Việc truyền đạt sự thật trong thế giới xấu xa này đòi phải có sự khôn ngoan và thận trọng, như chính Chúa Giêsu đã nói: “Này Thầy sai anh em đi như chiên giữa sói, vậy anh em hãy khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như chim bồ câu” (Mt 10,16). Bất chấp bên ngoài có những khó khăn và phức tạp nào đi nữa, thì người ta vẫn có thể bộc lộ sự chân thành và đơn thành trong ngôn ngữ và dáng điệu của họ. Đối nghịch với sự chân thành này là gian dối, bất hoà và xảo trá.

1. Theo hình ảnh và giống Thiên Chúa

1.1. Lời nói thật

Lời nói thật được xây dựng trên khuôn mẫu là Lời Thiên Chúa, và phản ánh lời Thiên Chúa. Cả nguồn gốc (lời âm thầm trong lòng ta, kiến thức của ta) và mục đích (việc tỏ bày và trao đổi yêu thương) của lời nói ấy trong ta đều phải được nhìn dưới ánh sáng này.

Theo thánh Augustinô thì, vì Ngôi Lời vĩnh cửu hằng ở với Cha và mạc khải ra Cha, nên tính chân thực bên ngoài của ta cũng tỏ bày sự chân thực bên trong của ta. “Lời được nói ra là dấu chỉ của lời soi chiếu bên trong: lời bên trong mới đáng được gọi là lời thật.”[1] Lời có thể nghe được, theo một mức độ nào đó, phải là một sự thể hiện của lời trong lòng ta. Nên những gì có trong lòng thì cũng phải có trong lời nói, và những gì không có trong lòng thì cũng sẽ không có trong lời nói. Đó chính là lệnh truyền của Chúa Giêsu “có nói có, không nói không” (Mt 5,13); và chỉ khi ấy hình ảnh của kẻ được tạo dựng mới nên giống như hình ảnh của Đấng được sinh ra.[2]

Để duy trì hình ảnh của Thiên Chúa trong ta thì lời ta nói ra không khi nào được mâu thuẫn với lời trong lòng ta hoặc với sự tinh tuyền của chủ ý của ta.

Vì là Đấng bất biến, xuất phát từ Cha, Ngôi Lời này không thể có sự gian dối, vì “Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoài những gì Con thấy Cha làm” (Ga 5,19).[3]

Khi Ngài trở thành luật của sự chân thực của  ta, thì không gì ta nói ra bất kể bằng lời nói hay việc làm được phép trái nghịch với sự chân thực yêu thương và chủ ý của ta. Nhưng ta không bị buộc và đôi khi thậm chí không được phép, nói ra hết tất cả những gì đang chất chứa trong lòng.

1.2 Truyền thông sự thật

1.2.1. Mục đích của việc truyền thông sự thật

Cùng đích của việc truyền thông của con người bao giờ cũng phải là để xây dựng cộng đoàn nhân loại trong sự thật và tình yêu. Nên bất cứ lời nói và hành động nào không xuất phát từ lòng yêu chuộng sự thiện và yêu thương đồng loại đều trái nghịch với sự hiệp thông và tình bằng hữu.

Sử dụng cách thiếu đức ái những sự kiện và những sự thật nửa vời sẽ phá hoại sự chân thật trong lòng và phá vỡ cộng đoàn. Tâm trí và linh hồn người thành thật luôn thấm đẫm sự thật, nên họ không thể sử dụng sự thật cách vô tâm và tính toán,

1.2.2 Thận trọng

Ta phải thận trọng trong việc truyền thông bằng lời nói, cử chỉ và việc làm, vì chỉ như thế ta mới có thể thực sự chia sẻ sự hiểu biết và việc tìm kiếm sự thật, một sự thật san bằng mọi khác biệt, lấp đầy mọi ngăn cách, vạch trần sự giả hình, chữa lành mọi vết thương, liên kết mọi chi thể trong Nhiệm Thể và làm chứng cho sứ mạng nên một trong sự thật và trong tình yêu, trong hình ảnh và giống như Thiên Chúa.

Thận trọng còn là sự nhạy cảm của tình yêu đích thật trong những người dấn thân cho sự thật và cho việc truyền thông chân thực.

Nhưng trong khi khiêm tốn thú nhận tội lỗi mình trước Thiên Chúa và trong bí tích Hòa Giải, thì ta lại phải hết sức thận trọng, trong giao tiếp hằng ngày, trong lời nói và hành động của ta để giữ uy tín cho ta và giữ kín nhiều điều vì lòng yêu thương đồng loại.

1.2.3. Cởi mở và im lặng

Cởi mở phải được tôi luyện bằng sự kín đáo để không phá vỡ sự nhạy bén của người khác, không tạo cơ hội cho những người thiếu suy nghĩ, xảo trá và hiểm độc làm hại những việc tốt lành hoặc danh thơm tiếng tốt cần thiết cho việc hợp tác trong một cuộc sống công chính và hoà bình.

Nghệ thuật im lặng là một nguồn suối trong sạch và sâu thẳm của việc truyền thông đích thật. Ai không biết cách im lặng để các sự thật và các vấn đề lớn của cuộc sống chín mùi nơi mình, sẽ không thể trở nên giống Thiên Chúa trong việc chia sẻ sự thật với người khác được.

