
“Môsê! Môsê!” Ông thưa: “Dạ, tôi đây!” Người phán: “Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh” (Xh 3,4-5).
Khi Môsê đang miệt mài với công việc thường nhật, Thiên Chúa đã vẫy gọi ông. Ngài gọi ông ngay chính nơi ông đang làm việc. Nhưng để đáp lại tiếng gọi ấy, Thiên Chúa đòi hỏi ông phải cởi dép ra. Đôi dép là những gì ông xem như sự an toàn: giúp ông tránh khỏi trơn trượt, gai góc và bảo vệ đôi chân khỏi tổn thương. Giờ đây, Chúa mời gọi ông cởi bỏ tất cả để không còn cậy dựa vào sức riêng nữa, nhưng hoàn toàn tín thác vào Ngài.
Tiếng gọi dành cho Môsê cũng thấp thoáng đâu đó trong chính cuộc đời tôi. Để có thể đáp lại tiếng gọi bước theo chân Chúa Cứu Thế, Ngài cũng mời gọi tôi: “Hãy cởi dép ra.” Đôi dép tôi đang mang chính là cái tôi ích kỷ, sự nóng nảy, ganh tị, đố kỵ với tha nhân; thậm chí là cả quá khứ và những gì tôi xem là quen thuộc, an toàn. Qua việc cởi bỏ đôi dép cũ kỹ ấy, Thiên Chúa muốn tôi “dâng hiến bản thân để yêu mến nhiều hơn và có khả năng hơn trong việc hiến dâng mạng sống vì tha nhân”[1]. Nhưng để cởi bỏ được đôi dép ấy, tôi cần phải “am hiểu và chấp nhận bản thân”[2]. Vì thế, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho tôi những tháng ngày trong tập viện để tôi có thể nhận biết và đón nhận chính mình, đặc biệt là nhận biết Đức Kitô, nhờ đó đi đến chỗ yêu mến Ngài cách thật sự (x. Ga 21,15-19). Thật vậy, ngày 06 tháng 7 năm 2025 chính là ngày khởi đầu của lớp chúng tôi dưới sự dẫn dắt của Mẹ Maria Mân Côi. Một năm tập viện là khoảng thời gian nhà dòng giúp tôi điều chỉnh bản thân trước khi mang “đôi dép Dòng Chúa Cứu Thế”.
Đôi dép của sứ vụ, cộng đoàn và linh đạo chính là ba trụ cột của căn tính Dòng Chúa Cứu Thế. Sứ vụ của Đức Kitô Cứu Thế cũng chính là sứ vụ của Thiên Chúa (Communicanda 2 - 2025, #8). Nhờ đó, tôi có thể vững vàng bước theo chân Chúa Cứu Thế đến với những người nghèo, những người bị gạt ra bên lề xã hội (x. HP 3). Chính nơi ấy, tôi có thể lắng nghe tiếng kêu của người nghèo, để rồi tiếng kêu ấy thúc bách tôi bước vào trái tim của Thiên Chúa - Đấng luôn quan tâm đến nhu cầu của con cái mình, đặc biệt là những ai thiếu thốn nhất (x. Tông huấn Ta Đã Yêu Con, #8).
Qua đó, tôi có thể nói cho họ biết về một Đấng đã yêu thương họ trước và đã sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho nhân loại (x. 1Ga 4,10), nhằm giải phóng con người cách toàn diện (x. HP 6). Và như thế, khi bước đi trên đôi dép linh đạo, tôi cũng đang gắn kết đời mình trong tình yêu Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Kitô - Đấng đã tự hủy mình ra không (x. Pl 2,6-11) để đến với một người đầy yếu đuối và khiếm khuyết như tôi.
