NỘI DUNG CHÍNH


THƯ CỦA BAN GIÁM ĐỐC

PHẦN I: THÔNG TIN TỔNG QUÁT

1. Lịch sử Học viện thánh Anphongsô

2. Căn tính Học viện thánh Anphongsô

3. Nền tảng pháp lý

4. Mục đích

5. Mục tiêu

6. Tổ chức nhân sự

PHẦN II: QUY CHẾ ĐÀO TẠO CỦA HỌC VIỆN THÁNH ANPHONGSÔ (2026)

MỤC I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

MỤC II: TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

MỤC III: THAM DỰ LỚP HỌC VÀ THI CỬ

MỤC IV: TỔ CHỨC THI

MỤC V: XỬ LÝ VI PHẠM NỘI QUY THI

MỤC VI: VIỆC HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU

MỤC VII: XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

MỤC VIII: SỬ DỤNG THƯ VIỆN THÁNH ANPHONGSÔ

MỤC IX: KỲ THI TUYỂN SINH HẰNG NĂM

PHẦN III: CÁC MÔN HỌC VÀ THỜI KHOÁ BIỂU NIÊN KHOÁ 2026-2027

MỤC I: CÁC MÔN HỌC

MỤC II: LÝ DO CÁC MÔN NHẬP MÔN KINH THÁNH, PHỤNG VỤ VÀ LINH ĐẠO KITÔ GIÁO ĐƯỢC ĐƯA VÀO CHU KỲ TRIẾT HỌC

MỤC III: GIỚI THIỆU CÁC MÔN HỌC

PHÂN KHOA TRIẾT

PHÂN KHOA THẦN

MỤC III: THỜI KHÓA BIỂU NIÊN KHÓA 2026-2027 (cập nhật hằng tuần)



THƯ CỦA BAN GIÁM ĐỐC

Kính thưa quý Giáo Sư và anh em sinh viên Học viện thánh Anphongsô thân mến.

Một năm học mới sắp bắt đầu, chúng ta vui mừng bước vào một khởi đầu mới với niềm tin tưởng và hy vọng, dù chúng ta biết mình phải đối diện với những thách đố của ngày hôm nay. 

Những xáo trộn của cuộc sống vẫn còn đó có khi nhiều hơn trước. Những cạm bẫy vẫn dàn trải trước mắt chúng ta. Những nguy cơ vẫn không ngừng rình rập. Những khó khăn vẫn như muốn đổ ập trên hành trình cuộc sống. Nhưng chúng ta không nhìn về phía trước với sự lo lắng vì Chúa luôn có mặt với chúng ta trong mọi hoàn cảnh. Điều phải có là thái độ sống đức tin thế nào chứ không chỉ biết mong chờ những gì thuận lợi. Hãy nhìn vào thách đố như những cơ hội để chúng ta có thể vươn lên một tầm cao mới. 

Vào thời điểm hiện nay, người ta đang nô nức, xôn xao về trí thông minh nhân tạo. Có những điều kỳ diệu làm cho con người phải ngỡ ngàng thán phục. Có những tiện ích được rút ra từ những thành quả của AI nhưng cũng có không ít lo lắng khi thấy những hậu quả không mong đợi làm cho con người bị lệ thuộc. Người ta hoang mang vì không thấy được hết những gì đang diễn ra. Chúng ta cần xác định rằng: AI chỉ là phương tiện mà ta sử dụng nó giúp cho cuộc sống tốt hơn chứ chứ không để nó điều khiển ta hay biến ta trở thành nô lệ của phương tiện.

Chúng ta tin rằng tương lai phía trước chúng ta là điều đáng quý. Hãy hướng về tương lai với khát vọng xây dựng những điều tốt đẹp. Chúng ta đang có được thời gian và những dự phóng. Điều quan trọng là chúng ta muốn gì cho ngày mai. Chúng ta có muốn trở thành những môn đệ thừa sai của Đức Kitô không? Vậy ngay từ hôm nay ta phải bắt đầu lộ trình đi theo Đức Kitô, tìm gặp Đức Kitô, sống với Đức Kitô, cộng tác với Đức Kitô và sẵn sàng để Ngài sai đi vào đồng lúa chín vàng chờ gặt hái của Ngài.

Chúng ta không chờ đợi có tất cả mới khởi động mà hãy bắt đầu với những gì mình đang có. Một năm học đang chờ đợi anh em. Mọi sự như đã chuẩn bị cho các học viên: các môn học thánh, các giáo sư chuyên môn, phòng học, thư viện, môi trường… Phần còn lại là các học viên có sẵn sàng để tiếp nhận, vận dụng và ứng dụng cho sứ vụ của mình không. Xin Chúa Thánh Thần soi sáng, dẫn dắt anh em đi theo đường lối của Ngài và mạnh mẽ, can đảm sống sứ mạng thừa sai ngay từ hôm nay.

Chúc anh em một năm học tràn đầy ân huệ của Chúa Thánh Thần, tràn đầy niềm hân hoan trong Chúa Kitô và tràn đầy tình yêu của Thiên Chúa Cha, Đấng luôn quan tâm đến chúng ta với lòng thương xót. 


Học viện thánh Anphongsô, ngày 15 tháng 8 năm 2026

TM. Ban Giám đốc

Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Bích, C.Ss.R.

Giám đốc


PHẦN I: THÔNG TIN TỔNG QUÁT


1. Lịch sử Học viện thánh Anphongsô

Học viện thánh Anphongsô thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam hình thành và phát triển như hiện nay là ân huệ lớn lao Thiên Chúa thương ban cho Giáo hội Việt Nam nói chung và cho Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam nói riêng trong suốt nhiều thập niên qua, kể từ ngày Học viện được thành lập (năm 1935).

Ngày 30 tháng 11 năm 1925, đáp lại lời mời gọi của Đức Hồng y Tổng trưởng Thánh bộ Truyền giáo, ba thừa sai thuộc Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Sainte-Anne de Beaupré, Canada, đã đặt chân đến Huế, bắt đầu sự hiện diện của Hội dòng trên đất nước Việt Nam nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng và củng cố đức tin, gia tăng lòng nhiệt thành tông đồ cho hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân Việt Nam, theo như mong đợi của Toà Thánh.

Năm 1935, sau 10 năm hiện diện và hoạt động, các vị thừa sai Canada chính thức thiết lập Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam tại Tu viện thánh Anphongsô, Thái Hà Ấp (Hà Nội), nhằm đào tạo các tu sĩ, linh mục thừa sai theo Đặc sủng Dòng Chúa Cứu Thế. Vị Giám đốc tiên khởi của Học viện là cha Pamphile Conture. Châm ngôn của Học viện: “Soli Deo et studiis – Duy chỉ Thiên Chúa và việc học. Học viện thuở ban đầu không chỉ có các sinh viên người Việt mà còn có các sinh viên người Canada. Các giáo sư của Học viện là những người tài đức được gửi sang từ Canada.

Năm 1938, toà nhà khang trang đầu tiên dành cho Học viện được khánh thành với nhà nguyện, các phòng học, phòng nghỉ dành cho các Giáo sư và sinh viên.

Năm 1950, do thời cuộc nhiễu nhương, phức tạp, Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam được đưa vào Đà Lạt. Thời gian đầu, khi Học viện mới chuyển vào nơi đây, các thầy sinh viên vừa học vừa góp phần vào việc xây dựng cơ sở vật chất của Học viện.

Ngày 20 tháng 7 năm 1952, nhằm dịp lễ Chúa Cứu Thế, toà nhà Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt được khánh thành với 100 phòng ở, phòng học, nhà nguyện, nhà cơm, và thư viện… Kể từ khi Học viện được chuyển vào Đà Lạt, sinh viên Học viện chỉ còn là người Việt, chứ không còn các sinh viên người Canada nữa.

Năm 1956, Học viện có vị Giám đốc người Việt Nam đầu tiên là cha Stêphanô Nguyễn Tín (Chân Tín). Trước đó, Giám đốc Học viện là các linh mục thừa sai Canada. Cũng kể từ thập niên này, các Giáo sư người Việt bắt đầu tham gia giảng dạy tại Học viện. Trong số đó, phải kể đến cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn (Giáo sư Kinh Thánh) và cha Inhaxiô Bùi Quang Diệm (Giáo sư Triết học).

Đầu năm 1971, xét thấy việc đi lại của các Giáo sư từ Sài Gòn lên Đà Lạt gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh chiến tranh, loạn lạc, hơn nữa trung tâm văn hoá-xã hội và tôn giáo lúc bấy giờ là Sài Gòn, cha Bề trên Giám tỉnh Henri Bạch Văn Lộc đã quyết định đưa Học viện từ Đà Lạt về Thủ Đức, Sài Gòn.

Khi Học viện mới được dời về Thủ Đức, vì cơ sở chưa được ổn định, các sinh viên Học viện phải theo học tại Đại học Minh Đức. Nhưng chỉ trong thời gian ngắn, sau khi cơ sở Học viện ổn định, các sinh viên được theo đuổi chương trình học chính thức tại Học viện Thủ Đức.

Những ngày cuối tháng 4 năm 1975 là những ngày đất nước có biến động lớn dẫn đến việc thay đổi chế độ ở Miền Nam, Việt Nam. Đời sống học tập, tu trì của các sinh viên Học viện bị xáo trộn và bấp bênh trước những thách đố của thời cuộc.

Ngày 25 tháng 01 năm 1978, toàn bộ cơ sở Học viện Thủ Đức bị trưng dụng và Học viện bị đóng cửa. Hầu hết các sinh viên khi đó buộc phải sống ngoài Tu viện: một số trở về gia đình, một số khác tìm chỗ tá túc nơi những người thân quen và họ phải bươn chải với cuộc sống giữa đời. Tình trạng không cơ sở, không chương trình, không lớp học như thế kéo dài hơn 10 năm giữa những khó khăn, thử thách mà các sinh viên phải đối diện và phải vật lộn với cuộc sống như bao người trong chế độ mới.

Trong suốt 10 năm kể từ 1987, dẫu thời cuộc đầy những bất trắc và khó khăn, các sinh viên Học viện vẫn vừa mưu sinh giữa đời, vừa âm thầm tham gia các buổi học “chui” tại Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng, Sài Gòn.

Cuối năm 1989, hoàn cảnh xã hội có phần bớt ngặt nghèo, cha Bề trên Giám tỉnh Giuse Trần Ngọc Thao cùng với Ban Quản trị Tỉnh Dòng quyết định tái tổ chức Học viện, tái tổ chức chương trình đào tạo chính quy tập trung cho các sinh viên Học viện.

Ngày 01 tháng 01 năm 1990, Học viện được chính thức tái tổ chức tại Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng, Sài Gòn. Thời gian đầu, các sinh viên cũng chỉ được tu học bán trú tại Tu viện, nghĩa là ban ngày tu học trong Tu viện, ban đêm ra khỏi Tu viện, tá túc nơi các gia đình thân quen.

Từ năm 1995, sau khi Học viện được tái tổ chức, chương trình đào tạo chính thức được thiết lập với 2 năm Triết học và 4 năm Thần học. Các sinh viên Học viện tham gia chương trình 2 năm Triết học tại Trung tâm Học vấn Đa Minh và 4 năm Thần học tại Lớp Bồi dưỡng Thần học Phaolô Nguyễn Văn Bình.

Từ năm 2006, xét thấy hoàn cảnh và điều kiện đã cho phép, cha Bề trên Giám tỉnh Giuse Cao Đình Trị quyết định thiết lập chương trình học đầy đủ Triết học và Thần học tại Học viện trong khuôn viên Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng, Sài Gòn.

Năm 2015, vì không gian Tu viện Kỳ Đồng quá chật chội, môi trường xung quanh quá ồn ào, nên cha Bề trên Giám tỉnh Giuse Nguyễn Ngọc Bích đã quyết định di chuyển Học viện về Tu viện Mai Thôn, toạ lạc trên bán đảo Thanh Đa – Bình Quới. Nơi đây, không gian yên tĩnh và không khí trong lành, phù hợp cho các sinh viên trong Dòng Chúa Cứu Thế và các Hội dòng khác tu học.

Tính đến nay, Học viện thánh Anphongsô đã trải qua gần 100 năm tồn tại và phát triển. Biết bao thế hệ tu sĩ, linh mục thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế cũng như các tu sinh của các Hội dòng khác được đào tạo, huấn luyện từ Học viện này. Đó chính là hồng ân Thiên Chúa đã và đang tặng ban cho Giáo hội Việt Nam nói chung và cho Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam nói riêng. Học viện thánh Anphongsô, với đặc nét riêng của mình, hiện nay vẫn đang tiếp tục là nơi để Thiên Chúa tỏ bày tình thương và quyền năng của Ngài cho Giáo hội Việt Nam.

2. Căn tính Học viện thánh Anphongsô

Học viện thánh Anphongsô được thiết lập dựa trên truyền thống học tập, nghiên cứu bắt nguồn từ Đặc sủng và Linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế, một Hội dòng giáo sĩ thừa sai do thánh Anphongsô sáng lập với công pháp Giáo hoàng và quyền đặc miễn để “noi gương Chúa Giêsu Cứu Thế, bằng cách rao giảng Lời Chúa cho người nghèo như chính Ngài đã tuyên bố về Ngài: ‘Người đã sai tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó’ (Lc 4,18)’” (HP, # 1). Hơn nữa, Học viện thánh Anphongsô được xây dựng trên truyền thống của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam kể từ những ngày đầu Tỉnh Dòng được thành lập với sự dấn thân đầy can đảm và sáng tạo của các vị tiên khởi là các tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế Canada.

3. Nền tảng pháp lý

Chương trình Đào tạo tại Học viện thánh Anphongsô tuân theo các yêu cầu do Bộ Giáo dục Công giáo của Toà Thánh đề nghị cho Giáo hội Việt Nam trong việc đào tạo tu sĩ, linh mục. Cách riêng, Chương trình Đào tạo tại Học viện tuân thủ Tông hiến Veritatis Gaudium (2018) của Đức Thánh Cha Phanxicô và Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis (2016) do Bộ Giáo sĩ ban hành. Chương trình đào tạo cũng được xây dựng dựa trên Ratio Formationis (2020) của Trung ương Dòng Chúa Cứu Thế, Ratio Institutionis Sacerdotalis – Đào tạo linh mục: Định hướng và chỉ dẫn (2012) của Hội đồng Giám mục Việt Nam, và Ratio Formationis (2025) của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

4. Mục đích

Chương trình đào tạo tại Học viện thánh Anphongsô được thiết lập nhằm huấn luyện các sinh viên trở thành những tu sĩ, linh mục thừa sai “đạt tới mức độ trưởng thành Kitô giáo và nhân bản, để với sự trợ giúp của ân sủng Thiên Chúa, họ sẽ hiến dâng chính mình cách hiểu biết, tự nguyện và toàn tâm cho sứ vụ thừa sai của Hội Thánh (…) hầu loan báo Tin Mừng cho người nghèo” (HP, # 78, x. HP, # 1, RF, # 2).

5. Mục tiêu

Với mục đích nêu trên, Học viện thánh Anphongsô hướng đến các mục tiêu chính sau đây:

(1) Nhân bản: Sinh viên được đào tạo để có khả năng phán đoán và biện phân giữa lý trí và đức tin, lý thuyết và thực hành; họ càng ngày càng gia tăng sự trưởng thành nhân bản Kitô giáo, có khả năng chấp nhận mình và đón nhận người khác trong tinh thần đức ái Kitô giáo. 

(2) Tri thức: Sinh viên được học hỏi, nghiên cứu, trau dồi kiến thức và hiểu biết về con người, xã hội, văn hoá, tôn giáo, cũng như các mầu nhiệm đức tin Kitô giáo: Họ được “đào tạo trong hình ảnh của Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ, Linh Mục Đời Đời. Họ học nên một với Ngài và nỗ lực hết sức mình khám phá trọn vẹn mầu nhiệm Chúa Kitô bằng cách nghiên cứu có hệ thống và có khoa học các môn học thánh, và hiểu biết ngày càng sâu các môn khoa học nhân văn” (x. HP, # 87).

(3) Tu đức, thiêng liêng: Ngoài việc học tập, nghiên cứu có tính hàn lâm, sinh viên cùng nhau xây dựng môi trường Học viện thấm đượm tinh thần tu trì, thiêng liêng: Học để thăng tiến đời sống đạo đức, thiêng liêng.

(4) Cộng đoàn: Sinh viên tài bồi cho nhau với những khả năng của mỗi người và cùng xây dựng cộng đoàn Học viện thấm đượm tinh thần huynh đệ, bác ái Kitô giáo.

(5) Sứ vụ: Sinh viên Học viện đạt tới sự am hiểu và niềm xác tín sứ vụ của mình trong đặc sủng của Dòng Chúa Cứu Thế. Trong thời gian học tập tại Học viện, họ được trang bị các k năng và kiến thức cần thiết để có thể ứng đáp được sứ vụ tương lai.

6. Tổ chức nhân sự

Ban Điều hành

- Chưởng ấn: Cha Đa Minh Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R., Bề trên Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

- Giám đốc Học viện: Cha Giuse Nguyễn Ngọc Bích, C.Ss.R.

- Phó Giám đốc Học viện: Cha Phaolô Nguyễn Văn Công, C.Ss.R.

- Giám học Học viện: Cha Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R.

- Quản lý Học viện: Cha Phaolô Nguyễn Văn Công, C.Ss.R.

Hội đồng Giáo sư

- Cha Bề trên Giám tỉnh Đa Minh Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R. (Trưởng Hội đồng).

- Cha Giám học Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R. (Điều phối chương trình học).

- Cha Phanxicô X. Trần Văn Quảng, C.Ss.R. (Khối Triết học).

- Cha Giuse Nguyễn Nhất Thắng, C.Ss.R. (Khối Thần học).

- Cha Giuse Phạm Đình Trí, C.Ss.R. (Khối Kinh Thánh).

Ban Giảng huấn

Giáo sư Dòng Chúa Cứu Thế

- Cha Giuse Nguyễn Ngọc Bích, A.; S.T.L.

- Cha Antôn Nguyễn Văn Dũng, D.

- Cha Gioan Nguyễn Ngọc Hải, Ph.D.

- Cha Giuse Nguyễn Thể Hiện, B.A.

- Cha Giuse Nguyễn Văn Hội, Ph.D.

- Cha Anphongsô Trần Ngọc Hướng, M.A.

- Cha Phanxicô X. Nguyễn Đức Huy, Ph.D candidate

- Cha Phêrô Đinh Ngọc Lâm, T.D.

- Cha Giuse Nguyễn Hồng Phước

- Cha Gioan B. Lê Đình Phương, S.L.

- Cha Phanxicô X. Trần Văn Quảng, Ph.D.

- Cha Vinh Sơn M. Phạm Cao Quý, S.L.

- Cha Giuse Nguyễn Nhất Thắng, S.T.D.

- Cha Giuse Nguyễn Duy Thịnh, S.S.L.

- Cha Đa Minh Nguyễn Đức Thông, Th.D.

- Cha Giuse Phạm Đình Trí, S.L.

- Cha Giuse Lê Quang Tuấn, Ph.D.

- Cha Giuse Đỗ Đình Tư, S.L.

- Cha Phaolô Lưu Quang Bảo Vinh, Ph.D.

Giáo sư Đại Chủng viện

- Cha Giuse Nguyễn Hữu Châu, S.T.L.

- Cha Phêrô Vũ Văn Hài, S.L.

- Cha Phaolô Hoàng Mạnh Huy, S.T.L.

- Cha Giuse Trần Hoàng Quân, S.T.L.

- Cha Phêrô Nguyễn Thanh Sơn, S.S.L.

- Cha Giuse Đỗ Mạnh Thịnh, S.T.D.

- Cha Gioan B. Phạm Quý Trọng, S.S.L.

- Cha Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, S.L.

- Cha Giuse Đỗ Xuân Vinh, M.A.

Giáo sư Dòng Phanxicô

- Cha Giuse Phạm Văn Bình, D.Min.

- Cha Giuse Nguyễn Đoàn Tân, M.A.; Ph.D. candidate

Giáo sư Dòng Đa Minh

- Cha Mátthêu Vũ Văn Lượng, S.S.L.

- Cha Phêrô Trần Hưng Vĩnh Quang, S.L.

- Cha Đa Minh Lê Đức Thiện, M.A.

- Cha Giuse Nguyễn Trọng Viễn. B.A.

Giáo sư Dòng Xitô

- Cha Phanxicô Assisi Nguyễn Hoài Lâm,T.L., Ph.D.

- Cha Gioan Bosco Nguyễn Hữu Thy, Ph.D.

Giáo sư Dòng Tên

- Cha Giuse Trần Khắc Bá, Ph.D.

- Cha Giuse Trần Sĩ Nghị, S.T.L.

- Cha Phanxicô X. Nguyễn Hai Tính, T.D.

- Cha Augustinô Nguyễn Minh Triệu, D.

Giáo sư Dòng Thánh Thể

- Cha Giuse Phạm Đình Ái, M.A.; S.T.L.

- Cha Phaolô Vũ Chí Hỷ, T.D.

- Cha Giuse Nguyễn Đức Thắng, M.

Giáo sư Dòng Ngôi Lời

- Cha Phêrô Đỗ Cao Cương, S.T.D.

- Cha Gioan B. Nguyễn Hữu Duy, S.S.L.

- Cha Giuse Phạm Duy Thạch, S.L.

Giáo sư Dòng Thừa Sai Đức Tin

- Cha Phêrô Nguyễn Hùng Hải, S.T.D.

- Cha Phêrô Nguyễn Tiến Nghi, S.T.L.

Giáo sư Dòng Camillô

- Cha Gioan B. Phương Đình Toại, S.T.L.

Giáo sư Dòng Cát Minh

- Cha Giuse Phan Quang Trí, S.T.D.

- Cha Giuse Đinh Văn Điệp, S.T.D.

Giáo sư Dòng Don Bosco

- Cha Giuse Vũ Trọng Tài, S.T.D.

Giáo sư t các đơn vị khác

- Thầy Trịnh Doãn Chính, Ph.D.

- Thầy Phêrô Nguyễn Anh Thường, Ph.D.

Văn phòng Học v

Thư ký - Kế toán: Cha Giuse Quách Minh Đức, C.Ss.R.

Thư viện thánh Anphongsô

Quản thủ Thư viện: Cha Giuse Quách Minh Đức, C.Ss.R.