Im lặng là một sự hiệp thông huyền nhiệm với Nguồn mọi sự thật và việc cởi mở yêu thương với người khác. Thinh lặng làm cho sự thật, tình yêu và các năng lực truyền thông của con người phát triển, trong khi ba hoa lột mất của lời nói sức mạnh và chiều sâu, và thường đưa tới sự hời hợt, dửng dưng với sự thật, và dẫn tới những tương quan lệch lạc.

2. Tiếc cho kẻ gian dối

2.1. Sự gian dối

Trong Kinh Thánh, sự chân thật được xếp vào số những giá trị cao nhất. Lịch sử vẫn được coi như một trận chiến giữa Sự Thật của Thiên Chúa với Tên Gian Dối (Satan, hiện thân của sự gian dối và bất trung) và tất cả những kẻ theo hắn. Điều răn: “Ngươi không được làm chứng gian chống lại đồng loại ngươi” (Xh 20,16; Lv 19,12) gìn giữ dân Thiên Chúa khỏi sự gian dối và bất trung độc ác, nguy hại. Cựu Ước kết án sự gian dối, vì đối nghịch với và phá hủy cộng đoàn được xây trên sự trung thành con người phải có đối với Giavê và đồng loại mình, và mâu thuẫn với giao ước hợp nhất dân Thiên Chúa và với lời mời gọi trung thành và đáng tin cậy.

2.2. Những kẻ gian dối

Tân Ước mạc khải Chúa Giêsu Kitô, là Giao ước và là Chứng Nhân Trung Thành. Các tín hữu tham dự vào sự thật và sứ vụ của Ngài trong việc trung thành làm chứng. Kẻ gian dối không thể tham dự vào giao ước này.

Những kẻ gian dối trong 1 Tim 1,10;  Kh 21,8; 21,27; 22,15 là những kẻ đã mở lòng ra cho những vụ phỉnh gạt của ma quỉ, những kẻ có thái độ kịch liệt chống lại sự thật họ đã khẳng định nhờ đức tin, những kẻ tự lừa dối mình.

Để đạt đến sự trung thực và đáng tin cậy (Mt 5, 7), ta phải coi mọi thứ gian dối làm hại đến cộng đoàn và uy tín của cộng đoàn như con người cũ, như  kẻ tội lỗi cần phải loại trừ (Ep 4,25; Col 3,9). Ananias và Saphira vì đã cố tình lừa gạt cộng đoàn và đã du nhập vào cộng đoàn một thái độ giả hình, đã bị nghiêm trị (Cv 5,1-11).

2.3. Những tên gọi của gian dối

Trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, sự thật và sự trung thành là một phần của những người được Thiên Chúa chọn đến  độ “nói dối” trở thành một tên gọi khác của tội lỗi và của tình trạng tội lỗi (xem Ga 8,44; Rm 1,25; 1Ga 2,21; 2,27). Tương tự như thế, tiếng apáte có thể muốn nói đến sự lừa gạt, ảo tưởng, dối trá, gạt gẫm (Mt 13,22; Ep 4,22; Col 2,8; 2 Th 2,10; Dt 3,13). Và các tiếng skótosskotia, lại có nghĩa là sự tăm tối, nên cũng muốn nói rằng gian dối sẽ dẫn đến tình trạng tội lỗi (xem Ga 1,5; 3,19; 6,17; 8,12; 12,25; 12,46. Cv 16,18; Rm 13,12; 2Cr 6,14; Ep 5,8; 5,11; 6,12; Col 1,13; 1Pr 2,9; 1Ga 1,16). Cả ba tiếng này trong Kinh Thánh đều có nghĩa là nô lệ cho sự lầm lạc, nên cũng bao hàm cả hành động gian dối của cá nhân hoặc việc lừa dối chính mình và người khác, một sự lừa dối xuất phát từ tình trạng nô lệ và làm cho tình trạng ấy ra tồi tệ hơn.

3. Sự nghiêm trọng của tội gian dối

3.1. Sự gian dối

Sự gian dối mà Kinh Thánh gọi là pseudo, apáte hay skotos là chọn lựa căn bản đối với sự gian dối trong con người, trong suy nghĩ và hành động của mình. Khi xúc phạm đến sự thật trong con người, trong việc tìm kiếm và truyền thông sự thật, ta đang tham dự vào tình trạng nô lệ và gian ác của chọn lựa ấy. Khi các tội ấy là những sự kiện của tiến trình băng hoại, của việc lớn lên trong sự gian dối, và khi không có một sự thay đổi quyết liệt nào, thì đó phải kể là những tội nặng, những tội có thể đưa tới việc làm cho mình thànhự tăm tối.

3.2. Việc nói dối của một người bình thường

Những việc nói dối một người bình thường phạm chỉ vì yếu đuối và không hề cố ý làm hại người khác, “chỉ” là những lỗi nhẹ[4]. Nhưng ta vẫn không được quả quyết như Kern rằng vì không chống lại trật tự của tình yêu, nên nói dối chỉ là tội nhẹ thôi[5]. Quả quyết này sẽ sai lầm vô cùng trong một nền đạo đức coi thường các thái độ. Tuy nhiên, ta có thể nói rằng những ai còn quan tâm đến sự thật và sự chân thật bao giờ cũng có thể hy vọng họ không phạm tội trọng do việc gian dối.

3.3. Các loại gian dối  

Một số nhà luân lý chỉ muốn bảo vệ tài sản của người khác hơn coi trọng sự chân thành trong việc truyền thông thường không coi nói dối tự bản chất là một tội nặng, hệt như tội trộm cắp, vu khống và các tội tương tự.

