
Tuổi thơ – vào Dòng Chúa Cứu Thế
Cha sinh ngày 08 tháng 08 năm 1915, tại làng Phúc Lộc, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình công giáo lâu đời, có ông nội và nhiều người thân chịu tử đạo hồi loạn Văn Thân năm 1885, và có hai người anh ruột làm linh mục Tổng Giáo phận Huế là cha Trần Hữu Tôn và cha Trần Hữu Quý. Thân phụ là ông cố Giuse Trần Hữu Phú. Thân Mẫu là bà cố Maria Hoàng Thị Luật.
Sau ít năm học chữ Nho và chữ Quốc ngữ với một thầy giáo trong làng, rồi lên học ở trường huyện, năm 1928, lúc 13 tuổi, cha xin gia nhập Đệ Tử viện Dòng Chúa Cứu Thế Huế. Cha là một trong số 27 đệ tử sinh đầu tiên của Dòng tại Việt Nam. Suốt 8 năm học tiểu học và trung học, cùng với cha Henri Bạch Văn Lộc, cha được cha Giám đốc Đệ Tử viện E. Larouche tín nhiệm giao trách nhiệm trông coi các đệ tử trong Phong trào Tiền Phong, một phong trào giáo dục theo mô hình hướng đạo, nhằm đào tạo ra những linh mục đạo đức, tháo vát cần thiết cho sứ vụ thừa sai sau này.
Ngày 14 tháng 8 năm 1936, sau khi tốt nghiệp tú tài, cha được gọi vào Tập viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, cùng lớp với các cha Phêrô Nguyễn Xuân Lộc, Giuse Vũ Ngọc Bích, Micae Nguyễn Đình Lành và Micae Nguyễn Quang Toán. Ngày 15 tháng 8 năm 1937, cha tuyên khấn lần đầu.

Linh mục – đầu đời mục vụ
Ngày mùng 06 tháng 06 năm 1942, cha được thụ phong linh mục tại nhà Nhà thờ Cửa Bắc, Hà Nội. Mãn học viện, năm 1943, cha được bài sai về Huế giúp Đệ tử viện môn Việt văn. Theo chương trình Pháp, mỗi tuần một lớp chỉ có ba giờ Việt văn, nên cha đã dạy tất cả các lớp từ lớp sáu đến lớp nhất, tổng cộng 18 tiết mỗi tuần. Các đệ tử rất khâm phục tài giảng dạy hấp dẫn và khả năng hiểu biết văn học Việt Nam uyên thâm của cha. Cha đã đào tạo được nhiều học trò xuất sắc, trong đó nhiều người là linh mục, là tướng, tá, giáo sư.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Các cha Canada bị giam lỏng ở khách sạn Morin. Cha tạm thời thay cha Larouche làm Giám đốc Đệ Tử Viện, thay cha P. Gagné phụ trách Hùng Tâm Dũng Trí.
Chiến tranh Pháp – Việt bùng nổ, ngày 19 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Ngày 24 tháng 4 năm 1949, cựu hoàng Bảo Đại về nước chấp chính và để chuẩn bị nghi lễ đón cựu hoàng trở về Huế, dựa trên các quốc kỳ của các triều đại và chính phủ trước đây tại Việt Nam, cha đã giúp ông Trần Điền, Phụ trách Thông tin Trung Việt của chính phủ Bảo Đại, phác họa lá Quốc Kỳ nền vàng có ba sọc đỏ quán xuyến một con rồng hình chữ S, tượng trưng cho dân tộc Việt Nam - một giống da vàng, ba giòng máu đỏ trên một đất nước Việt Nam thống nhất Bắc-Trung-Nam trong sự khác biệt về hành chính. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, con rồng hình chữ S này đã bị bỏ đi trong lá cờ do hoạ sĩ Tôn Thất Sa thực hiện theo bản phác thảo của cha.
Năm 1949, cha tham gia khóa Nhà tập II tại Hà Nội. Sau Nhà tập II, cha trở về Huế chấm dứt công việc dạy học tại Đệ Tử viện và bắt đầu cuộc đời của một thừa sai trong sứ vụ đại phúc chuyên biệt của dòng. Ban đầu, cha phụ tá cho cha Olivier, rồi từ từ, làm trưởng nhóm. Suốt khoảng thời gian từ năm 1949 tới 1954, cha đi giảng khắp các tỉnh miền Trung, từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên, Khánh Hoà, Phan Thiết...cho tới tận Cao Miên. Trong các kỳ đại phúc, cha chuyên lo cho các em thiếu nhi, thanh niên và tiếp xúc với lương dân qua các buổi diễn thuyết về mọi đề tài xã hội, văn hóa cho giới trí thức, cho thân hào nhân sĩ của hầu hết các tỉnh miền Trung. Thời gian này, cha viết nhiều bài nghiên cứu xuất sắc về chính trị - xã hội. Năm 1954, cha còn được Đức Khâm sứ Tòa thánh cử qua Thái Lan giảng cho các Viêt kiều khắp 6 tỉnh miền Bắc Thái Lan.

