Một buổi trưa sau giờ rửa chén đĩa, tôi đã gặp dì.

Trong tâm trí tôi, đó là một người phụ nữ trông vừa lạ vừa quen. Dường như tôi đã gặp dì đâu đó mà không nhớ. Trong cái tất bật chuẩn bị cho ngày đại hội Truyền Giáo Tổng Giáo Phận Huế, cùng với mọi người, dì đang rửa những lát củ cải trắng dùng để nấu với thịt kho. Dáng vóc dì trông thật lầm lũi như thể một người bán hàng rong lam lũ lang thang khắp phố thị. Mái tóc dì tựa hồ màu muối tiêu và làn da của dì có màu rám nắng, đen thẫm với những vết nám da không thể giấu đâu được. Ánh mắt dì có chút buồn, dù nụ cười trên môi vẫn nở. Tôi đã bắt gặp dì.

“Con chào dì!”

“Chào con” – Dì ngước đôi mắt giật mình ngạc nhiên nhìn tôi.

“Dì đang rửa cải trắng để kho thịt hay sao hả dì?” – tôi hỏi như để mồi vào câu chuyện.

“Ừm. Củ cải này dì đang phải rửa sạch với nước nhiều lần để kho với thịt cho ngày mai con à.”

“À, dạ. Nhà dì cách xa đây không ạ?” – tôi tò mò.

“Không đâu con. Nhà dì bên xóm Giuse đây thôi.” – dì vừa nói vừa chỉ tay về phía đối diện Nhà Dòng. Dì cười hớn hở, và tôi không thể quên cái giọng Huế đặc sệt của dì.

“Làm thế này vất vả dì nhỉ? Nhà bên đó thì dì ở với những ai vậy dì?”

Dì cười với tôi và nhẹ nhàng mở lòng:

“Dì hiện đang ở với chồng con. Nhưng mà chồng của dì bị mù con ạ. Chắc con biết ông đọ. Dì với ông hay đi lễ.”

“Ồ...” – tôi ngạc nhiên về những gì tai tôi vừa mới nghe và tôi chợt nhận ra nơi nào tôi đã gặp dì trước đây, khiến lần này gặp dì trong Nhà Dòng này, tôi thấy dì quen thuộc với những gì ẩn dấu sau vẻ lầm lũi và có phần bừa bộn đầu tóc của dì. – “Có phải trông chú rất giống Trịnh Công Sơn không ạ? Hình như con bắt gặp dì hay dẫn chú vào nhà thờ mỗi chiều thứ bảy...” – Tôi hỏi thế chứ thực sự tôi không nhớ chắc chắn có phải mỗi chiều thứ bảy, dì và chú đi lễ không.

“Haha,... Chắc đúng rồi đọ, tóc ông dài lắm. Nhưng mà nhà dì ít khi đi lễ chiều thứ Bảy lắm con nợ. Dì hay đi lễ tối.”

“Vậy ạ. Con chỉ nhớ dáng dấp dì dẫn chú đi vào nhà thờ thôi. Đó là điều con ấn tượng nhất.”

“Chu choa, tội nghiệp lắm con nợ. Ổng bị mù nhưng mà không phải bị bẩm sinh mô con nạ. Từ sau những năm 90 thì ông bị mù dần và gia đình ông có 5 anh em bị mù luôn. Nhiều khi dì thấy ông ngã lên, ngã xuống, dì thương nên dì quyết định cứ ở nhà giúp ông rứa.”

“Thế dì với chú làm nghề chi được ạ?”

“Nhà dì đi bỏ tăm cho bên Hội Người Mù con nạ. Chú thì bỏ tăm vào hộp. Rồi dì cũng hay ghé qua bên chô Hội của ổng để phụ ổng làm rồi bỏ tăm cho các trường rứa. Nhưng mà cũng không ăn thua mấy con ạ. Mấy nhà trường với thầy cô họ cũng ăn 1.000-2.000 rồi. Mình mua tăm về bỏ hộp rồi đi bán 10.000/hộp. Nhưng khi mô thu về cũng chỉ 8.000 / hộp thôi.”