Gian dối là chống lại ý Thiên Chúa Đấng là chính Sự Thật, và chống lại sự thánh hóa của ta trong sự thật. Tuy nhiên, thiếu chân thành và lầm lạc khác với việc tình cờ sa ngã, hay nói dối vì  một áp lực nào đó hoặc vì sự cảm thông quá đáng với người khác. Những thất bại ấy không phải là những dấu chỉ của sự lầm lạc căn bản[6].

Một số nhà luân lý đã xếp việc “nói dối cho vui” vào hàng tội nhẹ. Theo cha Haring thì đó không phải là nói dối. Kiểu nói vui làm cho người khác khoan khoái ấy có thể đem lại khôn ngoan, những nụ cười toàn diện và giúp người ta sẵn sàng đón nhận sự yếu  đuối của con người. Ngoài ra, sự  đánh lừa ban đầu đã được những gì theo sau đó xua tan, biến mọi sự thành  chuyện cười. Nhưng trong những cuộc nói chơi ấy, không bao giờ ta được nhục mạ hoặc khinh khi người khác.

Những câu chuyện tưởng tượng của trẻ em thông thường không được kể là nói dối, vì trẻ chưa phân biệt được cách đầy đủ đâu là trò chơi của trí tưởng tượng và đâu là kinh nghiệm khách do sợ hãi, và do kinh nghiệm về một sự  mất và thiếu tin  tưởng nào đó, hoặc do học theo thói quen nói dối của những người lớn. Chỉ khi được xây dựng trên những tấm gương thành thật của nhà giáo dục, và trong bầu khí tin tưởng và chân thành sửa lỗi cho nhau, việc giáo dục trong sự thật mới có hiệu quả. Hình phạt, dù trong trường hợp đáng phải phạt, vẫn không nên sử dụng, khi trẻ em biết thẳng thắn và chân thành nhận lỗi.

3.4. Việc nói dối của bệnh nhân

Chỉ trừ  một loại bệnh nhân nào đó và chỉ trong trường hợp họ bị buộc phải nói dối, thì bệnh nhân tâm thần mới không phải chịu trách nhiệm luân lý về việc nói dối của họ. Trách nhiệm luân lý sẽ được giảm nhẹ tùy mức độ tâm bệnh nặng hay nhẹ. Ta cần hiểu biết và thông cảm với những người bị tâm bệnh này như đã từng thông cảm với trẻ em, nhưng ta cũng cần từng bước hướng dẫn để họ có thể học và biết đánh giá sự chân thực.

4. Việc cấm nói dối có phải là một qui tắc luân lý tuyệt đối?

Thái độ chân thực là những qui tắc luân lý tuyệt đối. Nhưng một người trung thực, trong một số hoàn cảnh phức tạp, có được phép nói một điều gì đó không có thật hoặc không chính xác, và như thế có phải là nói dối theo nghĩa luân lý chăng? Nhiều người cho rằng trong thế giới đầy xáo trộn này, giữ kín sự thật khiến những người muốn lạm dụng sự thật ấy để làm những chuyện bất công, không những không có tội mà đôi khi còn là một bổn phận nữa. Khi ấy vấn đề còn lại sẽ là người trung thực ấy phải chọn ngôn ngữ, và thái độ nào hầu có thể giữ kín sự thật.

4.1. Kinh Thánh

Cựu Ước thường kết án nói dối, nhất là khi việc nói dối ấy phá vỡ cộng đoàn, nhưng Cựu Ước cũng cho thấy một số những cuộc nói dối của các tổ phụ  như của Abraham (St 12,11-13; 21,15) của Isaac (St 26,7-11) của Giacob (St 27,8-17) của David (các chương 26-29).

Dường như  Kinh Thánh chấp nhận một số trong các cuộc nói dối ấy. Và các bà đỡ do nói dối để cứu sống các trẻ em Do Thái, đã được Kinh Thánh ca ngợi như “những kẻ kính sợ Thiên Chúa” (Xh 1,15-21). Tương tự như thế, Kinh Thánh cũng ca ngợi Judith, người đã lừa đảo Holofernes và binh lính của ông để cứu sống dân tộc bà (Gđt 10).

Không một chỗ nào trong Tân Ước ca ngợi hay ủng hộ cho việc nói dối hết. Nhưng cũng không có chỗ nào kết án việc nói dối của các bà đỡ tại Ai Cập cả. Ta có thể nói rằng  dưới ánh sáng của việc mạc khải trọn vẹn của Đức Kitô, hầu hết các cuộc nói dối của các tổ phụ không còn được mặc nhiên chấp nhận nữa. Càng lúc con người càng ý thức hơn về giá trị cao cả của sự chân thành.

4.2. Truyền thống

4.2.1. Truyền thống chung

Trong truyền thống Kitô giáo không có một sự nhất quán nào về vấn đề này cả[7]. Một truyền thống xa xưa nhất về việc cấm nói dối cách tuyệt đối hoặc không tuyệt đối xuất phát từ nền triết học Hy Lạp và từ những đoạn văn Cựu Ước ta vừa nói tới. Ngoài Aristôte và Sophocles ra, khó có thể có được một đại diện đáng kể nào của tư tưởng Hy Lạp, kết án nói dối, coi đó như điều tuyệt đối bất hợp pháp.

Vì bối cảnh văn hóa này, và hơn nữa, vì các cuộc nói dối của các tổ phụ không còn được chấp nhận nữa, nên các giáo phụ lớn như Origen, Chrysostom, Hilary và Cassian đã tìm cách biện minh cho, ít nhất là, việc “nói dối để cứu người khác” trong một hoàn cảnh nào đó, nếu đó là việc nói dối tuyệt đối vô vị lợi và chỉ vì lợi ích của người khác.