Thủ thư:

- Maria Mai Thị Hạnh

- Anna Đoàn Minh Thư

Thông tin liên lạc

Học viện Thánh Anphongsô

352/5/14 Bình Quới, Bình Quới, Tp. HCM

Điện thoại: 3898.8239

Email: hvthanhanphongso@gmail.com

Website: https://www.hvanphongso.org

Fanpage: Học viện thánh Anphongsô

Giám đốc: Cha Giuse Nguyễn Ngọc Bích, C.Ss.R.

Điện thoại: 098.923.3725

Email: bichgiusedcct@gmail.com

Phó Giám đốc: Cha Phaolô Nguyễn Văn Công, C.Ss.R.

Điện thoại: 090.475.4014

Email: paulcongcssr@gmail.com

Giám học: Cha Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R.

Điện thoại: 096.989.1976

Email: dungcssr@gmail.com

Thư ký Văn phòng Học vụ: Cha Giuse Quách Minh Đức, C.Ss.R.

Điện thoại: 090.464.2801

Email: quachminhduc@yahoo.com

Ban Học tập

Điện thoại: 098.546.9834

Email: bht.hvthanhanphongso@gmail.com

Lớp Triết học I

Điện thoại: 096.557.6591

Email: triet1.hvthanhanphongso@gmail.com

Lớp Triết học II

Điện thoại: 096.722.1465

Email: triethoc2.hvthanhanphongso@gmail.com

Lớp Thần học I

Điện thoại: 096.502.1491

Email: than1.hvthanhanphongso@gmail.com

Lớp Thần học II

Điện thoại: 097.285.6594

Email: than2.hvthanhanphongso@gmail.com

Lớp Thần học III

Điện thoại: 096.112.5397

Email: than3.hvthanhanphongso@gmail.com

Lớp Thần học IV

Điện thoại: 097.352.7694

Email: than4.hvthanhanphongso@gmail.com


PHẦN II: QUY CHẾ ĐÀO TẠO CỦA HỌC VIỆN THÁNH ANPHONGSÔ (2026)


MỤC I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục đích

Quy chế Đào tạo này được xây dựng nhằm đảm bảo việc đào tạo theo chương trình học vấn bậc Cử nhân Thần học dành cho các ứng viên tiến chức linh mục Công giáo với hệ thống tín chỉ ECTS đã được Bộ Giáo dục Công giáo của Toà Thánh quy định dành cho các Đại học Giáo hoàng tại Rôma từ năm 2005.

Điều 2. Đối tượng

Quy chế Đào tạo này áp dụng cho các sinh viên thuộc cả chương trình Triết học lẫn Thần học tại Học viện.

Điều 3. Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo được xây dựng theo tinh thần Tông hiến Veritatis Gaudium (2018) của Đức Thánh Cha Phanxicô và Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis (2016) do Bộ Giáo sĩ ban hành. Chương trình cũng được xây dựng theo Ratio formationis (2020)của Trung ương Dòng Chúa Cứu Thế, Ratio institutionis sacerdotalisĐào tạo linh mục: Định hướng và chỉ dẫn (2012)của Hội đồng Giám mục Việt Nam, và Ratio formationis (2025)của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

Điều 4. Phương thức đào tạo

Phương thức đào tạo có tính cách chính quy, tập trung thể hiện mục tiêu, kiến thức đã đề ra với nội dung các môn học, chương trình học dành cho các ứng viên tiến chức linh mục Công giáo.

Điều 5. Thời gian đào tạo

Thời gian đào tạo gồm 2 năm Triết học và 4 năm Thần học. Thời gian đào tạo được sắp xếp theo học kỳ, năm học và được tính theo hệ thống tín chỉ mà Bộ Giáo dục Công giáo của Toà Thánh đã quy định.

Điều 6. Tín chỉ ECTS

§1. Tín chỉ ECTS (European Credit Transfer and Accumulation) là hệ thống tín chỉ được tính theo số giờ học chung tại lớp và học riêng tại nhà.

§2Một tín chỉ ECTS tương đương với 25 tiết; mỗi tiết tương đương 45 phút. Số tiết này được phân bổ như sau:

10 7,5 tiết học tại lớp;

215 tiết nghiên cứu cá nhân;

30 2,5 tiết chuẩn bị kết thúc môn học.

§3. Theo hệ thống tín chỉ ECTS, mỗi sinh viên phải đạt 60 tín chỉ ECTS/năm học. Để đạt được số tín chỉ theo quy định, sinh viên cần có số tiết làm việc trong một năm là 1500 tiết, nghĩa là phải làm việc 6 tiết/ngày cả trên lớp học lẫn thời gian nghiên cứu riêng tại nhà.

§4. Để hoàn tất chương trình tương đương với Cử nhân Thần học, sinh viên tích luỹ 120 tín chỉ từ chương trình Triết học và ít nhất 220 tín chỉ từ chương trình Thần học. Như vậy, để đảm bảo được chương trình tương đương với Cử nhân Thần học, sinh viên phải trải qua 2 năm cho chương trình Triết học và 4 năm cho chương trình Thần học.

Điều 7. Năm học và học kỳ

§1. Một năm học có 2 học kỳ; mỗi học kỳ có 15 tuần học, gồm cả tuần ôn thi và thi cuối khoá học.

§2. Căn cứ vào số tín chỉ mà hệ thống ECTS đòi buộc trong một năm học, tuỳ theo nội dung kiến thức, Giám học, với sự cộng tác của các Giáo sư phụ trách bộ môn, xây dựng Ratio cho mỗi môn học và ấn định số tín chỉ cho mỗi môn học. Sau đó, người chịu trách nhiệm chính của chương trình đào tạo là cha Bề trên Giám tỉnh sẽ phê chuẩn.

§3. Vào đầu mỗi năm học, Văn phòng Học vụ công bố CatalogueChương trình Đào tạo của Học việnbao gồm: Thông tin tổng quát về Học viện, Chương trình học, Danh sách môn học, và Thời khoá biểu của năm học.

MỤC II: TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 8. Kế hoạch đào tạo

Học viện lên kế hoạch đào tạo theo chương trình đào tạo như được chỉ dẫn trong Ratio Institutionis SacerdotalisĐào tạo linh mục: Định hướng và chỉ dẫn(2012) của Hội đồng Giám mục Việt Nam; đồng thời, Học viện cũng vạch kế hoạch đào tạo đáp ứng đúng yêu cầu Ratio Formationis (2025)của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

Điều 9. Chương trình đào tạo

Học viện tổ chức đào tạo trình độ Cử nhân Thần học dành cho các ứng viên tiến chức linh mục theo quy định của Bộ Giáo sĩ.

Điều 10. Đối tượng được đào tạo

§1. Đối tượng được đào tạo tại Học viện là sinh viên Dòng Chúa Cứu Thế và sinh viên thuộc các Hội dòng/Tu hội tại Việt Nam, những tu sĩ và chủng sinh có ý hướng tiến chức linh mục.

§2. Sinh viên đã hoàn tất chương trình Triết học tại Học viện, thì tiếp tục hoàn tất chương trình Thần học để đủ điều kiện tiến chức theo như những gì Bộ Giáo sĩ đòi buộc.

§3. Sinh viên hoàn tất chương trình Triết học từ các Đại Chủng viện hoặc Học viện chính quy khác được Giáo hội công nhận, thì có thể được nhận vào học chương trình Thần học tại Học viện, nhưng phải trải qua kỳ thi xét tuyển được tổ chức hằng năm.

Điều 11. Thủ tục nhập học

§1. Khi đăng ký nhập học chương trình Triết học/Thần học tại Học viện, sinh viên trúng tuyển cần nộp các giấy tờ theo quy định tại Quy chế Tuyển sinh, gồm có:

10 Đơn xin nhập học [in theo định dạng của phần mềm quản lý đào tạo, với xác nhận của Bề trên Đặc trách];

20 Thư báo kết quả tuyển sinh[bản gửi cho thí sinh];

30 Thư giới thiệu của Bề trên Thượng cấp.

40 Một bản photo văn bằng tốt nghiệp bậc cao nhất.

50 Một bản điểm chuyển tiếp (nếu có) của Vị Đặc trách Đại Chủng viện/Học viện Dòng tu.

§2. Tất cả giấy tờ nhập học và bằng cấp liên quan đến đào tạo được lưu trữ trong hồ sơ của từng sinh viên do Văn phòng Học vụ quản lý.

§3. Sinh viên nhập học chậm sau hai tuần trở lên kể từ ngày khai giảng năm học, nếu không có lý do chính đáng, thì coi như không theo học chương trình của Học viện.

Điều 12. Giai đoạn đào tạo

Chương trình đào tạo tại Học viện gồm hai giai đoạn:

10 Giai đoạn Triết học: Để hoàn tất giai đoạn này, sinh viên cần tích luỹ 120 tín chỉ ECTS, tương đương với 2 năm học hoặc 4 học kỳ.

20 Giai đoạn Thần học: Để hoàn tất giai đoạn này, sinh viên phải tích luỹ ít nhất 220 tín chỉ ECTS, tương đương với 4 năm học hoặc 8 học kỳ.

Điều 13. Thời gian biểu

Thời gian học được sắp xếp theo tuần lễ 5 ngày từ thứ Hai đến thứ Sáu, riêng thứ Bảy dành cho các hoạt động ngoại khoá (nếu có). Các tiết học trong ngày được phân bổ như sau:

10 Tiết 1: 7:308:15.

20 Tiết 2: 8:209:05.

30 Tiết 3: 9:2010:05.

40 Tiết 4: 10:1010:55.

50 Tiết 5: 14:1515:00.

60 Tiết 6: 15:1015:55.

Điều 14. Sinh viên nghỉ học tạm thời

Sinh viên đang theo học tại Học viện, khi có lý do đặc biệt, với sự xác nhận của Bề trên Đặc trách kèm theo những giấy tờ cần thiết, được gửi đơnlên Ban Giám đốc Học viện để xin nghỉ học tạm thời. Thời gian được bảo lưu kết quả học tập không quá ½ tổng thời gian chương trình học.

§1. Đối với chương trình học 06 năm (02 năm Triết, 04 năm Thần): Thời gian nghỉ học tạm thời tối đa là 03 năm. Những trường hợp sau đây được xét cho nghỉ học tạm thời:

10 Đi thực tập mục vụ: thời gian tối đa là 02 năm. Riêng giai đoạn Triết học, trừ trường hợp bất khả kháng, sinh viên không được bảo lưu kết quả học tập để đi thực tập mục vụ giữa giai đoạn Triết học;

20 Bị ốm hoặc tai nạn buộc phải điều trị hoặc những trường hợp bất khả kháng khác: thời gian mỗi lần tối đa là 01 năm; không liên tiếp.

§2. Đối với chương trình học 04 năm (04 năm Thần): Thời gian nghỉ học tạm thời mỗi lần tối đa là 01 năm, không quá 02 lần, và không liên tiếp, trong trường hợp bị ốm hoặc tai nạn buộc phải điều trị hoặc những trường hợp bất khả kháng khác.

§3. Đối với chương trình học 02 năm (02 năm Triết): Thời gian nghỉ học tạm thời tối đa là 01 năm, trong trường hợp bị ốm hoặc tai nạn buộc phải điều trị hoặc những trường hợp bất khả kháng khác.

§4. Đối với sinh viên rời khỏi Hội dòng/Tu hội:

10 Thời gian bảo lưu chuyển Dòng tối đa là 02 năm, tính từ thời điểm khai giảng gần nhất sau đó. Quá thời hạn này, hồ sơ học tập của sinh viên tại Học viện thánh Anphongsô sẽ đóng vĩnh viễn. Tuy nhiên, sinh viên có thể chuyển bảng điểm sang cơ sở đào tạo khác. Nếu muốn tiếp tục theo học tại Học viện, sinh viên phải thi tuyển sinh vào Phân khoa liên quan và học lại từ đầu.

20 Sau khi nhập học trở lại, thời gian bảo lưu kết quả học tập tối đa là 03 năm, tính từ thời điểm nhập học mới.

Điều 15. Sinh viên bị thải hồi

Sinh viên bị thải hồi trong các trường hợp sau:

10  Khi số môn học lần 2 vượt quá 20% tổng số tín chỉ ECTS của toàn bộ chương trình đang theo học.

20  Khi vi phạm nghiêm trọng Quy chế thi của Học viện.

Trong trường hợp sinh viên bị thải hồi, Ban Giám đốc Học viện sẽ thông báo kết quả học tập và quyết định thải hồi cho Bề trên Đặc trách của sinh viên trong vòng một tuần kể từ ngày ký quyết định.

MỤC III: THAM DỰ LỚP HỌC VÀ THI CỬ

Điều 16. Hình thức và thời lượng tham dự môn học

§1Hình thức tham dự môn học:

10 Chính quy: Sinh viên học và thi tất cả các môn theo chương trình chính thức của Học viện;

20 Học theo môn: Sinh viên đăng ký học và thi một số môn theo nhu cầu cá nhân [với sự xác nhận của Bề trên Đặc trách]. Học viện chấp nhận bảng điểm chuyển từ các Đại Chủng viện hoặc Học viện Công giáo khác. Để được cấp Chứng nhận Tốt nghiệp, đối với chương trình Triết học, sinh viên cần học tối thiểu là 10 môn; đối với chương trình Thần học, sinh viên cần học tối thiểu là 20 môn. Nếu không đủ số môn học tối thiểu, sinh viên buộc phải tham dự và trúng tuyển trong kỳ thi tuyển sinh gần nhất thì mới được cấp Chứng nhận tốt nghiệp.

30 Dự thính: Sinh viên tham dự lớp học như sinh viên chính quy nhưng không làm bài thi kết thúc môn.

§2Thời lượng tham dự môn học:

10 Sinh viên buộc phải tham dự ít nhất 2/3 số tiết học trên lớp được dự kiến cho mỗi môn học.

20 Nếu vắng 4 buổi học, tức 8 tiết đối với môn học 3 ECTS [30 tiết trên lớp], sinh viên bị xem như không đủ điều kiện thi cuối khoá môn học đó và được kể là chưa học môn học đó.

Điều 17. Điều kiện thi hoặc làm bài cuối khoá mỗi môn học

Vào cuối học kỳ, để được xem là đủ điều kiện thi hoặc làm bài cuối khoá kết thúc môn học, sinh viên phải đảm bảo những yêu cầu sau:

10 Không vắng mặt quá số tiết học đã quy định;

20 Không vi phạm Nội quy Học tập khi tham dự môn học.

Điều 18. Việc thi kết thúc môn học

§1. Giáo sư bộ môn tuỳ nghi chọn hình thức thi kết thúc môn học và thông báo cho sinh viên cũng như Thư ký Văn phòng Học vụ được biết trước.

§2. Cuối mỗi học kỳ, Học viện tổ chức một kỳ thi chính và một kỳ thi bổ sung cho từng môn học.

1Kỳ thi chính là kỳ thi bình thường cho các môn học ở cuối học kỳ.

2Kỳ thi bổ sung dành cho sinh viên không tham dự được kỳ thi chính mà không có lý do, hoặc đã thi nhưng có điểm của môn học dưới 12/20. Sau kỳ thi bổ sung, điểm thi chung cuộc của môn học đó sẽ khôngquá 13/20.

§3. Nếu trong cả kỳ thi chính và bổ sung, sinh viên đều chỉ đạt điểm dưới 12/20, thì buộc phải học lại môn học đó.

Điều 19. Điểm môn học

§1. Việc đánh giá một môn học dựa trên điểm trung bình học kỳ của môn học đó. Điểm trung bình học kỳ của môn học là điểm tổng hợp các điểm bộ phận như: tham gia học tập, kiểm tra ngoại thường, thuyết trình, chuyên cần, các bài thi trong học kỳ và kết thúc học kỳ. Điểm số này do Giáo sư bộ môn quyết định.

§2. Đối với những môn học mà Giáo sư bộ môn xét thấy không cần phải dựa vào cách tính điểm trung bình như được nêu trong §1. của điều này thì điểm thi kết thúc môn học là điểm của môn học đó.

§3. Các điểm thi kết thúc môn học được ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của Học viện với chữ ký của sinh viên và chữ ký xác nhận của Giáo sư bộ môn.

Điều 20. Cách tính điểm trung bình chung tích luỹ

§1. Điểm môn học được chấm theo thang điểm 20 (từ 0 đến 20) và tính đến hai chữ số thập phân.

§2. Điểm trung bình chung tích luỹ của giai đoạn (Triết học và Thần học) được tính dựa theo điểm trung bình chung của các môn học trong giai đoạn tương ứng.

Điều 21. Thang điểm, xếp loại và làm tròn điểm

§1. Thang điểm và xếp loại: Học viện thánh Anphongsô chọn thang điểm 20. Có thể so sánh thang điểm này với một số thang điểm phổ biến khác như sau:

ĐIỂM 20

XẾP LOẠI

Điểm 100

USA

UST

1920

Xuất sắc

Summa cum laude

Excellent

95100

A+

1.101.00

1818,75

Giỏi

Magna cum laude

Very Good

9094,75

A

1.201.15

1617,75

Khá

Cum laude

Good

8089,75

B

1.451.30

1415,75

Trung bình

Bene probatus

Satisfactory

7074,75

C

1.851.55

1213,75

Đạt

Probatus

Sufficient

6069,75

D

2.41.95

< 12

Không đạt

Defectus

Failure

<60

F

<2.40

§2. Nguyên tắc làm tròn điểm: Các mức điểm chênh lệch nhau 0,25 điểm và quy tròn mức điểm dựa trên số lẻ bách phân gần nhất. Ví dụ:

Từ 19,88–19,99 quy tròn thành: 20.

Từ 19,76–19,87 quy tròn xuống thành: 19,75.

Từ 19,63–19,74 quy tròn lên thành: 19,75.

Từ 19,51–19,62 quy tròn xuống thành: 19,50.

Từ 19,38–19,49 quy tròn lên thành: 19,50.

Từ 19,26–19,37 quy tròn xuống thành: 19,25.

Từ 19,01–19,12 quy tròn xuống thành: 19,00.

MỤC IV: TỔ CHỨC THI

Việc tổ chức thi do Hội đồng thi của Học viện đảm nhiệm. Hội đồng thi bao gồm: Giám đốc, Giám học, Thư ký Văn phòng Học vụ và các Giám thị.

Điều 22. Thư ký Văn phòng Học vụ

Thư ký Văn phòng Học vụ chịu trách nhiệm công tác tổ chức thi:

10 Lập danh sách thí sinh đủ điều kiện dự thi.

20 Tổ chức thi: Xếp lịch thi, phòng thi, danh sách thí sinh của từng phòng thi, chuẩn bị cơ sở vật chất cho kỳ thi.

30 Tổ chức chấm thi: Làm phách (nếu có), bàn giao bài thi cho Giáo sư bộ môn, tiếp nhận bài thi đã chấm và bảng điểm từ Giáo sư chấm thi.

40 Xử lý kết quả kỳ thi: Vào điểm và tổng hợp kết quả, công bố kết quả thi bằng phiếu điểm khi được yêu cầu và giao cho sinh viên tại Văn phòng Học vụ trong thời gian ấn định.

50 Lưu trữ tài liệu thi: Tài liệu thi bao gồm các văn bản về kỳ thi, các biên bản kỳ thi, đề thi, đáp án, điểm thi, và các bài thi được bảo quản theo chế độ bảo mật do Ban Giám đốc quy định. Thời gian lưu giữ các bài thi viết là 4 năm kể từ ngày công bố kết quả thi.

Điều 23. Giám thị

Giám thị chịu trách nhiệm toàn bộ về tính nghiêm túc của phòng thi trong thời gian làm bài của thí sinh và phải thực hiện các quy định về coi thi như sau:

10 Công bố Nội quy thi;

20 Hướng dẫn thí sinh điền các thông tin cần thiết vào giấy thi cũng như giấy nháp;

30 Nhận đề thi và cho thí sinh chứng kiến đề thi còn niêm phong trước khi bóc đề thi;

4Yêu cầu thí sinh ký tên và ghi rõ số tờ giấy thi vào bảng danh sách phòng thi khi thí sinh nộp bài thi;

50 Ngay sau giờ thi, Giám thị nộp bài thi, biên bản phòng thi và các biên bản kỷ luật (nếu có), cũng như danh sách phòng thi cho Văn phòng Học vụ;

60 Chỉ cho phép thí sinh ra ngoài khi đã được 2/3 thời gian làm bài.

Điều 24. Giám học

Trong kỳ thi, Giám học Học viện có những phận vụ sau đây:

10 Chịu trách nhiệm toàn bộ về chất lượng chuyên môn của việc thi và kiểm tra số môn học thi kết thúc kỳ học;

20 Giám sát đề thi và đáp án, cũng như hình thức thi cử;

30 Trực tiếp giải quyết các vấn đề phát sinh trong kỳ thi.

Điều 25. Giám đốc

Giám đốc Học viện có những trách nhiệm sau đây trong kỳ thi:

10 Phê chuẩn kết quả thi;

20 Quyết định về kỷ luật thí sinh vi phạm Nội quy thi sau khi tham khảo ý kiến của Ban Giám đốc.

MỤC V: XỬ LÝ VI PHẠM NỘI QUY THI

Điều 26. Xử lý sinh viên vi phạm Nội quy thi

§1. Mọi vi phạm Nội quy thi đều được Giám thị và Hội đồng thi lập biên bản (hoặc bằng ý kiến xác nhận); sau đó, Ban Giám đốc sẽ xử lý kỷ luật và thông báo cho thí sinh phạm quy và Bề trên Đặc trách của thí sinh.

§2. Quy tắc này áp dụng cho mọi kỳ thi được tổ chức tại Học viện.

Điều 27. Hình thức kỷ luật khiển trách

§1. Hình thức kỷ luật “khiển trách” được áp dụng cho thí sinh vi phạm một lần các lỗi sau:

10 Nhìn bài của thí sinh khác;

20 Trao đổi bài với thí sinh khác bằng mọi hình thức trong phòng thi.

§2. Xử lý kỷ luật:

10 Hình thức “khiển trách” do Giám thị phòng thi quyết định trong biên bản được lập tại phòng thi hoặc ý kiến xác nhận ngay lúc vi phạm.

20 Thí sinh bị khiển trách sẽ bị trừ 20% tổng số điểm bài thi của môn đó.

30 Giám học sẽ ra quyết định thi hành kỷ luật “khiển trách” dựa vào báo cáo của Giám thị phòng thi.

Điều 28. Hình thức kỷ luật “cảnh cáo”

§1. Hình thức kỷ luật “cảnh cáo” được áp dụng cho thí sinh vi phạm một trong các lỗi sau:

10 Với bài thi tại lớp:

a) Thí sinh đã bị khiển trách một lần nhưng trong giờ thi môn đó vẫn tiếp tục vi phạm Nội quy thi ở mức khiển trách nêu trên;

b) Thí sinh mang vào vị trí ngồi thi các tài liệu trái với Nội quy thi hoặc trái với sự cho phép của Giáo sư bộ môn.

c) Thí sinh đưa đề thi ra ngoài phòng thi hoặc nhận bài giải từ ngoài phòng thi.

d) Thí sinh viết, vẽ vào giấy thi của mình những nội dung không liên quan đến bài thi.