Điều dì vừa thổ lộ cũng khiến tôi có chút chột dạ như thể bị lương tâm “khỏ đầu”. Tôi nhớ ngày xưa hồi tôi học cấp I, cấp II, nhà trường thường lấy tăm của Hội Người Mù về bán. Hồi đó mỗi hộp có giá tầm 5.000 đồng. Chúng tôi, những học sinh, mua để ủng hộ cho những người mù loà không thấy. Ấy vậy mà hồi ấy, tôi tỏ ra chẳng tin, tỏ ra như thể bản thân biết chắc chắn là nhà trường đang lừa dối mình để ép mình mua tăm để họ có cớ mà trục lợi. Thế nên tôi mua cho có, hoặc mua vì nghĩa vụ mà thôi, chứ tôi cũng chẳng hay, chẳng hiểu, chẳng chút bận tâm gì tới số phận của những anh chị em mù loà. Trong chỉ một khoảnh khắc đó, tôi như tỉnh ngộ vì quả thực trái tim tôi đã từng là đá sỏi. Nhưng giờ đứng trước mặt tôi đây là một người giãi bày những tâm sự sâu kín của mình, một người nghèo thực thụ, một người trước đây thật xa lạ với tôi thì nay lại thật gần gũi và thân thương. Tôi nhìn thấy ở đó sứ mạng mà tôi đang hướng tới. Đó là những người nghèo khổ, những người thấp cổ bé miệng, không có tiếng nói trong xã hội và phải chịu đựng những bất công mà không thể làm gì. Suy nghĩ thế, nhưng tôi nhanh chóng gạt ra khỏi tâm trí những vướng bận để quay trở lại tiếp tục đi sâu vào tâm hồn của dì.

“Vậy ạ? Thầy cô mà họ cũng ăn bớt như thế ạ dì?”

“Ui cha. Họ ăn chứ con, chứ tiền về cho Hội chẳng còn được mấy đồng nựa.”

“Dạ.” – Tôi chuyển chủ đề - “Nhưng trong cái vất vả chăm lo cho chồng như thế mà dì vẫn dành thời gian đi vào trong này phụ việc Giáo xứ. Chắc dì phải hy sinh nhiều lắm. À mà con chưa biết tên của chú và dì.”

“haha... Dì là Liên, còn chú tên là Hào. Con có biết tên chú dì có nghĩa là chi không?

“Là chi ạ?” Tôi thắc mắc hỏi.

Dì cười thích thú và trả lời:

“Hào Liên là Liền hao đó. Hahaha. Nên dì với chú mần ăn nỏ có lời lãi chi cả vì làm ra được đồng nào là “liền hao” đồng đó.” Dì cười nắc nẻ khiến tôi ngưỡng mộ.

Quả thật, trong cái cảnh cơ bần đau khổ của cuộc đời như thế, nơi con người của dì Liên vẫn có thể tìm ra một điều thú vị nhỏ nhoi, có vẻ tầm thường để vui cười. Đơn giản là Hào Liên nên là “liền hao”, mà đã hao thì trước sau gì chả hao, nên ta cứ vui vẻ mà hao thôi. Hẳn sức sống của dì phải tràn trề tình yêu thì mới có thể mỉm cười với cuộc đời Chúa đã thương ban như thế. Nơi dì và nơi nụ cười của dì, tôi hiểu rằng, dù cuộc sống có vất vả, ẩn dật, ảm đạm và nghèo khổ như cái gia cảnh của dì Liên đi chăng nữa thì nơi đó, tinh thần Kitô hữu, một tinh thần có Chúa ở cùng vẫn luôn là một tinh thần mạnh mẽ, hăng say sống cuộc đời ngẩng đầu bất khuất, một tinh thần vươn cao của sự kiên nhẫn, niềm vui và sự cao thượng. Bởi đơn giản người Kitô hữu biết rằng, họ được Thiên Chúa yêu thương. Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi họ, trái lại, luôn cưu mang, chăm sóc và dẫn dắt họ bước đi trên cuộc đời. Dì Liên đã chẳng để cho hoàn cảnh quyết định thái độ sống của mình; ngược lại, dì sống một đời sống đầy hy vọng và chủ động trong tinh thần phó thác trong tay Thiên Chúa. Dì đáp trả một cách quyết liệt với những ơn lành Chúa thông ban cho dì. Người phụ nữ trước mắt tôi quả thực như một ngôi sao bé nhỏ toả sáng trên một bầu trời đêm mà ít ai nhìn thấy bởi sự ẩn mình trong khiêm hạ.Với tôi, người phụ nữ đó đã bày tỏ cho tôi thấy một bản lĩnh phi thường giữa một cảnh sống tầm thường: cứ vui, cứ cười, cứ mạnh mẽ yêu thương dù cho đau khổ, dù cho bần hàn cơ cực. Có lẽ, trời mà có sập, dì vẫn vui cười vì dì biết mình được Chúa đoái thương nhìn đến với ánh mắt của một người cha.

