không đáp trả cách kiên quyết, hoặc dung túng cho các thực hành ấy dưới bất cứ hình thức nào, theo một nghĩa nào đó là trở thành đồng lõa với những tội lỗi của thời đại hôm nay, tương tự như những tội lỗi trong quá khứ khi chế độ nô lệ từng bị che giấu và biện minh.[34]
176. Trong sự phát triển giáo huấn của mình, Hội Thánh đã dần dần đạt tới một nhận thức sâu xa hơn về mức độ nghiêm trọng của các vấn đề này. Đúng là không thể phán xét các biến cố quá khứ một cách lỗi thời, như thể những tiêu chuẩn luân lý chỉ trưởng thành dần theo thời gian đã luôn sẵn có. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận hay giảm nhẹ sự chậm trễ mà cả xã hội lẫn Hội Thánh đã có trong việc lên án tai họa nô lệ. Vào thời cổ đại và trung cổ, nhiều cá nhân và cả những định chế Giáo Hội đã sở hữu nô lệ. Ngay từ đầu thời cận đại, Tòa Thánh Rôma, khi đáp lại các thỉnh cầu của các quân vương, đã nhiều lần can thiệp nhằm điều chỉnh và hợp thức hóa các hình thức khuất phục, và trong một số trường hợp, cả việc bắt những “người ngoại giáo” làm nô lệ.[35] Chỉ đến thế kỷ XIX, một sự lên án chính thức, tuyệt đối và phổ quát đối với chế độ nô lệ mới được diễn tả cách rõ ràng, đặc biệt dưới thời Đức Giáo hoàng Lêô XIII.[36] Sự phát triển này cho thấy rõ Hội Thánh đã lớn lên trong việc hiểu biết các chân lý vĩnh cửu của Mạc khải mà mình gìn giữ. Dù trong thực hành không phải lúc nào cũng có sự nhất quán - vì chế độ nô lệ đã bị dung túng trong một thời gian dài trước khi bị lên án dứt khoát - vẫn luôn có một sự khẳng định liên tục trong lịch sử về phẩm giá của mọi con người, được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, dù phải mất mười tám thế kỷ người ta mới nhận ra cách minh nhiên sự bất tương hợp hoàn toàn của phẩm giá ấy với chế độ nô lệ. Đây là một vết thương trong ký ức Kitô giáo, vết thương mà chúng ta không thể xem như không liên can đến mình.[37] Không thể không cảm thấy đau buồn sâu xa khi chiêm ngắm biết bao đau khổ và nhục nhã mà vô số người đã phải chịu, hoàn toàn trái ngược với phẩm giá vô lượng của họ như những nhân vị được Chúa yêu thương vô hạn. Vì điều đó, nhân danh Hội Thánh, tôi chân thành xin được tha thứ.
177. Chính vì thế, ký ức về những đồng lõa và mù lòa trong quá khứ trước bất công của chế độ nô lệ trở thành một lời mời gọi cảnh giác. Những gì chúng ta đã học được phải được chuyển hóa thành sự phân định và trách nhiệm trong hiện tại. Nếu chúng ta muốn tránh việc trong tương lai lại phải xin tha thứ vì đã không tôn trọng kho tàng phẩm giá con người mà đức tin đòi buộc, thì hôm nay chúng ta có bổn phận lên án cách rõ ràng và kiên quyết nạn buôn người dưới nhiều hình thức của nó, đồng thời cùng với tất cả những ai dấn thân cho chính nghĩa này, nâng đỡ các nỗ lực cụ thể nhằm phòng ngừa, bảo vệ, giải phóng và phục hồi.
