Thần học cũng như Giáo luật bàn đến ân xá (indulgentiae)[1] trong thiên về bí tích Thống hối, vì lý do lịch sử cũng như đạo lý.

Xét theo lịch sử, các ân xá bắt nguồn từ kỷ luật hòa giải của thời cổ. Các hối nhân, sau khi đã xưng tội phải trải qua một thời gian làm việc đền tội lâu dài, có khi cả đời. Những việc đền tội ấy được gọi là “những hình phạt thế tạm” (poenae temporales) đối lại với những hình phạt “đời đời” (poenae aeternae) trong hỏa ngục. Mặt khác, đôi khi Giáo hội chấp nhận cho các hối nhân, thay vì tự mình làm việc đền tội, có thể nhờ bà con, bạn bè làm thay. Các tội nhân được giảm hình phạt, được hưởng “ân xá” nhờ tình liên đới của tha nhân.

Xét về thần học, tội lỗi không những xúc phạm đến Thiên Chúa nhưng còn gây ra xáo trộn trong thế giới và trong chính con người phạm tội nữa. Vì vậy, cho dù khi tội đã được tha thứ rồi, nhưng sự xáo trộn vẫn còn, và cần được sửa chữa qua việc đền tội. Tuy nhiên, việc đền tội có thể thực hiện do chính các hối nhân, hay với  sự giúp đỡ của Giáo hội, xét như là sự thông hiệp giữa các thánh (communio sanctorum): tất cả Giáo hội, nhiệm thể của Đức Kitô, bao gồm cả Đức Kitô, Đức Maria và các thánh, họp thành một gia đình, san sẻ công nghiệp cho nhau. Các thánh dâng công nghiệp và lời chuyển cầu, để giúp chúng ta đền bù những lệch lạc gây ra bởi tội lỗi.

Trong lịch sử Giáo hội, đã xảy ra những lạm dụng đáng tiếc về việc ban ân xá, đến độ biến thành một thứ thương mại, ra như có thể bỏ tiền ra để tậu ân xá. Việc tranh luận về ân xá là một trong những nguyên nhân đưa đến sự ly khai của Lutêrô. Sau công đồng Vatican II, với Tông hiến Indulgentiarum doctrina (ban hành ngày 01-01-1967), Đức Thánh Cha Phaolô VI đã chỉnh đốn lại kỷ luật ân xá, nhằm nêu bật ý nghĩa thiêng liêng của ân xá, hệ tại tinh thần bác ái đền tội, hơn là thực hiện những công việc bề ngoài. Hậu nhiên, điều cần chú ý để hưởng nhờ ân xá không hệ tại đọc cho thật nhiều kinh, cho bằng tìm cách gia tăng tinh thần đền tội, đặc biệt qua các hành vi  bác ái giúp đỡ tha nhân. Trong các văn kiện của Tòa Thánh liên quan đến vấn đề này, chúng ta có thể kể:

- Bộ Giáo luật (đ. 992-997);

- Giáo lý Hội thánh Công giáo (số 1471-1479);

- Mục lục ân xá (Enchiridion indulgentiarum): nguyên bản Latin được xuất bản lần đầu tiên vào ngày 29-6-1968, và từ đó đến nay đã được tái bản nhiều lần. Lần cuối cùng nhân dịp Năm Toàn xá 2000 (ngày 16-7-1999), với một vài thay đổi.

Chúng tôi sẽ trình bày hai điểm: 1/ Những nguyên tắc tổng quát. 2/ Mục lục các ân xá.

I. NHỮNG NGUYÊN TẮC TỔNG QUÁT

A. Khái niệm

1. Định nghĩa: Theo điều 992 Bộ Giáo luật:

Ân xá là sự tháo giải trước mặt Chúa các hình phạt thế tạm vì các tội lỗi đã được xóa bỏ. Người tín hữu dọn mình xứng đáng và thi hành ít nhiều điều kiện đã chỉ định thì được hưởng ơn tha thứ ấy nhờ sự trung gian của Giáo hội. Với tư cách thừa tác viên ơn cứu chuộc, Giáo hội dùng quyền phân phát và áp dụng kho tàng đền tạ của Chúa Kitô và các thánh (x. GLCG, số 1471).

Như đã nói trên, hậu quả của ân xá không phải là tha thứ tội lỗi (culpa), nhưng là tha hình phạt thế tạm (poena) đền bồi những sự xáo trộn do tội gây ra.

2. Phân loại

Có hai loại ân xá: toàn phần hay bán phần.

a) Ân xá toàn phần (indulgentia plenaria, tục gọi là đại xá) tha hoàn toàn hình phạt tạm. Như vậy, đại xá hay toàn xá cũng như nhau.

b) Ân xá  bán phần (partialis) thì chỉ tha có một phần hình phạt tạm (GL, đ. 993).