Tôi trở lại với câu chuyện của dì.

“Dì ơi, nhà dì có mấy người con ạ?”

“Dì có với chú được hai người con. Dì nhờ con cầu nguyện cho gia đình dì với, đặc biệt là anh con đầu của dì. Năm nay nó 36 tuổi rồi, nhưng chưa lấy vợ, lập gia đình.”

“Ủa, sao vậy dì?”

“Nó chẳng mấy khi ra ngoài, cứ ở nhà rứa, vì bị chứng tự kỷ, nó không gặp ai, cũng chẳng nói chuyện với ai cả. Giờ thì trong nhà dì, có chú bị mù, dì thì bị đau tim mạch và đau xương khớp, con dì thì bị tự kỷ. Còn đứa út may mà nó không sao. Chắc con biết nó đọ!”

Nghe đến đây, tôi thêm phần ngạc nhiên. Cứ tưởng cuộc đời dì đã đủ chén khổ sầu cay đắng khi gần 30 năm miệt mài chăm sóc người chồng mù. Thế mà trong sâu thẳm cái hiện hữu của dì vẫn còn đó những đớn đau tư bề và cả sự cô độc khi phải một mình gánh vác gia đình, chăm lo cho các con, đặc biệt là đứa con tự nhốt mình trong chứng tự kỷ. Tình nào cho bằng tình mẹ thương con?

“Dạ, có lẽ con không biết dì ạ.”

“Nó tham gia giới trẻ của cha Phi. Tên nó là bé L.”

“À dạ. Có lẽ con biết mặt chớ nỏ biết tên của chị. Hai năm trước con có ở đây làm đệ tử, nhưng sau đó con chuyển vào Sài Gòn, rồi con mới ra Huế lại, nên khó mà biết được.”

Thế rồi dì ngỏ lời mời tôi:

“Con tu ở đây, khi mô rảnh thì con ghé nhà dì chơi cho biết nhà dì nhá.”

“Ồ không được dì à. Ít nhất năm này con phải ở đây không được đi đâu. Con muốn lắm, nhưng chắc đành chịu dì ạ. Con hứa khi nào hết năm này con sẽ ra thăm nhà dì.”

“Ừ, vậy cũng được.” Mắt dì có phần chùng xuống biểu lộ một chút tiếc nuối bởi nay mới là tháng 10. Tận tháng 7 sang năm tôi may ra mới có cơ hội đến nhà dì chơi.

Sau đó, tôi nhìn rổ cải trắng to đùng dì sắp rửa xong, lại nhìn vào đồng hồ mình. Đã sắp 12h30 rồi. Tôi không thể ở lại và trò chuyện với dì được nữa. Đã đến lúc tôi phải lên nhà.

“Thôi. Giờ con phải lên trên Nhà Tập lại rồi. Dì cố gắng nhé dì. Con sẽ cầu nguyện thêm cho dì và gia đình. Con cám ơn dì nhiều lắm vì câu chuyện dì chia sẻ cho con.”