20 Với bài làm ở nhà: Có dấu hiệu đạo văn dưới 20% nội dung của bài làm; nhận định về đạo văn do Giáo sư bộ môn xác định.

§2. Xử lý kỷ luật:

10 Hình thức kỷ luật “cảnh cáo” do Giám thị lập bằng biên bản hoặc bằng ý kiến xác nhận tại phòng thi.

20 Thí sinh bị cảnh cáo sẽ bị trừ 50% tổng điểm bài thi của môn đó.

30 Giám học sẽ ra quyết định thi hành kỷ luật “cảnh cáo” căn cứ vào báo cáo của Giám thị phòng thi (thi tại lớp) hoặc của Giáo sư bộ môn (bài làm ở nhà).

Điều 29. Hình thức kỷ luật “đỉnh chỉ thi”

§1. Hình thức kỷ luật “đình chỉ thi” được áp dụng cho thí sinh vi phạm một trong các lỗi sau:

10 Với bài thi tại lớp:

a) Thí sinh đã bị cảnh cáo một lần nhưng vẫn tiếp tục vi phạm Nội quy thi ở mức khiển trách hoặc cảnh cáo nêu trên;

b) Thí sinh sử dụng tài liệu trái với Nội quy thi hoặc trái với sự cho phép của Giáo sư bộ môn.

c) Thí sinh trao đổi bài làm bằng giấy hoặc trao đổi giấy nháp với thí sinh khác.

20 Với bài làm ở nhà:

a) Có dấu hiệu đạo văn từ 25% nội dung của bài làm; nhận định về đạo văn do Giáo sư bộ môn xác nhận.

b) Sao chép bài của sinh viên khác hoặc để cho sinh viên khác sao chép bài của mình.

§2. Xử lý kỷ luật:

10 Hình thức kỷ luật “đình chỉ thi” do Giám thị phòng thi quyết định bằng văn bản hoặc có ý kiến xác nhận. Khi đưa ra quyết định “đình chỉ thi,” Giám thị báo cáo ngay với Giám học về quyết định này.

20 Thí sinh bị đình chỉ thi phải nộp bài thi, đề thi, giấy nháp cho Giám thị và buộc ra khỏi phòng thi ngay sau khi có quyết định;

30 Thí sinh bị đình chỉ thi sẽ bị cho điểm 0 của bài thi môn đó;

40 Thí sinh bị đình chỉ thi có thể sẽ bị buộc thôi học vĩnh viễn tại Học viện.

50 Giám đốc sẽ ra quyết định thi hành kỷ luật về đình chỉ thi sau khi đã tham khảo ý kiến của Giám thị (thi tại lớp) hoặc của Giáo sư bộ môn (bài làm ở nhà).

Điều 30. Thông báo kỷ luật

Thư ký Văn phòng Học vụ thông báo bằng văn bản việc xử lý kỷ luật thí sinh vi phạm Nội quy thi, kèm theo bản sao Quyết định kỷ luật của Ban Giám đốc, cho vị Bề trên Đặc trách của thí sinh bị kỷ luật trong vòng một tuần kể từ ngày ký. Với mức kỷ luật cao nhất là buộc thôi học đối với thí sinh phạm quy, Giám đốc Học viện sẽ là người trực tiếp liên hệ với Bề trên Đặc trách của đương sự để thông báo và trao Quyết định kỷ luật của Ban Giám đốc Học viện.

Điều 31. Khiếu nại về hình thức kỷ luật

Sau khi nhận được Quyết định kỷ luật, trong thời hạn 15 ngày, thí sinh bị kỷ luật vì vi phạm Nội quy thi có thể viết đơn khiếu nại, với sự xác nhận của Bề trên Đặc trách, gửi đến Ban Giám đốc để xin xem xét lại hình thức kỷ luật.

MỤC VI: VIỆC HỌC TẬP  NGHIÊN CỨU

Để đảm bảo chất lượng học tập, nghiên cứu của các sinh viên, Học viện thánh Anphongsô có những quy định sau:

Điều 32. Ý thức trách nhiệm của sinh viên

Sinh viên học tập, nghiên cứu tại Học viện có ý thức trách nhiệm bảo quản tài sản, vật dụng trong Học viện và giữ gìn vệ sinh khang trang các lớp học, phòng chung, hành lang, nhà vệ sinh, thư viện và khuôn viên Học viện.

Điều 33. Tư cách người tu trưởng thành

Sinh viên nhã nhặn trong ăn mặc, kính trọng đối với giáo sư và cởi mở, lịch thiệp trong giao tiếp với nhau, đồng thời thể hiện tư cách của người trưởng thành nhân bản, trưởng thành đời tu. Đặc biệt, Học viện không chỉ là nơi thu nhận kiến thức mà còn là nơi để trưởng thành về đời sống tu trì; vì vậy, sinh viên phải thể hiện tư chất đó bằng cách sống trung thực trong mọi sinh hoạt học tập, nghiên cứu tại Học viện.

Điều 34. Ý thức trách nhiệm giờ giấc học tập

Sinh viên không đi học trễ, ngoại trừ lý do bất khả kháng; nghỉ học phải có Đơn xin phép nghỉ học [theo mẫu của Văn phòng Học vụ] với xác nhận của Bề trên Đặc trách; vào lớp học trước chuông báo giờ chính thức 5 phút; khi có hiệu lệnh chuông báo đầu giờ và sau giờ giải lao, tuyệt đối giữ thinh lặng, ổn định trật tự; trong giờ học, tuyệt đối không ra ngoài trừ lý do khẩn cấp; không nói chuyện riêng trong lớp; không sử dụng điện thoại trong lớp.

Điều 35. Ý thức giữ gìn vệ sinh, sức khoẻ cộng đồng

Để đảm bảo vệ sinh môi trường và giữ gìn sức khoẻ cho mọi người trong Học viện, sinh viên không hút thuốc lá trong khuôn viên Học viện, không xả rác bừa bãi. Bị ốm đau, nhất là cảm cúm, ho sốt, sinh viên nghỉ ở nhà với Đơn xin phép nghỉ học có xác nhận của Bề trên Đặc trách.

Điều 36. Vai trò và trách nhiệm Ban Đại diện các Hội dòng/Tu hội

Mỗi Hội dòng/Tu hội có sinh viên học tại Học viện cử ra một đại diện của mình vào đầu năm học. Hằng tuần, sinh viên đại diện Hội dòng/Tu hội liên hệ với Văn phòng Học vụ để biết thời khoá biểu và các sinh hoạt học tập trong tuần và thông tri cho các sinh viên của Hội dòng/Tu hội mình. Các sinh viên đại diện cũng thường xuyên liên lạc, bàn thảo với nhau để xây dựng các hoạt động ngoại khoá và đôn đốc các sinh viên của các Hội dòng/Tu hội tham gia cách tích cực các hoạt động do Học viện tổ chức.

Điều 37. Vai trò và trách nhiệm của thầy Trưởng Ban học tập

Thầy Trưởng Ban học tập của Học viện thường xuyên liên hệ với cha Giám học và Văn phòng Học vụ để điều phối các sinh hoạt học tập, nghiên cứu trong Học viện.

Điều 38. Vai trò và trách nhiệm của các Lớp trưởng

Thầy Lớp trưởng là người điều hành, quản lý toàn bộ các hoạt động của lớp và của từng thành viên trong lớp; chịu trách nhiệm tổ chức mọi sinh hoạt của lớp và đôn đốc lớp thực hiện nghiêm túc Quy chế, Nội quy, Quy định về học tập và sinh hoạt của Học viện.

MỤC VII: XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

Điều 39. Điều kiện xét và công nhận tốt nghiệp

§1. Những sinh viên được Học viện xét và công nhận tốt nghiệp cần đáp ứng các điều kiện sau:

10 Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp, không vi phạm Quy chế của Học viện;

20 Tích luỹ đủ số tín chỉ của chương trình đào tạo. Trường hợp sinh viên học theo môn thì căn cứ theo điều 16, §1, 20.

30 Điểm trung bình các môn học, Tiểu luận Triết học/Luận văn Tốt nghiệp đạt từ 12,50 trở lên.

§2. Thời gian tối đa để viết Tiểu luận Triết học/Luận văn Tốt nghiệp là 02 năm. Sau thời gian này, đề tài sẽ bị huỷ và kết quả là 0,00 điểm.

§3. Sinh viên muốn tiếp tục viết Tiểu luận/Luận văn cần có Thư bảo đảm của Bề trên Đặc trách. Thời gian viết bổ sung không quá 06 tháng. Sau lần viết bổ sung, điểm chung cuộc của Tiểu luận/Luận văn sẽ không quá 15/20.

§4. Giám học căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại §1. của điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

§5. Căn cứ vào kết quả xét duyệt tốt nghiệp, Giám đốc Học viện ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

§6. Sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp sẽ lãnh Chứng nhận Tốt nghiệp Triết học hoặc Chứng nhận Hoàn tất Chương trình Đào tạo Linh mục từ Chưởng Ấn của Học viện trong ngày lễ ra trường. Các sinh viên không đủ điều kiện tốt nghiệp chỉ được cấp bảng điểm tổng kết.

Điều 40. Điểm xếp hạng

Điểm xếp hạng được tính như sau:

§1. Chứng nhận Tốt nghiệp Triết học: điểm trung bình cộng của:

10 Các môn học;

20 Tiểu luận Triết học [điểm Tiểu luận được nhân 2].

§2. Chứng nhận Hoàn tất Chương trình Đào tạo Linh mục [tương đương Cử nhân Thần học]:

10 Đối với sinh viên học 6 năm tại Học viện thánh Anphongsô: điểm trung bình cộng của:

a) Các môn học;

b) Tiểu luận Triết học [điểm Tiểu luận được nhân 2];

c) Luận văn Tốt nghiệp [điểm Luận văn được nhân 4].

20 Đối với sinh viên học 4 năm tại Học viện thánh Anphongsô: điểm trung bình cộng của:

a) Giai đoạn Triết học [theo bảng điểm của Đại Chủng viện/Học viện Dòng tu, với xác nhận của vị đặc trách Đại Chủng viện/Học viện];

b) Các môn học 4 năm Thần học;

c) Luận văn Tốt nghiệp [điểm Luận văn được nhân 4].

Điều 41. Hạng học lực và hạng tốt nghiệp

Cách xét xếp hạng học lực và hạng tốt nghiệp được tính như sau:

§1. Hạng học lực và hạng tốt nghiệp được đánh giá dựa trên điểm trung bình chung cuộc. Mức xếp hạng dựa trên thang điểm 20, như đã được đề cập ở điều 21.

§2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả toàn chương trình học loại xuất sắc và giỏi sẽ bị hạ xuống một bậc, nếu rơi vào một trong các trường hợp dưới đây:

10 Có số tín chỉ của các môn học phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình;

20 Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong quá trình học tại Học viện.

MỤC VIII: SỬ DỤNG THƯ VIỆN THÁNH ANPHONGSÔ

Điều 42. Những quy tắc chung

§1. Mỗi độc giả có một mã thư viện riêng do Học viện cung cấp.

§2. Bảo quản cẩn thận sách và các vật dụng liên quan.

§3. Không viết, vẽ, gạch dưới,… vào sách của thư viện.

§4. Sách mang ra khỏi thư viện đều phải được quét hoặc ghi lại mã vạch [dán ở trang cuối của sách].

§5. Sách ở phòng đọc chỉ để tra cứu tại chỗ, không được mượn về nhà.

§6. Độc giả không được sử dụng máy tính dành riêng cho Thủ thư.

§7. Khi có vấn đề gì liên quan đến thư viện hoặc phòng đọc, độc giả liên hệ với cha Quản thủ Thư viện (090.464.2801) hoặc thầy Trưởng Ban học tập.

§8. Vì số lượng sách có hạn, nên độc giả:

10 Không mượn sách giúp cho người khác [trong hoặc ngoài Học viện];

20 Không mượn sách quá số lượng quy định;

30 Không giữ sách quá thời gian quy định.

§9. Vì lý do bản quyền và bảo quản sách, trừ khi chỉ photo vài trang sách, độc giả nào muốn photo một hoặc nhiều cuốn sách của thư viện, vui lòng liên lạc trực tiếp với cha Quản thủ Thư viện.

§10. Trong thư viện và phòng đọc, độc giả:

10 Giữ gìn vệ sinh chung, trang phục lịch sự;

20 Giữ bầu khí yên tĩnh, không trao đổi lớn tiếng;

30 Tắt đèn, quạt, máy điều hoà, đóng các cửa sổ, sắp xếp bàn ghế, sách vở và các đồ dùng gọn gàng sau khi sử dụng.

§11. Các sinh viên ngoài Dòng Chúa Cứu Thế liên hệ với thầy Lớp trưởng nếu muốn sử dụng máy photo ở phòng đọc để in ấn hoặc photo.

Điều 43. Hướng dẫn sử dụng thư viện

§1. Cách sắp xếp:

10 Thư viện sử dụng mã phân loại theo khung phân loại thập phân Dewey.

20 Chia làm 2 kho: quốc văn và ngoại văn.

30 Sách được xếp theo quy tắc:

a) Hàng (ngăn): Từ trái sang phải.

b) Cột: Từ trên xuống dưới.

§2. Mượn sách:

10 Mỗi độc giả được mượn tối đa 20 cuốn/01 lần/30 ngày. Thời gian gia hạn mỗi cuốn sách là 15 ngày, và chỉ gia hạn một lần.

20 Độc giả viết Tiểu luận Triết học hoặc Luận văn Tốt nghiệp thì được mượn 30 cuốn/01 lần/03 tháng. Thời gian gia hạn mỗi cuốn sách là 30 ngày, và chỉ gia hạn một lần.

30 Độc giả nên sử dụng các máy tính ở phòng đọc để tìm kiếm trước khi mượn sách:

a) Vào website: https://www.hvanphongso.org/

b) Chọn thẻ “TRA CỨU/Thư viện thánh Anphongsô” trên thanh công cụ.

c) Nhập TỪ KHOÁ cần tìm vào mục TRA CỨU NHANH.

d) Mục TIÊU ĐỀ: chọn ĐỀ MỤC/NHAN ĐỀ/TÁC GIẢ/TẤT CẢ.

e) Nhấp vào mục TÌM KIẾM.

40 Khi có Thủ thư:

a) Có thể nhờ Thủ thư giúp tìm kiếm sách.

b) Đưa sách cần mượn để Thủ thư quét mã vạch.

c) Không mang sách ra khỏi thư viện khi không có Thủ thư.

§3. Trả sách:

10 Nếu quá thời hạn, Ban Học tập sẽ có thông báo nhắc nhở.

20 Sau hai lần nhắc nhở, cha Quản thủ Thư viện sẽ khoá mã Thư viện. Muốn mở lại mã Thư viện, độc giả phải xin cha Quản thủ Thư viện.

30 Nhằm tránh xáo trộn việc xếp sách, độc giả chỉ việc để sách ở bàn Thủ thư.

40 Trường hợp Thủ thư vắng mặt, độc giả cũng đặt sách ở bàn Thủ thư.

50 Nếu làm hư hỏng hoặc mất sách, độc giả phải báo trực tiếp với cha Quản thủ Thư viện.

60 Sinh viên phải trả lại sách khi không còn học tại Học viện.

§4. Ngoài ra, độc giả có thể sử dụng thư viện số của Hội đồng Giám mục Việt Nam tại địa chỉ: https://thuvienhoidonggiammucvietnam.org/

MỤC IX: KỲ THI TUYỂN SINH HẰNG NĂM

Điều 44. Bản chất và mục đích tuyển sinh

Để góp phần vào công cuộc đào tạo tu sĩ, linh mục của Giáo hội tại Việt Nam, Học viện thánh Anphongsô tổ chức kỳ thi tuyển sinh vào Phân khoa Triết học và Thần học vào dịp giữa học kỳ II hằng năm. Qua kỳ tuyển sinh, Học viện đón nhận các sinh viên đến từ các Hội dòng/Tu hội khác nhau nhằm xây dựng tình liên đới và hiệp thông giữa các Hội dòng/Tu hội trong việc đào tạo, huấn luyện các thừa sai tương lai của Giáo hội.

Điều 45. Đối tượng tuyển sinh

§1. Ứng viên dự thi là các nam tu sinh:

10 Đã tốt nghiệp Cao đẳng hoặc Đại học;

20 Và [hoặc] đã tuyên khấn trong các Hội dòng/Tu hội.

§2. Các sinh viên “học theo môn” (x. điều 16, §1, 20) của chương trình Triết học, nếu muốn tiếp tục chương trình Thần học chính quy, cần phải thi tuyển sinh và trúng tuyển vào phân khoa Thần học.

Điều 46. Nội dung thi tuyển

Thí sinh thi tuyển ba môn: Giáo lý, Việt văn, và Ngoại ngữ [Anh văn hoặc Pháp văn].

§1. Giáo lý [đề thi Giáo lý trong phần Tuyên xưng đức tin, dựa theo Bản toát yếu Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, bản dịch chính thức của Uỷ ban Giáo lý Đức tin - HĐGM.VN năm 2007]:

10 Thí sinh làm bài thi Giáo lý trong 60 phút với 5-7 câu hỏi liên quan đến nội dung Giáo lý Hội Thánh Công giáo.

20 Môn thi Giáo lý nhằm đánh giá kiến thức căn bản của thí sinh về các chân lý mặc khải và đức tin Kitô giáo.

§2. Việt văn:

10 Thí sinh làm một bài nghị luận xã hội [đối với thí sinh thi vào Phân khoa Triết học] hoặc nghị luận Triết học [đối với thí sinh thi vào Phân khoa Thần học] trong 120 phút. Đề tài cụ thể do Ban Tuyển sinh của Học viện soạn thảo.

20 Môn thi Việt văn nhằm đánh giá khả năng tư duy, lý luận và trình độ tiếng Việt thực hành của thí sinh.

§3. Ngoại ngữ:

10 Thí sinh dịch một bản văn ngoại ngữ [tiếng Anh hoặc tiếng Pháp] trong 80 phút.

20 Môn thi ngoại ngữ nhằm đánh giá khả năng đọc hiểu một bản văn ngoại ngữ với mức độ đủ để làm việc với các tài liệu tham khảo cho các môn học Triết học và Thần học sau này.

Điều 47. Thời gian và địa điểm thi tuyển

§1. Thời gian: Học viện tổ chức thi tuyển trong một ngày thuộc tuần cuối của tháng Ba hoặc tuần đầu của tháng Tư hằng năm.

§2. Địa điểm: Học viện thánh Anphongsô, 352/5/14 Bình Quới, P. Bình Quới, Tp. HCM.

Điều 48. Hồ sơ tuyển sinh

Trước ngày thi tuyển, thí sinh đăng ký tuyển sinh trực tuyến tại địa chỉ: https://www.hvanphongso.org/ và in Đơn xin dự thi theo định dạng của phần mềm quản lý đào tạo. Sau đó, nộp hồ sơ tại Văn phòng Học vụ theo đúng thời gian quy định.

Điều 49. Điều kiện xét tuyển

§1. Thí sinh không vi phạm Nội quy K thi Tuyển sinh.

§2. Xét tuyển dựa theo kết quả tổng điểm 03 môn thi.

Điều 50. Tiêu chuẩn xét tuyển và chỉ tiêu tuyển sinh

§1. Để được xét tuyển vào hệ chính quy của Học viện, thí sinh phải đạt bằng hoặc cao hơn điểm sàn và điểm liệt:

10 Điểm sàn là điểm trung bình cộng của ba bài thi. Điểm sàn của kỳ thi tuyển sinh hằng năm là 15/30 (thang điểm 10 cho mỗi bài thi).

20 Điểm liệt của môn Việt văn và Ngoại ngữ là 3,00. Riêng môn Giáo lý là 4,00.

Ban Tuyển sinh sẽ tuyển chọn lần lượt từ thí sinh có điểm cao nhất đến thí sinh có điểm thấp hơn cho tới khi đạt được chỉ tiêu tuyển sinh.

§2. Chỉ tiêu tuyển sinh là 30-35 sinh viên (gồm cả thí sinh bảo lưu).

Điều 51. Kết quả tuyển sinh và việc xin phúc khảo

§1. Ban Giám đốc Học viện trực tiếp xét duyệt danh sách thí sinh trúng tuyển dựa theo điểm thi.

§2. Sau kỳ thi tuyển ba tuần, Học viện sẽ công bố điểm thi và danh sách thí sinh trúng tuyển, đồng thời gửi kết quả đến Bề trên Đặc trách của thí sinh.

§3. Thời gian xin phúc khảo là hai tuần kể từ ngày công bố kết quả tuyển sinh.

§4. Thí sinh trúng tuyển vào Học viện [bảo lưu & không bảo lưu] cần làm thủ tục nhập học vào đầu tháng Sáu. Hồ sơ nhập học gồm:

10 Thí sinh đăng ký nhập học trực tuyến tại địa chỉ: https://www.hvanphongso.org/ và in Đơn xin nhập học theo định dạng của phần mềm quản lý đào tạo. Sau đó, nộp hồ sơ tại Văn phòng Học vụ theo đúng thời gian quy định;

20Thư báo kết quả tuyển sinh;

30Thư giới thiệu của Bề trên Thượng cấp [sinh viên bảo lưu và không bảo lưu];

40 Một bản photo văn bằng tốt nghiệp bậc cao nhất;

50 Một bảng điểm chuyển tiếp (nếu có) với xác nhận của Vị Đặc trách Đại Chủng viện/Học viện Dòng tu.

Điều 52. Bảo lưu kết quả trúng tuyển

§1. Học viện chỉ bảo lưu kết quả trúng tuyển cho các thí sinh thi vào Phân khoa Triết học. Thời gian tối đa cho việc bảo lưu kết quả trúng tuyển là 02 năm. Bề trên Đặc trách của thí sinh trúng tuyển là người viết giấy xác nhận việc bảo lưu kết quả cho sinh viên của mình [theo mẫu của Văn phòng Học vụ].

§2. Sau ngày công bố kết quả tuyển sinh, thí sinh không được thay đổi nguyện vọng bảo lưu.