Nên lưu ý là trước đây các ân xá được phân loại ân xá làm:  “đại xá” (indulgentia perpetua) và “tiểu xá” (indulgentia temporalis). Ơn tiểu xá còn kèm theo năm và tháng (thí dụ 7 năm hoặc 3 tháng). Đây không phải là thời gian đền tội trong luyện ngục, nhưng là vết tích của hệ thống đền tội thời Trung cổ (theo giá biểu). Đức Phaolô VI đã huỷ bỏ thời gian kèm theo tiểu xá, và sửa lại thành “bán phần” (partialis).

B. Thẩm quyền ban ân xá

Theo Giáo luật điều 995 và những quy định trong sách “Mục lục ân xá”, những người sau đây có thẩm quyền ban ân xá:

1/ Đức Thánh Cha, hoặc đích thân hoặc qua Tòa Ân giải Tòa thánh, có quyền ban ân xá trong toàn thể Hội Thánh.

2/ Các hồng y, thượng phụ, giám mục chỉ có quyền ban ân xá bán phần cho những người hay những nơi dưới quyền của các ngài. Các ngài chỉ có quyền ban phép lành Tòa Thánh với ơn đại xá một năm ba lần vào dịp lễ trọng do các ngài tự ý chọn.

C. Điều kiện để hưởng ân xá

Cần phân biệt hai cấp độ: ân xá nói chung và ân đại xá nói riêng.

1/ Để hưởng ân xá nói chung, GL đ. 996 đòi hỏi những điều kiện sau đây:

a) người đã rửa tội;  không bị vạ tuyệt thông;  sống trong tình trạng ân sủng (sạch tội trọng) ít là vào lúc kết thúc công tác phải làm;

b) có ý định muốn thủ đắc ân xá (ý định chung cũng đủ);

c) thi hành những công tác (như: đọc kinh nào đó; hoặc đi viếng nhà thờ) và theo cách thức mà giáo quyền ấn định.

2/  Để được hưởng ân đại xá, thì còn phải thêm ba điều kiện nữa, đó là: a) xưng tội; b) rước lễ; c) cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha.

Ba điều kiện này có thể thi hành trước hoặc sau công tác chỉ định để được hưởng ân xá. Một lần xưng tội cũng đủ để hưởng nhiều ơn đại xá; còn việc rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha thì phải thực hiện từng lần (việc cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha được diễn tả qua việc đọc một kinh Lạy Cha và một kinh Kính Mừng hoặc kinh nào khác cũng được). Đấng Bản Quyền địa phương có thể miễn chuẩn việc xưng tội và rước lễ cho những người không thể tuân giữ được (chẳng hạn như vì ở xa nhà thờ hoặc đau ốm).

Điều cần thiết là người tín hữu phải thống hối về các tội lỗi, dứt bỏ lòng quyến luyến các tội, dù là tội nhẹ, và cố gắng đi xưng tội khi có dịp.[2]

Đừng kể trong lúc nguy tử, mỗi ngày chỉ được hưởng một ơn đại xá (đây là một sự thay đổi quan trọng, sánh với kỷ luật trước đây). Những công tác khác đã làm để được ơn đại xá không vì thế mà trở nên vô ích: chúng sẽ trở nên ân xá bán phần. Cũng vậy, một số công tác được chỉ định để được hưởng nhờ ơn đại xá, nhưng nếu không hội đủ tất cả các điều kiện thì sẽ trở nên ân xá bán phần.

D. Chủ thể hưởng nhờ

- Mỗi người chúng ta  không những có thể lãnh ân xá cho bản thân mình, nhưng còn có thể áp dụng cho người đã qua đời nữa (GL, đ. 994). Việc áp dụng ân xá cho người qua đời không những là một nghĩa cử liên đới bác ái, nhưng còn giúp chúng ta liên tưởng đến những giá trị vĩnh cửu đang khi chúng ta phấn đấu tại thế này nữa.

- Không thể lãnh ân xá thay cho người khác còn sống!

II. MỤC LỤC ÂN XÁ

Chúng tôi xin phân làm ba mục như sau: 1/ ân xá nói chung; 2/ ân xá toàn phần; 3/ ân xá bán phần.

A. Ân xá nói chung

Nhằm nhấn mạnh đến tâm tình thống hối đền tội và bác ái, Tòa Thánh ban ân xá bán phần, mà các tín hữu có thể thực hiện bất cứ ở đâu và lúc nào, vì không đòi hỏi gắn liền với một công tác cụ thể.

