Mỗi khi có vật dụng bị bể, chúng ta thường vứt bỏ vì hầu như không có cách nào để hàn gắn lại như hiện trạng ban đầu hoặc chi phí sửa chữa rất cao. Nhưng đối với những vật dụng quý hiếm, người ta sử dụng vàng để vá lại những vết nứt. Và nghề đó được gọi là nghề vá vàng hay Kintsugi.
Nghề vá vàng xuất phát từ Nhật Bản vào cuối thế kỷ 15. Tương truyền rằng, khi chiếc bát trà yêu thích Trung Quốc của một tướng quân bị vỡ, ông đã gửi nó về Trung Quốc với mong muốn đưa nó về trạng thái ban đầu. Nhưng khi nhận lại, vị tướng quân chỉ thấy nó được gắn lại bằng cách khoan và chèn kim loại vào hai bên vết nứt. Không hài lòng, ông bèn yêu cầu những thợ thủ công Nhật Bản nghĩ ra phương pháp mới mang tính thẩm mỹ cao hơn. Từ đó, nghề vá vàng (Kintsugi) ra đời. Khi nhìn theo nhãn quan của người đời, nghề vá vàng giúp hàn gắn lại những vết nứt vỡ bằng vàng giúp tăng giá trị thẩm mỹ cũng như trả lại giá trị của vật đó. Nghề đó cũng dạy con người sự kiên nhẫn, tập trung và sự trân trọng. Nhưng với con mắt đức tin, Kintsugi dạy tôi nhiều điều khác.
Trước tiên, Kintsugi làm tôi nhớ lại một biến cố làm thay đổi hoàn toàn chàng thanh niên tiên Saolô trên đường đi Đamát để bắt những người Kitô hữu. Chàng trai đó bị ngã ngựa. Nói đúng hơn, ông bắt gặp được con người Giêsu và bị Ngài chiếm hữu. Kể từ đó, chàng đã tìm ra được lẽ sống và hy vọng của mình đến nỗi mà “tôi coi mọi sự là rơm rác so với mối lợi là được biết Đức Kitô” (Pl 3, 8) Mọi sự ở đây chính là tính xác thịt vì trước kia chàng Saolô coi đó là niềm tự hào của mình: “Tôi chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Ít-ra-en, họ Ben-gia-min, là người Hípri, con của người Hípri; giữ luật thì đúng như một người Pha-ri-sêu; nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội Thánh; còn sống công chính theo Lề Luật, thì chẳng ai trách được tôi.” (Pl 3,5-6) Nhưng rồi so với Đức Kitô, những điều đó chỉ như rơm rác hay theo ngôn ngữ của cha Nguyễn Thế Thuấn, nó chỉ như phân bón.
Nếu ví thánh Phaolô như một bảo vật cũng không sai vì bảo vật đó được làm từ nguyên liệu quý và hiếm trên trái đất này. Nhưng rồi bảo vật đó đã bị vỡ trên đường đi Đamát và được gắn lại bằng “vàng” là chính Đức Kitô. Những nguyên liệu quý hiếm kia so với vàng thì cũng chỉ là rơm rác. Và như thế, khi Đức Kitô chiếm hữu, ông hoàn toàn phục vụ Ngài và ngày mỗi ngày để cho Ngài làm chủ cuộc đời. Ông quên đi chặng đường đã qua và lao mình về phía trước, ông cố gắng hết mình chạy tới đích để được phần thưởng Thiên Chúa dành cho kẻ được kêu gọi từ trời cao trong Đức Giêsu Kitô (x. Pl 3, 14).
Quả thât, Đức Giêsu chính là một báu vật vô giá mà quan trọng nhất của Thiên Chúa nhưng vì yêu con người, Người đã trao ban Người Con Một cho con người. Người Con đó chính là “vàng ròng nguyên chất và tinh tuyền” nhưng đã chấp nhận trở nên phận tôi đòi để ôm lấy tất cả bụi tro là tội lỗi của con người. Nhờ cái chết trên Thập Giá, tội lỗi của con người bị đập tan. Nhờ Phục Sinh, quyền lực sự dữ bị đánh bại và con người được hoà giải với Thiên Chúa và trong Đức Giêsu Kitô, con người được gọi Thiên Chúa là Cha. Chính do cái chết và phục sinh, Đức Giêsu đã trao ban chất “vàng” cho con người để nhờ đó những khoảng trống, những vết nứt, những tổn thương, những thất vọng của con người được hàn gắn, được lấp đầy. Đó chính là ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho con người qua Đức Giêsu Kitô.
Mỗi người như một tác phẩm tay Chúa nắn ra để trao ban cho nhau. Nếu nhìn theo con mắt của người đời, có những tác phẩm giá trị cao như được xuất thân từ gia đình thế giá, đầy đủ điều kiện, tri thức cao thì cũng có những tác phẩm kém chịu nhiều thua thiệt do hoàn cảnh sống, do gia đình khiến họ trở nên thấp hèn trước mặt người đời. Tuy nhiên, Thiên Chúa đều xem mọi người là quý giá, là độc nhất và bình đẳng vì chính Người đã yêu thương tạo dựng nên và trao ban Con Một. Chính Con Một của Người chết và phục sinh để cứu chuộc, đưa con người trở lại trong liên kết tình nghĩa với Thiên Chúa. Nhờ tin vào điều đó, niềm hy vọng của con người được xây dựng cách vững chắc nơi tình yêu của Đức Kitô. Khi tạo dựng, Thiên Chúa ban cho con người khả năng nhận biết và đón nhận Người. Và chỉ mình Người mới lấp đầy những trống rỗng, những vết nứt nơi tâm hồn con người. Chính Người mới là lời giải đáp cho lẽ sống của con người. Thế mà dường như thế giới ngày nay bỏ qua Thiên Chúa và coi mọi sự đến từ mình. Họ chú trọng là cho mình trở nên giá trị hơn bằng cách khoác lên lình những lớp mạ của tiền bạc, quyền lực, danh vọng, … Họ coi thường và bỏ qua những tổn thương. Và như thế, chẳng điều gì có thể hàn gắn những vết thương trong lòng, chẳng gì có thể trả lời cho những câu hỏi hiện sinh cách thoả mãn. Chỉ mình Đức Kitô mới có thể là niềm hy vọng độc nhất. Chỉ mình Đức Kitô mới là lẽ sống. Chỉ mình Đức Kitô mới có thể dùng “vàng” để hàn gắn lại tất cả những khoảng trống, những vết thương. Và chỉ khi để cho Đức Kitô là “vàng” được lớn lên thì cuộc sống con người mới có ý nghĩa.
Để có thể nói như thánh Phaolô rằng: “Tôi coi mọi sự là thiệt thời so với mối lợi là được biết Đức Kitô” (Pl 3, 8) tức là khi tin vào Ngài thì tôi không thua thiệt, không thiếu thốn hay mất mát sự gì, vì Ngài tôi đành mất hết. Điều đó đòi hỏi một sự gặp gỡ, một kinh nghiệm cá vị dẫn tới hoán cải đời sống để phù hợp với con người mới. Ước gì mỗi tín hữu cảm nghiệm và không ngừng đào sâu đức tin từ đó sống sao cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban trong Đức Kitô.
Vincente Văn Nhật