4.2.2. Thánh Augustinô

Trong vấn đề này không ai có ảnh hưởng sâu sắc hơn thánh Augustinô. Trong tác phẩm Soliloquia,[8] ngài đã cho thấy rõ là hễ đã chủ tâm lừa dối thì  đã là gian dối rồi. Trong quyển On Lying (năm 395) ngài lại cho thấy “nói dối vui” là một lỗi chống lại sự trung thực, hoặc cũng là nói dối theo nghĩa luân lý và là một luật cấm tuyệt đối. Tuy nhiên, khi giải quyết các vấn đề cụ thể, thì ngài lại nói khác: cuộc nói dối nào “không xúc phạm đến tôn giáo, đến tình cảm ngay chính và quảng đại, nếu được nói vì lợi ích của sự trong sạch của thân xác, thì đều có thể chấp nhận được.”[9]

Hai mươi lăm năm sau quyển On Lying, ngài viết quyển Against Lying. Quyển này diễn tả rõ nhất tính tuyệt đối của điều răn phải nói thật và không được nói dối, kể cả khi mục đích của việc nói dối nhằm bảo vệ đạo lý chính thống. Thánh Augustinô công khai cho rằng khi đánh giá về luân lý, cần để ý hơn đến chủ ý và mục đích, nhưng ngài cũng khẳng định rằng mục đích tốt nhất vẫn không thể biện minh cho bất cứ một cuộc nói dối nào, vì đó là một tội khách quan. Không một điều tốt lành nào người ta hy vọng có được do một hành động sai lầm về luân lý có thể bù đắp được cho sự xấu này.

4.3. Thánh Giêrônimô

Trong quyển Galatians, thánh Giêrônimô đã biện minh cho tội nói dối để cứu giúp người ta trong những hoàn cảnh nghiêm trọng. Quan điểm của ngài có vẻ ưu thắng hơn quan điểm của thánh Augustinô trong vấn đề còn nhiều tranh cãi này.[10] Nhưng các nền thần học theo giáo huấn của thánh Augustinô sau đó, vẫn dứt khoát tuyên bố rằng mọi lời nói dối có ý thức đều phạm luật.

4.4. Luther

Dẫu vẫn hết sức kính trọng thánh Augustinô, nhưng Luther đã khởi sự từ một truyền thống khác. “Nói dối thật lòng vì sự  thiện  hoặc vì Hội Thánh Kitô giáo, nói dối trong trường hợp cần thiết, nói dối hữu ích, không chống lại Thiên Chúa”[11]. Dẫu tuyên bố của Luther rõ ràng như thế, nhưng H. Grisar vẫn cứ kết án Luther đã “chẳng làm gì khác ngoài việc xây dựng một nền thần học về sự nói dối.”[12]

Hầu hết các tín đồ của Luther đều giữ vững lập trường của ông, nhưng lại vẫn cứ  nhấn mạnh đến sự chân thực trong lòng và đã đặt ra những điều kiện rất khắt khe đối với những trường hợp ngoại lệ. Calvin và đồ đệ ông thì tiếp nối truyền thống của thánh Augustinô, coi mọi sự dối láo đều là xấu.

4.5. Những cố gắng suy tư mới

4.5.1. Nói dối và nói không đúng sự thật

Từ thời của Hugh Grotius và Samuel Puffendorf, trong giới Tin Lành, bắt đầu có một sự phân biệt khá phổ biến giữa những lời nói dối, nghĩa là những lời lường gạt đồng loại cách bất công, khi giữ kín sự thật đã được ủy thác cho họ, với falsiloqium (lời nói không đúng sự thật), nghĩa là lời cố tình nói dối khi phe đối lập không được quyền biết sự thật. Việc nói dối sau được coi là không có lỗi về mặt luân lý. Thực tế mà nói, sự tiềm chế ý nghĩa (mental reservation) mà phần lớn các thần học gia Công giáo hồi thế kỷ 17 bảo vệ và đã bị Toà Thánh kết án năm 1679,  có khác gì falsiloqium đâu.[13] Lập trường ấy đáng bị kết án là vì có một sự phóng túng nào đó, đang biện minh cho sự tiềm chế ý nghĩa thuần túy này. Lập trường này cũng bị các tác giả Tin Lành kết án vì có những yếu tố giả hình, chung chung không thấy trong thuyết về falsiloqium.

Trong thời gian gần đây, một số thần học gia Công giáo có tên tuổi đã phân biệt những lời nói không đúng có thể được biện minh về mặt luân lý.[14] Lý do chính là phe đối lập không được quyền có những thông tin chính xác và không có cách nào khác để che đậy sự thật, dẫu sự che đậy ấy là một bổn phận. Laros viết: “Cần phải đưa vào trong định nghĩa về nói dối, việc vi phạm rõ ràng quyền biết sự thật của phe đối lập.”[15]

