
|
MỤC LỤC 1. Trước hết là khăn vai (amictus) |
I. Lịch sử
Nếu ai đặt câu hỏi: “Các thánh tông đồ mặc phẩm phục như thế nào khi cử hành Thánh Lễ?”, thì chắc sẽ không bao giờ gặp được câu trả lời, bởi vì vào những thế kỷ đầu tiên, chưa có sự phân biệt giữa y phục thường nhật và y phục phụng vụ. Thậm chí kể cả khi Giáo hội đã quyết định sử dụng một thứ phẩm phục riêng trong các buổi cử hành, thì vẫn không có sự đồng nhất khắp nơi, bởi vì hình thức của phẩm phục mang nặng tính cách văn hoá địa phương. Điều này có thể nhận thấy ngày nay nơi các nghi điển khác nhau bên Tây phương và Đông phương. Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu nghi điển Rôma.
Nguồn gốc các phẩm phục trong nghi điển Rôma lấy từ tục lệ của dân tộc này vào thời xưa. Hàng quý tộc thường mang một áo trắng dài (tunica), và khi đi ra đường thì khoác thêm một áo choàng (toga), dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ cơ hội và địa vị. Đó là hai yếu tố cơ bản; rồi sau đó nhiều yếu tố phụ được thêm vào qua dòng thời gian. Công đồng Vaticanô II muốn trở về tính cách đơn giản, tuy không quên nhắc nhở rằng phẩm phục cũng như các vật dụng của phụng vụ cần biểu lộ sự thánh thiêng và thẩm mỹ (x. Hiến chế Phụng vụ, số 128).
Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma hiện nay (năm 2002, số 336-341) quy định như sau về phẩm phục lúc cử hành Thánh Lễ:
a) Chung cho mọi thừa tác viên: áo trắng dài (alba) với dây thắt lưng (nếu áo chưa sát liền với thân mình), và nếu không che kín áo thường chung quanh cổ thì dùng khăn vai (amictus);
b) dây stola cho phó tế, linh mục, giám mục;
c) áo dalmatica cho phó tế, áo casula cho linh mục và giám mục.
1. Nguồn gốc của áo alba là y phục của quan chức triều đình Rôma; họ quen mặc áo thụng màu trắng nhất là vào dịp lễ hội (alba talaris). Với dòng thời gian, khi được du nhập vào phụng vụ, chiếc áo này cũng đã được biến đổi nhiều kiểu về hình thức (tay rộng hay tay hẹp), về cách trang trí.
2. Các sử gia không nhất trí trong việc giải thích nguồn gốc và ý nghĩa của dây stola (tương đương với orarion bên phụng vụ Đông phương). Có ý kiến cho rằng nguồn gốc của stola là chiếc áo thụng, mà dấu tích còn thấy trong sách Khải huyền (stolae albae: 6,11; 7,9.14); ý kiến khác cho rằng nguồn gốc là orarion tiếng Hy lạp có nghĩa là khăn quàng cổ. Dù sao, kể từ thế kỷ VI đã thấy những quy định về sự khác biệt trong cách đeo dây stola, không hiểu vì lý do gì: các phó tế đeo trên vai trái và bắt chéo, còn các linh mục thì quấn quanh cổ và buông thõng xuống. Kỷ luật ấy còn duy trì đến nay, như đọc thấy ở số 340 của QCSL: “Các tư tế đeo dây stola quanh cổ và rũ xuống đàng trước. Các phó tế đeo dây stola trên vai trái, bắt chéo ngang ngực, và được kẹp ở hông bên phải”. Riêng đối với các linh mục ta thấy có sự thay đổi không nhỏ khi so sánh với quy tắc trước công đồng. Trước đây (nghĩa là kể từ Sách lễ năm 1570), các linh mục đeo dây stola trên cổ và bắt chéo ra trước ngực như hình thánh giá; chỉ có giám mục mới buông thõng xuống, bởi vì ngài còn đeo thêm thánh giá nữa. Ngoài ra cũng nên biết là cho đến thế kỷ XVI, dây stola luôn luôn là màu trắng, chứ không thay đổi theo màu của áo lễ như hiện nay.