Đất nước chia đôi - trở lại miền Bắc
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết. Cha đang ở Thái Lan và được triệu hồi về nước. Trên đường về, lúc ở Băng Cốc, cha được tin đất nước đã chia đôi. Về tới Sài Gòn, cha Bề trên Phụ tỉnh Louis Roy ngỏ ý muốn cha ra miền Bắc. Do đã có nhiều kinh nghiệm khi tiếp xúc với Việt minh khi giảng ở Thái Lan, cha đã không ngần ngại chấp thuận và chuẩn bị hành lý lên đường. Cha ra Huế, về Quảng Trị mấy ngày thăm gia đình. Đầu tháng 8 năm 1954, cha ra Hà Nội. Tu viện Thái Hà khi đó có hàng chục ngàn người tá túc chuẩn bị di cư. Sau ba tháng ở Hà Nội cộng tác với các cha, các thầy trợ giúp người di tản, cuối tháng 10/1954, cha quay về Sài Gòn chuẩn bị in một số tài liệu phê phán những sai lầm của chủ nghĩa cộng sản với dự định mang ra Hà Nội phổ biến giúp người dân tỉnh ngộ. Nhưng, mọi dự định bất thành. Nhà Dòng đã có kế hoạch khác. Các cha Thomas Côté, Denis Paquette, cha Giuse Vũ Ngọc Bích cùng hai thầy trợ sĩ Marcel Văn và Clémenté Đạt đã được chọn cho sứ vụ miền Bắc.

Về lại Sài Gòn – rao giảng thuyết nhân vị
Cha ở lại Sài Gòn với mong muốn đào tạo một thế hệ thanh niên dấn thân cho các giá trị Tin mừng. Cha đề xuất với tổng thống Ngô Đình Diệm cho tham gia giảng dạy tại Trường Cán bộ Thanh niên Quốc gia. Tuy nhiên, mới chỉ được hai khóa, chứng kiến những hủ bại tại trường, nơi đào tạo những cán bộ nòng cốt quốc gia, cha thất vọng bỏ dạy, đi về các tỉnh miền Trung vừa giảng Đại phúc vừa diễn thuyết về “thuyết Nhân vị”.
Về “thuyết Nhân vị”, cha cho biết: “Ông Diệm không nói rõ là gì. Ông Nhu và các cha Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Văn Thính, C.Ss.R. mỗi người có đôi bài viết về nhân vị; còn cha Trần Mục Đích, O.P. thì lại hiểu nhân vị là phải chấp nhận trên đầu có một Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Anh em các tôn giáo khác họ không chịu”. (Vũ Sinh Hiên, Những câu chuyện một thời – Hồi ức của các linh mục Vũ Ngọc Bích và Trần Hữu Thanh, tr. 105) Trước những khác biệt về quan điểm như vậy, cha đã tham khảo nhiều sách báo, đặc biệt các tác phẩm của triết gia Mounier, các tạp chí Economie et Humanisme về nhân vị, để đưa ra một lập trường trung dung, theo đó, “duy linh nhân vị là nhận có thế giới linh thiêng điều khiển thế giới vật chất. Thế giới linh thiêng đó thế nào thì do mỗi tôn giáo với niềm tin riêng, là Thiên Chúa, là Phật Tích Ca, là những vị Bồ Tát...” Về sau, những nghiên cứu của cha được tổng hợp lại trong cuốn “Cuộc Cách Mạng Nhân Vị”, được chọn làm tài liệu giảng dạy cho chế độ và với chủ trương phát triển kinh tế nhưng phải tôn trọng nhân vị, cha bắt đầu dấn thân chống nạn tham nhũng mà điển hình là vụ “Gạo Miền Trung” khiến các quan chức tham nhũng đứng đầu 6 tỉnh ở Miền Trung bị mất chức.

Du học – trở về
Năm 1958, sau nhiều năm miệt mài trên các mặt trận tông đồ, cha được bề trên cử đi du học tại Học viện Lumen Vitae, Đại học Louvain, Bỉ. Nhờ có hiểu biết và có kinh nghiệm mục vụ, cha học rất nhanh. Cuối năm 1960, cha đã tốt nghiệp Cử nhân Thần học Mục vụ Giáo lý của Học viện này với luận văn: “Catéchèse et Populations communisantes” (Giáo lý và người dân tiền cộng sản). Cha giải thích communisantes là những người ảnh hưởng cộng sản và đang dần dần trở thành cộng sản vốn là đối tượng phục vụ của cha ở khu IV, khu V và ở Thái Lan.