4.5.2. Nói dối trng những hoàn cảnh đặc biệt

Karlheinz Peschke đã xoáy mạnh vào “tương quan mật thiết giữa sự thật và sự trung thành”, trong khi vẫn đặc biệt quan tâm đến những nghiên cứu mới hơn về khoa tâm lý ngôn ngữ.[16] Ông kết luận rằng, trong những hoàn cảnh phức tạp, thì người thành thật nhất sẽ không bị buộc phải nói thật, khi sự thật ấy chỉ gây ra những tác hại không cần thiết. Ta có được một ví dụ minh họa cho điểm này như sau: suốt thời kỳ Đức quốc xã, những kẻ tôn thờ Hitler đã đến các bệnh viện Công giáo và các trại mồ côi hỏi các y tá xem trong các trại ấy có bao nhiêu trẻ bị bệnh di truyền. Khi có được danh sách,  họ đã đưa tất cả các em vào các phòng hơi ngạt. Tuy nhiên, tại nhiều nơi, các nữ tu đã bảo rằng tại đây không có em nào hết. Họ nói dối chăng? Cả cha Haring và Rey-Mermet đều cho rằng họ không nói dối, tuy phân tích các lời họ nói, thì đó có thể là “nói dối” thật. Nhưng trong hoàn cảnh cụ thể này, người của Hitler đã  hỏi những điều vượt quá ngôn ngữ họ sử dụng. Câu hỏi của họ đúng ra phải là: “các chị có bao nhiêu trẻ phải đưa vào phòng ngạt?” Nên câu trả lời duy nhất cho câu hỏi ấy là “không có ai cả”. Đây là một thông tin chân thực hoặc là một sự từ chối thông tin hợp pháp. Lời nói chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh của nó, và những gì, xét về trừu tượng, có thể được coi là “nói dối” hoặc “nói sai sự thật”, thì trong hoàn cảnh cụ thể, lại có thể là  câu trả lời chí lý.

4.5.3. Nói dối những người bị bệnh hiểm nghèo

Axel Denecke đã đưa ra những tiêu chuẩn về việc nói dối những người đang bị các bệnh hiểm nghèo mà chưa sẵn sàng để chấp nhận sự thật.[17] Việc bác sĩ  tạm thời không tiết lộ sự thật khi cần, chẳng có gì là giả dối hay lảng tránh cả. Nếu lúc này bác sĩ chưa tiết lộ một số sự kiện nào đó  nhằm giúp bệnh nhân chuẩn bị tinh thần đón nhận những thông tin quan trọng khác, thì ta phải xét lời của bác sĩ  ấy trong bối cảnh năng động của nó, khi toàn bộ sự  thật sẽ được tiết lộ cách yêu thương và tiệm tiến.[18]

Tuy nhiên, nếu bác sĩ cố ý không cho biết sự thật, thì đó là một sự nói dối không thể chấp nhận được cách khách quan. Quyết định  lừa gạt bệnh nhân và chỉ tạm thời không tiết lộ sự thật, chờ cơ hội để có thể tiết lộ với lòng yêu thương và vào đúng thời, đúng lúc là hai việc khác hẳn nhau.

5. Bí mật

5.1 Nền tảng và việc biện minh cho sự bí mật

Trong một nhân loại vô tội, con người thường có thể chia sẻ hiểu biết, suy nghĩ và ước vọng của họ cách rất đơn giản. Thường họ chỉ quan tâm đến qui luật của sự phát triển. Nhưng mạc khải của Thiên Chúa đã gặp phải những rào cản trong sự thiếu trưởng thành và trong tình trạng tội lỗi của những người đón nhận sự thật của Ngài. Trong nhân loại và ngay cả trong Hội Thánh nữa, không phải lúc nào cũng có sự lớn mạnh không ngừng về sự  hiểu biết và về tình yêu. Chúa Giêsu đã vén mở nhiều điều cho các môn đệ Ngài, những điều người khác không thể hiểu được. Và vào lúc cuối đời, Ngài đã tâm sự với những kẻ đặc tuyển của Ngài: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ anh em không thể mang nổi” (Ga 16,12). Và Ngài cũng đã cảnh cáo các sứ giả của Tin Mừng: “Của thánh, đừng cho chó, ngọc quí chớ quăng trước bày heo, kẻo chúng lấy chân đạp mất và quay lại chúng cắn xé các ngươi” (Mt 7,6).

5.2. Tác hại của việc bộc lộ sự thật tại những nơi công cộng

Tôn trọng sự thật của Thiên Chúa đòi ta không được bộc lộ sự thật ở những nơi con người không chân thành đón nhận hoặc tại những nơi ta không thể làm chứng cách ý nghĩa cho sự thật ấy. Ta chỉ có thể bàn bạc nhiều vấn đề tế nhị và ngay cả những phiền muộn với những người trưởng thành, vì lợi ích của mỗi người, vì công khai bàn bạc về cùng một vấn đề tại những nơi công cộng có thể gây ra nhiều tai họa.

5.3. Tôn trọng sự thâm sâu của cuộc sống con người  

Tôn trọng lãnh vực thâm sâu của cuộc sống của mình cũng như của người khác là một lý do sâu sắc và quan trọng để giữ  bí mật một số điều nào đó. Những tư tưởng, ước vọng, và việc làm tốt đẹp nhất của ta cần phải được giữ kín “trong một nơi bí mật” (Mt 6,6), chỉ mình Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi sự kín ẩn mới có thể thấy. Chắc chắn các việc lành ấy của ta sẽ phải đưa dẫn người ta đến chỗ ngợi khen Thiên Chúa. Và các việc ấy chỉ có thể dẫn người ta đến chỗ ấy, nếu vì lòng trong sạch,  ta xử sự cách khôn ngoan.