1. Khi chu toàn bổn phận và chịu đựng những gánh nặng của cuộc đời, người tín hữu ngước mắt nhìn lên Chúa với lòng tin tưởng và khiêm tốn, thầm thì xin Người giúp đỡ.

2. Khi do đức tin thúc đẩy, người tín hữu hiến dâng bản thân hay tài sản để giúp đỡ người túng thiếu.

3. Khi vì tinh thần đền tội, người tín hữu tự nguyện khước từ điều gì thích thú.

4. Khi tự ý làm chứng đức tin trước mặt người khác, trong những hoàn cảnh đặc biệt của cuộc sống.

B. Ân xá toàn phần (đại xá)

Một số ân xá có thể được hưởng hằng ngày, một số khác chỉ trong vài dịp đặc biệt. Bốn việc sau đây có thể thực hiện mỗi ngày:

1. Thờ lạy Mình Thánh Chúa ít là nửa giờ (số 3).

2. Đọc 5 chục kinh Mân Côi trong nhà thờ, nhà nguyện, gia đình, tu viện hay thiện hội (số 48).

3. Đọc Kinh thánh nửa giờ (số 50).

4. Đi đàng Thánh giá (số 63).

Những ân đại xá sau đây chỉ có thể được lĩnh vào vài dịp đặc biệt:

* Viếng một trong bốn nhà thờ cả tại Rma, vào dịp lễ bổn mạng thánh đường hay lễ buộc, hoặc ngày nào thuận tiện một năm một lần. Trong khi đi viếng, cần đọc kinh Lạy Cha và Tin Kính một lần (số 11).

* Viếng nhà thờ tại Rô-ma, vào ngày lịch phụng vụ đã ấn định làm “chặng” (statio), và tham dự phụng vụ tại đó (số 56).

* Viếng nhà thờ nơi đang cử hành công nghị giáo phận, và đọc kinh Lạy Cha và Tin kính một lần (số 58).

* Viếng nhà thờ chánh tòa, nhà thờ xứ trong ngày lễ bổn mạng và ngày 2 tháng 8 (số 65).

* Viếng nhà thờ vào ngày cung hiến, và đọc kinh Lạy Cha và Tin Kính  một lần (số 66).

* Viếng nhà thờ hay nhà nguyện của tu viện trong ngày lễ thánh Lập dòng, và đọc kinh Lạy Cha và Tin Kính một lần (số 68).

* Viếng nhà thờ hay nhà nguyện trong ngày 2 tháng 11, cầu cho các linh hồn (số 67).

* Viếng nhà thờ hay nhà nguyện và tham dự phụng vụ ở đó, trong thời gian có cuộc kinh lý mục vụ, đọc kinh Lạy Cha và Tin Kính một lần (số 69).

* Viếng nghĩa trang, trong tuần lễ đầu tháng 11, cầu cho các linh hồn (số 13).

* Lãnh phép lành “Urbi và Orbi” của Đức Thánh Cha, kể cả qua đài truyền thanh và truyền hình (số 12).

* Dự cuộc tĩnh tâm ít là ba ngày trọn (số 25).

* Dự vài bài giảng và ngày kết thúc Tuần Đại phúc (số 41).

* Dự thánh lễ vào dịp lễ bế mạc một cuộc Đại hội (số 23).

* Vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh: dự phụng vụ kính Thánh giá (số 17).

* Vào các ngày thứ Sáu mùa Chay và mùa Tử nạn: đọc kinh “Lạy Chúa Giêsu nhân từ và lòng lành vô cùng” trước Thánh giá (số 22).

* Vào ngày thứ Năm Tuần Thánh và lễ Mình Máu Thánh Chúa: đọc kinh “Tantum ergo” (số 59).

* Vào lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu: tham dự vào buổi đền tạ công khai (số 26).

* Vào lễ Chúa Kitô Vua: đọc chung kinh dâng hiến loài người (số 27).

* Đọc chung kinh “Veni Creator” ngày đầu năm dương lịch và lễ Hiện Xuống (số 61).

* Đọc chung kinh “Te Deum” vào ngày cuối năm dương lịch (số 60).

* Vào ngày lễ thánh Phêrô và Phaolô: tín hữu dùng một đồ đạo (thánh giá, ảnh tượng, tràng chuỗi) đã được Đức Giáo hoàng hay Giám mục làm phép, và đọc kinh Tin Kính (số 35).

* Vào dịp rước lễ lần đầu: các người rước lễ và những người dự lễ (số 42).

* Thánh lễ mở tay: tân linh mục và các tín hữu tham dự (số 43).