Về Việt Nam, cha tham gia giảng dạy tại Học viện Dòng Chúa Cứu Thế Đà Lạt, đồng thời, với việc mở các khoá huấn luyện giáo lý theo đường hướng canh tân của Giáo hội cho cho một số giáo phận và dòng tu tại Huế, Đà Lạt, Sài Gòn, Cần Thơ, Đã Nẵng, Nha Trang và huấn luyện cho một số dòng tu như: Mến Thánh Giá Hà Nội. Cha cũng viết hàng chục tác phẩm giáo lý khác nhau như: Trường Chúa dạy, Giáo lý Hàm thụ, giáo lý Hôn nhân, Để thông cảm với người Công giáo Việt Nam, Sư phạm giáo lý... Mỗi khi có dịp, cha còn tham gia các Hội nghị Giáo lý Quốc tế tổ chức ở Đức, Philippines, Thái Lan vào thập niên 1960 và trình bày các tham luận tại các hội nghị này theo lời mời của Ban Tổ chức.
Năm 1969, theo Nghị quyết của Tổng Công hội thứ 17 tại Roma, kể từ năm 1969, các tỉnh trên thế giới sẽ đồng loạt bầu lại cha Bề trên Giám tỉnh cho đơn vị mình. Trong kỳ bầu cử diễn ra vào cuối năm 1969, cha Henri Bạch Văn lộc đắc cử cức vụ Bề trên Giám tỉnh, cha Giuse Trần Hữu Thanh được bổ nhiệm làm Phó Bề trên giám tỉnh, phụ trách xử lý thường vụ. Cha cho mở Trường Đệ tử Tu huynh Đà Lạt, củng cổ và mở rộng công cuộc truyền giáo của DCCT tại các vùng chiến sự như: Cần Giờ (nay là ngoại thành Sài Gòn), Bình Sơn, Lý Sơn, Trà Bồng (Quảng Ngãi), Đà Lạt, Đức Trọng (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), Pleikly, Pleiku, Phú Bổn (nay thuộc tỉnh Gia Lai).
Chống tham nhũng
Năm 1974, tại Sài Gòn, chứng kiến tình trạng tham nhũng lan tràn, cha đã đồng ý đứng đầu một Uỷ Ban chống tham nhũng với 301 linh mục cùng ký tên vào bản tuyên ngôn. Mục tiêu của Phong trào là làm cho bộ máy chính quyền Cộng hoà được trong sạch và vững mạnh để đủ sức chống lại sự xâm lấn của Cộng sản. Cha cho biết cha đã thẳng thắn xác nhận điều này với các cán bộ ở Bộ Nội vụ sau khi cha bị bắt.
Nhưng, ở miền Nam ngày ấy, và trong một số giới nào đó, cho đến tận ngày nay, có những người không tha thứ cho cha và các bạn hữu của cha. Người ta bảo, cuộc đấu tranh chống tham nhũng của cha vào thời điểm đó, thay vì làm trong sạch và vững mạnh tinh thần quốc gia, thì lại đã góp phần làm cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa sớm bị tiêu diệt.
Đối với các thừa sai DCCT người Canada, những người thầy của cha, các ngài cho rằng, việc cha Thanh làm thì đúng "đường hướng", nhưng không đúng thời điểm.
Cha thì chủ quan nghĩ rằng một xã hội đã bị tham nhũng di căn sẽ chẳng chống được cái gì mà cũng chẳng xây được cái gì. Và cũng có nhiều người nghĩ như cha nên vụ việc mới thành phong trào.
Bị bắt – tù đày
Ngày 30/4/1975 đưa cha và cả Sài-gòn sang một thế giới khác. Những người, những vấn đề, những tranh đấu của mấy hôm trước bỗng dưng biến đâu mất.
Chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ. Thay vì cùng mọi người di tản ra nước ngoài, cha đã tình nguyện ở lại, nhưng lại quên mất rằng, theo phép biện chứng của chế độ mới, đấu tranh làm sạch xã hội nếu là có công với xã hội tư sản thì sẽ là có tội với xã hội cách mạng vô sản. Thời gian này, cha bắt tay xuất bản tờ “Nhập Cuộc”, với mục đích giúp mọi người Công giáo hội nhập vào với hoàn cảnh xã hội mới. Cha cho biết, đây là một tờ tuần báo, in roneo, mỗi số khoảng 10 trang. Sau mấy số đầu, do chút sơ xuất khi dịch các tài liệu nước ngoài và bị cán bộ qui kết phổ biến sai quan điểm nhà nước, cha đã tự đình bản tờ tuần báo, khi mới phát hành được hơn 10 số (Ibid., tr. 123).