Cố tránh, không tỏ cho người ta những thôi thúc chưa được thử nghiệm và chuẩn y từ tận cõi thẳm sâu của ta cũng là điều quan trọng không kém.  Bí mật và thận trọng không chỉ cần thiết đối với sự bình an của con người thôi mà còn cần thiết để tránh những gương xấu, sự bất tín và trở ngại của những sáng kiến tốt lành.

5.4. Việc buộc phải giữ bí mật

Mỗi người đều phải biết rõ sự mỏng dòn của mình cũng như sự yếu đuối của đồng loại mình. Các mối tương quan của con người không khi nào hoàn hảo, vì thế ta phải cho phép người khác quyết định xem họ muốn bộc bạch cuộc sống nội tâm và những quan tâm sâu sắc của họ ở mức độ nào. Bao lâu họ không xâm phạm quyền của con người, thì bấy lâu bí mật của họ phải được tôn trọng cách tuyệt đối. Ta không bao giờ được phép, do bất cẩn, giao vũ khí chiến đấu cho kẻ thù của sự  tốt lành. Nhưng mọi sự sẽ tồi tệ hơn, nếu con người dò xét các bí mật của người khác và dùng những gì đã bị bật mí ấy như vũ khí chống lại những người ấy.

Quan tâm đến bí mật của ta và của người khác bao giờ cũng phải được sinh động hoá bởi  sự hiểu biết yêu thương và bao giờ cũng phải là một nỗ lực chung nhằm tạo nên một bầu khí của sự tin tưởng lẫn nhau. Tất cả chúng ta đều cần đến những người khác, những người ta tin tưởng khi thời cơ đòi hỏi. Tuy nhiên, ta cũng phải biết phân biệt xem ta có thể tin ai. Trong những vấn đề thâm sâu và quan trọng, ta chỉ có thể tin tưởng vào những người biết giữ thinh lặng cách uy tín.

5.5. Các loại bí mật

Bí mật tự nhiên gồm mọi sự thật còn ẩn khuất hoặc những sự kiện mà nếu bị lộ ra sẽ xâm phạm đến sự công bình hoặc bác ái.

Các bí mật được hứa giữ kín gồm mọi sự thật còn bị che đậy hoặc những sự kiện mà một người nào đó đã hứa cách hợp pháp, không nói ra, ngay cả khi ngoài lời hứa ấy ra, có thể không còn bất cứ một ràng buộc nào khác. Nhưng nếu tính bí mật bỗng trở nên vô nghĩa cách tuyệt đối hoặc thậm chí mâu thuẫn với sự thiện cao hơn và/hoặc những quyền lợi của người khác, thì sự ràng buộc của lời hứa ấy sẽ tự  động mất hiệu lực.

Bí mật được cam kết gồm mọi sự hiểu biết mà một người nào đó trong những điều kiện và hoạt động nào đó, tự bản chất, đòi phải giữ bí mật. Bí mật quan trọng nhất thuộc loại này chính là bí mật nghề nghiệp của các y sĩ, các nữ hộ sinh, luật sư, công chứng viên v.v.. Bí mật nghề nghiệp thánh thiêng và nghiêm khắc nhất chính là việc giữ ấn của toà giải tội.

5.6. Những ràng buộc chính liên quan đến sự bí mật

Sự tôn kính và lòng yêu mến cấm ta không được xoi mói đời tư của người đồng loại hoặc tiết lộ các bí mật đã được ủy thác cho ta. Tính nặng, nhẹ của tội này tỉ lệ với việc sử dụng sự thật cách sai lầm, sự ác độc của mục đích của việc tiết lộ và việc vi phạm công bình, bác ái có liên quan tới việc sử dụng thông tin ấy. Nếu động cơ chỉ là tò mò thôi và không hề có ước ao muốn khai thác thông tin đã tìm được, thì đó vẫn là một sự thiếu tôn trọng tha nhân cách trầm trọng – trừ phi đó là một trường hợp tâm bệnh.

Nghe lén khi không có thẩm quyền hoặc theo dõi người khác chính là một tội lớn. Thu băng những nhận xét kín  trong một cuộc đàm thoại trống mà không cho những người trong cuộc biết hoặc không được sự đồng ý của họ là một vi phạm lớn. Tuy nhiên, nếu thu băng không phải là để buộc ai đó phải làm gì đó hoặc để vạch trần người khác, nhưng chỉ nhằm bảo vệ mình  hoặc người khác khỏi những thiệt hại lớn và bất công, thì đánh giá luân lý lúc ấy sẽ phải khác hoàn toàn. Người ta phải có những lý do thật chính đáng và hợp lý thì mới được phép thăm dò bí mật của người khác, chẳng hạn như để tránh những bất công đang đe doạ mình, đồng loại mình hay công ích. Nhưng ngay cả trong trường hợp ấy, phương tiện sử dụng cũng phải xứng đáng. Nếu một mối tương quan kín bị rắc rối hoặc phá vỡ do hành động dò xét này, thì khi ấy, con người phải chắc chắn rằng sự xấu phát sinh sẽ không lớn hơn sự thiện họ hy vọng hoàn tất. Nhưng đây là trường hợp hiếm có.

5.7. Việc buộc phải giữ bí mật sẽ hết hiệu lực

(a) nếu người liên hệ cho phép cách hợp lý hoặc bị buộc phải cho phép tiết lộ;

(b) nếu vấn đề không còn bí mật nữa vì đã bị người khác tiết lộ rồi;

(c) nếu sự tiết lộ tốt hơn cho mọi người liên hệ. Trong trường hợp này, thì sự bí mật sẽ tự  động không còn bí mật nữa.