* Vào dịp kỷ niệm 25, 50, 50 năm chịu chức: linh mục và những người tham dự thánh lễ (số 49).

* Lặp lại lời hứa khi rửa tội, vào dịp Vọng Phục sinh và giáp năm ngày rửa tội (số 70).

* Vào giờ chết: bất cứ ai có thói quen đọc kinh nào đó lúc còn sống (số 28).

* Dâng hiến gia đình cho Thánh Tâm Chúa Giêsu hoặc cho Thánh gia (mới thêm năm 1999, số 1).

C. Ân xá bán phần

Có thể phân làm hai loại: loại thứ nhất gắn liền với một số kinh, loại thứ hai gắn liền với một số việc làm.

1. Những kinh đọc kèm theo ân xá bán phần:

- Trước và sau khi làm việc: “Actiones nostras” (số 1); “Adsumus” (số 5); “Agimus tibi gratias” (số 7).

- Khởi sự và kết thúc một ngày: “Domine Deus omnipotens (số 21); “Visita, quaesumus, Domine” (số 64).

- Khi làm dấu Thánh giá: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (số 55).

- Các kinh Tin, Cậy, Mến, Ăn năn tội (số 2); Tin Kính (số 16). Thánh vịnh 50 Miserere (số 33); Tv 129 De Profundis (số 19).

- Kinh trước Thánh giá “Lạy Đức Chúa Giêsu nhân từ và lòng lành” (số 9); kinh Đền tạ Thánh Tâm Chúa (số 26); kinh Dâng loài người cho Chúa Kitô Vua (số 27); các kinh kính Mình Thánh: “Adoro te” (số 4), Anima Christi (số 10), O sacrum convivium (số 40), Tantum ergo” (số 59).

- Các kinh cầu kính Thánh Danh, Thánh Tâm, Máu Thánh, Đức Bà, Thánh Giuse, Các thánh (số 29).

- Các kinh kính Chúa Thánh Thần: Veni Creator (số 61), Veni Sancte Spiritus (số 62). Kinh Te Deum (số 60).

- Các kinh kính Đức Mẹ: kinh Magnificat (số 9), kinh Truyền tin (số 10), kinh Hãy nhớ (số 32), kinh Lạy Nữ Vương (số 51), kinh Trông cậy (số 57), kinh Mân Côi (số 48), kinh “Maria, mater gratiae” (số 31); “Sancta Maria succurre miseris” (số 52).

- Các kinh kính thánh Giuse (số 6), thiên thần bản mệnh (số 8), thánh Phêrô và Phaolô (số 53), các thánh trong ngày lễ kính với bài nguyện trích từ sách Lễ (số 54).

- Các kinh tiểu nhật khóa: kính cuộc Tử nạn của Chúa, Thánh Tâm, Đức Maria, thánh Giuse, và cầu cho các linh hồn (số 18).

- Kinh cầu cho Đức Thánh Cha (số 39), cho Giáo hội được hợp nhất (số 44); ơn thiên triệu (số 37); cho các linh hồn (số 46); cho các ân nhân (số 47); cho gia thất (số 24).

2. Ân xá kèm theo việc làm:

- Viếng Thánh Thể (số 3); rước lễ thiêng liêng (số 15); suy gẫm (số 38); đọc Sách Thánh (số 50); viếng nghĩa địa cầu cho người qua đời (số 20); viếng hang toại đạo (số 14); dạy hay học giáo lý (số 20); nghe giảng Lời Chúa (số 41); dự tuần cửu nhật dọn mình lễ Chúa Giáng sinh; Hiện xuống, Đức Mẹ Vô nhiễm (số 34); cấm phòng hàng tháng (số 45); dùng đồ đạo đức được làm phép (số 35); viếng nhà thờ ở Rôma trong ngày “statio” (số 56); viếng nhà thờ trong dịp kinh lý mục vụ (số 69); lặp lại lời hứa rửa tội (số 70).

Trên đây là những ân xá ban cho tất cả các tín hữu. Các tu sĩ, các hội viên các hiệp hội có thể được hưởng các ân xá khác ban riêng cho tu hội hay đoàn thể của họ.


[1] Indulgentia do động từ indulgere tự nó có nghĩa là châm chước gia giảm, và được các luật gia Rôma cổ thời áp dụng cho biện pháp miễn thuế, giảm hình phạt mà hoàng đế ban hành vào vài cơ hội.

[2] Các tín hữu có thể lãnh phép lành đại xá của Đức Thánh Cha qua đài truyền thanh và truyền hình, dựa theo nghị định của Tòa Ân giải Tòa thánh ngày 14-12-1985.