§3. Trong trường hợp bất khả kháng, để thay đổi nguyện vọng bảo lưu, cần có giấy xác nhận của Bề trên Thượng cấp [theo mẫu của Văn phòng Học vụ]. Sau khi nhận được Đơn xin thay đổi nguyện vọng bảo lưu, Ban Tuyển sinh sẽ xét tuyển dựa theo điểm chuẩn đã được công bố cho từng nguyện vọng.


PHẦN III: CÁC MÔN HỌC VÀ THỜI KHOÁ BIỂU NIÊN KHOÁ 2026-2027


MỤC ICÁC MÔN HỌC


1. Lớp Triết học I


STT

Môn học

Tín chỉ

1

Triết Nhập môn

3

2

Triết sử Tây phương Thượng cổ

3

3

Triết sử Tây phương Trung cổ

3

4

Luận lý học

4

5

Triết học về Con người

4

6

Triết học về Tự nhiên

3

7

Phương pháp Nghiên cứu & Biên soạn

3

8

Văn hoá tín ngưỡng Việt Nam

3

9

Dẫn nhập Kinh Thánh

6

10

Nhập môn Phụng vụ

3

11

Các giờ kinh và Năm phụng vụ

3

12

Tiếng Latin

6

13

Tâm lý Nhân cách

3

14

Huấn Giáo - Sư phạm Giáo lý

3


2. Lớp Triết học II


STT

Môn học

Tín chỉ

1

Triết sử Tây phương Cận đại

3

2

Triết sử Tây phương Đương đại

4

3

Triết học về Tôn giáo

3

4

Triết học Trung Hoa

3

5

Triết học Ấn Độ

3

6

Siêu hình học

6

7

Tri thức luận

3

8

Giải thích học

3

9

Phật giáo

3

10

Triết học về Chính trị

3

11

Đạo đức học

3

12

Tâm lý Tư vấn

3

13

Linh đạo Kitô giáo

6

14

Tiểu luận Triết học

12


3. Lớp Thần học I


STT

Môn học

Tín chỉ

1

Thần học Căn bản

3

2

Phương pháp Thần học

2

3

Bí tích Tổng quát

3

4

Bí tích Thánh Thể

3

5

Luân lý Căn bản

4

6

Giáo luật về Đời sống thánh hiến

3

7

Thần học Mục vụ

3

8

Học thuyết Xã hội của Hội Thánh Công giáo

3

9

Lịch sử Giáo hội hoàn vũ

6

10

Lịch sử Giáo hội Việt Nam

6

11

Tiếng Hy Lạp Kinh Thánh

4

12

Ngũ thư

5

13

Các sách Lịch sử

3

14

Thánh vịnh

3

15

Tin mừng theo thánh Mátthêu

3


4. Lớp Thần học II


STT

Môn học

Tín chỉ

1

Tạo dựng - Ân sủng - Nguyên tội

3

2

Kitô học [& Cứu độ luận]

7

3

Bí tích Thánh tẩy - Thêm sức

3

4

Cánh chung học

3

5

Công đồng Vaticanô II

4

6

Giáo phụ

4

7

Giáo luật về các Bí tích [& Hôn phối]

4

8

Phụng vụ Bí tích - Á Bí tích - Thánh Lễ

3

9

Mục vụ Tư vấn - Linh hướng

3

10

Văn chương Khôn ngoan

3

11

Văn chương Khải huyền

3

12

Các thư chung & Thư Hípri

3

13

Tin mừng theo thánh Máccô

3


5. Lớp Thần học III



STT


Môn học


Tín chỉ

1

Chúa Ba Ngôi

3

2

Giáo Hội học

4

3

Bí tích Hoà giải - Xức dầu

3

4

Các nhân đức Luân lý

3

5

Đạo đức Sinh học

4

6

Giáo luật Tổng tắc

3

7

Sứ vụ học

3

8

Đối thoại liên tôn

3

9

Đạo đức và Mục vụ Truyền thông

3

10

Mục vụ Di dân

2

11

Luân lý thánh Anphongsô

3

12

Các sách Ngôn sứ

4

13

Các thư Phaolô

6

14

Tin mừng Luca - Sách Công vụ

6


6. Lớp Thần học IV

   

STT

Môn học

Tín chỉ

1

Thánh Mẫu học

3

2

Giảng thuyết

6

3

Thần học về Chúa Thánh Thần

3

4

Bí tích Truyền chức – Hôn phối

3

5

Luân lý Phái tính

3

6

Luân lý Giải nố

3

7

Giáo luật về Phẩm trật

3

8

Mục vụ Hôn nhân Gia đình

1

9

Đại kết

1

10

Tin mừng theo thánh Gioan

4

11

Thần học Kinh Thánh

4

12

Luận văn Tốt nghiệp

24


MỤC II: LÝ DO CÁC MÔN NHẬP MÔN KINH THÁNH, PHỤNG VỤ VÀ LINH ĐẠO KITÔ GIÁO ĐƯỢC ĐƯA VÀO CHU KỲ TRIẾT HỌC


Kính gửi quý Bề trên Đặc trách đào tạo,

Trong buổi gặp gỡ giữa Ban Giám đốc Học viện thánh Anphongsô và quý Cha Đặc trách, có một số vị có thắc mắc: Tại sao Học viện thánh Anphongsô đưa Nhập môn Kinh Thánh, Phụng vụ và Linh đạo Kitô giáo vào chu kỳ Triết học? Thừa lệnh Cha Giám đốc Học viện, con – trong tư cách là Giám học điều phối chương trình đào tạo – xin trình bày cặn kẽ lý do cho việc sắp xếp học phần như thế.

1. Nn tảng đào tạo tại Học viện thánh Anphongsô

Chương trình Đào tạo tại Học viện thánh Anphongsô tuân theo các yêu cầu do Bộ Giáo dục Công giáo của Toà Thánh đề nghị cho Giáo hội Việt Nam trong việc đào tạo tu sĩ, linh mục. Cách riêng, Chương trình Đào tạo tại Học viện tuân thủ Tông hiến Veritatis Gaudium (2018) của Đức Thánh Cha Phanxicô và RatioFundamentalis Institutionis Sacerdotalis (2016) do Bộ Giáo sĩ ban hành. Chương trình đào tạo cũng được xây dựng dựa trên Ratio Formationis (2020) của Trung ương Dòng Chúa Cứu Thế, Ratio Institutionis Sacerdotalis – Đào tạo linh mục:Định hướng và chỉ dẫn (2012) của Hội đồng Giám mục Việt Nam, và RatioFormationis (2025) của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

2. Căn cứ từ Ratio Fundamentalis của Bộ Giáo sĩ và của Hội đồng Giám mục Việt Nam

Việc đưa ba học phần nhập môn (Kinh Thánh - Phụng vụ - Linh đạo) vào chu kỳ Triết học không phải là “dời Thần học xuống sớm”, mà là thực hiện tinh thần đào tạo toàn diện, xuyên suốt và mục vụ  RatioFundamentalis Institutionis Sacerdotalis (2016) của Bộ Giáo sĩ và Ratio Institutionis Sacerdotalis – Đào tạo linh mục:Định hướng và chỉ dẫn (2012) của Hội đồng Giám mục Việt Nam đòi buộc. Cụ thể, RatioFundamentalis của Bộ Giáo sĩ xác định chu kỳ Triết học là giai đoạn đào tạo các ứng sinh trở nên người môn đệ theo Chúa Kitô;[1] còn chu kỳ Thần học là giai đoạn huấn luyện người môn đệ theo Chúa Kitô trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài,[2] nên ngay trong chu kỳ Triết học, các ứng sinh cần được “học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu.”[3]

Hơn nữa, khi chưa có hướng dẫn cụ thể của Bộ Giáo sĩ (2016), Hội đồng Giám mục Việt Nam, trong Ratio Institutionis Sacerdotalis – Đào tạo linh mục:Định hướng và chỉ dẫn (2012), đã xác định kết quả đào tạo các ứng viên chức thánh nơi các Chủng viện là hình ảnh linh mục: con người của mầu nhiệm; con người của sự hiệp thông; con người của sứ vụ truyền giáo. Cụ thể, trong việc thiết lập chu kỳ Triết học, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã hướng dẫn các Chủng viện phải đưa các môn nhập môn liên quan đến Kinh Thánh, Phụng vụ và Linh đạo vào giai đoạn này. Cụ thể, tài liệu Những ý tưởng chủ đạo của Bản Ratio Institutionis Sacerdotalis – Đào tạo linh mục:Định hướng và chỉ dẫn (2012) nêu rõ: “Trong Chu kỳ I Triết học, các môn Triết học giúp các chủng sinh có những nguyên tắc để tập suy tư, phán đoán đâu là chân lý tự nhiên, đồng thời trên nền tảng chân lý tự nhiên đó, những môn học nhập môn dẫn các chủng sinh vào việc thử tìm hiểu và sống chân lý siêu nhiên.”[4]

Dựa trên những hướng dẫn quan trọng nêu trên, không chỉ Học viện thánh Anphongsô mà tất cả các Đại Chủng viện tại Việt Nam đều đưa các môn học nhập môn Kinh Thánh, Phụng vụ và Linh đạo vào chu kỳ Triết học.

3. Căn cứ từ chỉ thị của Tông hiến Veritatis Gaudium (2018)

Đặc biệt, việc đưa ba học phần nhập môn (Kinh Thánh - Phụng vụ - Linh đạo) vào chu kỳ Triết học cũng là do đòi buộc của Tông hiến Veritatis Gaudium về việc đổi mới đào tạo để hình thành những thừa tác viên được “thấm nhuần Tin Mừng” và có khả năng rao truyền Tin Mừng trong bối cảnh đương đại. Tông hiến Veritatis Gaudium đòi buộc phải “đổi mới khôn ngoan” trong các cơ sở đào tạo Công giáo, đặt mục tiêu đào tạo những nhân sự học thuật đồng thời có khả năng mang Tin Mừng ra với thế giới: linh hồn của Thần học không phải là kiến thức khô khan mà là việc gặp gỡ với Chúa Giêsu và khả năng làm chứng, đối thoại với văn hoá.[5] Do đó, cơ cấu chương trình phải tạo điều kiện cho việc hình thành con người tông đồ – tức là, ngay từ bước nền tảng cần trau dồi năng lực đọc Lời Chúa, đời sống Phụng vụ chân thực và phong cách sống thiêng liêng để khi sang giai đoạn Thần học và mục vụ, ứng sinh đã có “tư thế” sứ vụ để rao giảng và phục vụ. Ngoài ra, Tông hiến Veritatis Gaudium còn nhấn mạnh đến tính liên ngành và sứ vụ.[6] Điều này phù hợp với việc đưa các môn nhập môn Kinh Thánh, Phụng vụ và Linh đạo vào chu kỳ Triết học. Đặc biệt, Tông hiến Veritatis Gaudium là chỉ đạo có tính pháp chế, thay thế cho Tông hiến Christiana Sapientia (1979).[7] Vì vậy, Bộ Giáo dục Công giáo đã đòi buộc các trường Đại học Công giáo, các Học viện Công giáo và các Chủng viện phải duyệt xét lại Ratio Formationis của mình theo đúng chỉ thị của Veritatis Gaudium. Đây là lý do quan trọng nhất mà Học viện thánh Anphongsô đã đưa các môn nhập môn Kinh Thánh, Phụng vụ và Linh đạo vào chu kỳ Triết học.

4. Nguyên tắc triển khai tại Học viện thánh Anphongsô

Khi đưa ba môn học nhập môn đã nêu vào chu kỳ Triết học, trong tư cách người điều phối chương trình học, con đã thông tri cho các vị giáo sư thuộc chu kỳ Triết học, cách riêng 3 giáo sư đảm trách các môn học này những nguyên tắc cần tuân thủ sau đây:

1) Nguyên tắc phân định mức độ theo giai đoạn: Chu kỳ Triết học dạy nhập môn (tổng quan, phương pháp, kỹ năng tra cứu, thực hành cầu nguyện – lectio simple), không thay thế Thần học chuyên sâu.

2) Nguyên tắc mục tiêu đầu ra cụ thể: (1) giúp sinh viên biết tra cứu bản văn Kinh Thánh; (2) hiểu cấu trúc và ý nghĩa cơ bản của Năm Phụng vụ; (3) thực hành đời sống thiêng liêng cá nhân và cộng đoàn phù hợp với đời sống tu trì.

3) Nguyên tắc liên môn, liên ngành: Sự kết nối Triết học - Kinh Thánh - Phụng vụ nhằm biến lớp học thành không gian cầu nguyện - học hỏi - thực hành.

Kính thưa quý Cha Đặc trách Đào tạo,

Ở trên, con đã trình bày cặn kẽ và chi tiết những căn cứ quan trọng cho việc đặt Nhập môn Kinh Thánh, Nhập môn Phụng vụ và Linh đạo Kitô giáo vào ngay trong chu kỳ Triết học tại Học viện thánh Anphongsô. Sự lựa chọn này có nền tảng rõ ràng: phù hợp với tinh thần Ratio Fundamentalis (2016) của Bộ Giáo sĩ về đào tạo xuyên suốt và toàn diện; phù hợp với Ratio Institutionis Sacerdotalis của HĐGM.VN (2012); và được củng cố bởi tinh thần đổi mới mục vụ - giáo dục của Tông hiến Veritatis Gaudium (2018) – là văn kiện nhắc chúng ta rằng: đào tạo học thuật phải phục vụ sứ mạng loan báo Tin Mừng. Cách triển khai này giúp Học viện hiện thực hoá những mục tiêu đào tạo được đề cập trong Chương trình Đào tạo mà Học viện gửi đến quý Cha Đặc trách Đào tạo và sinh viên vào đầu mỗi niên học.

Học viện thánh Anphongsô, ngày 03 tháng 9 năm 2025

Lm. Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R.,

Giám học

MỤC III: GIỚI THIỆU CÁC MÔN HỌC


PHÂN KHOA TRIẾT

Các môn Triết học

1. Triết học Nhập môn

Phụ trách: Cha Gioan Nguyễn Ngọc Hải, C.Ss.R.

Con người mở ra với thực tại bằng ba “cửa sổ” hay ba lãnh vực khác nhau: Khoa học, Triết học và Thần học. Triết học – yêu mến, tìm kiếm sự khôn ngoan – trước khi như là một khoa học, đã là một hoạt động, một lối sống, một thao thức của con người về ý nghĩa của sự hiện hữu. Học Triết và làm Triết là điều thực sự cần thiết đối với mỗi người, bởi vì, chúng ta có thể nói như Socrate: “[…] Đời sống không suy xét là không đáng sống” (Platon, Socrates biện hộ, 38a). Nhập môn Triết học Tây phương là môn học hướng dẫn các học viên khám phá sơ khởi về các nội dung liên quan đến lãnh vực Triết học như: Triết học là gì? Nguồn hứng khởi của Triết học; Phương pháp Triết học; Tương quan giữa Triết học với khoa học và Thần học; Giá trị đào tạo của Triết học; Một vài triết gia, tác phẩm Triết học và các triết thuyết tiêu biểu trong dòng lịch sử… Với những kiến thức cơ bản của Triết học Nhập môn, sinh viên có thể hứng khởi bước vào khám phá “ngôi nhà triết học” và tránh được những bỡ ngỡ.

2. Triết sử Tây phương Thượng cổ

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Trọng Viễn, O.P.

Với môn học này, sinh viên tiếp cận và làm quen với nền Triết học Cổ đại qua khuôn mặt các triết gia nổi bật như Socrate, Platon, Aristốt… Các sinh viên tìm hiểu và đào sâu tư tưởng Triết học của các triết gia này, nhờ đó, có thể nắm vững nguồn mạch triết học chi phối hệ thống triết học lâu dài sau này như thế nào. Chẳng hạn, qua việc học hỏi, đào sâu tư tưởng Triết học Cổ đại, sinh viên nhận biết được nó có tầm ảnh hưởng thế nào trên truyền thống Triết học Kinh viện sau này.

3. Triết sử Tây phương Trung cổ

Phụ trách: Cha Phanxicô X. Trần Văn Quảng, C.Ss.R.

Môn học này tiếp nối lịch sử tư tưởng Triết học Thượng cổ. Sinh viên, với môn học này, đào sâu các vấn đề Triết học cổ cựu dưới viễn tượng Triết học của thánh Augustinô, Boethius, Anselmô, Bônaventura, và thánh Tôma Aquinô. Nghiên cứu đào sâu Triết học Trung cổ, sinh viên cũng học biết mối liên hệ mật thiết giữa Thần học Kitô giáo và Triết học.

4. Triết sử Tây phương Cận đại

Phụ trách: Cha Phanxicô X. Nguyễn Đức Huy, C.Ss.R.

Thời Cận đại – từ cuối thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII – là thời kỳ chuyển tiếp giữa thời Trung cổ và thời Hiện đại. Đây là thời kỳ quan trọng nhất trong suốt dòng lịch sử Triết học nhân loại. Triết học thời Trung cổ – từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIII – đặt nặng các vấn đề siêu hình và các hình thức đượm tính cách giáo điều; nó bị chi phối bởi Thần học và chịu ảnh hưởng sâu xa quan điểm của giáo lý Kitô giáo. Bước sang thời Cận đại, khuynh hướng Triết học được lật qua một trang sử hoàn toàn mới: Đề cao con người, các vấn đề nhân bản và thiên nhiên độc lập một cách cụ thể, loại bỏ khuynh hướng giáo điều.

Dưới cái nhìn tổng quát, Triết học thời Cận đại được chia ra làm hai khuynh hướng: Khuynh hướng duy lý và khuynh hướng duy nghiệm. Theo khuynh hướng duy lý, chân lý không nằm ở đối tượng được suy tư, nhưng nằm trong tư tưởng của chủ thể suy tư: Tôi có ý tưởng rõ ràng và phân minh về một cái chi đó thì cái đó phải hiện hữu. Trong khi, theo khuynh hướng duy nghiệm lại cho rằng người ta chỉ gặp được chân lý qua kinh nghiệm: không có gì hiện hữu mà không qua các giác quan.

Thời Cận đại cũng là thời kỳ “cách mạng” trong hầu như mọi lãnh vực, từ suy tư triết học, văn hoá, chính trị, xã hội, tôn giáo đến địa lý, kinh tế, thiên văn và các ngành công nghệ. Vì thế, thời Cận đại đã được mệnh danh là Thế kỷ Triết học hay thời kỳ Khai Sáng: Khoa học như ngọn hải đăng soi dẫn chúng ta đạt được chân lý chắc chắn!

5. Triết sử Tây phương Đương đại

Phụ trách: Cha Phanxicô X. Nguyễn Đức Huy, C.Ss.R.

Bắt đầu cuối thế kỷ XIX, các trường phái Triết học mang tính hệ thống và phổ quát như Duy lý, Duy nghiệm, Duy tâm và Lãng mạn đã bị phê phán vì những ảnh hưởng tiêu cực của chúng. Triết học Tây Phương bắt đầu chuyển hướng, nhấn mạnh vào khía cạnh cụ thể và tiến trình phát triển của thực tại, quay trở về với kinh nghiệm hằng ngày của cuộc sống, tìm hiểu cách con người khám phá chân lý, và hoài nghi về khuynh hướng lạc quan trong Triết Cận đại. Phần Triết Hiện đại sẽ bao gồm năm chủ đề: phê bình tôn giáo (Nietzsche & Kierkegaard), thuyết Thực dụng (James & Pierce), Siêu hình học mới (Bergson & Whitehead), Triết Phân tích & Ngôn ngữ (tiền & hậu Wittgenstein), và Triết hiện tượng & Hiện sinh (Husserl, Heidegger, Sartre). Phần Triết Hậu Hiện đại sẽ khai triển những đóng góp của Derrida (thuyết Giải trừ cấu trúc) và tác phẩm Tình huống hậu hiện đại của Lyotard. Môn học này sẽ giúp cho sinh viên có cái nhìn phê phán và thực tế hơn về những thử thách mà Thần học phải đương đầu hiện nay.

6. Triết họcTôn giáo

Phụ trách: Cha Phanxicô X. Trần Văn Quảng, C.Ss.R.

Môn Triết học Tôn giáo, trong khi tôn trọng bản chất và sự độc lập của hiện tượng tôn giáo, cố gắng mô tả nó trong bản chất đa dạng của các tôn giáo khác nhau. Triết học Tôn giáo, vì thế, không khởi đi từ một xuất phát điểm trừu tượng, cho bằng từ những phản tư trên các kinh nghiệm sống niềm tin. Các bài giảng trong bộ môn này được sắp xếp theo thứ tự lịch sử, từ kim đến cổ, tiếp cận những đề tài căn bản trong Triết học Tôn giáo: Thiên Chúa và điều thần thiêng, đức tin trong hiện hữu con người, kinh nghiệm tôn giáo, lý tính và ngôn ngữ tôn giáo… Các tác giả được chọn trong các bài giảng này chủ yếu đến từ truyền thống Kitô giáo, nhưng đồng thời có một định hướng về quan điểm rõ rệt: Triết học Tôn giáo phải vượt qua một quan niệm duy lý nơi bản chất nghiên cứu của chính mình.

7. Triết học vềTự nhiên

Phụ trách: Cha Phanxicô Assisi Nguyễn Hoài Lâm, O.Cist.

Bằng phương pháp riêng của mình, khoa học đã đi sâu vào cấu tạo của vật chất và muốn định nghĩa lại ý nghĩa của vật chất. Bên cạnh đó, Chủ nghĩa Duy vật cũng muốn khẳng định con người chỉ là một sản phẩm ngẫu nhiên của quá trình tiến hoá. Để trả lại ý nghĩa đúng đắn cho sự hiện hữu của hữu thể vật chất, và để xác định thế nào là một bản thể tự nhiên,… bộ môn Triết học Tự nhiên sẽ cống hiến cho các sinh viên cơ hội tìm hiểu tận căn về thế giới vật chất, tức bản chất nội tại, cơ cấu nền tảng… của hữu thể vật chất trong vũ trụ và tái xác định phẩm vị của hữu thể nhân linh dưới ánh sáng của Triết học Tân Kinh viện.

8. Triết học về Con người/Nhân luận Triết học

Phụ trách: Cha Gioan Nguyễn Ngọc Hải, C.Ss.R.

Vấn đề: “Con người là ai?” đã là và vẫn còn là một lời hỏi và một ẩn ngữ chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Mặc dù được tìm hiểu và phân tích ở nhiều cấp độ cũng như trong nhiều chuyên ngành khác nhau, nhưng huyền nhiệm con người thực sự sâu thẳm và vượt xa mọi lý giải của những phân tích, kiểm chứng và những lý luận.