Lời hứa giữ bí mật chỉ để hứa thôi, không đem lại lợi ích hơn cho người hứa, thì không thể buộc họ phải chịu những thiệt hại không cân xứng. Nếu, trong những hoàn cảnh đặc biệt, việc giữ bí mật sẽ làm thiệt hại nặng cho cộng đoàn hoặc cho một phe phái vô tội nào đó, thì vấn đề phải được tiết lộ theo mức cần thiết, bất kể trước đó người ta đã thề giữ bí mật. Tuy nhiên bao giờ ta cũng phải nhớ rằng bí mật nghề nghiệp, trước hết, là một dữ  kiện quan trọng đối với công ích, nên phải nặng ký hơn lợi ích của bất cứ một tổ chức nhỏ hơn nào.

5.8. Những trường hợp không phải giữ bí mật

Bàn bạc về một vấn đề bí mật nào đó với một người có uy tín tuyệt đối để có được lời khuyên về những vấn đề quan trọng hoặc để được giải toả khỏi những căng thẳng, thường là điều được phép, nhưng với điều kiện là chính sự bí mật sẽ không có nguy cơ bị tiết lộ.

Các y sĩ phải đương đầu với những vấn đề rắc rối về bí mật nghề nghiệp, như phải đương đầu với những vấn đề tội phạm,  tội phá thai, chẳng hạn. Họ biết chắc là họ không bị buộc phải giữ bí mật, nếu nhờ việc phục vụ của họ chứ không phải do bệnh nhân đã tin tưởng, tâm sự với họ, họ biết được một hành vi phạm pháp nào đó, do một người thiếu trách nhiệm thực hiện, làm thiệt hại nặng trên bệnh nhân. Khó khăn này sẽ được nhân lên nếu bác sĩ biết được tội phạm này là do mối tương quan kín đáo giữa họ với bệnh nhân. Dường như chắc chắn không được phép phản bội sự tin tưởng của bệnh nhân. Nhưng nếu bác sĩ ấy có thể có cách khác để bảo vệ bệnh nhân, thì ông được phép theo dõi tội phạm đang đe doạ công ích, bằng cách tố cáo và đưa tội phạm ấy ra toà. Y sĩ đôi khi được phép áp dụng một áp lực vừa phải và vẫn tôn trọng bệnh nhân để buộc họ phải đưa các kẻ tội phạm ra trước pháp luật, hầu có thể ngăn ngừa những thiệt hại nặng hơn.

Tuy nhiên, không bao giờ y sĩ được coi mình như nhân viên điều tra tội phạm hoặc nhân viên công an. Công việc và bí mật nghề nghiệp của bác sĩ, trước hết, thuộc công việc phục vụ sự sống và sức khỏe: phục vụ bệnh nhân. Nên ta không được phép đợi chờ, bằng chính sự im lặng của họ, đáp ứng một “sự tin tưởng”, mà trước hết xâm phạm đến ý thức trách nhiệm của họ.

6. Lời nói và hành động tiết lộ

Thông thường, người ta bảo vệ bí mật bằng cách im lặng không nói hoặc không tỏ thái độ gì hết. Không nên nói gì với những kẻ ba hoa, tọc mạch hay nếu cần có thể đánh lạc hướng những kẻ như thế. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chỉ im lặng hoặc cự tuyệt thôi, chưa đủ để có thể giữ bí mật, nên chỉ còn cách duy nhất này, đó là sử dụng một kiểu nói, dẫu không đúng sự thật, nhưng lại đạt được mục đích của việc giữ bí mật cách hiệu quả hơn. Ta không thể nói rằng kiểu nói như thế phản lại mục đích của ngôn ngữ, tuy đó không phải là mục đích bình thường. Một số người, cả trong lúc bị tẩy não, vẫn có thể giữ được bình tĩnh và bảo vệ được bí mật bằng những lời nói huyên thuyên, khi có nghĩa, lúc lại chẳng có nghĩa gì hết.

Lời nói hoặc hành vi che đậy có thể là một câu trả lời có một ý nghĩa sâu sắc hơn hoặc hầu như vẫn còn bí ẩn. Nền thần học luân lý truyền thống gọi kiểu nói này là “tiềm chế ý nghĩa có thể nhận thấy được”. Trong khi đầu óc  và chủ ý vẫn buộc phải rõ ràng, thì người ta vẫn có thể sử dụng kiểu nói và thái độ mơ hồ này, để giữ bí mật hầu có thể bảo vệ mình hoặc người khác khỏi những bất công và/hoặc những kẻ tọc mạch không có trách nhiệm. Mục đích của lời nói mơ hồ không phải là lừa phỉnh theo đúng nghĩa của từ ngữ ấy, mà chỉ là sự che giấu không cho những kẻ lạm dụng biết sự thật thôi. Đánh lạc hướng kẻ ba hoa, tọc mạch có thể được coi là kết quả của việc tiếp cận sự thật cách sai lạc của chính người ấy.

7. Những lời nói nhiều nghĩa

“Những lời nói nhiều nghĩa” nếu được dùng như  lời nói che đậy, thì bao giờ cũng phải coi đó là một luật trừ, chỉ được miễn cưỡng chấp nhận trong thế giới xấu xa này thôi. Môn  đệ của Đức Kitô không bao giờ được sử dụng những lời nói ấy bất kể vì lý do vặt vãnh hay vì những động cơ ích kỷ. Khi được sử dụng cách hợp pháp, lời nói che đậy sẽ thành một biểu hiện của lòng mến chuộng sự thật. Còn khi được sử dụng cách bất hợp pháp, nó sẽ dẫn đến chỗ xuyên tạc.