178. Ngay cả hôm nay, chủ nghĩa thực dân vẫn mang những hình thức mới. Nó không còn chỉ thống trị thân xác, nhưng còn chiếm đoạt dữ liệu, biến đời sống cá nhân thành thông tin có thể khai thác. Toàn bộ các vùng lãnh thổ, đặc biệt những nơi mang dấu ấn của sự mong manh cơ cấu và ít có trọng lượng địa chính trị, hiện đang bị đặt dưới một não trạng khai thác mới: khai thác dữ liệu y tế, hồ sơ dịch tễ, bản đồ di truyền và thông tin nhân khẩu học. Những thứ ấy đã trở thành “đất hiếm” mới của quyền lực: dữ liệu sinh tử, một khi được tổng hợp và phân tích, có thể được dùng để huấn luyện các mô hình dự đoán, định hướng các chiến lược đầu tư, dự báo khủng hoảng và trên hết là quyết định ai và điều gì được xem là quan trọng. Những ai kiểm soát dữ liệu y tế của cả các dân tộc - thường được thu thập dưới danh nghĩa viện trợ, nghiên cứu hay đổi mới - nắm trong tay một đòn bẩy cơ cấu đối với tương lai, bởi họ có thể định hình nhu cầu và thị trường. Họ cũng có thể quyết định trước người khác ai sẽ được phân bổ thuốc men, đầu tư và sự bảo vệ. Đây là một trong những thách đố luân lý cấp bách nhất của thời đại chúng ta: phải bảo đảm rằng tri thức được chia sẻ trở thành một thiện ích chung đích thực, chứ không phải công cụ thống trị. Điều này đòi hỏi trả lại cho các cá nhân không chỉ dữ liệu mô tả họ, nhưng cả khả năng quyết định dữ liệu ấy được sử dụng thế nào, bởi ai và vì lợi ích của ai. Nếu không, thời đại kỹ thuật số sẽ không phải là thời hậu thuộc địa, nhưng là một hình thức thuộc địa khác.
179. Những hình thức nô lệ mới được nuôi dưỡng bởi các chuỗi kinh tế và hạ tầng kỹ thuật số. Vì thế, cần hành động trên nhiều mặt trận. Trước hết, các chuỗi cung ứng làm nền cho ngành công nghệ và nền kinh tế kỹ thuật số cần trở nên minh bạch hơn, để không có lợi thế cạnh tranh nào được xây dựng trên sự bóc lột bị che giấu. Thứ đến, các công ty và nhà đầu tư cần áp dụng những tiêu chuẩn rõ ràng về kiểm chứng đạo đức phòng ngừa, đặt việc bảo vệ người lao động, cuộc chiến chống lao động cưỡng bức và việc đánh giá tác động xã hội của các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu vào hàng ưu tiên. Hơn nữa, các nền tảng kỹ thuật số phải cộng tác cách có trách nhiệm với chính quyền và xã hội dân sự để ngăn chặn các công cụ truyền thông, thanh toán và lập hồ sơ trở thành kênh tuyển mộ và kiểm soát nạn nhân. Khi những nỗ lực ấy hội tụ, môi trường kỹ thuật số có thể được biến đổi từ một không gian bóc lột thành một không gian bảo vệ, phòng ngừa và thăng tiến phẩm giá con người.
Một trách nhiệm chung
180. Những lãnh vực vừa được xem xét - việc tìm kiếm chân lý trong đời sống công cộng, giáo dục trong môi trường kỹ thuật số, sự biến đổi của lao động, sự mong manh của gia đình và những hình thức nô lệ mới - không phải là những hiện tượng tách biệt. Trái lại, chúng phản ánh một vấn đề nền tảng chung: nếu công nghệ trở thành tiêu chuẩn tối hậu, con người có nguy cơ bị giản lược thành dữ liệu, thành một bánh răng trong cỗ máy hoặc thành một món hàng. Nhưng nếu công nghệ được hội nhập vào một nhãn quan khôn ngoan, nó có thể trở thành khí cụ của tăng trưởng, công lý và tình huynh đệ.
181. Từ viễn tượng ấy, Học thuyết Xã hội của Hội Thánh mời gọi một trách nhiệm chung. Học thuyết ấy đòi hỏi các tiến trình này phải được hướng dẫn với tầm nhìn xa: bởi các định chế có khả năng điều tiết mà không bóp nghẹt, bảo vệ mà không chiếm quyền; bởi các doanh nghiệp biết nhìn nhận lao động và phẩm giá như thước đo của thành công; bởi các tổ chức trung gian và cộng đồng giáo dục biết tái xây dựng niềm tin và các tương quan; và bởi các công dân biết vun trồng trách nhiệm, tiết độ, phân định và cảm thức về chân lý. Chỉ bằng cách ấy, đổi mới mới có thể thật sự phục vụ sự phát triển con người toàn diện, thay vì trở thành nguồn của loại trừ và thống trị. Và chỉ bằng cách ấy, lời hứa của tiến bộ mới được nhìn nhận là chân thực, bởi nó được đo lường bằng phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người nam và người nữ.
_______________________
[1] Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 34: AAS 101 (2009), 668-669.
[2] Saint John Paul II, Encyclical Letter Veritatis Splendor (6 August 1993), 32: AAS 85 (1993), 1159.
[3] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 207: AAS 112 (2020), 1043.
[4] H. Arendt, The Origins of Totalitarianism, III , New York 1962, 474 .