Nội dung khoá học: Truy tìm bản chất và ý nghĩa sâu xa nhất của hiện hữu người để trả lời câu hỏi “con người là ai?” Đây là một trong những mục đích chính yếu của bộ môn mà ngày nay đã trở thành một khoa học với ưu tiên quan trọng nhất: con người và những vấn đề của nó. Không thể trả lời câu hỏi về huyền nhiệm con người trong một khái niệm ngắn gọn, chúng ta phải tiếp cận con người dưới những mức độ khác nhau: 1) lược sử tư tưởng về con người, 2) khai triển một hiện tượng luận về hiện hữu người, 3) tìm hiểu con người ở tầm mức siêu hình, và 4) tiếp cận huyền nhiệm con người.

Tài liệu học tập: Nguyễn Ngọc Hải, Con người – một huyền nhiệm (TP. HCM: Học viện thánh Anphongsô, 2021).

9. Siêu hình học

Phụ trách: Cha Gioan Nguyễn Ngọc Hải, C.Ss.R.

Vấn đề: Hiểu biết là một trong những nhu cầu căn bản của con người. Và một trong những cấp độ hiểu biết cao nhất, đó là hiểu biết về căn nguyên hay cái lý hiện hữu của tồn hữu. Bộ môn Siêu hình học (SHH) nghiên cứu những vấn đề này; và đối tượng căn bản của SHH là nghiên cứu “hữu thể xét như nó là.” SHH là nền tảng, vì nó là rường cột mà trên đó người ta xây dựng các triết thuyết và tùy theo việc người ta quan niệm nó thế nào mà có những lập trường Triết học khác nhau.

Nội dung khoá học: Chúng ta giới hạn tìm hiểu về hữu thể (ens) và hiện hữu (existentia) qua một số khía cạnh chủ yếu sau: 1) khởi đi những lời hỏi như hữu thể là gì?, thực tại là gì?, cái gì là những đặc điểm của hữu thể?, 2) chúng ta cố gắng xác định cấu trúc căn bản của hữu thể (tính thống nhất của hữu thể); 3) tuy nhiên, tính thống nhất của hữu thể lại luôn được đặt trong một thực tại đa dạng, biến thiên và hữu hạn, làm thế nào dung hoà hai cực của cùng một vấn đề này?; 4) một nguồn quy chiếu quan trọng, đó là kinh nghiệm căn bản của con người về việc hiện hữu và về hữu thể; 5) phân tích một số nétsiêu nghiệm của hữu thể; và 6) bàn luận về bản chất của một số căn nguyên của “hiện hữu.”

Tài liệu học tập: Nguyễn Ngọc Hải, Những nẻo đường của hữu thể (TP. HCM: Học viện thánh Anphongsô, 2021).

10. Tri thức luận/Nhận thức luận

Phụ trách: Cha Phanxicô Assisi Nguyễn Hoài Lâm, O.Cist.

Vấn đề: Làm sao chúng ta nhận biết được thực tại chung quanh mình? Đích thật “cái gì đó” chúng ta biết là gì vậy? Và cái chúng ta biết về “cái gì đó” thực sự chính là “cái gì đó” như nó là cái chúng ta biết?... Những câu hỏi đưa chúng ta đi xa hơn cái-biết, đụng đến cái-làm-thế-nào để biết và làm sao chúng ta chắc thực được cái chúng ta biết là thực như nó là.

Nội dung khoá học: Mục đích chính của khoá học nhằm tìm hiểu cái-làm-thế-nào của nhận thức con người nhìn từ quan điểm Triết học; tuy nhiên, để bàn luận rõ hơn, chúng ta cũng xét tới một số yếu tố liên quan. Cụ thể, chúng ta tìm hiểu: 1) bản chất của tri thức; 2) một số quan điểm về tiến trình nhận thức của con người; 3) một số phương pháp căn bản của việc truy tìm tri thức trong lịch sử tư tưởng; 4) một số yếu tố biện minh cho điều chúng ta chấp nhận hoặc nghi ngờ và những tiêu chuẩn nào chúng ta có thể sử dụng để thu nhận sự thật về thế giới và về hiện hữu của con người.

11. Giải thích học/Thông diễn học

Phụ trách: Cha Giuse Trần Khắc Bá, S.J.

Giải thích học/Thông diễn học (Hermeneutics) có lịch sử lâu đời, từ thời triết học Hy Lạp cổ đại. Thời Trung cổ và Phục hưng, môn học này gắn liền với việc chú giải Kinh Thánh. Nhưng với trào lưu Triết học mới thời Cận đại và Hiện đại, vấn đề “hiểu” được suy xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau và môn Giải thích học trở thành môn học quan trọng để tiếp cận chân lý. Môn học này giúp sinh viên tiếp cận các vấn đề “hiểu” trong bối cảnh văn học, lịch sử và nhân học. Môn học cũng giúp học viên biết đường hướng tiếp cận chân lý và có được những kỹ năng thực tiễn liên quan đến vấn đề thông diễn. Nói cách khác, môn học giúp sinh viên có khả năng biện phân trong linh hướng, tư vấn mục vụ, suy tư triết học và thần học.

12. Triết học về Chính trị

Phụ trách: Cha G. Bosco Nguyễn Hữu Thy, O.Cist

Xét về mặt ngữ pháp người ta có thể nói rằng khoa Triết Học Chính Trị là bộ môn được đúc kết bởi hai khoa học khác nhau – khoa Triết học và khoa Chính trị học – để cấu tạo nên một bộ môn duy nhất, với mục đích là nhờ ánh sáng của Triết học người ta có thể nhìn thấy và nhận chân được bản sắc và ý nghĩa đích thực của Chính trị. Đúng vậy, nếu Chính trị được nhìn dưới nhãn quan Triết học, nếu Chính trị được phân tích một cách triết học, nghĩa là nếu Chính trị được hiểu đúng theo cái bản chất cốt lõi của nó, người ta sẽ khám phá ra rằng tự bản chất đích thực của nó, Chính trị là mối tương quan có tính cách xã hội đầy ý thức và trách nhiệm hỗ tương giữa các thành phần xã hội với nhau.

Trên thực tế, Chính trị là một chính sách, là một đường lối cai trị và là một phương thức điều phối cần thiết trong sứ mệnh an dân trị nước của các nhà chức trách trong một Nhà nước Dân chủ, được đặt trên nền tảng công minh chính trực, trên sự tôn trọng đầy đủ và đúng đắn nhân vị, nhân phẩm và các quyền con người mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho mỗi người ngay từ giây phút đầu tiên sự hiện hữu của họ trên hành tinh này.

Điều đó muốn nói rằng một nền chính trị chân chính trước hết là nỗ lực lo cho xã tắc luôn được thái bình thịnh trị, lo kiến tạo công lý và hòa bình trong xã hội, đề cao các quyền cơ bản của con người. Nếu vậy, nền chính trị chân chính được khởi động khi con người bị oằn mình gánh chịu đủ thứ kỳ thị và bất công xã hội, khi những người vô gia cư, những người nhập cư, những người khuyết tật và những người vì sự xác tín tôn giáo hay ý thức hệ... mà bị đối xử như những công dân hạng hai và luôn phải hứng chịu mọi thiệt thòi mất mát trong cuộc sống.

13. Đạo đức học

Phụ trách: Cha Gioan Nguyễn Ngọc Hải, C.Ss.R.

Hạnh phúc con người không chỉ hệ tại trong sự thoả mãn các nhu cầu bản năng nhưng còn nơi các giá trị đạo đức nền tảng để có một cuộc sống nhân bản. Nhưng các giá trị đạo đức đến từ đâu? Chúng tương quan với niềm tin tôn giáo như thế nào? Các tiêu chuẩn đạo đức thì tương đối hay tuyệt đối, chủ quan hay khách quan? Cuối cùng, tại sao chúng ta “nên” sống đạo đức? Môn học này sẽ giúp sinh viên nhận thức được những điều kiện phải có trong phán đoán đạo đức, trước khi chúng ta bước vào các chủ đề của Thần học Luân lý. Ngoài phần lý thuyết, chúng ta sẽ học cách áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức căn bản như vị lợi, vị kỷ, luật tự nhiên, bổn phận và nhân đức, để phân tích và phán đoán các trường hợp cụ thể.

14. Triết họcTrung Hoa

Phụ trách: GS. TS. Trịnh Doãn Chính, KHXH-NV

Khi nhắc đến Triết học Trung Hoa, có lẽ chúng ta cần ghi nhận rằng đây là hệ thống Triết học tuy không sâu sắc bằng hệ thống triết học Ấn Độ xét về phương diện siêu hình, nhưng nó lại phong phú hơn, nhiều sắc thái hơn, thậm chí có lẽ hơn cả hệ thống Triết học Hy Lạp. Triết học Trung Hoa không quá chú trọng vào sự giải thoát con người như hệ thống triết học Ấn Độ; cũng không căn cứ vào sự mạch lạc lý luận hay chú trọng vào sự hiểu biết như triết học Hy Lạp, nhưng nó căn cứ vào sự hoà hợp của con người với thiên nhiên, chú trọng vào đối nhân xử thế. Vì vậy, học hỏi, đào sâu môn Triết học Trung Hoa, sinh viên học hiểu về nhân sinh quan nhiều hơn là những vấn đề khác của Triết học. Học hỏi Triết học Trung Hoa, sinh viên học biết một nếp sống của con người phương Đông, một nếp sống giản dị, có trật tự, tuy an mệnh thủ thường mà vẫn có tinh thần phấn đấu; một nếp sống nhân bản, chú trọng tới toàn diện con người: tình cảm – Nhân; trí tuệ – Trí; ý chí – Dũng; một nếp sống hoà hợp với xã hội và thiên nhiên.

15. Triết họcẤn Độ

Phụ trách: Cha Đa Minh Lê Đức Thiện, O.P.

Nếu Triết học Tây phương thiên về tìm tòi chân lý bằng những lý luận thuần lý hay loại suy thì triết học Ấn Độ hướng chúng ta đến sự trầm tĩnh suy tư hơn là khảo cứu, lý luận; tri gắn liền với hành. Nói cách khác, với triết học Ấn Độ, biết không phải để biết, nhưng biết để đạt tới Trí - Huệ (Prajnâ: Bát - Nhã).

Với môn học này, sinh viên sẽ khám phá một nền Triết học vừa có tính thống nhất, vừa có tính đa dạng. Thống nhất ở chỗ dù trực tiếp hay gián tiếp nó đều bị chi phối bởi quan niệm đồng nhất thể của Upanishad; hầu hết các trường phái đều hướng đến giải thoát; một số nguyên lý chung có ở nhiều trường phái. Đa dạng ở chỗ, Triết học Ấn Độ chia thành nhiều khuynh hướng, nhiều nhánh nhỏ; mỗi trường phái là những con đường khác nhau để đi đến giải thoát; nhiều vấn đề khác nhau được đặt ra ở những trường phái khác nhau.

16. Phật giáo

Phụ trách: Cha Đa Minh Lê Đức Thiện, O.P.

Môn học nhằm mục đích giúp sinh viên có thể nắm bắt một cách cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Ấn Độ qua các giai đoạn, từ Phật giáo nguyên thuỷ cho đến Phật giáo Đại thừa, đồng thời, tìm hiểu một số nội dung quan trọng của triết lý Phật giáo nguyên thuỷ qua việc tiếp cận các bản Kinh văn. Bên cạnh đó, môn học cũng giúp sinh viên có một cái nhìn khái quát về các trường phái chính của Phật giáo Đại thừa, cũng như sự truyền bá và phát triển của Phật giáo bên ngoài Ấn Độ, đặc biệt là Phật giáo tại Việt Nam.

17. Luận lý học

Phụ trách: TS. Nguyễn Anh Thường, KHXH-NV

Môn học giúp sinh viên có được những kiến thức cơ bản về mệnh đề, các phép logic, hàm mệnh đề, khái niệm và quan hệ giữa các khái niệm, các công thức, quy tắc suy luận; các phép suy luận, suy diễn; phương pháp chứng minh, bác bỏ và giả thích… Nhờ thủ đắc kiến thức căn bản về logic như thế, sinh viên có thể vận dụng vào đời sống của mình. Nói cách khác, nhờ nắm bắt những kiến thức căn bản về logic, sinh viên phát huy khả năng nghiên cứu khoa học về Triết học, Thần học, đồng thời tự học hỏi, trau dồi năng lực phán đoán, phản biện của mình trong cuộc sống hằng ngày.

Các môn Triết - Thần

1. Latin

Phụ trách: Cha Mátthêu Vũ Văn Lượng, O.P.

Khoá học này nhằm dạy cho sinh viên tiếng Latin, ngôn ngữ chính thức của Hội Thánh Công giáo Rôma. Trong khoá học này, sinh viên được học hỏi về nguồn gốc xuất hiện của tiếng Latin, cách phát âm tiếng Latin của Hội Thánh, các điểm văn phạm căn bản và nâng cao, các từ vựng, các thuật ngữ căn bản và quan trọng.

Hơn nữa, qua khoá học này, sinh viên có được trình độ căn bản về tiếng Latin của Hội Thánh, nhằm giúp tiếp cận được những bản văn đơn giản và hiểu được các thuật ngữ chuyên ngành của Triết học và Thần học.

Sau cùng, ngoài kiến thức về tiếng Latin mà sinh viên đạt được qua khoá học này, sinh viên còn gia tăng được khả năng tập trung và làm việc có hệ thống, phát triển được khả năng lý luận, phán đoán, suy tư mạch lạc và sâu sắc nữa.

2. Văn hoá Tín ngưỡng Việt Nam

Phụ trách: Cha Anphongsô Trần Ngọc Hướng, C.Ss.R.

Mỗi nền văn hoá đều có những đặc tính riêng biệt. Với tư cách là những người có đức tin, chúng ta đều ý thức rằng: nơi mỗi nền văn hoá đều có sự hoạt động của Thánh Thần để chuẩn bị tâm hồn con người đón nhận Tin Mừng. Với môn Văn hoá Tín ngưỡng Việt Nam, các sinh viên học hỏi bản sắc văn hoá, tín ngưỡng Việt Nam với những đặc tính riêng biệt của nó. Sinh viên cũng được học các tầng văn hoá trong nền văn hoá Việt Nam. Việc học hỏi này giúp sinh viên hướng đến viễn tượng thi hành sứ vụ tương lai: làm cho các giá trị Tin Mừng được thấm đượm vào nền văn hoá Việt Nam.

3. Nhập môn Phụng vụ

Phụ trách: Cha Giuse Đỗ Đình Tư, C.Ss.R.

Môn học cung cấp cho học viên những kiến thức căn bản về phụng vụ ở ba lãnh vực: lịch sử, nền tảng thần học và một số cử hành phụng vụ. Với tên gọi “Phụng vụ nhập môn,” hai lãnh vực đầu được chú trọng và đào sâu hơn lãnh vực thứ ba. Cùng với những kiến thức trình bày trên lớp, đòi buộc các học viên dành thời gian đọc kỹ các sách được giới thiệu trong suốt khoá học. Chỉ với đức tin chân chính và niềm đam mê nghiên cứu, các học viên mới hiểu và sống phụng vụ cách sinh động, tạo ý thức: “Phụng vụ là môn học chính trong các phân khoa thần học; phải được luận giải từ những góc nhìn liên quan đến thần học, lịch sử, tu đức và giáo luật” (x. PV, # 16).

4. Giờ kinh phụng vụ & Năm Phụng vụ

Phụ trách: Cha Giuse Đỗ Đình Tư, C.Ss.R.

Môn học xây dựng từ hai lãnh vực thuộc phạm vi cử hành: năm phụng vụ và các giờ kinh phụng vụ. Phần thứ nhất, môn học giới thiệu từ lịch sử đến cử hành năm phụng vụ, với những điểm nhấn thần học và linh đạo, giúp học viên hiểu “Mẹ thánh Giáo hội luôn ý thức về bổn phận phải thực hành việc tưởng niệm để cử hành công trình cứu chuộc của Đấng Phu Quân chí thánh vào những ngày được ấn định trong năm” (x. PV, # 102). Phần thứ hai, học viên sẽ học hỏi Văn kiện trình bày và quy định các giờ kinh phụng vụ. Đây là tài liệu Hội Thánh biên soạn cách khoa học về lịch sử và cách thức cử hành các giờ kinh phụng vụ. Với hai phần tưởng như không liên hệ, được trình bày xuyên suốt khoá học, sẽ cho học viên thấy mối liên hệ chặt chẽ và thêm xác tín: Cử hành năm phụng vụ và các giờ kinh phụng vụ là đang tuyên xưng chính Đức Kitô hiện diện trong Hội Thánh của Người.

5. Phương pháp Nghiên cứu & Biên soạn

Phụ trách: Cha Augustinô Nguyễn Minh Triệu, S.J. & Cha Giuse Quách Minh Đức, C.Ss.R.

Môn học giúp các sinh viên nắm bắt phương pháp nghiên cứu có tính hàn lâm. Qua môn học này, các sinh viên có khả năng làm việc trên lớp học cũng như trong thư viên một cách khoa học và đạt hiệu quả. Cũng qua môn học này, các sinh viên đạt được sự nhuần nhuyễn tiến trình thực hiện các bài luận, các bài khảo cứu, tiểu luận, luận văn. Một điều quan trọng khác mà sinh viên thu lượm được từ khoá học này là khả năng trình bày bài nghiên cứu theo đúng quy cách học thuật đòi hỏi.

6. Linh đạo Kitô giáo

Phụ trách: Cha Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R.

Môn học được chia làm hai phần chính. Phần I là linh đạo sử; phần II là linh đạo thực hành. Ở phần I, sinh viên tìm hiểu những nét căn bản của linh đạo Kitô giáo bằng cách xem xét các giai đoạn lịch sử khác nhau của linh đạo Kitô giáo; đồng thời tìm hiểu, phân tích những chiều kích khác nhau của linh đạo trong những giai đoạn lịch sử cụ thể. Thêm vào đó, phần này cung cấp cho sinh viên một cái nhìn bao quát về các nguồn mạch, những kinh nghiệm thiêng liêng được đúc kết trong dòng lịch sử của Hội Thánh. Bên cạnh đó, nó cũng giúp cho sinh viên nắm bắt đường hướng trưởng thành tâm linh, kinh nghiệm về đời sống cầu nguyện để hướng tới chân trời mới của một đời sống Kitô hữu thấm đẫm những giá trị Tin Mừng.

Phần II – Linh đạo thực hành: Dựa trên nền tảng Kinh Thánh, Thần học và truyền thống cũng như kinh nghiệm thiêng liêng trong Giáo hội Công giáo, sinh viên đào sâu và trau dồi đời sống nhân bản Kitô giáo và đời sống tâm linh của bản thân. Hơn nữa, phần linh đạo thực hành cũng giúp sinh viên nắm chắc hành trình tâm linh dưới nhãn giới Kitô giáo cùng với những yếu tố liên quan mật thiết với đời sống tâm linh, nghĩa là những yêu tố có tính cách thực hành giúp họ được thăng tiến trong hành trình tâm linh của mình. Cuối cùng, môn học giúp sinh viên định hình được con đường tâm linh gắn với ơn gọi đặc thù của người tín hữu Chúa Kitô.

7. Tâm lý Nhân cách

Phụ trách: Cha Giuse Trần Hoàng Quân, ĐCV thánh Giuse - Sài Gòn

Môn học giúp sinh viên biết về mình hầu có thể điều chỉnh hay bổ sung thêm những nét nhân cách của mình và có thể qua đó cũng giúp biết thêm về người khác trong công việc mục vụ. 

Môn học này gồm 2 phần: 1) Tiến trình và những yếu tố hình thành nhân cách; 2) Biết và xây dựng một nhân cách lành mạnh. 

8. Tâm lý Tư vấn

Phụ trách: Cha Giuse Trần Sĩ Nghị, S.J.

Môn học này giúp cho sinh viên thêm tự tin trong việc mục vụ và biết một số kỹ năng hầu có thể giúp đỡ một cách hữu hiệu hơn cho những người gặp khó khăn... đến tìm sự trợ giúp.

Nội dung môn học gồm: 1) Một số nguyên tắc và tiến trình trong việc giúp đỡ; 2) Một số chỉ dẫn cơ bản trong việc tìm hiểu về con người và vấn đề của người đến tìm giúp đỡ; 3) Một số kỷ năng cơ bản trong việc giúp đỡ những ai cần đến khi làm mục vụ.

9. Dẫn nhập Kinh Thánh

Phụ trách: Cha Giuse Phạm Đình Trí, C.Ss.R.

Môn học này được chia là hai phần: Dẫn nhập Cựu Ước và Dẫn nhập Tân Ước.

Phần Dẫn nhập Cựu Ước có mục đích cung cấp cho các sinh viên các kiến thức tổng quát về Kinh Thánh Cựu Ước và các phương pháp tiếp cận bộ Kinh Thánh Cựu Ước. Trước hết, phần này sẽ trình bày các khái niệm quan trọng liên quan đến Kinh Thánh nói chung, như: Hạn từ “Kinh Thánh,” Ơn Linh hứng, Quy điển, Sự Thống nhất của Kinh Thánh,… Thứ đến, phần này sẽ cung cấp các kiến thức tổng quát về lịch sử và văn hoá của dân tộc Isarel qua các thời kỳ khác nhau trong thời Cựu Ước, nhằm giúp cho các học viên hiểu rõ hơn về bối cảnh và lịch sử hình thành các bản văn Kinh Thánh Cựu Ước. Tiếp theo, phần Dẫn nhập Cựu Ước sẽ trình bày nội dung tổng quát của Kinh Thánh Cựu Ước, dựa theo cách phân chia các phần Cựu Ước của Quy điển Kinh Thánh Công giáo, cụ thể: 1) Ngũ thư; 2) Các Sách Lịch sử; 3) Các Sách Giáo huấn (Nền Văn chương Khôn ngoan); 4/ Các Sách Ngôn sứ. Mục đích cốt yếu của phần này làm nổi bật những sứ điệp chính của Cựu Ước. Sau cùng, phân này sẽ trình bày tổng quát về lịch sử và các phương pháp chú giải Kinh Thánh nói chung, và Cựu Ước nói riêng.