8. lời nói của các Kitô hữu

8.1. Trong những hoàn cảnh tế nhị

Trong những hoàn cảnh tế nhị, khi bí mật phải được gìn giữ cách nguyên vẹn, Kitô hữu cũng có thể bối rối, âu lo như mọi người,  và trong những lúc ấy, khi mò tìm một lời nói che đậy nào đó, họ sẽ đụng phải những lời nói, cử chỉ và hành động, cách cụ thể và thực tế giống như sự tiềm chế ý nghĩa thuần túy. Cách khách quan, những lời nói ấy tương đương với những lời nói không đúng với sự thật. Nhưng vì quá bối rối, trong trường hợp cần thiết như thế, họ đã không còn thấy được cách nào khác để thoát khỏi tình trạng khó có thể giữ kín bí mật, nên ta không được phép coi việc nói sai sự thật ấy của họ là tội nói dối theo nghĩa luân lý được. Tuy nhiên, ta không được coi đây là một nguyên tắc uyển chuyển nhằm biện minh cho mọi sự bóp méo sự thật. Sự khôn ngoan Kitô giáo, tuy không loại bỏ các tiêu chuẩn và suy tư chín chắn, sẽ không bao giờ hướng đến những sự gian dối mà chỉ một lòng tín thác vào sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần  mà tiết lộ hoặc che dấu sự thật như công bằng, bác ái đòi hỏi (Xem Mt 10,20).

8.2. Những trường hợp buộc phải thẳng thắn

Lời nói của Kitô hữu phải thẳng thắn, khi đó là việc tuyên xưng đức tin chân thật, khi cần phải thực thi công bằng, bác ái đối với những ai đang có nhu cầu, bảo vệ những người vô tội khỏi tay kẻ áp bức, hoặc bị hỏi cung trước toà hay khi phải ký kết một hợp đồng song phương nào đó.

Lịch sử của nền thần học luân lý đã từng chứng kiến những tranh luận có vẻ như vô tận rằng không biết vì những lý do tương xứng, người ta có được phép củng cố việc tiềm chế ý nghĩa (một giải đáp lập lờ hai nghĩa) bằng một lời thề nào đó chăng. Rất nhiều luân lý gia đã trả lời là được, miễn là việc tiềm chế ý nghĩa ấy phải là một sự tiềm chế có thể “nhận thấy được” và không có nguy cơ gây ra gương xấu. Tuy nhiên, ở đây ta vẫn cần phải cảnh giác. Ta phải nói trước, vì có những áp lực quá khích và hầu như phi nhân trong luật pháp của những kẻ áp bức thuộc một giai đoạn hoặc của một quốc gia nào đó, luôn khảo cung bằng cách tra tấn những người bị kết tội để moi móc thông tin. Còn trong các nước văn minh, những người bị kết án có quyền từ chối không trả lời về bất cứ  vấn đề chính đáng và có lý nào, thì sẽ không có vấn đề.

Lược soạn theo ý tưởng của Cha Bernhard Häring, C.Ss.R.



[1] Augustine, De Trinitate 15, 11 PL 42, 1071.

[2] Augustine, De Trinitate 15, 11 PL 42, 1072.

[3] M. A Klapfenstein, Die Luge im Alten Testament. Ihr Begriff, ihre Bedeutung und ihre Beurteilung, Zurich-Frankfurt, 1964, 321tt.

[4] Xem Augustine, Enarrtlones in Ps 5, PL 36, 86; Thomas, S. Th., II II, q110. n 4.

[5] A. Kern, Die Luge, Graz, 1930, 117.

[6] A. Kern, Die Luge, Graz, 1930, 117.

[7] The most complete study of the history of the problem is to be found in G. Muller, O.S.B., Die Wahrhaftigkeitspflicht und die Problematik der Luge, Freiburg, 1962, 27-299 (bibliography pp. XVII-XXIV).

[8] Soliloquia, lib. II, 9, 16 PL 32, 892.

[9] Contra mendacium VII, 17 PL 40, 527.

[10] Được trích dẫn trong Kern, quyển Die Luge, 57 (Briefwechsel I, 269ff).

[11] Được trích dẫn trong Kern, quyển Die Luge, 57 (Briefwechsel I, 269ff).

[12] H. Grisar, Luther, Freiburg, 1911, 460.

[13] Denz. Sch., 2126tt.

[14] A. Tanquerey, Synopsis theologiae moralis 9th ed., III các số, 381-383; A. Vermeersch, “De mendacio”, Gregorianum 1 (1920), 11-40; 425-474; J. Lindwoski, S.J., “Das Problem der Luge bei katholischen Ethikerm und Moralisten”, mendacio”, Periodica de re morali 32 (1943), 5-58; 123-171; 33 (1944), 5-60; 1951; các tác giả khác xem, G. Muller, l.c., 199-225.

[15] Laros, l.c., 82.

[16] Xem F. Hainz, Psychologie der Sprache, Stuttgart, 1954; W. P. Robinson, Language and Social Behaviour, Harmondsworth, 1972.

[17] A. Dedecke, l.c., E. Ansohn, Die Wahrheit am Krankenbett. Grundfragen einer arztlichen Stebehilfe, Munchen, 1965, 115.

[18] Xem B. Haring, Medical Ethics, Slough and Notre Dame, 1973, 203ff.