3. Hình thù của các áo dalmatica và casula đã biến đổi nhiều lần trải qua thời gian, chịu ảnh hưởng không nhỏ của các nền văn hoá.
II. Linh đạo
Trong các Sách lễ trước đây, khi mặc phẩm phục, linh mục đọc thêm một kinh nguyện kèm theo, gắn liền với ý nghĩa ám dụ của nó. Khi quàng khăn vai (trước đây trùm lên đầu), linh mục xin Chúa đội mũ chiến của ơn cứu độ (x. Ep 6,17) để thắng các cuộc tấn công của ma quỷ. Khi mặc áo trắng, linh mục xin Chúa thanh luyện tâm hồn để xứng đáng mặc tấm áo trắng được giặt trong máu Con Chiên (x. Kh 7,13-14). Khi thắt dây lưng, linh mục xin ơn biết kiềm chế dục vọng và thực hành đức khiết tịnh (x. 1Pr 1,13). Khi đeo dây stola, linh mục xin được mặc tấm áo trường sinh mà nguyên tổ đã mất khi phạm tội. Khi mặc áo lễ, linh mục xin ơn biết đeo lấy cái ách của Chúa là tình yêu.
Dựa theo tư tưởng ấy, trong bài giảng lễ sáng thứ Năm Tuần thánh (ngày 5/4) năm 2007, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã giải thích ý nghĩa của phẩm phục linh mục khi dâng lễ, mà chúng tôi xin trích dịch vài đoạn chính như sau.[1]
Khi dâng Thánh Lễ, linh mục mặc phẩm phục, biểu hiệu cho việc “mặc lấy Chúa Kitô” để cử hành bí tích “trong cương vị của Chúa Kitô” (in persona Christi).
1. Trước hết là khăn vai (amictus) mà nhiều người trùm lên đầu giống như thói quen của vài dòng tu. Nó là biểu tượng của việc duy trì kỷ luật về giác quan và tư tưởng cần thiết để cử hành Thánh Lễ: không nên để cho tư tưởng chạy rông, với những mối bận tâm và những việc phải làm trong ngày; không nên để cho tai và mắt bị lôi cuốn bởi những gì đang diễn ra. Tâm trí cần phải hướng về Chúa Kitô đang hiện diện ở giữa chúng ta. Nếu tôi hiện diện với Chúa, thì cách thức tôi nghe, nói và làm sẽ lôi kéo anh chị em đến hiệp thông với Người.
2. Khi khoác áo alba và đeo dây stola, chúng ta hãy nghĩ đến tấm áo hân hoan mà người cha đã khoác cho đứa con hoang đàng trở về, với quần áo dơ bẩn xốc xếch. Khi bước lên bàn thờ để cử hành phụng vụ nhân danh Đức Kitô, linh mục hãy ý thức rằng chúng ta sống xa cách Chúa biết bao, cuộc đời của chúng ta nhơ nhớp thế nào. Duy có Chúa mới có thể ban cho chúng ta chiếc áo lễ hội, ngõ hầu chúng ta xứng đáng chủ sự bàn tiệc của Người, đi phục vụ Người. Chúng ta cũng nhớ đến hình ảnh của Sách Khải huyền nói đến tấm áo của 144 ngàn người được tuyển chọn không do công lênh của họ. Họ đã giặt áo trong máu Con Chiên, và tấm áo đã trở nên rạng rỡ như ánh sáng (x. Kh 7,14). Tấm áo được giặt trong máu được trở nên trong trắng, bởi vì Máu của Con Chiên, tức là tình yêu của Đức Kitô chịu chết trên thập giá đã biến những chiếc áo dơ bẩn thành trong trắng. Tình yêu của Người chiếu sáng tâm trí mờ tối của chúng ta, nhờ vậy, bất chấp những đen tối của chúng ta, Người đã biến đổi thành “ánh sáng trong Chúa”. Vì thế khi khoác tấm áo trắng lên người, chúng ta hãy nhớ rằng: Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì tôi nữa; nhờ có tình yêu của Người lớn hơn tất cả các tội lỗi của tôi mà tôi có thể thay mặt cho Người và làm chứng cho ánh sáng của Người.