Sang phần Dẫn nhập Tân Ước, sinh viên có cái nhìn tổng quát về Kinh Thánh Tân Ước trước khi đi vào tìm hiểu từng tác phẩm cụ thể. Trước hết, trong phần này, sinh viên sẽ được trình bày những yếu tố căn bản liên quan đến Tân Ước, như: bối cảnh chung về lịch sử và văn hoá Do Thái thời Tân Ước; các giai đoạn hình thành bộ Kinh Thánh Tân Ước; Lịch sử Quy điển Tân Ước; các thể văn trong Tân Ước; cách sắp xếp các sách trong bộ Tân Ước và ý nghĩa của nó; các nguỵ thư,… Tiếp đến, phần này cũng trình bày cho sinh viên một số vấn đề khác liên quan đến khoa phê bình Tân Ước, như: các bản thảo cổ Tân Ước và tình trạng của chúng; một số phương pháp phê bình hiện đại; vấn đề Đức Giêsu lịch sử;... Sau cùng, phần Dẫn nhập Tân Ước sẽ giúp các sinh viên thấy rõ hơn sự “ẩn giấu” của Tân Ước nơi Cựu Ước và sự thành toàn của Cựu Ước nơi Tân Ước. Biến cố Đức Giêsu Kitô (Nhập thể, Đời sống, Lời rao giảng, Cái Chết và Sự Phục sinh của Người) không chỉ là biến cố trung tâm của Tân Ước mà là trung tâm của cả lịch sử cứu độ.

10. Huấn Giáo và Sư phạm Giáo lý

Phụ trách: Cha Giuse Đinh Văn Điệp, O.Carm.

Môn học này trang bị cho sinh viên những hiểu biết căn bản về mục vụ huấn giáo như một thực hành quan trọng trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội. Ngang qua việc học hỏi các văn kiện chính hướng dẫn về tầm quan trọng, nội dung giáo lý, phương pháp trình bày, và các chủ đề liên quan khác, sinh viên sẽ được tìm hiểu và đào sâu hơn những xác tín của người môn đệ Chúa Giêsu trong sứ mạng loan báo Tin Mừng cho thế giới hôm nay.

PHÂN KHOA THẦN

- Kinh Thánh

1. Tiếng Hy Lạp Kinh Thánh

Phụ trách: Cha Phêrô Trần Hưng Vĩnh Quang, O.P.

Không biết tiếng Hy Lạp Kinh Thánh thì khó có thể chạm thấu sinh khí của Lời Chúa trong Tân Ước.

Tiếng Hy Lạp Kinh Thánh hay còn gọi là tiếng Hy Lạp Phổ thông (Ελληνιστική Κοινή, phổ biến từ thời đế chế văn hoá Hy Lạp đến thời đại Byzantine) đã được sử dụng nhằm chuyển tải sứ điệp Tin Mừng và những đạo lý liên quan vào thời sơ khai của Kitô giáo.

Môn học tiếng Hy Lạp Kinh Thánh, dựa theo giáo trình Basics of Biblical Greek của William D. Mounce, không có tham vọng cho sinh viên nắm vững tất cả tiếng Hy Lạp cổ, nhưng chỉ là những căn bản về ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng Hy Lạp Kinh Thánh xét như nền tảng để sinh viên có thể tự tiến xa hơn.

Trong khoá học, ngoài những bài học căn bản theo giáo trình, sinh viên sẽ có cơ hội làm quen đọc trực tiếp một số bản văn Kinh Thánh Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp.

2. Ngũ thư

Phụ trách: Cha Giuse Phạm Đình Trí, C.Ss.R.

Ngũ thư, năm quyển sách đầu tiên và quan trọng nhất của Kinh Thánh Cựu Ước, trình bày về lịch sử dân Israel, dân được tuyển chọn của Thiên Chúa, và chứa đựng những Bộ luật Giao ước cũng như những yếu tố nền tảng khác làm nổi bật căn tính của dân này.

Phần thứ nhất của môn này sẽ trình bày cho các sinh viên những yếu tố tổng quát về Ngũ thư: Tên gọi “Ngũ thư” (nguồn gốc và việc sử dụng), các tên gọi được đề nghị khác (“Tứ thư,” “Lục thư,” hay “Cửu thư”), nội dung, cấu trúc và sứ điệp tổng quát của Ngũ thư, và Ngũ thư trong ánh sáng của Tân Ước.

Phần thứ hai của môn này sẽ trình bày tổng quát lịch sử nghiên cứu và những điểm tham chiếu để đọc Ngũ thư. Phần này nhằm giúp các sinh viên có cái nhìn xuyên suốt về các giai đoạn nghiên cứu Ngũ thư, đồng thời đưa ra những yếu tố chìa khoá để các sinh viên đọc và hiểu các bản văn Ngũ thư tốt hơn.

Phần cuối, phần quan trọng nhất của môn này, giúp các sinh viên đọc và chú giải một số bản văn được chọn lựa trong từng quyển sách của bộ Ngũ thư. Ở đây, các sinh viên cũng sẽ được trình bày dẫn nhập vào mỗi quyển sách, trước khi đi vào chú giải các bản văn trong mỗi quyển sách đó.

3. Các Sách Lịch sử

Phụ trách: Cha Mátthêu Vũ Văn Lượng, O.P.

Trong Kinh Thánh Công giáo, khối “Các Sách Lịch sử” được chia làm 4 nhóm : I) Giôsuê, Thủ lãnh, Rút, 1-2 Samuen, 1-2 Vua; II/1-2 Sử biên niên, Étra, Nơkhemia; III) Tôbia, Giuđitha, Étte; IV) 1-2 Macabê. Trong đó, Các Sách Lịch sử thuộc nhóm 1 được Kinh Thánh Do Thái giáo gọi là Các Ngôn sứ tiền để đối lại với Các Ngôn sứ hậu (Isaia, Giêrêmia, Êdêkien, và 12 ngôn sứ nhỏ). Cách gọi này cho thấy Ítraen xác tín rằng việc đọc lại và giải thích lịch sử trong quá khứ của họ cũng là một hoạt động của các ngôn sứ.

Khi học môn Các Sách Lịch sử, học viên được lưu ý không áp dụng quan niệm về lịch sử của khoa sử học hiện đại vào việc nghiên cứu Các Sách Lịch sử trong Sách Thánh. Vì lịch sử ở đây là lịch sử thánh được những người sưu tập và biên soạn sử dụng các câu chuyện và các truyền thống về “những sự việc của các ngày” (dibrei hayyamim), mà ngày nay chúng ta gọi là “lịch sử” (historia), để giải thích hiện tại và mở ra viễn tượng tương lai cho dân Ítraen.

Như vậy, mục đích môn học nhằm giúp học viên nhận ra cách thức dân Chúa hiểu về ơn gọi và sứ mệnh của mình và khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ của mình. Ngay cả sự trừng phạt cũng là để cứu độ, để thanh luyện và làm cho dân thực sự thành dân của Chúa theo đúng kế hoạch từ ban đầu, chứ không phải để huỷ diệt.

4. Văn chương Khôn ngoan Cựu Ước

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Thể Hiện, C.Ss.R.

Môn học này nhắm mục tiêu cung cấp cho sinh viên một số “chìa khoá” đọc hiểu các tác phẩm được gọi là “văn chương khôn ngoan Cựu Ước.”

Bài dẫn nhập chiếm 25% thời lượng môn học, sẽ trình bày những kiến thức tổng quát và căn bản, giúp có một cái nhìn chung về trào lưu khôn ngoan và các tác phẩm văn chương khôn ngoan Cựu Ước.

Các bài tiếp theo sẽ giới thiệu những tác phẩm chính yếu của kho tàng văn chương khôn ngoan: sách Gióp, sách Giảng viên, sách Châm ngôn, sách Huấn ca, sách Khôn ngoan. Trong đó, sách Gióp và sách Giảng viên sẽ được chú trọng một cách đặc biệt.

5. Thánh vịnh

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Thể Hiện, C.Ss.R.

Môn học này nhắm mục tiêu giúp sinh viên bước đầu làm quen với việc tiếp cận kho tàng các Thánh vịnh, vốn là đỉnh cao của kinh nghiệm tôn giáo Israel.

Môn học với thời lượng 30 tiết, chia thành 2 phần:

Dẫn nhập chung vào việc nghiên cứu Thánh vịnh, gồm: giới thiệu vắn tắt các phương pháp nghiên cứu Thánh vịnh hiện đại (các phân tích lịch đại, các lối tiếp cận đồng đại); cấu trúc sách Thánh vịnh; các gia đình Thánh vịnh; các viễn tượng thần học của sách Thánh vịnh…

Chú giải một số Thánh vịnh chọn lọc, với mục tiêu giúp các sinh viên bước đầu làm quen với việc đọc Thánh vịnh theo phương pháp phê bình.

Các Thánh vịnh, đúng theo bản chất, phải là những lời cầu nguyện trước khi là đối tượng để nghiên cứu và học hỏi. Đàng khác, việc nghiên cứu và học hỏi các Thánh vịnh, để đúng thực là có tính khoa học và phù hợp với đối tượng nghiên cứu, buộc phải được thực hiện trong lòng một cộng đoàn đức tin. Vì thế, yêu cầu trước hết đối với sinh viên sẽ không chỉ là khả năng làm việc trí thức, mà là tâm tình cầu nguyện và thái độ vâng phục truyền thống Hội Thánh.

6. Các Sách Ngôn sứ

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Văn Hội, C.Ss.R.

Trong Kinh Thánh, ta không thấy một “khuôn mẫu” cố định về các ngôn sứ, mỗi người mỗi kiểu. Ngôn sứ có nam có nữ, là nông dân, tư tế, hay cố vấn nhà vua; được gọi cách bất ngờ như Amốt (x. Am 7,14) hay được chuẩn bị từ trong lòng mẹ như Giêrêmia (x. Gr 1,4-10). Điều này cho thấy tự do và sáng kiến của Thiên Chúa trong việc chọn lựa và dùng những con người khác nhau, tuỳ giai đoạn, tuỳ hoàn cảnh. Và ngôn sứ được gọi chỉ để nói Lời Thiên Chúa mà thôi. Vì vậy, thánh Phêrô cho biết lời các ngôn sứ có giá trị đặc biệt, cần “tin tưởng” vào lời của các ngài, vì lời ấy “như chiếc đèn tỏ rạng giữa chốn tối tăm” và “lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có nhữung người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa” (x. 2 Pr 19-21).

Học và tìm hiểu sứ điệp của các ngôn sứ không chỉ giúp ta nhận ra Thiên Chúa đã đồng hành thế nào với dân ngang qua những thăng trầm lịch sử, nhưng còn giúp ta hiểu về Đức Giê-su, Đấng là trung tâm lòng tin của chúng ta. Bởi vì qua lời nói và cuộc đời của mình, các ngôn sứ báo trước và chuẩn bị cho Đức Giêsu đến. Hơn nữa, chính Đức Giêsu tiếp nối và hoàn thiện công việc của các ngôn sứ, đến độ người ta phải thốt lên “một ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người” (Lc 7,16).

7. Tin Mừng Mátthêu

Phụ trách: Cha Phêrô Trần Hưng Vĩnh Quang, O.P.

Tin Mừng Mátthêu là quyển đầu tiên trong bộ Kinh Thánh Tân Ước. Môn Tin Mừng Mátthêu tập trung vào việc đọc và chú giải các bản văn của sách Tin Mừng này.

Trước hết, ngoài những vấn đề tổng quát liên quan đến Tin Mừng Nhất lãm đã được trình bày trong môn Sự kiện Nhất lãm, các học viên sẽ được trình bày dẫn nhập vào Tin Mừng Mátthêu một cách chi tiết hơn về các vấn đề khác nhau, như: tác giả, thời gian và hoàn cảnh soạn tác, bố cục tác phẩm, và các sứ điệp chính của tác phẩm.

Sau phần dẫn nhập chung, các học viên sẽ được hướng dẫn đọc và chú giải các bản văn quan trọng nhất trong sách Tin Mừng này. Công việc này vừa giúp các học viên làm quen với các bước chú giải một bản văn Kinh Thánh nói chung, và bản văn Tin Mừng nói riêng, vừa giúp họ đào sâu các sứ điệp Tin Mừng mà tác giả Mátthêu muốn nhấn mạnh.

8. Tin Mừng Máccô

Phụ trách: Cha Giuse Phạm Đình Trí, C.Ss.R.

Tin Mừng theo thánh Máccô (TMMc) chỉ gần đây mới được đặc biệt chú ý và giữ một ví trí quan trọng trong mặc khải Kinh Thánh, xét như một toàn bộ.

Thật vậy, nếu đặt TMMc ở vị trí đầu tiên của Tân Ước, chúng ta có thể đọc ra ý nghĩa này: từ đời đời, Thiên Chúa có dự án thông chia Nước Trời cho con người (x. St 1,1: Ἐν ἀρχῇ, Vào lúc khởi đầu…) và khi thời gian viên mãn (x. Gl 4,4), dự án này đã nên trọn nơi Đức Giêsu Kitô, Tin Mừng của Thiên Chúa (x. Mc 1,1: Ἀρχὴ, Khởi sự …).

Khoá học, ngoài Dẫn nhập tổng quát, sẽ đọc Lời tựa sách TMMc 1,1 trong tương quan với toàn bộ TMMc để thấy được dung mạo Đức Giêsu chính là Đấng Kitô (x. Mc 8,29) và là Con Thiên Chúa (x. Mc 15,39), Đấng đã xuất hiện công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa (x. Mc 1,14-15) và đã “đến không phải để được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ, và hiến mạng sống mình làm giá chuộc thay cho nhiều người” (Mc 10,45).

Sinh viên cũng sẽ có cơ hội đọc chuyên sâu hơn một số bản văn Tin Mừng theo hướng chú giải Thánh Kinh, áp dụng trong đời sống đức tin và mục vụ.

9. Tin Mừng Luca & Công vụ Tông đồ

Phụ trách: Cha Giuse Phạm Duy Thạch, S.V.D.

Luca là sử gia duy nhất mà tác phẩm bao gồm hai tập được nối kết chặt chẽ với nhau, không chỉ bằng những từ khoá mà còn bởi những sự kiện mang tính song đối. Sinh viên, dù khi nghiên cứu riêng từng tập, nhưng luôn tiếp cận mỗi bản văn trong cái nhìn bao quát này.

Tập I là một nỗ lực trình bày về chính con người Đức Giêsu Kitô cũng như những sứ điệp của Ngài qua những phép lạ và những lời rao giảng. Luca đặc biệt chú trọng tới những dụ ngôn để làm nổi bật lên ý nghĩa mà Chúa Giêsu muốn chuyển tải tới cho người nghe.

Tập II như là một tiếp nối của Giáo hội những gì mà Chúa Giêsu đã thực hiện trong tập I. Việc nỗ lực không ngừng để tồn tại, để phát triển, để vượt qua những khó khăn về mặt cơ cấu cũng như giáo thuyết là điểm nổi bật nhằm trang bị cho sinh viên những kinh nghiệm sống đức tin quý báu của Giáo hội thời sơ khai.

Từ những khái niệm căn bản trên, việc chú giải một số bản văn quan trọng sẽ giúp sinh viên làm quen với các hình thái văn chương mà thánh Luca sử dụng.

10. Tin Mừng Gioan

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Thể Hiện, C.Ss.R.

Mục tiêu trước hết của môn học này là giúp sinh viên biết cách đọc Tin Mừng Gioan (Ga).

Về nội dung, môn học gồm 2 phần: (1) dẫn nhập chung: trình bày những nội dung trực tiếp liên quan đến việc đọc Ga; (2) đọc một số bản văn chọn lọc. Phần thứ hai là phần chính yếu và chiếm nhiều thời lượng hơn.

Ga là một công trình đơn nhất, có thể và phải được đọc như là một chỉnh thể, trong đó các phần riêng biệt có chức năng thực hiện một cấu trúc chung mà tác giả dụng công xây dựng để truyền đạt nội dung thần học, đồng thời, cấu trúc đó, đến lượt mình, soi sáng ý nghĩa cho mỗi bộ phận tạo nên nó. Do đó, đối tượng của việc đọc là toàn bộ tác phẩm như một chỉnh thể, chứ không chỉ là những đơn vị được đọc cô lập, tách rời khỏi các đơn vị khác và tách rời khỏi toàn bộ công trình.

Ý định thần học chi phối việc xây dựng cấu trúc của Ga, do đó, các sự kiện gặp thấy trong bản văn và sử tính của những sự kiện đó sẽ được giải thích trong tầm nhìn về mục đích của Ga, tức là chú ý ngôn ngữ thần học của tác giả khi ông trình bày các sự kiện đó.

Những phân tích từ vựng, văn phạm và ý nghĩa biểu tượng là phần quan trọng giúp nắm bắt nội dung đạo lý mà tác giả muốn trình bày. Vì thế, sinh viên được yêu cầu có những kiến thức cơ bản về tiếng Hy Lạp Tân Ước và kiến thức tổng quát về văn chương Thánh Kinh.

11. Thư Phaolô

Phụ trách: Cha Vinh Sơn Phạm Cao Quý, C.Ss.R.

Tư tưởng thần học và đạo lý Kitô giáo dường như vẫn còn đó cách vô tận trong các Thư của thánh Phaolô, vị tông đồ đặc biệt của Đấng Phục Sinh dành cho muôn dân.

Các thư của thánh Phaolô được đồng hoá với Lời Chúa, nghĩa là những gì tác giả viết ra đều được linh hứng và có giá trị nuôi dưỡng đức tin xét như mặc khải của Thiên Chúa (x. 2 Tm 3,16; 2 Pr 1,20; 3,15).

Khoá học này không thể đọc thấu đáo từng lá thư, nhưng chỉ nhằm giúp sinh viên cái nhìn tổng quát các Thư Phaolô; phân biệt sự khác nhau giữa thể văn Tin Mừng và thể văn Thư từ; nhận diện một số chủ đề thần học quan trọng; tạo khả năng nghiên cứu bản văn Kinh Thánh trong điều kiện có thể.

Điều quan trọng hơn cả, đó là gợi cho sinh viên lòng yêu mến đọc trực tiếp bản văn Kinh Thánh sao cho việc suy tư thần học và đời sống đức tin có nền tảng mặc khải hơn.

12. Các Thư chung & Thư Hípri

Phụ trách: Cha Gioan B. Nguyễn Hữu Duy, S.V.D.

Thư Hípri và Các Thư chung tạo thành một khối lớn và không kém phần quan trọng trong bộ Kinh Thánh Tân Ước, gồm có: Thư Hípri và 7 Thư chung (Thư Giacôbê, các Thư 1-2 Phêrô, các Thư 1-3 Gioan, và Thư Giuđa).

Trước hết, môn học này sẽ giới thiệu tổng quát về Thư Hípri và Các Thư chung, như: tên gọi, bối cảnh và sứ điệp chung của các thư này. Tiếp đến là phần dẫn nhập vào mỗi thư riêng, tìm hiểu kỹ hơn về tác giả, độc giả, bối cảnh cụ thể trong đó mỗi thư được viết ra, cấu trúc, văn phong và sứ điệp chính của mỗi thư.

Một phần chính yếu của môn này, theo sau phần dẫn nhập vào mỗi thư, là đọc và chú giải một số đoạn văn tiêu biểu trong các thư này. Ở đây, các học viên vừa có cơ hội đào sâu về văn phong cũng như sứ điệp quan trọng của mỗi thư, vừa đồng thời nắm rõ hơn phương pháp để có thể tự đọc và chú giải các bản văn khác trong các thư này.

13. Văn chương Khải huyền

Phụ trách: Cha Gioan B. Phạm Quý Trọng, ĐCV thánh Giuse - Sài Gòn.

Trước những khó khăn và thử thách về đức tin trước những cuộc bách hại đạo, các tín hữu từ những thế kỷ II TCN. cho đến thế kỷ II không khỏi có những khắc khoải, băn khoăn. Thay vì loay hoay đi tìm cho mình những “giải đáp an thần” mang tính trần thế, các nhà tiên kiến, sau khi được Thiên Chúa mặc khải qua các thị kiến, đã dẫn đưa những những người đương thời của mình về một “giải pháp Nước Trời,” về một niềm hy vọng vào sự sống vĩnh cửu với Thiên Chúa và các thánh trên thiên quốc, chỉ đến khi đó và ở đó, “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4).

Vì thế, khoá học sẽ giúp sinh viên làm quen với thể loại văn chương rất đặc biệt và thú vị này, để có thể khám phá ra rằng, đằng sau những kiểu nói mang tính biểu tượng, đôi khi rất khó hiểu, lại là một sứ điệp đầy yêu thương và hy vọng mà Thiên Chúa muốn gởi đến cho dân Người trong những thời khắc khó khăn và thách đố của đời mình ở mọi thời đại, với xác quyết rằng, chung cuộc, sự dữ sẽ qua đi, tình yêu thập giá sẽ chiến thắng, và vinh quang thiên quốc sẽ là phần thưởng đích thật cho những người tín trung vào Chúa.

14. Thần học Kinh Thánh

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Văn Hội, C.Ss.R.

Cho dù Kinh Thánh bao gồm những cuộn sách có nội dung rất phong phú và được viết qua bao ngàn năm, thì cũng chỉ kể lại một câu chuyện duy nhất: câu chuyện cứu độ. Mục đích chính yếu của Thần học Kinh Thánh là làm sáng tỏ câu chuyện này và cho thấy sự cần thiết của việc đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Tân Ước và ngược lại, như lời thánh Augustinô: “Tân Ước ẩn tàng trong Cựu Ước và Cựu Ước được tỏ lộ trong Tân Ước.” Hơn nữa, kết hợp với những chuyên ngành Kinh Thánh và thần học khác, Thần học Kinh Thánh diễn giải những bản văn Kinh Thánh trong và vì Giáo hội. Đặc biệt, theo cách thức có hệ thống, Thần học Kinh Thánh cho thấy không chỉ Tân Ước mà cả Cựu Ước đều quy hướng về Đức Giê-su, Đấng là “sợi chỉ đỏ,” là “chìa khoá” để giải thích toàn thể Kinh Thánh.

- Phụng vụ

Phụng vụ Bí tích, Á Bí tích và Thánh Lễ

Phụ trách: Cha Giuse Phạm Đình Ái, S.S.S.

Hiến chế Phụng vụ Thánh, số 16, dạy rằng: “Môn Phụng vụ phải được giảng huấn dưới khía cạnh vừa thần học và lịch sử, vừa tu đức, mục vụ và luật pháp.” Vì thế, khoá trình “Phụng vụ Bí tích - Thánh Lễ” sẽ được giảng dạy theo hướng đáp ứng những đòi hỏi trên đây, nghĩa là giúp các học viên đào sâu các yếu tố gắn liền với Bí tích, nhất là Thánh Lễ, về nhiều phương diện; bổ túc cho bộ môn Bí tích thuộc các chuyên ngành khác như Tín lý, Luân lý và Giáo luật; đặc biệt, khoá trình này còn giúp các ứng viên linh mục hiểu và cử hành phụng vụ Thánh Lễ và các Bí tích cho xứng đáng, chăm chú, đạo đức, vừa đúng, đẹp, vừa linh hoạt, sáng tạo và tác động đến giác quan. 