[5]Address to Representatives of the Media (12 May 2025): AAS 117 (2025), 681-682.
[6] Benedict XVI, Message for the 47th World Day of Social Communications (24 January 2013): AAS 105 (2013), 183.
[7] Francis, Address on the occasion of the Conferral of the rank of Knight and Dame of the Grand Cross of the Pian Order to Mr Philip Pullella and Ms Valentina Alazraki (13 November 2021): L’Osservatore Romano, 13 November 2021, 12.
[8] Cf. Plato, Letter VII, 344b-c: ed. Souilhé, XIII/1, Paris 1931 ( CUF, Série grecque 63), 54.
[9] Cf. Address to the Participants in the Conference “The Dignity of Children and Adolescents in the Age of Artificial Intelligence” (13 November 2025): L’Osservatore Romano, 13 November 2025, 3.
[10] Cf. Address to the members of the Advisory Board of the RCS Academy (7 November 2025): L’Osservatore Romano 7 November 2025, 4.
[11] Saint John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens (14 September 1981), 3: AAS 73 (1981), 584.
[12] Cf. Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 128: AAS 107 (2015), 898.
[13] Dicastery for the Doctrine of the Faith — Dicastery for Culture and Education, Note Antiqua et Nova (14 January 2025), 67: AAS 117 (2025), 188-189.
[14] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Laborem Exercens, (14 September 1981), 18: AAS 73 (1981), 622-625.
[15] Cf. Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 109: AAS 107 (2015), 891.
[16] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 32: AAS 101 (2009), 666.
[17] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 268.
[18] Cf. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 64: AAS 101 (2009), 698.
[19] Cf. Francis, Encyclical Letter Laudato Si ’ (24 May 2015), 129: AAS 107 (2015), 899.
[21] Cf. Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 108: AAS 112 (2020), 1006.
[22] Cf. Dicastery for the Doctrine of the Faith — Dicastery for the Promotion of Integral Human Development, Oeconomicae et Pecuniariae Quaestiones. Considerations for an Ethical Discernment Regarding some Aspects of the Present Economic-Financial System (6 January 2018), 6: AAS 110 (2018), 772.
[23] Francis, Greeting to the staff of the International Fund for Agricultural Development (IFAD) (14 February 2019): AAS 111 (2019), 309. Cfr. Benedict XVI, Encyclical Letter Caritas in Veritate (29 June 2009), 22: AAS 101 (2009), 657.
[24] Cf . ibid., 36: AAS 101 (2009), 671-672.
[25] Cf. Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), 204: AAS 105 (2013), 1105-1106.
[26] Cf. Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 87: AAS 59 (1967), 299.
[27] Cf. Saint John Paul II, Encyclical Letter Centesimus Annus (1 May 1991), 39: AAS 83 (1991), 841.
[28] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 211.
[29] Cf. Saint John Paul II, Letter to Families Gratissimam Sane (2 February 1994), 17: AAS 86 (1994), 903-906.
[30] Cf. United States Conference of Catholic Bishops, Sons and Daughters of the Light: A Pastoral Plan for Ministry with Young Adults (12 November 1996), Washington D.C., 1996, I, 3.
[31] Cf. Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church, 290.
[33] Cf. Francis, Message for the Celebration of the 48th World Day of Youth for Peace (8 December 2014), 4: AAS 107 (2015), 70-71.
[34] Cf. International Theological Commission, Memory and Reconciliation the Church and the Faults of the Past , Vatican City 2000, 5.3.
[35] As in the Papal Bulls Sicut Dudum (13 January 1435) and Etsi Suscepti (9 January 1442) of Eugenius IV, and in the Papal Bulls Dum Diversas (18 June 1452) and Romanus Pontifex (8 January 1455) of Nicholas V. Political and, at times, even economic needs overcame the demands of the Gospel. The need for evangelization was frequently compromised or at least misunderstood with regard to the needs of worldly powers, thus relativizing the problematic incompatibility of slavery with the Christian conscience.
[36] Cf. Leo XIII, Encyclical Letter In Plurimis (5 May 1888), Acta Leonis XIII, VIII, Rome, 1889, 169-192. Consider that, as late as 1866, the Holy Office distinguished between the immoral and moral aspects of slavery, without fully condemning it: Instruction of the Holy Office on various doubts of Monsignor Massaia, Vicar Apostolic in the country of the Galla, April 1866, response to question no. 15.
[37] Cf. Saint John Paul II, Bull Incarnationis Mysterium (29 November 1998), 11: AAS 91 (1999), 139-141.
[Bản dịch tham khảo - lưu hành nội bộ]