“Ừ. Có chi mô.” Dì cười, “Vậy con đi nhé. À mà tên con là gì?” Dì hỏi vội.

“Dạ. Con là Tài dì ạ. Tài là bất tài đọ.” Tôi cười.

Thế rồi hai dì cháu chúng tôi bắt tay và trong tiếng cười, chúng tôi chào nhau. Dì Liên, chú Hào và hai người con của dì chẳng biết đã “nhảy” vào trái tim tôi tự bao giờ, khiến lòng tôi ngập tràn một lòng biết ơn và một sự thúc giục như cần kíp phải làm gì đó để đáp trả tình thương Chúa đã ưu ái cho tôi.

Quả thực, nơi dì Liên, Chúa đã cho tôi được cảm nghiệm tình Ngài đã thương tôi. Qua Chúa Giêsu, Chúa Cha đã thổ lộ tâm can mình cho nhân loại, tất nhiên cách riêng cho tôi. Điều đó tôi thấy được phản ánh qua cách dì Liên tin tưởng đặt vào trái tim tôi câu chuyện của dì. Chúa Giêsu đã gọi tôi là bạn và dùng mọi lời lẽ và cả mạng sống mình mà kể cho tôi nghe, tỏ cho tôi thấy con tim của Chúa Cha vốn bí ẩn và cao siêu, cũng như dì đã xem tôi là một người bạn để gửi gắm câu chuyện của gia đình dì cho tôi. Tôi biết ơn dì bởi sự tin tưởng và yêu thương dì dành cho tôi. Quả thực tôi khát một cái khát được làm một điều gì đó cho dì. Nhưng khi nhìn lại, tôi chợt nhận ra mình chỉ là hư vô trống rỗng, chẳng thể làm gì được cho dì. Điều duy nhất tôi có thể làm là giữ lời hứa với dì. “Con ơi, hãy cầu nguyện cho gia đình dì, nhất là anh con đầu của dì.” Đó là lời in sâu vào tâm trí tôi. Tôi đã hứa và tôi sẽ làm. Dì và gia đình có một chỗ trong trái tim tôi.

Tôi đã nhận từ dì nhiều hơn thế. Tôi đã thấy nơi dì Liên và chú Hào một tình bạn đích thực, một tình yêu trao ban vô vị lợi, kết ước với nhau bằng một chiếc nhẫn bé nhỏ. Chú ở đâu, dì ở đó, để dẫn dắt chú đi. Dì luôn mãi khắc khoải lo lắng cho chú và giúp đỡ chú, làm cùng chú. Hình ảnh đó chẳng phải là hình ảnh phản ánh của một Thiên Chúa hứa với con cái mình qua lời của Rút nói với bà Naomi hay sao? “Mẹ ở đâu, con ở đó, mẹ đi đâu, con đi đó. Quê hương của mẹ cũng là quê hương của con.” Dì đã trở thành đôi mắt của chú và nếu cả thế giới có lãng quên, hay bỏ rơi chú thì một thực tế là dì luôn đón nhận anh chàng mù tên Hào làm chồng của dì, để dì hết mực thương yêu và ở bên nhau suốt đời.

Nơi dì tôi đã thấy Chúa.

Nơi chú, tôi thấy điều gì? Một người chồng đáng lý phải thật mạnh mẽ để cáng đáng mọi sự cho vợ con và là trụ cột cho gia đình. Nhưng nơi chú, chú hoàn toàn chấp nhận đi ngược lại với cái lý lẽ, lập luận đó của thế gian. Chú đón nhận cái yếu đuối, bất lực, mù loà của bản thân mà trao gửi đôi mắt và số phận của mình cách khiêm tốn vào tay một người phụ nữ chân yếu, tay mềm. Nơi chú, tôi dường như nghe được lời này: “Bà dẫn tôi đi đâu, tôi đi đó. Tôi hoàn toàn trao gửi mạng sống tôi trong tay bà. Dù bà dẫn tôi đi vào lửa, dắt tôi đi xuống sông Hương,...tôi cũng đi. Bởi tôi biết bà thương tôi, và bà luôn ở bên tôi. Tôi muốn đi xa đến đích, tôi phải nắm chắc lấy tay bà kẻo lạc. ‘Mù không thể dắt mù. Bởi cả hai sẽ lăn cù xuống hố.’ Mạng sống tôi nằm gọn trong tay bà. Chính bà là ánh sáng của tôi, là bản chỉ đường cho tôi.”