- Thần học Tín lý

1. Thần học căn bản

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Nhất Thắng, C.Ss.R. & Cha Phanxicô X. Nguyễn Hai Tính, S.J.

Khoá học giúp sinh viên hiểu được những yếu tố căn bản cho những suy tư thần học chính thống của Giáo hội Công giáo. Những yếu tố căn bản đó là Mặc khải, Đức tin, Kinh Thánh, Truyền thống, tín biểu, tín điều, Huấn quyền và cảm thức đức tin của Dân Chúa. Khoá học cũng giúp sinh viên nắm bắt nguyên tắc, đường hướng, phương pháp suy tư thần học theo dòng lịch sử Giáo hội, qua đó sinh viên học biết cách diễn tả đức tin bằng chính những dòng suy tư thần học có tính hệ thống của chính mình trong truyền thống suy tư thần học của Giáo hội Công giáo Rôma. Trải qua môn học này, sinh viên nhận biết và phân định những tiêu chuẩn và nguyên tắc căn bản của Giáo hội Công giáo cho những suy tư thần học. Cuối cùng, sinh viên thuần thục với việc thực hành suy tư thần học trước những vấn đề thực tế của cuộc sống đức tin.

2. Tạo dựng - Ân sủng - Nguyên tội

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Nhất Thắng, C.Ss.R.

Thần học Tạo dựng, Ân sủng và Nguyên tội là ba khía cạnh hiện sinh của thế giới và con người trong mầu nhiệm cứu độ. Môn học này giúp sinh viên có được cái nhìn và hiểu biết xuyên suốt từ việc Thiên Chúa tạo thành thế giới, muôn loài muôn vật và con người, đến sự sa ngã trong mầu nhiệm sự tội, đến sự tràn đầy và viên mãn của ân sủng được trao ban trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô. Sinh viên sẽ được học hỏi và nghiên cứu trên nền tảng Kinh Thánh, Giáo phụ, Giáo lý và các trường phái thần học Trung - Cận - Hiện đại, nhất là cuộc tranh luận giữa anh em Cải cách và Công giáo. Trung tâm của mọi suy tư và tranh luận thần học vẫn là con người trong tương quan tình yêu với Thiên Chúa. Sinh viên sẽ có cái nhìn tích cực về thế giới và con người trong niềm hy vọng cứu độ.

3. Kitô học

Phụ trách: Cha Giuse Lê Quang Tuấn, C.Ss.R.

Trong ánh sáng đức tin, đời sống và thờ phượng của Kitô giáo, Kitô học là việc “tìm kiếm sự hiểu biết” về Đức Giêsu Nadarét – Đấng Cứu Độ – Tin Mừng cho muôn dân. Đến với Mặc Khải, việc tìm kiếm sự hiểu biết này cố gắng tìm hiểu về con người, việc làm, giáo huấn, đặc biệt là cái chết và sự phục sinh của Người, “vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta.” Theo đó, Kitô học dẫn đến việc tìm hiểu để nhận biết Đức Giêsu: Đấng Kitô-Con Thiên Chúa; Con Người; Trung Gian Ơn Cứu Độ. Trong những sự nhận biết này, việc tìm hiểu sẽ đến với Đức Giêsu: Thiên Chúa thật và người thật, hoạt động mặc khải và cứu độ trong lịch sử, hiện diện và hoạt động cứu độ trong Hội Thánh và giữa thế giới. Với những gì về Giêsu Kitô, Kitô học có thể nói với người tìm hiểu: “Cứ đến mà xem!” (Ga 1,46), dẫn họ “đến gặp Đức Giêsu” (Ga 1,42) và giúp họ đích thân trả lời câu hỏi của Đức Giêsu: “Anh em bảo Thầy là ai?” (Mt 16,15) bằng chính đời sống đức tin của họ.

4. Thánh Mẫu học

Phụ trách: Cha Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R.

Bên cạnh Đức Kitô, có thể nói, Đức Trinh Nữ Maria có một vị trí quan trọng trong đời sống đức tin và việc thực hành đạo đức, thiêng liêng của các Kitô hữu. Khoá học về Thánh Mẫu học này sẽ giúp các sinh viên có được những hiểu biết cần thiết về nền tảng Kinh Thánh và Truyền thống cũng như Giáo huấn chính thức của Giáo hội về vị trí và vai trò của Đức Trinh Nữ Maria trong công trình cứu độ của Thiên Chúa. Các chủ đề căn bản được trình bày trong khoá học bao gồm: Đức Maria trong Kinh Thánh; Đức Maria trong truyền thống suy tư thần học của Giáo hội; Đức Maria qua các tín điều được Huấn quyền Giáo hội xác quyết và tuyên tín; và cuối cùng là việc tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria trong đời sống của Giáo hội.

5. Thánh Thần học

Phụ trách: Cha Giuse Lê Quang Tuấn, C.Ss.R.

Thần học về Chúa Thánh Thần (Pneumatology: Thần Khí học/Thánh Thần học) chủ yếu tìm hiểu về chính Chúa Thánh Thần. Việc tìm hiểu này đi liền với và là phần bổ sung cần thiết cho Kitô học, và đặc biệt, cho Giáo hội học. Đến với Truyền Thống, Thánh Kinh và xem xét truyền thống thần học, Thánh Thần học tìm kiếm sự hiểu biết về Chúa Thánh Thần, Đấng là “Thần Khí Đức Kitô” (x. LG, # 8,1). Trong việc làm này, Thánh Thần học bao gồm việc tìm hiểu để nhận biết Chúa Thánh Thần: Thiên Chúa-Đấng ban sự sống, Đấng hiện thực hoạt động cứu độ của Đức Kitô, Đấng xây dựng Thân Thể của Đức Kitô, và Đấng là nguyên lý sự sống của Thân Thể. Theo đó, Thánh Thần học giúp người tin vào Đức Giêsu Kitô có thể biện phân thần khí trong đời sống đức tin và đi vào đời sống “nhờ Thần Khí” (x. Gl 5,16-25) trong Thân Thể của Đức Kitô.

6. Cánh chung học

Phụ trách: Cha Phaolô Vũ Chí Hỷ, S.S.S.

Khoá học này tìm hiểu và bàn luận về cứu cánh chung cuộc của lịch sử nhân loại và vũ trụ. Trước đây, Cánh chung học được nhận định như là giáo thuyết về “Những điều cuối cùng” (De novissimis: sự chết, phán xét, thiên đàng, luyện ngục-hoả ngục, ngày tận thế, sự sống lại, thời đại trị vì của Đức Kitô, thẩm phán chung). Với sự bừng dậy của tâm thức lịch sử và các biến động văn hoá từ đầu thế kỷ XX, cánh chung học được phục hưng như một chuyên đề chính yếu trong toàn bộ Thần học Tín lý, là trung tâm của sứ điệp Kitô giáo, khi thảo luận về Nước Thiên Chúa, chứ không chỉ nói đến sự kết thúc của lịch sử. Với mầu nhiệm Nhập Thể và Phục Sinh của Đức Kitô, thời đại cánh chung đã khai mào, công cuộc canh tân, đổi mới vũ trụ đã bắt đầu và Kitô hữu sống trong hy vọng, chờ mong sự viên mãn, hoàn tất các hoạt động sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa. Điều này dẫn đến những suy tư thần học về niềm hy vọng Kitô giáo trên bình diện Kinh Thánh, các trào lưu thần học, những biểu tượng cánh chung truyền thống, tài liệu và văn kiện Huấn quyền của Giáo hội, hệ luận và nguyên lý diễn giải trong thần học hiện đại, hướng tới cùng đích và tương lai vinh phúc mà Thiên Chúa hứa ban cho mọi thụ tạo: “trời mới và đất mới” (Kh 21,1) trong sự hiệp thông trọn vẹn và hằng cửu với Người.

7. Chúa Ba Ngôi

Phụ trách: Cha Phaolô Lưu Quang Bảo Vinh, C.Ss.R.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là môn học được xây dựng trên nền tảng Kinh Thánh, Giáo phụ, và các trường phái thần học chính thống của Hội Thánh thời Trung cổ, Cận và Hiện đại. Mục đích của môn học là giúp sinh viên nắm chắc và hiểu rõ đức tin của Hội Thánh vào Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi: khởi đi từ xác tín đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất hoạt động với Lời và Thần Khí của Ngài trong Cựu Ước, đến sự mặc khải trọn vẹn của Ba Ngôi Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần được tuyên xưng trong Tân Ước; Hội Thánh qua các Giáo Phụ Latin và Hy Lạp đã suy tư và kiến tạo hai dòng thần học Đông và Tây; giai đoạn Trung cổ với các trường phái thần học lớn của Thomas Aquinas và Bonaventure đã ảnh hưởng và để lại dấu ấn sâu sắc trên giáo lý và linh đạo Kitô giáo, đến thời Cận - Hiện đại gặp gỡ các thần học gia như Karl Barth, Karl Rahner, Hans Urs von Balthasar, P.X.. Durrwell, John Zizioulas, trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi cách sống động trong lăng kính Mầu nhiệm Cứu độ - Nhập thể, Thương khó, Chết và Phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Sinh viên sẽ được học hỏi và có dịp nghiên cứu mầu nhiệm đức tin căn bản này trong khoá học.

8. Giáo phụ

Phụ trách: Cha Phêrô Nguyễn Thanh Sơn, ĐCV thánh Giuse - Xuân Lộc.

Giáo phụ học là khởi điểm và nền tảng suy tư của Thánh Truyền. Môn học này giúp giúp sinh viên hiểu về nguồn gốc hình thành các hạn từ và công thức đức tin, ý nghĩa thần học căn bản của các lời tuyên xưng đức tin của Hội Thánh, những tư tưởng của các Giáo phụ từ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng Cứu Độ, đến mầu nhiệm con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa và được cứu độ, đến mầu nhiệm Hội Thánh với năng quyền Chúa ban, đời sống bí tích, phụng vụ và đạo đức. Sinh viên sẽ có dịp đọc và phân tích các bản văn của các giáo phụ từ thời các Tông đồ, đến Tiền và Hậu Công đồng Nicea. Điểm độc đáo của môn học này là sinh viên sẽ nhận ra tính toàn vẹn và vẻ đẹp của thần học Kitô giáo trong ngôn ngữ và suy tư của các Giáo phụ.

9. Giáo hội học

Phụ trách: Cha Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R.

Khoá học giúp sinh viên có được những hiểu biết cần thiết về bản chất và sứ mạng của Giáo hội trong nhãn giới thần học Công giáo. Trình tự các bài của khoá học được sắp xếp thành ba phần căn bản để giúp sinh viên nắm vững môn thần học về Giáo hội. Cụ thể, phần I, sinh viên sẽ tìm hiểu về nền tảng mặc khải về Giáo hội. Phần thứ II, sinh viên sẽ tìm hiểu Giáo hội nhận thức về chính mình theo dòng lịch sử kể từ thời các Giáo phụ cho tới Công đồng Vaticanô II. Ở cuối của phần II, khoá học giúp sinh viên đào sâu tư tưởng Giáo hội học của Công đồng Vaticanô II. Phần III là những suy tư thần học đương đại về mầu nhiệm Giáo hội. Ở phần này, sinh viên được tiếp cận những suy tư thần học về nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến bản chất và sứ mạng của Giáo hội trong bối cảnh hiện nay.

10. Công đồng Vaticanô II

Phụ trách: Cha Antôn Nguyễn Văn Dũng, C.Ss.R.

Công đồng Vaticanô II là Lễ Hiện Xuống của Hội Thánh cho thế giới hôm nay. Các văn kiện của Công đồng – Hiến chế, Sắc lệnh, Tuyên ngôn – cho đến hôm nay vẫn đang là nền tảng và hướng dẫn cho các văn kiện của Hội Thánh trong suy tư học thuyết đức tin, phụng vụ, bí tích, luân lý, sứ vụ, tôn giáo, thế giới và con người hôm nay. Môn học này nhằm giúp sinh viên tìm hiểu bối cảnh diễn ra Công đồng, đi vào các tranh luận của các nghị phụ và phân tích ý nghĩa thần học các văn kiện Công đồng. Nhờ đó, sinh viên có được một nền tảng tín lý vững chắc, hiểu được ngôn ngữ đức tin Hội Thánh đang dùng, cùng suy tư thao thức với Hội Thánh, nhất là thấy được sức sống và lực đẩy sứ vụ của Hội Thánh trong việc phục vụ ơn cứu độ cho thế giới hôm nay. Công đồng Vaticanô II còn là Công đồng của Đại Kết, hướng đến sự hiệp nhất của một Hội Thánh Chúa Kitô như là bí tích phổ quát của ơn cứu độ. Sinh viên sẽ được hiểu và nuôi dưỡng tinh thần hiệp nhất Kitô giáo.

- Thần học Luân lý

1. Luân lý Căn bản

Phụ trách: Cha Augustinô Nguyễn Minh Triệu, S.J.

Môn học này giúp cho các học viên có được những ý niệm căn bản, những nguyên tắc cần phải lưu tâm khi tiếp cận về luân lý. Đồng thời, cũng nhấn mạnh đến tính đa nguyên của vấn đề đạo đức (éthique) trong thế giới hôm nay để xác định Chúa Kitô, lời dạy Giáo hội về luân lý là nền tảng cho luân lý Công giáo.

2. Các nhân đức Luân lý

Phụ trách: Cha Giuse Đỗ Mạnh Thịnh, ĐCV thánh Giuse - Xuân Lộc

Nhân đức là một chủ đề quan trọng trong Thần học Luân lý (THLL). Tuy nhiên, một thời gian khá dài trong quá khứ, khi nói đến THLL, người ta chỉ hình dung đến các mệnh lệnh luân lý: những gì phải làm, những gì phải tránh. 

Thực sự, THLL không chỉ nhắm đến những hành vi (ethics of doing) – giải thích, biện phân và các mệnh lệnh luân lý – nhưng nó cũng hướng con người đến việc phải trở nên loại người nào (ethics of being), và cụ thể là làm thế nào để “trở nên môn đệ Đức Kitô”. Như vậy, nhân đức định hình tính cách con người, từ tính cách này những phán đoán và quyết định hành vi luân lý được hình thành; ngược lại, chính những hành vi của con người cũng góp phần xác định và củng cố những nhân đức của con người. Ví dụ, một người có lòng bác ái thì thường hay làm việc bác ái, cư xử nhân ái đối với mọi người; ngược lại, khi hay làm việc bác ái, cư xử nhân từ, người ta càng trở nên “con người nhân ái” theo hình ảnh của Chúa Giêsu.

Môn học đạo đức về các nhân đức (ĐĐNĐ) nhằm giới thiệu và mở rộng viễn quan về THLL, cách riêng, nhân đức Kitô giáo trong đời sống Kitô hữu. Nội dung chính yếu được xây dựng quanh bốn chủ đề chính:

(1) Khái quát về ĐĐNĐ: Phần này nói đến một khái niệm về nhân đức, ĐĐNĐ, cũng như tầm quan trọng của nhân đức trong đời sống Kitô hữu – lời mời gọi trở thành môn đệ Đức Kitô.

(2) Phần thứ hai thảo luận về các nhân đức, những viễn quan thần học về các nhân đức đối thần – tin, cậy và mến – và các nhân đức nhân bản trụ cột khác như khôn ngoan, can đảm, khiêm nhường và công bình. Phần này cũng đọc lại Tổng luận Thần học, Phần hai của phần hai (secunda secundae partis) (Q.1-46).

(3) ĐĐNĐ trong những chiều kích đặc thù: phần này được xem như việc sống các nhân đức trong những khía cạnh cụ thể của đời sống như vấn đề tính dục, nữ quyền, sinh thái, và đời sống nghề nghiệp.

Mục đích chính yếu của môn học là hướng học viên đến việc sống đời sống môn đệ Đức Kitô như một linh mục, tu sĩ hay giáo dân, một cách cụ thể qua việc tập luyện, và thực hành các nhân đức: những nhân đức trong tương quan với Thiên Chúa, và những nhân đức trong tương quan với con người và thiên nhiên.

3. Luân lý theo thánh Anphongsô

Phụ trách: Cha G.B. Lê Đình Phương, C.Ss.R.

Môn Luân lý theo thánh Anphongsô giúp cho học viên có cái nhìn chung về cách Giáo hội suy tư về luân lý trong Giáo hội Công giáo. Qua việc nghiên cứu cách thánh Anphongsô đối diện với vấn nạn luân lý quan trọng vào thời của ngài mà học viên có thể hiểu hơn và có thái độ đúng đắn khi đối diện với vấn đề luân lý hiện nay trong Giáo hội.

4. Luân lý Phái tính

Phụ trách: Cha Phêrô Vũ Văn Hài, ĐCV thánh Quý - Cần Thơ

Luân lý Phái tính là môn học về giới tính hay tính dục con người, trong nỗ lực giúp mỗi cá nhân nên người và nên thánh trong ơn gọi của mình. Giới tính không phải là cái gì đó tuỳ phụ, theo nghĩa có thể tùy nghi sử dụng hay không, nhưng là điều cốt lõi làm nên bản chất, sự hiện hữu của mỗi người là nam hay nữ. Dù là ai, dù sống theo ơn gọi nào (độc thân, tu trì, kết hôn…) con người luôn suy nghĩ, mơ ước, biểu hiện và hành động theo giới tính cụ thể của mình.

Phần thứ nhất bàn về giới tính con người trong chiều kích nhân học, lịch sử và thần học. Đây là phần căn bản lý thuyết giúp học viên có sự hiểu biết đúng đắn về giới tính, về chính mình, để biết chấp nhận mình (x. GLCG, # 2333), chấp nhận người, trong nỗ lực mở ra với tha nhân để trở nên con người thành toàn, đạt “tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,13).

Phần thứ hai sẽ đề cập tới một số vấn đề chuyên biệt như tính dục đồng giới, thủ dâm, chuyển giới, tính dục trong đời sống tu trì,... Trong phần này, bên cạnh việc tìm hiểu giáo huấn chính thức của Hội Thánh, người học cần xem xét các quan điểm thần học và mục vụ khác nhau, trong nỗ lực giúp mỗi cá nhân hoàn thành ơn gọi trong hoàn cảnh cụ thể của mình.

5. Luân lý Giải nố

Phụ trách: Cha Giuse Đỗ Mạnh Thịnh, ĐCV thánh Giuse - Xuân Lộc

Sau khi đã học xong về luân lý, học viên thường lúng túng khi phải đối diện với những vấn đề cụ thể về luân lý trong mục vụ. Môn Luân lý Giải nố giúp học viên dựa trên những kiến thức về luân lý Công giáo, về tâm lý, về mục vụ, về sự tiệm tiến trong đời sống luân lý… để đưa ra sự hướng dẫn tốt nhất trong khi thi hành mục vụ.

6. Đạo đức Sinh học

Phụ trách: Cha G.B. Lê Đình Phương, C.Ss.R.

Đạo đức Sinh học là một môn học liên hệ đến những hiện tượng của sự sống: khởi đầu của sự sống, ý nghĩa và việc chăm sóc sức khoẻ và người bệnh, kết thúc của sự sống, sự thí nghiệm trên con người, vấn đề di truyền, sự cấy ghép các cơ phận...; ngoài ra còn mở rộng đến đạo đức về môi trường và động vật học nữa.

Như vậy, Đạo đức Sinh học mời gọi con người có một thái độ “trách nhiệm” đứng trước hiện tượng của sự sống. Bởi vì Đạo đức Sinh học không chỉ đơn thuần là “đạo đức” dành cho khoa “sinh học” nữa, mà là một nền “đạo đức của sự sống,” ảnh hưởng trên toàn bộ sự sống của con người.

Môn học này nhằm giúp ứng sinh linh mục học hỏi Giáo huấn của Giáo hội về vấn đề Đạo đức Sinh học, để tìm thấy những hướng dẫn giúp soi sáng lương tâm và có những quyết định luân lý đúng đắn, không chỉ cho bản thân mà còn giúp cho người giáo dân có thể đón nhận được những Giáo huấn của Giáo hội về vấn đề mới mẻ này.

- Thần học Bí tích

1. Bí tích Tổng quát

Phụ trách: Cha Đa Minh Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R.

Môn Bí tích Tổng quát trình bày lịch sử của thần học bí tích qua các thời: trước Tân Ước, Tân Ước, Giáo phụ, thời Trung cổ, các bí tích Công giáo và Tin Lành, và nhất là các bí tích hiện nay. Cách đặc biệt, môn học này nhấn mạnh đến kinh nghiệm sống là nền tảng của mọi bí tích; đến các biểu tượng, việc mừng lễ và nghi lễ, đồng thời cũng đưa ra một số chìa khoá để phân biệt nền thần học bí tích thời Kinh viện và nền thần học bí tích hiện nay.

2. Bí tích Thánh tẩy

Phụ trách: Cha Giuse Phan Quang Trí, O. Carm.

Môn Bí tích Thánh tẩy trình bày nguồn gốc và lịch sử của bí tích Thánh tẩy Kitô giáo qua các thời đại, nhấn mạnh đến nền thần học bí tích này thời Tân Ước, và việc cử hành bí tích Thánh tẩy thời Giáo phụ, để rút ra định nghĩa về Kitô hữu. Cuối cùng, môn học cũng đưa ra một so sánh nhỏ giữa nền thần học bí tích Thánh tẩy của thánh Tôma Aquinô với thần học của bí tích này của Vaticanô II. Điểm nhấn của môn học này là phải sống bí tích này ra sao, hay nói khác đi, phải sống ơn gọi Kitô hữu thế nào.

3. Bí tíchThêm sức

Phụ trách: Cha Giuse Phan Quang Trí, O. Carm.

Môn Bí tích Thêm sức trình bày nguồn gốc của bí tích Thêm sức, và mối liên hệ giữa bí tích này với bí tích Thánh tẩy, những khó khăn của nền thần học bí tích này hiện nay, khi bị tách khỏi Thánh tẩy thành một bí tích riêng. Điểm nhấn của môn học này là làm sao để phát huy ơn Chúa Thánh Thần mà các Kitô hữu lãnh nhận khi chịu Thánh tẩy và Thêm sức.

4. Bí tích Thánh Thể

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Đức Thắng, S.S.S.