Tấm áo trắng còn gợi lên chiếc áo cưới mà Tin Mừng nói trong dụ ngôn về tiệc cưới Nước Trời. Giáo hoàng Grêgôriô Cả nhận xét rằng thánh Luca nói đến bữa tiệc vào thời cánh chung, còn thánh Mátthêu thì nói đến bữa tiệc cưới trong phụng vụ và đời sống Hội thánh. Duy chỉ có thánh Mátthêu đề cập đến chuyện nhà vua đi vào phòng để xem các thực khách, và khi bắt gặp một người không mặc áo cưới thì nhà vua đã ra lệnh tống ra bên ngoài tối tăm. Thánh Grêgôriô tự hỏi: “Tất cả những người được quy tụ trong Hội thánh đều đã nhận được chiếc áo mới của bí tích rửa tội và của đức tin; như vậy thì anh ta thiếu chiếc áo gì vậy?”, và ngài trả lời: “Thiếu chiếc áo của tình yêu”. Quả vậy, trong số những người mà nhà vua đã ban tặng chiếc áo mới, ông thấy rằng có vài người không mặc tấm áo đỏ của lòng mến Chúa yêu người. Do đó, nếu chúng ta không mặc chiếc áo cưới của tình yêu, thì không thể nào tham dự vào tiệc cưới trên trời được. Ai không có tình yêu thì mang theo sự tối tăm ở trong mình. Cảnh tối tăm bên ngoài chỉ là phản ánh của sự mù tối của con tim (x. Homilia 38,8-13).
3. Sau cùng, áo lễ (casula) được xem như biểu tượng của cái ách mà Chúa đặt lên vai của linh mục. Điều này nhắc nhớ lời Chúa mời gọi chúng ta hãy mang lấy cái ách của Người và học ở nơi Người tấm gương hiền hậu và khiêm tốn (Mt 11,29). Trước hết, mang lấy ách của Chúa có nghĩa là đến thụ giáo với Người.
Chúng ta phải học bài hiền hậu và khiêm tốn của Thiên Chúa được biểu lộ khi làm người. Thánh Grêgôriô Nazianzênô đã một lần tự hỏi: “Tại sao Thiên Chúa lại muốn làm người?”, và ngài trả lời thế này: Thiên Chúa muốn biết tường tận thế nào là vâng lời đối với chúng ta, và Người muốn nếm thử tất cả qua sự đau khổ trên bản thân, là điều mà Người đã sáng nghĩ ra vì yêu thương chúng ta. Nhờ thế qua kinh nghiệm riêng tư, Người có thể biết được trực tiếp những cảm xúc, những đau khổ, những yếu đuối đáng được thương xót (Discorso 30; Disc. teol. IV,6). Nhiều khi chúng ta muốn thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, ách của Chúa chẳng nhẹ nhàng gì hết, trái lại, thật là quá nặng nề”. Nhưng khi nhìn lên Đấng đã gánh vác tất cả, đã nếm thử sự vâng phục, sự yếu đuối, sự đau khổ, sự tối tăm, thì những lời than van của chúng ta cũng tắt. Ách của Chúa là yêu cùng với Chúa. Ta càng yêu mến Chúa, và trở thành những kẻ yêu mến, thì ách của Người càng trở nên nhẹ nhàng.
_____
[1] http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/homilies/2007/documents/h f_ben-xvi_hom_20070405_messa-crismale_it.html