Chú đã cho tôi thấy hình ảnh của một người biết hoàn toàn phó thác vận mạng của mình vào tay người mình tin tưởng, yêu mến và cũng là người yêu thương chú hết lòng. Đó cũng là điều đánh động tôi. Là một người môn đệ bước theo sát Đức Kitô trong Dòng Chúa Cứu Thế, để ra đi rao giảng Tin Mừng về một vị Thiên Chúa là Cha yêu thương cho những người nghèo khổ, những người bị bỏ rơi hơn cả trong Giáo hội và trong xã hội, tôi cũng cần biết đặt Chúa làm trung tâm của cuộc đời mình. Tôi hiểu mình cần biết phó thác trọn vẹn cho Chúa và để Chúa dẫn dắt cuộc đời mình, như cách chú Hào để mình được dẫn dắt bởi dì Liên. Tôi yếu đuối và một cách nào đó, chính tôi đang bị mù trong cái mù của nhân gian. Làm sao tôi biết được đường nếu không có Chúa dắt tôi đi? Nhưng để có thể làm được điều đó, Ego phải bằng 0. Cái tôi phải trở nên bé nhỏ của sự khiêm nhường, ý thức mình yếu đuối để Thiên Chúa là sức mạnh cho tôi hoàn toàn phó thác, như cách chú Hào đã làm để được dì Liên dẫn dắt. Chú Hào, đối với tôi, quả thực là dấu chỉ của một sự mâu thuẫn giữa một thế giới mải lo tìm tự khẳng định mình bằng sự giàu có và quyền lực. Chú không tự khẳng định mình, chú bỏ ngỏ đời mình cho Chúa dẫn dắt qua chính sự hiện diện đầy cụ thể của dì Liên.

Chúa đã muốn tôi tìm thấy hình ảnh của Ngài nơi dì Liên và chú Hào. Dù là Đấng giàu có, Ngài đã tự tiêu hao cuộc chính mình để lấp đầy những khoảng không trống rỗng trong tâm hồn tôi, như cách sống của chú dì “Liền Hao”. Thập giá là bằng chứng cho tôi thấy điều đó. Thiên Chúa đã chết cho tôi được sống và được sống dồi dào.

Tôi thực sự biết ơn chú dì. Ba ngày sau, tôi cùng anh em đi lần chuỗi tại hang đá Đức Mẹ Lộ Đức vì là tháng Mân Côi, tôi vô tình bắt gặp dì trong dáng đi cà nhắc. Tôi thương dì lắm. Tôi hỏi thăm dì và chúc dì ngủ ngon, rồi vội vàng cùng anh em trở về Nhà Nguyện đọc kinh tối. Mỗi lời kinh tôi dâng lên Chúa, tôi không quên gửi gắm cho Ngài gia đình dì Liên đang gặp nhiều gian nan khốn khó. Cầu mong dì luôn mạnh khoẻ, tinh thần vững vàng và tiếp tục trở nên sự hiện diện của Chúa cho những anh chị em dì gặp gỡ, như cách dì đã làm cho tôi – một kẻ mù loà đích thực.

Lạy Chúa, con tưởng nhớ bao việc Ngài làm

Tưởng nhớ những kỳ công thuở trước.

Mọi hành động của Ngài, con nhẩm đi nhắc lại,

Sự nghiệp Ngài con sẽ gẫm suy. (Tv 76)

Lạy Chúa, con xin tạ ơn Ngài mãi đến ngàn thu.

Huế, 20.10.2024.

Gioan Baotixita Antôn Nguyễn Văn Tài