Thần học Thánh Thể là một bộ môn của thánh khoa Kitô giáo nói chung và Công giáo nói riêng. Bộ môn Thần học Thánh Thể trình bày các đạo lý liên quan đến bí tích cực thánh, tức là Thánh Thể – Bữa Tiệc của Chúa. Cụ thể, khoá học về Thần học Thánh Thể tại Học viện thánh Anphongsô giới thiệu lịch sử và thần học về Thánh Thể trong đời sống Giáo hội, giúp học viên có một kiến thức cơ bản về đạo lý và các suy tư thần học Công giáo về Thánh Thể và về thực hành phụng vụ, đào sâu linh đạo phụng vụ Thánh Thể, đồng thời định hình các lối diễn tả thần học Thánh Thể cho một Giáo hội đa văn hoá với cảm thức đại kết.

5. Bí tích Hôn phối

Phụ trách: Cha Đa Minh Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R.

 tả: Môn học có mục tiêu giúp cho sinh viên xác tín về ý nghĩa thần học của Bí tích Hôn phối nơi giáo huấn hôm nay của Hội Thánh. Để làm được điều đó, môn học đã khởi đi từ nền tảng Thánh Kinh, và đồng thời tiếp nối với nền tảng Thánh Truyền là những gì Hội Thánh đã sống, đã suy tư, đã cử hành hai ngàn năm qua. Ngoài ra, từ giáo huấn hôm nay, môn học cũng gợi mở những suy tư để làm sáng tỏ hơn giáo huấn ấy trong góc nhìn đối thoại với người không cùng niềm tin; và cuối cùng môn học cũng gợi mở hướng mục vụ Bí tích này.

Nội dung:

Bí tích Hôn Phối

Chương I: Nền tảng Thánh Kinh, đặc biệt với St 1, 26-28; 2, 18-24; Mt 19,3-9; Ep 5,21-33.

Chương II: Nền tảng Thánh Truyền: sự hình thành, phát triển của thần học Bí tích Hôn phối

Chương III: Triển khai thần học với các chủ đề: hôn nhân tự nhiên, cấu trúc Bí tích, thừa tác viên, sự ưng thuận, tính bất khả phân ly, sự duy nhất, mục đích của hôn nhân, ân sủng...

Chương IV: Gợi ý mục vụ

6. Bí tích Thống hối

Phụ trách: Cha Giuse Vũ Trọng Tài, S.D.B.

 tả: Môn học có mục tiêu giúp cho sinh viên xác tín về ý nghĩa thần học của Bí tích Thống hối nơi giáo huấn hôm nay của Hội Thánh. Môn học đã khởi đi từ nền tảng Thánh Kinh, và đồng thời tiếp nối với nền tảng Thánh Truyền là những gì Hội Thánh đã sống, đã suy tư, đã cử hành qua nhiều thế kỷ. Từ chỗ cung cấp kiến thức nền tảng về Bí tích Thống hội, môn học gợi mở hướng mục vụ Bí tích này.

Nội dung:

Chương I và II: Nền tảng Thánh Kinh và Thánh Truyền của Bí tích Thống hối

Chương III: Triển khai thần học với các chủ đề: tội lỗi, sám hối, xưng thú, đền tội, giao hòa, cấu trúc, chiều kích Hội Thánh, thừa tác viên, năng quyền, việc cử hành…

Chương IV: Gợi ý mục vụ

7. Bí tích Xức dầu

Phụ trách: Cha Giuse Vũ Trọng Tài, S.D.B.

Môn Bí tích Xức dầu trình bày nguồn gốc và lịch sử của bí tích này, nhấn mạnh đến tên gọi đã được Công đồng Vatican II sử dụng lại để đặt cho bí tích này. Vì là một bí tích dành cho bệnh nhân, chứ không còn là bí tích của người sắp về bên kia thế giới, nên môn học này cũng gợi lên yêu cầu mục vụ cần đáp ứng cho con người hôm nay.

8. Bí tích Truyền chức

Phụ trách: Cha Đa Minh Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R.

Môn Bí tích Truyền Chức trình bày nguồn gốc và lịch sử của thừa tác vụ tư tế qua các thời đại, nhấn mạnh đến vai trò là trung gian cho thế giới thánh thiêng, cho Thiên Chúa giữa con người. Chính vai trò quan yếu này đòi hỏi những người lãnh nhận thừa tác vụ một đời sống xứng hợp. Điểm nhấn của môn học này là tạo cho sinh viên một ý thức về vai trò sắp lãnh nhận đã được cha Rey-Mermet diễn tả cách cô đọng: linh mục không có học, thì cũng giống như chiến sĩ không có khí giới, linh mục có học mà không sống và hành động như thể đang trông thấy Thiên Chúa, thì cũng chẳng có lợi gì cho nhân loại hôm nay.

- Thần học Thực hành

1. Thần học Mục vụ

Phụ trách: Cha Giuse Phạm Văn Bình, O.F.M.

Việc phục vụ Dân Chúa luôn đặt các mục tử ở mọi thời và mọi nơi trước nhiều thách đố. Các mục tử luôn được chờ đợi có nhiều suy tư, sáng kiến, và chọn lựa, sao cho Dân Chúa thuộc mọi môi trường sống có thể cảm nghiệm được sự hiện diện của Đức Kitô qua Hội Thánh và nơi con người của mục tử.

Môn Thần học Mục vụ giúp học viên tiếp cận với sứ vụ tương lai bằng cách tìm hiểu nền tảng thần học của việc phục vụ trong Hội Thánh. Đồng thời, giáo trình cũng đem học viên đến với Đấng là Mục Tử duy nhất và học với Người – Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Bài học từ Đức Giêsu sẽ giúp học viên thủ đắc mô hình phục vụ của Người-lãnh-đạo-tôi-tớ, để Dân Chúa được sống và được sống dồi dào đúng như Chúa muốn.

2. Đối thoại Liên tôn

Phụ trách: Cha Phêrô Đinh Ngọc Lâm, C.Ss.R.

Hội Thánh kêu gọi các Kitô hữu dấn thân vào con đường đối thoại tôn giáo vì đó là một phần thiết yếu của toàn thể công việc loan báo Tin Mừng của Hội Thánh ngày nay. Để đáp lại lời kêu gọi này trong cuộc sống hôm nay, chúng ta cần phải tìm hiểu và học hỏi về việc đối thoại liên tôn trong Kinh Thánh, các giáo huấn và truyền thống của Hội Thánh và đem ra thực hành cụ thể trong đời sống Kitô hữu của mình tại các Hội Thánh địa phương.

3. Sứ vụ học

Phụ trách: Cha Phêrô Đinh Ngọc Lâm, C.Ss.R.

Môn Sứ vụ học (Truyền giáo học) nhắm giới thiệu với các học viên những chủ đề chính của thần học sứ mạng đương thời, đưa ra suy tư thần học dựa trên bản tính sứ mạng (God’ mission, Christ’ mission) và trên sứ mạng của Hội Thánh ngày nay. Như vậy, sự quan tâm thông thường của chúng ta trong và cho sứ mạng loan báo Tin Mừng, nhắm giúp chúng ta dấn thân hơn cho Nước Thiên Chúa.

4. Giảng thuyết Mục vụ Lời Chúa Chúa Nhật

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Hữu Châu, ĐCV thánh Giuse - Xuân Lộc.

Giảng thuyết là một môn học giúp sinh viên chuyển tải những gì đã học được trong các môn học thánh thành những bài giảng hữu ích và thánh hoá đời sống đức tin của giáo dân. Sinh viên sẽ được học hỏi về tinh thần, tâm hồn và thái độ cần phải có của một người môn đệ Chúa Kitô khi loan báo Tin Mừng. Sinh viên sẽ được làm chắc lại các điểm cốt lõi của mầu nhiệm đức tin, cách nối kết các bài đọc và Tin Mừng theo hướng dẫn giảng thuyết của Hội Thánh, và các phương pháp trình bày sao cho hiệu quả nhất. Hơn nữa, sinh viên sẽ có dịp thực tập giảng Lời Chúa ngày thường và Chúa nhật, qua đó được chỉnh sửa và rút ra những kinh nghiệm cần thiết cho việc giảng dạy sau này.

5. Tư vấn Mục vụ & Linh hướng

Phụ trách: Cha Gioan B. Phương Đình Toại, M.I.

Môn học gồm hai phần:

Phần I: Chú trọng đến lý thuyết, nền tảng Kinh Thánh và Truyền Thống của Giáo hội trong việc chăm sóc mục vụ; Tìm hiểu những thay đổi trong công việc chăm sóc mục vụ sau Công đồng Vaticanô II; Những nỗ lực tìm kiếm một mô hình tư vấn mục vụ trong thế giới ngày nay; Phân biệt giữa Tư vấn Mục vụ và Tư vấn tâm lý ngày nay; Phân biệt giữa Tư vấn mục vụ và Linh hướng; Những nguyên tắc cơ bản, nền tảng, và đặc biệt của Tư vấn Mục vụ và Linh hướng.

Phần II: Nhắm đến việc thực hành, học và áp dụng một số kỹ năng cơ bản của các trường phái Tham vấn Tâm lý ngày nay áp dụng cho công việc Tư vấn mục vụ. Môn học đòi hỏi sinh viên nắm vững phần lý thuyết, thay đổi thái độ cũng như hành vi trong công tác tư vấn và nhuần nhuyễn một số kỹ năng tư vấn. Cuối khoá sinh viên có thể tiến hành một ca tư vấn mục vụ một cách chuyên nghiệp và đầy đủ.

6. Mục vụ Hôn nhân

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Hồng Phước, C.Ss.R.

Khoá học Mục vụ Hôn nhân Gia đình là khoá học nhằm đưa ra những định hướng, những phương pháp mục vụ cho đời sống hôn nhân gia đình, dưới ánh sáng của Tin Mừng và những giáo huấn của Giáo hội. Qua việc trình bày, đối thoại, và chia sẻ những kinh nghiệm thực tế về mục vụ hôn nhân gia đình, học viên được mời gọi nhìn lại và canh tân những phương pháp chuẩn bị và chăm lo cho đời sống hôn nhân gia đình nhằm đưa ra những hướng mục vụ thích hợp cho hoàn cảnh đời sống hôn nhân gia đình hôm nay.

7. Mục vụ Di dân

Phụ trách: Cha Phêrô Đỗ Cao Cương, S.V.D.

Môn học giới thiệu cho học viên những ý niệm căn bản về di dân và mục vụ di dân. Đồng thời, môn học cung cấp cho học viên những nét chính yếu và nền tảng dưới ánh sáng của Thánh Kinh và những văn kiện của Giáo hội về di dân.Từ đó, các học viên sẽ chia sẻ, thảo luận về những thách đố về mục vụ di dân tại Việt Nam hầu đưa ra một kế hoạch mục vụ di dân noi gương Chúa Giêsu – Vị Mục Tử Nhân Lành – và theo tinh thần của Huấn thị Erga migrantes (2004).

8. Mục vụ Truyền thông

Phụ trách: Cha Phaolô Hoàng Mạnh Huy, GP. Phú Cường

Môn học Mục vụ Truyền thông cống hiến cho các học viên kiến thức về những khía cạnh thần học truyền thông, đặc biệt noi gương Chúa Giêsu – nhà truyền thông tuyệt hảo – trong sứ vụ rao giảng Lời của Thiên Chúa. Đồng thời, môn học trang bị cho các học viên những kiến thức cơ bản về truyền thông hầu giúp họ có khả năng đánh giá có phê phán “văn hoá mới” của truyền thông và biết sử dụng các phương tiện truyền thông cách khôn ngoan và sáng tạo theo những hướng dẫn của Giáo Hội cho việc mục vụ của mình. Cuối cùng, môn học cung cấp cho các học viên những yếu tố và các bước quan trọng để lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch mục vụ truyền thông trong bối cảnh ngày nay.

9. Đại kết

Phụ trách: Cha Giuse Lê Quang Tuấn, C.Ss.R.

Đối thoại đại kết, hoạt động đối thoại vì sự hiệp nhất của các tín hữu, là dấu chỉ về sự hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh. Là thành phần của Giáo hội học, môn Đối thoại Đại kết giúp tìm hiểu bản chất của đối thoại đại kết: nguyên do và nền tảng của sự hiệp thông-hiệp nhất; những nền tảng triết học và thần học của đối thoại. Việc tìm hiểu này giúp người tiếp cận xác định: mục đích, những chiều kích, câu trúc và phương pháp của đối thoại đại kết. Trong khi tìm hiểu, họ sẽ học biết những khó khăn và trở ngại trong công cuộc đối thoại đại kết giữa các Giáo hội. Với nội dung như thế, môn Đối thoại Đại kết muốn giúp các tín hữu nhận biết chính mình trong lời của Đức Giêsu với Chúa Cha: “để họ nên một như chúng ta” (Ga 17,11) và trở nên khí cụ của Chúa Thánh Thần trong công cuộc xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô.

10. Học thuyết Xã hội của Hội Thánh Công giáo

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Duy Thịnh, C.Ss.R.

Học thuyết Xã hội của Hội Thánh Công giáo gồm có các suy tư và giáo huấn của Hội Thánh về những vấn đề: văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, sinh thái,... đã trình bày trong nhiều thế kỷ để trả lời cho những thách đố mà Hội Thánh đã phải đối mặt. Học thuyết này đưa ra những nguyên tắc chỉ đạo cho con người và các cộng đoàn Kitô hữu cách thức làm thế nào để sống Tin Mừng của Đức Giêsu trong bối cảnh của những vấn đề xã hội phức tạp ngày nay. Các giáo huấn ấy còn đưa ra những nguyên lý cho suy tư, những tiêu chuẩn để đánh giá và hướng dẫn cho hành động của con người về những vấn đề xã hội hôm nay.

- Giáo luật

1. Giáo luật Tổng tắc

Phụ trách: Cha Phêrô Nguyễn Hùng Hải, M.F.

Phần nhập môn của Bộ Giáo luật nhằm giới thiệu và cung cấp cho sinh viên những kiến thức nền tảng và những nguyên tắc pháp lý để từng bước đi sâu vào tìm hiểu, phân tích và áp dụng những điều luật khác nhau mà Giáo hội đã ban hành.

Ở phần này, chúng ta tìm hiểu Quyển I của Bộ Giáo luật 1983 chia ra làm hai mục:

Mục I: Đề cập đến bản chất, lịch sử, lý do, nguyên tắc của việc cải cách, những đường lối chung về tiến trình soạn thảo, các thuật ngữ và khái niệm cơ bản của Bộ Giáo luật. Nghiên cứu cụ thể các điều 1–95 bao gồm: 6 điều luật dẫn nhập: Tục lệ, Các Sắc luật và Huấn thị; các văn bản hành chánh; cuối cùng, các Quy chế và Điều lệ.

Mục II: Đào sâu các nguyên tắc căn bản từ điều 96–203 bao gồm: các thể nhân và pháp nhân; các hành vi pháp lý, quyền cai trị; các chức vụ trong Giáo hội; thời hiệu - cách tính giờ.

2. Giáo luật các Bí tích & Hôn phối

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Ngọc Bích, C.Ss.R.

Phần nhiệm vụ thánh hoá của Giáo hội cung cấp cho sinh viên kiến thức và khả năng hiểu biết về các điều luật liên quan đến các bí tích đã được ấn định trong Bộ Giáo luật 1983, nhờ đó các sinh viên có thể để áp dụng vào trong sứ mạng tương lai của họ. Khi phân tích từng điều luật, ngoài việc giải thích và đưa ra từng ví dụ cụ thể đã xảy ra, về phía các sinh viên cần phải cố gắng tìm kiếm thêm những tài liệu quan trọng khác của Giáo hội như Lịch sử, Kinh Thánh, Tín lý, Giáo lý, Giáo huấn, Luân lý và Phụng vụ... để có thể hiểu biết cách rộng hơn và đồng thời để áp dụng thực tế hơn vào trong từng trường hợp cụ thể.

Bài học của phần này tập trung vào quyển IV, Nhiệm vụ Thánh hoá của Giáo hội được chia ra thành ba phần chính:

Phần I: Các bí tích (điều 840–1165)

Phần II: Các việc phụng tự khác (điều 1165–1204)

Phần III: Các nơi và thời gian thánh (điều 1205–1253).

3. Giáo luật Phẩm trật

Phụ trách: Cha Phêrô Nguyễn Hùng Hải, M.F.

Bộ môn Cơ cấu Phẩm trật của Giáo hội, thuộc phần II của Quyển II, Dân Thiên Chúa (từ điều 330–572), Bộ Giáo luật 1983, nhằm cung cấp cho sinh viên kiến thức cơ bản và nguyên tắc pháp lý liên quan đến thẩm quyền, vai trò, trách nhiệm, quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp và quản trị của từng chức vụ và tập đoàn theo cơ cấu phẩm trật của Giáo hội.

Nội dung của môn học đề cập đến: quyền tối cao của Giáo hội bao gồm Đức Giáo hoàng và Giám mục đoàn, Thượng Hội đồng Giám mục, các Hồng y Giáo hội Rôma, Giáo triều Rôma, các Đặc sứ của Đức Giáo hoàng, các Giáo hội địa phương và các Hợp đoàn Giáo hội địa phương, các Giám mục Giáo phận, Giám mục phó, Phụ tá, sự Cản toà và Khuyết vị, các Hợp đoàn Giáo hội địa phương và tổ chức nội bộ của các Giáo hội địa phương.

4. Giáo luật Đời sống Thánh hiến

Phụ trách: Cha Giuse Nguyễn Ngọc Bích, C.Ss.R.

Nhằm giúp cho sinh viên có được kiến thức tổng quát về nguyên tắc pháp lý áp dụng cho các Tu hội Thánh hiến và Tu đoàn Tông đồ dựa trên nền tảng Thần học, Kinh Thánh, Lịch cử, Tín lý, Huấn quyền và Giáo luật đã được Toà Thánh ban hành.

Nội dung bài học tập trung vào Quyển II, Dân Thiên Chúa, Phần III: Các Tu hội Thánh hiến và Tu đoàn Tông đồ. Bố cục được phân chia ra như sau:

Thiên I: Các Tu hội Thánh hiến (Dòng tu, Tu hội đời, các Ẩn tu và Trinh nữ Thánh hiến) (từ điều 573–730). Trình bày những yếu tố cốt yếu của đời thánh hiến; Pháp chế tổ chức đời sống thánh hiến gồm: Việc thành lập; kết nạp; sáp nhập; phân chia; giải thể; việc quản trị; thâu nhận và huấn luyện; nghĩa vụ và quyền lợi của các Dòng tu và các phần tử; Hoạt động tông đồ; Rời bỏ Dòng và Các Tu hội đời.

Thiên II: Các Tu đoàn Tông đồ (từ điều 731–746). Trình bày khái niệm, tiếp đến ấn định những nguyên tắc pháp lý về việc thiết lập, giải tán và phân chia, đồng thời đưa ra những hình thức quản trị, việc thâu nhận và đào tạo phần tử. Cuối cùng đề cập đến quyền lợi, nghĩa vụ, việc quản trị tài sản và nguyên tắc rời bỏ Tu đoàn.

Phần cuối cùng trình bày cho chúng ta hiểu biết về những hình thức tận hiến khác.

- Giáo sử

1. Lịch sử Giáo hội Hoàn vũ

Phụ trách: Cha Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, ĐCV thánh Giuse - Sài Gòn

Lịch sử Giáo hội là bộ môn thuộc hệ thống thần học tại các Đại học Công giáo, các Học viện và Chủng viện. Đối tượng nghiên cứu là Giáo hội, được học hỏi và khám phá theo nguyên tắc: “Lịch sử là quá khứ, nhưng là bài học cho hiện tại và hướng mở đến tương lai.” Về mục đích và phương pháp, chúng tôi không chỉ trình bày những sự kiện của quá khứ, nhưng trong cái nhìn đức tin, các sinh viên cần phải nhận ra được ý nghĩa hay bài học cho cuộc sống hiện tại, để mở ra một hướng đi cho tương lai để sống và để yêu mến Giáo hội hơn. Trong môn học này, chúng ta cũng đề cập đến phương diện Thần học Lịch sử (Théologie de l'histoire).

Tuy rằng không là môn học chính, nhưng là cần thiết và quan trọng có tính bắt buộc trong chương trình thần học. Bộ môn lịch sử Giáo hội giúp hiểu biết về Giáo hội, nhằm gia tăng lòng yêu mến và tích cực góp phần xây dựng Giáo hội. Bộ môn Lịch sử Giáo hội còn góp phần giúp cho việc nghiên cứu học hỏi các môn thần học khác cách hiệu quả hơn, bởi vì, nhìn cách toàn diện, những bộ môn khác như Kitô học, Ba Ngôi, phụng vụ, bí tích... trong chương trình thần học đều có nền tảng và nguồn gốc theo dòng lịch sử Giáo hội.

2. Lịch sử Giáo hội Việt Nam

Phụ trách: Cha Phêrô Nguyễn Thanh Tùng, ĐCV thánh Giuse - Sài Gòn

Là công dân của một đất nước, là thành viên của Giáo hội, cách riêng của quốc gia dân tộc và của Giáo hội Việt Nam, người tín hữu, đặc biệt, với người linh mục, tu sĩ… để hiểu, để yêu mến, để sống và để cho sứ vụ loan truyền, chúng ta không thể không hiểu biết, không nghiên cứu, trau dồi một số những kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc và Giáo hội của mình, bởi vì: “Vô tri, bất mộ.” Thiếu lòng mến, người ta khó năng động và tích cực góp phần cách hiệu quả vào việc xây dựng và phát triển Giáo hội. Môn lịch sử Giáo hội Việt Nam cung cấp cho các sinh viên không chỉ những dữ kiện lịch sử, nhưng còn đó nhiều bài học quý giá cho hành trình ơn gọi, cho các hoạt động truyền giáo và mục vụ.

MỤC III: THỜI KHÓA BIỂU NIÊN KHÓA 2026-2027 (cập nhật hằng tuần)

_______

[1] x. Bộ Giáo sĩ, RatioFundamentalis Institutionis Sacerdotalis (2016), Uỷ ban Giáo sĩ và Chủng sinh chuyển ngữ (Hà Nội: NXB. Tôn giáo, 2017), số 61–63.

[2] x. Ibid., số 68–70.

[3] Ibid., số 61.

[4] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Những ý tưởng chủ đạo của Bản Ratio Institutionis Sacerdotalis (2012) (Hà Nội: NXB. Tôn giáo, 2012), 23.

[5]x. Phanxicô, Tông hiến Veritatis Gaudium, số 70, truy cập ngày 03-9-2025, https://www.vatican.va/content/francesco/en/apost_constitutions/documents/papa-francesco_costituzione-ap_20171208_veritatis-gaudium.html.

[6] x. Ibid., số 66.

[7] x. Ibid., số 94.