Ngày 15 tháng 2 năm 1976, trên đường từ một gia đình quen biết trở về nhà Dòng, tới ngã tư Trương Định – Hiền Vương, cha bị bắt giữ và bị đưa về biệt giam ở khám Chí Hòa. Một thời gian sau, cha được đưa ra Bắc, bị giam cùng các tù nhân khác, trong đó có Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận tại trại giam Thịnh Liệt, Hà Nội. Năm 1980, cha được đưa về quản chế tại họ đạo Quang Húc, huyện Ba Vì, Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 60 km về phía Tây Bắc. Cha bị quản chế ở đây 4 năm. Năm 1984, nhà cầm quyền đưa cha về họ đạo Trần Nội, xã Thạch Khôi, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, thuộc Giáo phận Hải Phòng, cách Hà Nội khoảng 75 km.

Trả tự do - ở lại miền Bắc
Năm 1988, cha được trả tự do. Khi đựơc trả tự do, thấy người dân Miền Bắc, đặc biệt là giáo dân quá khổ, lại thấy Giáo Hội Miền Bắc thiếu thốn linh mục, cha đã tình nguyện ở lại Hải Dương, nơi cha bị quản chế để phục vụ người dân trong vùng và phục vụ Giáo hội địa phương. Mong muốn của cha được chính quyền đồng ý ngay, như cha nói, vì biết rằng Sài Gòn là nơi đông giáo dân và là một cửa ngõ quốc tế, nơi cha dễ lên tiếng và tiếng nói của cha dễ có ảnh hưởng. Cha đã phục vụ ở Hải Dương liên tục từ năm 1988 đến năm 2001. Ngoài những việc mục vụ thông thường, trong thời gian này, cha còn giúp hợp thức hoá cho rất nhiều đôi hôn nhân theo thủ tục Công giáo, giảng tĩnh tâm hay giải tội cho các lịnh mục, chủng sinh ở Giáo phận Hải Phòng. Cha cũng giúp thôn Trần Nội phát triển kinh tế và văn hoá mà cơ sở ban đầu là các giống rau mới cha xin nhập về từ Nhật Bản và các học bổng cho học sinh mà cha xin đây đó. Cha còn giúp các thanh niên vào tu Dòng Chúa Cứu Thế và nay đã có người đầu tiên làm linh mục để kế tục cha phục vụ giáo xứ Phú Tảo, Hải Dương. Thỉnh thoảng cha còn vào Sài Gòn để nói chuyện với các anh em về tình hình Giáo hội và xã hội, về việc giảng đại phúc và dạy môn Huán giáo cho các anh em Học viện mà thế hệ sinh viên Dòng Chúa Cứu Thế cuối cùng được học với cha là Khoá 1994-2000.
Năm 1993, cha được đặt làm Bề trên Nhà Hà Nội, nhưng chính quyền Hà Nội đã cấm cha cư trú và làm mục vụ tại đây. Cha chấp nhận vác thánh giá này trong nước mắt của tuổi già mà anh em trong Dòng đã nhiều lần chứng kiến. Hàng tuần từ chỗ cha ở thuộc tỉnh Hải Dương, cha lên Hà Nội một ngày để gặp gỡ và thăm hỏi anh em trong tu viện, xem xét các công việc của cộng đoàn và thay thế cha Giuse Vũ Ngọc Bích trong công việc giải tội cho các nữ tu và một số linh mục tu sĩ ở Hà Nội. Trong thời gian cha làm Bề trên “không thường trú” Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, cha đã góp phần lo liệu để tu viện Hà Nội có anh em từ Miền Nam ra Hà Nội, được nhập hộ khẩu và kế tục việc phục vụ tại đây là cha Giuse Trịnh Ngọc Hiên.
Những năm cuối đời
Năm 2001, cha bị bệnh nặng vì tuổi cao sức yếu, anh em trong cộng đoàn đưa cha về Tu viện Hà Nội để tiện việc chăm sóc. Tại đây, bất chấp tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, cha vẫn không ngừng đón tiếp và phục vụ bất cứ ai đến với cha. Cha còn giải tội cho các linh mục tu sĩ, hướng dẫn các linh mục trẻ của cộng đoàn, làm lễ giảng dạy cho giáo dân tại đây.
Cha Giuse Trần Hữu Thanh được gọi về nhà Cha trên trời, lúc 2 giờ ngày 24 tháng 10 năm 2007 tại bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi, sau một đời kiên trung phục vụ lúc thuận lợi cũng như lúc gian nan, trong lòng mến yêu Chúa, yêu mến quê hương, Đất nước, Giáo hội và Dòng Chúa Cứu Thế.
LM. Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, C.Ss.R.