Chính những yếu đuối ấy, Chúa muốn tôi kết hiệp với Ngài qua cuộc thương khó, để nhờ sự phục sinh của Ngài mà tôi được giải thoát khỏi án tử. Để khỏa lấp cơn đói khát tình yêu nơi con người hữu hạn này, Ngài còn ở lại nơi Bí tích Thánh Thể, trở nên thần lương nuôi sống linh hồn tôi. Khi Đức Kitô là trung tâm đời mình, chính Ngài sẽ giúp tôi mở lòng ra với anh em trong đời sống cộng đoàn (x. HP 23). Nhờ đời sống hiệp thông huynh đệ, tôi được thăng tiến hơn trong đời sống đức tin cũng như trong sứ vụ.
Tuy nhiên, hành trình điều chỉnh bản thân để phù hợp với “đôi dép” ấy chẳng hề dễ dàng; nói đúng hơn, đó là một hành trình đầy chông gai. Khi nhận ra nơi mình còn biết bao khiếm khuyết đó là những chiếc gai nhọn đâm vào gót chân, nào là ích kỷ, thích tỏ mình, thô bạo và biết bao yếu đuối khác đang phủ lấp đôi chân còn chập chững tập mang “đôi dép” mới, tôi đã cố gắng vùng vẫy để nhổ những chiếc gai ấy ra khỏi mình. Nhưng càng cố kéo ra bao nhiêu, chúng lại càng đâm sâu vào da thịt tôi bấy nhiêu.
Trong lúc tôi mệt mỏi và rã rời vì cứ mãi loay hoay sửa đổi bản thân, Thiên Chúa vẫn trung tín ở bên, nhẹ nhàng nhổ từng chiếc gai trong cuộc đời tôi. Chẳng cần điều kiện, cũng chẳng cần lý do nào, bởi Ngài đã yêu tôi bằng mối tình muôn thuở (x. Gr 31,3). Đó là tình yêu của một Người Cha ngày đêm mong ngóng đứa con trở về. Để rồi, khi người con còn ở đằng xa, Người Cha đã vội chạy đến ôm chầm lấy con mình, nào là mặc áo đẹp, xỏ nhẫn, và cả mang dép vào đôi chân còn lấm lem của cậu (x. Lc 15,22).
Qua những khúc quanh ấy, tôi nhận ra tình yêu hải hà mà Thiên Chúa dành cho tôi, tình yêu được thể hiện cách rõ nét nơi Đức Giêsu Kitô - Đấng luôn chủ động đến với tôi. Hơn thế nữa, chính Ngài đã mang lấy tất cả những gì đối nghịch với Thiên Chúa nơi con người tôi mà treo lên cây thập giá. Nhờ đó, tôi có thể cùng với thánh Phaolô xác tín rằng: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Ěức Kitô Giêsu, Chúa của tôi” (Pl 3,8).
Đối với tôi, một môn đệ đang chuẩn bị mang đôi dép Dòng Chúa Cứu Thế, cần luôn khắc ghi lời cha thánh Anphongsô: “Trong tim mình phải luôn có Đức Kitô và người nghèo, đó là sống và hành động như cộng tác viên của Đức Kitô trong một cộng đoàn tông đồ” (HP 2). Nhờ đó, mỗi tu sĩ có thể lắng nghe lời mời gọi của Đức Kitô: “Chúng ta hãy sang bờ bên kia”.
Giữa những biến động của thời đại hôm nay, chúng ta nhận ra rằng mình không hề đơn độc trên hành trình ấy, vì Đức Kitô Cứu Thế luôn đi trước và đồng hành với chúng ta (x. Communicanda 2 – 2025, #10). Như thế, “đôi dép Dòng Chúa Cứu Thế” mà mỗi tu sĩ đang mang sẽ luôn có Chúa Cứu Thế đồng hành, với sự trợ giúp của Mẹ Maria chí thánh và sự nỗ lực không ngừng của từng thành viên. Nhờ đó, họ trở thành một đoàn ngũ thừa sai, hiến thân cho Chúa Cứu Thế, ra đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, đặc biệt là những người bị bỏ rơi hơn cả (x. HP 2).
Phêrô Bá Quý
____
[1] John Mark Falkenhain, Ơn gọi Yêu thương, Nguyễn Hoài Huy dịch, tr. 19.
[2] Ibid., #21.


